Tải bản đầy đủ

TÌM hiểu về thủy ngân

TÌM HIỂU VỀ THUỶ NGÂN (Sưu tầm)
1. Đặc điểm của thuỷ ngân
Thuỷ ngân kim loại dưới dạng hơi (Hg0). Dưới tác dụng của nhiệt thuỷ ngân chuyển thành dạng hơi. Nó có
thể xâm nhập vào phổi qua đường hô hấp rồi vào máu. Thủy ngân vì vậy sẽ được chuyển đến các phần khác
của cơ thể, đặc biệt là đến não. Khi hơi thuỷ ngân có nguồn gốc hỗn hống, một phần sẽ đ Những đặc
trưng của thuỷ ngân có thể được tóm tắt như sau
- Là kim loại duy nhất tồn tại dưới dạng lỏng ở nhiệt độ thường. Nó bị phân chia thành các giọt nhỏ khi
khuấy.
- Là kim loại duy nhất có nhiệt độ sôi thấp nhất
- Là kim loại được đặc trưng bởi khả năng dễ bay hơi.
- Là một kim loại dễ dàng kết hợp với những phân tử khác như với kim loại (tạo hỗn hống), với phân tử
chất vô cơ (muối) hoặc hữu cơ (cacbon).
- Là kim loại được xếp vào họ kim loại nặng với khối lượng nguyên tử 200
- Là một kim loại độc. Độc tính của thuỷ ngân gây ra từ tính dễ bay hơi của nó (bởi vì nó rất dễ được hít
vào cơ thể), từ tính tan trong mỡ (nó được vận chuyển dễ dàng trong cơ thể), từ khả năng kết hợp với
những phân tử khác và làm mất chức năng của chúng.
2. Những dạng tồn tại của thuỷ ngân :
Về mặt hoá lí, thuỷ ngân là một kim loại rất dễ thay đổi dạng tồn tại cũng như tính chất. Rất dễ bay hơi, nó
dễ dàng chuyển từ trạng thái lỏng sang trạng thái hơi ở nhiệt độ phòng. Khi có mặt oxy, thuỷ ngân dễ dàng
bị oxy hoá chuyển từ dạng kim loại , dạng lỏng hoặc khí sang trạng thái ion, (Hg 2+). Nó cũng dễ dàng kết
hợp với những phân tử hữu cơ tạo nên nhiều dẫn xuất thuỷ ngân.

* Thuỷ ngân tồn tại dưới hai họ :
• Họ thuỷ ngân vô cơ, gồm ba dạng khác nhau :
+ Thuỷ ngân nguyên tử, dưới dạng lỏng Đó là dạng quen thuộc nhất . Nó được sử dụng trong các nhiệt kế.
+ Thuỷ ngân dưới dạng khí là thuỷ ngân dưới tác dụng của nhiệt chuyển thành hơi.
+ Thuỷ ngân vô cơ, dưới dạng ion.
• Họ thuỷ ngân hữu cơ, khi nó kết hợp với một phân tử chứa cacbon, là nền tảng của những cá
thể sống.
Các dạng này có thể chuyển hoá qua lại vì thuỷ ngân có khả năng tự chuyển hoá, nhất là trong môi trường
axit và có mặt phân tử có khả năng kết hợp (clo, lưu huỳnh). Có thể miêu tả sự chuyển hoá như sau :
- Từ thuỷ ngân kim loại thành ion thuỷ ngân - sự oxy hoá. Thuỷ ngân được hít vào dưới dạng hơi, dưới tác
động của catalaze có trong hồng cầu, thuỷ ngân kim loại được chuyển thành ion Hg2+ lưu thông trong máu.
- Từ ion Hg2+ thành thuỷ ngân hữu cơ - sự metyul hoá. Sự metyl hoá diễn ra chủ yếu trong môi trường nước
hoặc trong cơ thể chuyển biến theo tính axit và sự có mặt của lưu huỳnh. Những hợp chất hữu cơ của thuỷ
ngân được biết đến nhiều là metyl thuỷ ngân và đimetyl thuỷ ngân.
Khi xâm nhập vào cơ thể thuỷ ngân có thể liên kết với những phân tử tạo nên tế bào sống (axít
nuclêic,prôtêin .... ) làm biến đổi cấu trúc của chúng và làm ức chế hoạt tính sinh học của chúng.
