Tải bản đầy đủ

PHÁP LUẬT KINH DOANH QUỐC tế

PHÁP LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ_03

NHÓM 2:
Cao Văn Hậu
Hồ Thị Thúy Quỳnh
Nguyễn Hà Nhật Minh
Nguyễn Thị Tố Quyên
Vương Thị Phương Thảo

CÁC THIẾT CHẾ THƯƠNG MẠI KHU VỰC CƠ BẢN
ĐIỀU CHỈNH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
I.Khái quát về các thiết chế thương mại
1)Khái niệm thiết chế thương mại
Dưới góc độ của Luật thương mại quốc tế, các thiết chế thương mại điều
chỉnh thương mại quốc tế được hiểu là các cơ quan, tổ chức, có thành viên là
các quốc gia được thành lập trên cơ sở điều ước quốc tế và phù hợp với pháp
luật quốc tế nhằm điểu chỉnh hoạt động thương mại quốc tế.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đang trở thành xu thế tất yếu, các
thiết chế điều chỉnh thương mại quốc tế càng có ý nghĩa quan trọng, Tự do
thương mại ở các cấp độ khác nhau đòi hỏi phải có nhiều hơn những tổ chức,
cơ quan với công cụ hữu hiệu là hệ thống các văn bản pháp lý quốc tế làm cơ

sở cho quan hệ thương mại quốc tế ngày càng phát triển. Tổ chức thương mại
thế giới (WTO), Liên minh Châu Âu (EU), hiệp hội các quốc gia ĐNÁ
(ASEAN), hiệp định về khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) ra đời là
nhằm đáp ứng đòi hỏi này

2)Vai trò thiết chế thương mại
Cùng với sự phát triển của các quan hệ quốc tế, các thiết chế thương mại đóng
vai trò quan trọng đối với sự phát triển nền kinh tế thế giới nói chung và nền
kinh tế quốc gia nói riêng.Vai trò của những thiết chế này được thể hiện trên
những lĩnh vực cơ bản như:
-Góp phần hài hòa lợi ích kinh tế giữa các thành viên thông qua việc phối hợp
hành động, bổ sung, hoàn thiện các kế hoạch hợp tác kinh tế.
-Giải quyết hiệu quả hơn các vấn đề toàn cầu như vấn đề môi trường, an ninh
lương thực, năng lượng,…
-Các thiết chế thương mại có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đàm phán
và ký kết các điều ước quốc tế ở cấp độ khu vực cũng như toàn cầu nhằm xây


dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp luật quốc tế nói chung và pháp luật
thương mại nói riêng, thức đẩy tiến trình toàn cầu hóa diễn ra nhanh hơn.

3)Phân loại thiết chế thương mại
Căn cứ vào mục đích và cơ chế hình thành, tổ chức hoạt động và phạm vi điều
chỉnh, thiết chế thương mại chia làm 3 loại:
-Thiết chế thương mại khu vực: điều chỉnh quan hệ thương mại ở phạm vi
khu vực
-Thiết chế thương mại toàn cầu: điều chỉnh quan hệ thương mại ở phạm vi
toàn cầu
-Thiết chế thương mại chuyên ngành: điều chỉnh quan hệ thương mại theo
ngành