Sự nhiễm độc thuỷ ngân gây nên những thương tổn trung tâm thần kinh tạo nên sự run rẩy, sự khó khăn
trong cách diễn đạt ... và nặng hơn nữa có thể gây chết người
Sự biến đổi độc tính của thuỷ ngân theo dạng tồn tại
- Thuỷ ngân dưới dạng lỏng (Hg0). Dạng này ít độc vì nó được hấp phụ rất ít. Dạng này nếu
có vào trong cơ thể qua đường ăn uống chẳng hạn sẽ được thải ra gần như hoàn toàn (hơn
99%) qua đường tiêu hoá (muối, nước tiểu). Để chứng minh cho điều này, một nhà nghiên
cứu của trung tâm phòng và điều trị nhiễm độc ở Vienne đã làm thí nghiệm với chính cơ thể
của mình bằng cách nuốt 100 g thuỷ ngân kim loại, kết quả là thuỷ ngân vào trong dạ dày,
rồi ruột, sau đó được thải ra ngoài. Hàm lượng thuỷ ngân trong nước tiểu đã lên tới 80mg/lít
sau hai tháng sau đó giảm dần đến hết.


- Thuỷ ngân kim loại dưới dạng hơi Dưới tác dụng của nhiệt thuỷ ngân chuyển thành dạng hơi. Nó có thể
xâm nhập vào phổi qua đường hô hấp rồi vào máu. Thủy ngân vì vậy sẽ được chuyển đến các phần khác
của cơ thể, đặc biệt là đến não. Khi hơi thuỷ ngân có nguồn gốc hỗn hống, một phần sẽ được hoà tan bởi
nước bọt và vào trong dạ dày
- Thuỷ ngân dưới dạng ion có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường nước bọt hoặc da. Dạng này vào cơ thể
sẽ tập trung chủ yếu trong gan và thận.
- Thuỷ ngân hữu cơ đă được hấp thụ và được đồng hoá bởi cơ thể sống sẽ tồn tại trong đó và có thể xâm
nhập tiếp vào những cá thể khác (Ví dụ thuỷ ngân được hấp thụ bởi cá, tôm và cua có thể xâm nhập tiếp
vào cơ thể người khi chúng ta ăn các loại trên).Dạng này rất độc. Thảm kịch xảy ra cho người dân ở
Minamata là do metyl thuỷ ngân có trong cá, sò và ốc.
Độc tính này sẽ càng tăng nếu có hiện tượng « tích luỹ sinh học » hay « khuyếch đại sinh học ». Sự « tích
luỹ sinh học » là quá trình đồng hoá và « cô đọng » những kim loại nặng trong cơ thể. Quá trình này diễn ra
gồm hai giai đoạn : Sự « tích luỹ sinh học » bắt đầu bởi cá thể (thuỷ ngân hoà tan có được bài tiết ra rất ít
và được đồng hoá bởi, động vật, cá, ...) sau đó được tiếp tục nhờ sự truyền giữa các cá thể, do sự « cô lại »
liên tục (động vật ăn cỏ, động vật ăn cá, ....) . Do đó nồng độ dần dần tăng lên. Hiện tượng « tích luỹ sinh
học » này rất nguy hiểm, nhất là với metyl thuỷ ngân vì xuất phát từ môi trường lúc đầu ít ô nhiễm (nồng
độ metyl thuỷ ngân thấp), nồng độ đó có thể tăng lên đến hàng nghìn lần và trở thành rất độc.
-1Hàng triệu người Mỹ thích hưởng những thú vui ngoài trời, nhất là câu cá. Đa số câu cá cho vui thôi, nhưng
trong nước có một chất nguy hiểm mà ta không thể luôn luôn nhìn thấy, ngửi thấy hay nếm thấy. Chất nguy
hiểm đó là thủy ngân trong con cá.
-2Thủy ngân là một nguyên tố hóa học cơ bản mà các khoa học gia phân hạng là một kim loại, như sắt hay
vàng. Tuy nhiên, khi thủy ngân xâm nhập vào không khí hay nước, nó
có thể trở thành độc hại. Chung cuộc, thủy ngân có trong những con cá chúng ta ăn – cá do ta câu được, cá
mua ở chợ hay gọi ở tiệm ăn.
-3Hầu hết thủy ngân làm ô nhiễm không khí và nước là do việc khai thác các mỏ than và từ các nhà máy điện
chạy bằng than. Thủy ngân cũng có trong nhà ta ở. Những đèn huỳnh quang mà ta thường gọi là đèn “nêông”, những nhiệt kế và những máy điều nhiệt để điều khiển lò sưởi và máy lạnh đều có thủy ngân.
-4Tại sao thủy ngân lại nguy hiểm? Đối với người lớn, quá nhiều thủy ngân có thể làm hư thận hay ảnh
hưởng đến hệ thần kinh bao gồm não bộ và tủy sống.
-5Những phụ nữ có thai, những trẻ sơ sinh còn bú mẹ và các em nhỏ là bị nguy hiểm nhất, bởi vì một lượng
nhỏ thủy ngân có thể gây hại cho não bộ đang phát triển. Quá nhiều
thủy ngân có thể ảnh hưởng đến tính tình đứa bé và đưa tới những vấn đề trong việc học hành sau này.
-6Ăn cá thì lành mạnh cho mọi lứa tuổi vì cá có prô-tê-in, sinh tố, khoáng chất và chất béo.
Điều không may là ta không thể loại bỏ thủy ngân bằng cách nấu chín hay rửa sạch con cá. Tuy nhiên, ta có
thể loại bỏ các chất ô nhiễm khác trong con cá bằng cách cắt bỏ mỡ cá.
-7Để giảm thiểu số lượng thủy ngân xâm nhập vào cơ thể, điều quan trọng là phải nghĩ tới loại cá nào ta ăn
và bao lâu ta lại ăn. Những con cá lớn, cá đã sống lâu và cá nhiều chất béo thường có nhiều chất độc hơn.
Những con cá sống nhờ ăn thịt những con cá khác – như walleye, northern pike và bass – có nhiều thủy
ngân nhất trong thịt của nó. Cũng như chúng ta, khi những con cá này ăn đồ ăn có thủy ngân thì thủy ngân
trở thành một phần của cơ thể chúng.


-8Một cách khác để thủy ngân khỏi làm hại đến sức khỏe là giảm thiểu số lượng thủy ngân xâm nhập vào môi
trường của chúng ta. Thủy ngân có trong một số vật dụng thong thường trong nhà như nhiệt kế, máy điều
nhiệt và đèn huỳnh quang. Không bao giờ được bỏ những vật dụng này vào thùng rác. Đa số các quận có
một chỗ đặc biệt gọi là “địa điểm thu nhận những phế vật gia dụng nguy hiểm” (“household hazardous
waste sites”), quý vị có thể mang những vật dụng này đến đó để phế bỏ đúng cách.
-9Đèn huỳnh quang dùng ít năng lượng nên bớt được tiền điện, nhưng bóng đèn này lại có thủy ngân. Do đó,
khi đèn huỳnh quang bị hư không dùng được nữa, ta không được vứt vào thùng rác mà phải đem đến địa
điểm thu nhận những phế vật gia dụng nguy hiểm của quận.
-10Một trong những cách tốt nhất để không có thủy ngân trong nhà hay trong môi trường là đừng mua những
món đồ có thủy ngân. Tính toán để giảm bớt thủy ngân trong đồ ăn và trong môi trường sẽ giúp cải thiện
sức khỏe và cộng đồng của chúng ta. Càng ít thủy ngân trong không khí và nước, những sông và hồ sẽ càng
lành mạnh và sạch sẽ để mọi người cùng hưởng! Hàng ngàn năm trước con người đã biết đến thủy ngân.
Thời kỳ đó, người Trung Hoa, Ấn Độ cho rằng thủy ngân là một loại thần dược giúp con người trường sinh
bất lão, chữa lành vết thương và duy trì sức khỏe. Người La Mã sử dụng thứ chất lỏng lấp lánh này để chế
ra các loại mỹ phẩm. Vì thế, thủy ngân đã có “cơ hội” trở thành thủ phạm của những vụ án nghiêm trọng.