II.Các thiết chế thương mại khu vực
1)Thiết chế điểu chỉnh hoat động thương mại tự do khu vực
ĐNÁ (ASEAN)
ASEAN là 1 tổ chức quốc tế liên chính phủ có tính chất khu vực, được thành
lập 8/8/1967
Mục đích của ASEAN là thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và
phát triển văn hóa trong khu vực thông qua các nổ lực chung trên tinh thần
bình đẳng và hợp tác nhằm tăng cường cơ sở cho 1 số cộng đồng các quốc gia
ĐNÁ hòa bình và thịnh vượng
Khác với Liên minh Châu Âu(EU), các nước thành viên ASEAN không có sự
đồng nhất về thể chế chính trị và trình độ phát triển kinh tế VD như Singabo,
Thái Lan…đã trở thành những nước công nghiệp mới thì Việt Nam, Lào trình
độ phát triển công nghiệp vẫn còn thấp. Tuy nhiên trong 50 mấy năm tồn tại,
ASEAN ngày càng chứng tỏ uy tín, tầm ảnh hưởng của mình với các thành
viên. Hiện nay, ASEAN có tỷ trọng xuất khẩu lớn nhất so với các khối kinh tế
thương mại khác của các nước đang phát triển. Tốc độ tăng trưởng kinh tế
liên tục và tương đối ổn định của các nước thành viên ASEAN trong nhiều
năm qua là kết quả của việc triển khai thực hiện đường lối phát triển kinh tế
năng động và phù hợp đó là sự chuyển hướng từ công nghiệp hóa thay thế
nhập khẩu sang công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu
ASEAN cũng đang đàm phán để kí kết các hiệp định thương mại tự do(FTA)
và tăng cường hợp tác kinh tế chặt chẻ hơn với các nước như Trung Quốc,
Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc, Ấn Độ… Tiến trình đàm phán với Trung Quốc đã
thành công với việc kí hiệp định hợp tác kinh tế toàn diện về thương mại hàng
hóa ASEAN & Trung Quốc


Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung đang tác động trên diện rộng, trong đó có
các nước ASEAN. Nhiều nước ASEAN đang tìm cách cải thiện tăng trưởng
kinh tế, đi đôi với các nỗ lực nhằm tiến tới hội nhập kinh tế như Cộng đồng
Kinh tế ASEAN (AEC) hay Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực
(RCEP) rộng lớn hơn. Trong bối cảnh như vậy, ASEAN đặc biệt cần mở cửa
hơn nữa khi làm việc với các đối tác quốc tế.
Quan hệ giữa Việt Nam và ASEAN bước sang 1 trang mới kể từ 1992, khi
Việt Nam gia nhập hiệp ước Ba Li. VN trở thành thành viên chính thức của
ASEAN vào 7/1995 và đã tham gia hầu hết các lĩnh vực hợp tác kinh tế
thương mại trong ASEAN. Mặc dù VN đi sau các nước ASEAN khác nhưng
những nổ lực trong việc hoàn chĩnh hệ thống Pháp Luật chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong thời gian qua đã để lại những thành công đáng ghi nhận, góp
phần khẳng định vị trí VN trong khu vực cũng như trên TG

2)Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC)
APEC là một diễn đàn kinh tế mở, nhằm xúc tiến các biện pháp kinh tế, thúc
đẩy thương mại và đầu tư giữa các nến kinh tế thành viên trên cơ sở hoàn toàn
tự nguyện trong khi thực sự mở cửa đối với tất cả các nước và khu vực khác.
-Bối cảnh ra đời:
+Kinh tế khu vực: Khu vực châu Á, đặc biệt là Đông Á là những nền kinh tế
năng động trên thế giới vào những năm 1980 có tốc độ tăng trưởng trung bình
là 9-10%/năm. Mặc dù vậy, chưa có hình thức hợp tác kinh tế thương mại có
hiệu quả trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương để thúc đẩy sự phát triển
kinh tế.
+Chính trị: Sự điều chỉnh chiến lược của các quốc gia lớn vào cuối những
năm 80 khi chiến tranh lạnh chấm dứt, đặc biệt là sự hội tụ về lợi ích kinh tế
cũng như chính trị giữa những nước lớn dẫn tới việc hình thành một cơ cấu
kinh tế thương mại trong khu vực.
+Các nước đang phát triển: (ASEAN) cũng muốn tăng cường tiếng nói trong
khu vực để thúc đẩy phát triển kinh tế, nhưng không muốn làm lu mờ những
cơ chế hợp tác chính trị sẵn có.
-Quá trình hình thành và phát triển:
+Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) được 12
thành viên thuộc khu vực Châu Á-Thái Bình Dương sáng lập tại Hội nghị Bộ
trưởng Ngoại giao và Kinh tế tháng 11/1989 theo sáng kiến của Ôt-xtrây-lia.
Đến tháng 11/1998 kết nạp thêm Việt Nam, Nga và Pê-ru, đồng thời APEC
quyết định tạm ngừng thời hạn xem xét kết nạp thành viên mới thêm 10 năm
nữa để củng cố tổ chức


+Như vậy, cho đến thời điểm này, APEC có 21 thành viên, chiếm khoảng
52% diện tích lãnh thổ, 39% dân số, 70% nguồn tài nguyên thiên nhiên trên
thế giới và đóng góp khoảng 57% GDP toàn cầu và hơn 49% thương mại TG
+Nội dung hoạt động xoay quanh 3 trụ cột chính là tự do hoá thương mại và
đầu tư, tạo thuận lợi cho kinh doanh, và hợp tác kinh tế kỹ thuật với các
chương trình hành động tập thể (CAP) và chương trình hành động quốc gia
(IAP) của từng thành viên.
-Mục tiêu hoạt động của APEC
+Thực hiện tự do hoá thương mại và đầu tư tại Châu Á- Thái Bình Dương đối
với các nền kinh tế phát triển vào năm 2010 và đối với các nền kinh tế đang
phát triển vào năm 2020
+Tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư trong khu vực phát triển
+Hợp tác trong lĩnh vực kinh tế và kỹ thuật nhằm hỗ trợ lẫn nhau phát triển
ổn định và bền vững
-Nguyên tắc hoạt động
+ Cùng có lợi. Do tính đa dạng của các nền kinh tế trong APEC về chính trị,
văn hoá, kinh tế nên quá trình hợp tác phải bảo đảm được tất cả các nền kinh
tế APEC, bất kể sự chênh lệch mức độ phát triển, đều có lợi.
+Nguyên tắc đồng thuận Tất cả các cam kết của APEC phải dựa trên sự nhất
trí của các thành viên. Đây là nguyên tắc đã được các thành viên ASEAN áp
dụng và thu được nhiều kết quả.
+Nguyên tắc tự nguyện. Tất cả các cam kết của các thành viên APEC đều
dựa trên cơ sở tự nguyện (Ví dụ như IAP). Cùng với nguyên tắc đồng thuận,
đây là nguyên tắc khiến cho APEC trở nên khác với GATT/WTO. Tất cả
chương trình tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại của APEC không diễn ra
trên bàn đàm phán mà do các nước tự nguyện đưa ra.
+ Phù hợp với nguyên tắc của WTO/GATT. APEC cam kết thực hiện chế độ
thương mại đa phương của WTO và không phải là một liên minh thuế quan,
một Khu vực Tự do thương mại như NAFTA, AFTA.
-Triễn vọng hợp tác
+Trong bối cảnh toàn cầu hoá và Kinh tế mới cùng với sự phát triển nhanh
chóng của công nghệ thông tin như hiện nay, các Nhà Lãnh đạo APEC nhận
thức rõ sự cần thiết phải tập trung nhiều hơn vào các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật
nhằm giảm khoảng cách về phát triển trong APEC, giúp các thành viên đang
phát triển theo kịp xu thế phát triển của kỷ nguyên công nghệ thông tin.


+Thông qua các Hội nghị cấp Bộ trưởng về vấn đề Phát triển nguồn nhân lực,
nhiều dự án được thực hiện hướng vào mục tiêu thu hẹp khoảng cách về kỹ
thuật số, giúp các thành viên đang phát triển thực hiện các Hiệp định của
WTO. Trong những năm tới, bên cạnh việc chú trọng vào chương trình thuận
lợi hoá thương mại và đầu tư, chương trình hợp tác kinh tế kỹ thuật cũng sẽ
được đẩy mạnh hơn trong các hoạt động của APEC
+Với những khó khăn đặt ra trong quá trình thực hiện tự do hoá, APEC sẽ tập
trung nhiều hơn vào trụ cột thuận lợi hoá, coi đây là một biện pháp quan trọng
nhằm thực hiện mục tiêu Bô-go