1. “ Nước Bạc ” thời cổ đại :
Với tính chất lỏng và có ánh kim, thủy ngân đã được một thầy thuốc người Hy Lạp đặt cho cái tên “nước
bạc”. Theo tiếng Latinh, kim loại này có tên là hydrargyrum. Ở châu Âu, nó lại được lấy theo tên của một
vị thần La Mã - thần Mercury. Trong nhiều tài liệu cổ, người ta đã đề cập đến tác dụng chữa bệnh của thủy
ngân. Các thầy thuốc thời xưa mô tả cách họ điều trị bệnh nhân bị xoắn ruột bằng cách rót một lượng thủy
ngân chừng hơn 200g vào dạ dày người bệnh. Họ cho rằng “nước bạc” nặng và linh động sẽ luồn lách trong
ruột để nắn lại các đoạn ruột bị xoắn. Hậu quả của cách chữa bệnh theo cảm tính này thế nào, chúng ta đã
biết.
Hàng thế kỷ sau đó, thủy ngân vẫn được “trọng dụng” để chữa bệnh. Thủy ngân sử dụng để điều trị bệnh
giang mai vào thế kỷ 16, trước khi có các chất kháng sinh. Trong suốt thế kỷ 19, loại thần dược có tên là
“Blue mass” là một dạng thuốc viên thành phần chính là thủy ngân, đã được các thầy thuốc dùng để điều trị
các bệnh như táo bón, trầm cảm, đau răng và thậm chí dùng trong việc sinh nở. Cho đến đầu thế kỷ 20,
thủy ngân được cấp phát cho trẻ em hằng năm như là thuốc nhuận tràng và tẩy giun.
2. Những vụ án kinh hoàng :
Việc sử dụng thủy ngân sai trong quá khứ đã dẫn đến những hậu quả khôn lường. Những nạn nhân đầu tiên
có lẽ là các nhà giả kim thuật.
Từ thời cổ đại, các nhà giả kim thuật đã biết sử dụng thủy ngân để chế ra một số kim loại khác, đặc biệt là
vàng. Trong những “phòng thí nghiệm” sơ sài, các nhà giả kim Trung Hoa, Ai Cập, Ả Rập ngày đêm
“chung sống” với thứ chất lỏng kỳ lạ để mong tìm được “bí quyết” chế ra vàng. Họ không biết rằng, hơi
thủy ngân đã xâm nhập đường hô hấp, ngấm qua da... vào cơ thể họ. Hậu quả cuối cùng, họ đều mắc những
chứng bệnh kỳ lạ như ảo giác, ám ảnh, cơ thể suy nhược và chết một cách bí hiểm. Công trình mạ mái vòm
nhà thờ Isaac ở Petecbua (Nga) đã cướp đi hàng chục sinh mạng người thợ. Vì thủy ngân có khả năng hòa
tan nhiều kim loại, tạo thành các “hỗn hống” (amalgam), người ta đã đem hơn 100kg vàng nguyên chất,
hòa tan trong thủy ngân thành hỗn hống, sau đó đem tráng lên những tấm đồng đường kính lớn hàng chục
mét. Sau đó đem các tấm đồng này nung nóng trên những cái lò đặc biệt cho đến khi thủy ngân bốc hơi hết
và để lại một lớp vàng rất mỏng trên tấm đồng. Những người thợ làm vòm nhà thờ khi đó dù được trang bị
bảo hộ bằng
quần áo lao động và che mặt bằng một tấm kính để chống hơi độc và sức nóng. Song, những điều đó cũng
không ngăn được thứ hơi độc chết người màu xanh nhạt xâm nhập cơ thể họ. Tất cả hơn 10 người thợ đã
chết vì những căn bệnh bí hiểm mà không ai biết thủ phạm. Thời đó, người ta đã thêu dệt nên những câu
chuyện liên quan đến ma quỷ trong vụ án này.


Những cơn điên loạn và cái chết của vị Sa hoàng Ivan IV Vasilyevich (1530 - 1564) là một bí ẩn mà gần
đây mới được giải mã. Các tài liệu ghi lại ông vua này có một sức khỏe bình thường, nhưng sau đó mắc
chứng bệnh kỳ lạ, thỉnh thoảng lên cơn điên loạn. Trong một cơn cuồng nộ như thế, ông ta đã giết chết
chính con trai của mình. Ông ta thường xuyên bị ám ảnh bởi những ảo giác, luôn nghi ngờ xung quanh và
lúc nào cũng run sợ vì cho rằng tai họa đang rình rập xung quanh. Khi đó người ta cho rằng ông bị quỷ ám.
Nhưng việc khai quật hài cốt của ông do các nhà khoa học tiến hành sau này đã cho thấy thủ phạm chính là
thủy ngân. Nguyên nhân là do ông bị mắc chứng đau nhức xương, ông được các ngự y kê đơn cho sử dụng
nhiều loại thuốc mỡ chứa thủy ngân trong một thời gian dài. Ông đã bị ngộ độc do một lượng lớn thủy ngân
ngấm vào cơ thể. Xét nghiệm cho thấy hàm lượng thủy ngân trong xương của nhà vua rất cao.
Các nhà sử học từng nghiên cứu các kho lưu trữ của thế kỷ XVII đã khẳng định, sự nhiễm độc thủy ngân
cũng là nguyên nhân gây nên cái chết của vua Carl (Charles) II thuộc triều đại Stuart ở nước Anh. Vì quá
say mê những ý tưởng giả kim thuật, nhà vua đã trang bị một phòng thí nghiệm trong cung đình; tại đó, ông
ta đã sử dụng tất cả thời gian rỗi để nung thủy ngân. Các nhà bác học đã tìm được những tài liệu, trong đó
mô tả các triệu chứng bệnh tật của Carl II như tính cáu gắt, chứng co giật, bệnh niệu độc (bệnh đái ra các
chất độc) kinh niên. Các bệnh này do tác động lâu dài của hơi thủy ngân gây ra. Mặc dầu các vị ngự y đã
thử dùng đủ mọi phương thuốc hiệu nghiệm nhất của y học thời bấy giờ: hút máu, uống ký ninh nhưng vẫn
không thể cứu được nhà vua.
Đến tận thế kỷ 20, thủy ngân vẫn gây những vụ án kinh hoàng tại nhiều nơi. Tại Nhật Bản - đất nước có
nền công nghiệp phát triển cũng đã từng chấn động do thảm họa thủy ngân, mà người ta hay gọi là thảm
họa Minamata.
Vào đầu những năm 1950, nhiều người dân ở khu vực Minamata - một khu vực chuyên về đánh bắt thủy
sản ở phía Nam Nhật Bản bị mắc những chứng bệnh lạ như run rẩy chân tay, bại liệt, mất trí nhớ, một số
trường hợp bị tử vong. Các nhà chức trách phát hiện ra chất thải công nghiệp có chứa thủy ngân của công
ty sản xuất hóa chất Chisso đã làm cho các loài hải sản vùng biển này bị nhiễm thủy ngân. Người dân ở đây
đánh bắt và sử dụng các loại hải sản đó và bị nhiễm độc thủy ngân. Khoảng trên 3.000 người đã có những
khuyết tật nào đó hay có triệu chứng ngộ độc thủy ngân nặng nề hoặc đã chết vì ngộ độc.
Năm 1965, một vụ nhiễm độc trên diện rộng ở Nigata cũng xảy ra tương tự như ở Minamata và thủ phạm là
chất thải chứa thủy ngân của một công ty khai khoáng trên địa bàn. Năm 2001, có khoảng 1.700 trong số
2.200 người bị chết vì bị ảnh hưởng bởi độc chất từ nhà máy hóa chất ở miền Nam Nhật Bản, là do bị ngộ
độc vì ăn cá ở địa phương.
Và mới đây, một quan chức Nhật Bản cho biết thịt cá voi và cá heo cung cấp cho các buổi ăn trưa tại những
trường học trên toàn nước này đã nhiễm một lượng thủy ngân vượt quá xa tiêu chuẩn cho phép của Bộ Y tế.
Ngày nay, với tốc độ phát triển của các nền công nghiệp hiện đại, người ta càng lo ngại đến nguy cơ nhiễm
độc thủy ngân. Tuy vậy, cũng phải đánh giá một cách công bằng. Thủy ngân chính là một “người bạn”
thuộc dạng lâu năm nhất của con người và mang lại nhiều lợi ích nếu biết sử dụng đúng đắn. Thủy ngân là
tác nhân chủ yếu trong nhiều khí cụ vật lý: áp kế kỹ thuật, khí áp kế, bơm chân không. Nhiệt kế thủy ngân
là một trong những thiết bị phổ dụng nhất trên thế giới. Đèn thủy ngân - thạch anh tạo ra bức xạ tử ngoại rất
mạnh được sử dụng rộng rãi trong y học và trong công nghiệp hóa học...



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×