3)Thiết chế điều chỉnh hoạt động thương mại trong khuôn khổ
Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương(TPP)
-CPP là một hiệp định/ thỏa thuận thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, gồm
11 nước thành viên là: Ốt-xtrây-li-a, Bru-nây, Ca-na-đa, Chi-lê, Nhật Bản,
Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Niu Di-lân, Pê-ru, Sin-ga-po và Việt Nam.
Hiệp định đã được ký kết ngày 8/3/2018 3 tại thành phố San-ti-a-gô, Chi-lê,
và chính thức có hiệu lực từ ngày 30/12/2018 . Đối với Việt Nam, Hiệp định
có hiệu lực từ ngày 14/1/2019
-Quá trình hình thành
+ Khởi đầu, TPP có 4 nước tham gia là Bru-nây, Chi-lê, Niu Di-lân, Singapo
+ Việt Nam chính thức tham gia Hiệp định này nhân Hội nghị Cấp cao APEC
tổ chức từ ngày 13 đến ngày 14 tháng 11 năm 2010 tại Nhật Bản
-Mục tiêu và vai trò:
-Giảm 90% các loại thuế xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên trước ngày
1/1/2006 và cắt giảm bằng 0 tới năm 2015.
-Tăng cường hợp tác kinh tế cũng như các chính sách, quy định thương mại
giữa các quốc gia, thông qua đó tiến tới xóa bỏ các loại thuế quan và rào cản
thương mại đối với hàng hóa, dịch vụ xuất, nhập khẩu giữa các nước thành
viên, nhằm tăng cường thương mại và đầu tư, thúc đẩy sáng kiến, đẩy mạnh
tăng trưởng kinh tế và lợi ích xã hội.
-VD như
+Đối với hàng nông nghiệp, các bên sẽ xóa bỏ hoặc cắt giảm thuế quan và các
chính sách mang tính hạn chế khác để gia tăng thương mại hàng nông nghiệp
trong khu vực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao an ninh lương thực và
hỗ trợ việc làm cho người nông dân và chủ trại nuôi gia súc của các nước TPP
+ Đối với dệt may, các bên tham gia TPP nhất trí xóa bỏ thuế quan đối với
hàng dệt may - ngành công nghiệp đóng vai trò quan trọng vào tăng trưởng


kinh tế tại một số thị trường của các nước TPP. Hầu hết thuế quan sẽ được xóa
bỏ ngay lập tức, mặt dù thuế quan đối với một số mặt hàng nhạy cảm sẽ được
xóa bỏ với lộ trình dài hơn do các bên thống nhất. Hàng dệt may cũng bao
gồm các quy tắc xuất xứ cụ thể yêu cầu việc sử dụng sợi và vải từ khu vực
TPP - điều này sẽ thúc đẩy việc thiết lập các chuỗi cung ứng và đầu tư khu
vực trong lĩnh vực này, cùng với cơ chế “nguồn cung thiếu hụt” cho phép việc
sử dụng một số loại sợi và vải nhất định không có sẵn trong khu vực.
+Đối với dịch vụ tài chính TPP cung cấp các cơ hội mở cửa thị trường đầu tư
và qua biên giới quan trọng,
-Nguyên tắc
+ Đối với hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT), các thành viên TPP đã
nhất trí về các nguyên tắc minh bạch và không phân biệt đối xử khi xây dựng
các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật và quy trình đánh giá sự phù hợp
+Sự bảo hộ đầu tư cơ bản như trong các hiệp định thương mại khác, bao gồm:
đối xử quốc gia; đối xử tối huệ quốc; “tiêu chuẩn đối xử tối thiểu” đối với đầu
tư trên cơ sở tập quán luật thương mại quốc tế; nghiêm cấm việc tự do chuyển
tiền liên quan đến đầu tư với các ngoại lệ trong Hiệp định TPP nhằm đảm bảo
cho các Chính phủ giữ quyền linh hoạt quản lý các dòng vốn không ổn định,
bao gồm thông qua biện pháp tự vệ tạm thời không phân biệt đối xử (chẳng
hạn như kiểm soát vốn) nhằm hạn chế việc chuyển tiền liên quan đến đầu tư
trong trường hợp khủng hoảng hoặc có nguy cơ khủng hoảng cán cân thanh
toán, và các cuộc khủng hoảng kinh tế khác hoặc để đảm bảo sự toàn vẹn và
ổn định của hệ thống tài chính
-Nghiêm cấm “các yêu cầu thực hiện” chẳng hạn như yêu cầu về hàm lượng
nội địa hoặc tỷ lệ nội địa hóa công nghệ; và tự do bổ nhiệm các vị trí quản lý
cấp cao mà không quan tâm đến quốc tịch.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×