Tải bản đầy đủ

Thu hoạch diễn án hành chính hồ sơ 12

HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ HÀ NỘI

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Môn: KỸ NĂNG LUẬT SƯ THAM GIA
VỤ VIỆC HÀNH CHÍNH
Mã số hồ sơ: LS.HC-12/DA2
Diễn lần: 01
Ngày diễn: 11/3/2019
Vai trò của luật sư: Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho
người khởi kiện
Họ và tên:
Sinh ngày:
SBD:
Lớp Luật sư 19

PHỤ LỤC


PHẦN 1: TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN



Vào lúc 21h10; ngày 23/12/2013, đoàn kiểm tra của Thanh tra Sở Văn hóa, thể
thao và du lịch tỉnh GL đến kiểm tra cơ sở kinh doanh Hoàng Lan do tại địa chỉ số 241
đường Lê Lai, thành phố P, tỉnh GL do bà Nguyễn Thị Tuyết làm chủ cơ sở.
Sau khi kiểm tra, đoàn kiểm tra lập Biên bản vi phạm hành chính số 11/BBVPHC, kết luận: Chủ cơ sở kinh doanh nhà trọ Hoàng Lan thiếu tinh thần trách nhiệm để
xảy ra hành vi vi phạm, cụ thể các hành vi: 1) Phòng 11 có ông Nguyễn Văn Thường, bà
Nguyễn Thị Lành không có giấy kết hôn đang quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục); 2)
phòng số 9 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy không có giấy kết hôn đang ở
chung phòng; 3) Chủ cơ sở không vào sổ bà Nguyễn Thị Lành ở phòng 11.
Ngày 10/3/2014, Phó giám đốc kiêm Chánh thanh tra Sở Văn hóa, thể thao và du
lịch tỉnh GL ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XP đối với bà Nguyễn
Thị Tuyết, phạt 15.000.000 đồng đối với hành vi “Thiếu tinh thần trách nhiệm tạo điều
kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức
hoạt động mại dâm.”
Không đồng ý với Quyết định xử phạt số 23/QĐ-XPHC, ngày 24/3/2014, bà Tuyết
làm đơn khiếu nại lên người có thẩm quyền giải quyết.
Ngày 07/4/2014, Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh GL có Công văn số 167/CVVHTTDL trả lời đơn khiếu nại của bà Tuyết với nội dung Thanh tra Sở ra Quyết định xử
phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC theo Biên bản vi phạm hành chính số 11/BBVPHC là đúng quy định.
Ngày 20/4/2014, Thanh tra Sở ra Quyết định số 01/QĐ-TTr giải quyết khiếu nại,
giữ nguyên Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 10/3/2014.
Không đồng ý với nội dung giải quyết khiếu nại như trên, ngày 02/5/2014, bà
Tuyết làm Đơn khởi kiện lên Tòa án nhân dân tỉnh GL yêu cầu hủy bỏ Quyết định xử
phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo số
23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh
GL.
Xác định tư cách đương sự, đối tượng khởi kiện
-

Người khởi kiện: bà Nguyễn Thị Tuyết – chủ cơ sở kinh doanh nhà trọ Hoàng Lan
Người bị kiện: Ông Trần Ngọc Minh – Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch tỉnh GL.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Văn Thành – Phó Chánh Thanh tra Sở (theo
Giấy ủy quyền - BL 26)
Đối đượng khởi kiện: Quyết định số 23/QĐ-XPHC trong hoạt động văn hóa, thể
thao và du lịch.


PHẦN 2: PHẦN HỎI
2.1. Hỏi người khởi kiện
- Khoảng thời gian 21h10’ ngày 23/12/2013, bà làm gì, ở đâu?
- Đoàn Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đến kiểm tra cở kinh doanh của bà có
bao nhiêu người? Họ có xuất trình giấy tờ cho bà không?
- Đoàn Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đến kiểm tra cở kinh doanh của bà về
việc gì?
- Bà cho biết bà làm những gì khi có khách đến trọ?
- Ai là người ghi chép thông tin khách trọ ra vào tại cơ sở của bà?
- Cơ sở không ghi tên khách trọ ra vào khi nào?
- Bà có biết mối quan hệ giữa ông Thường và bà Lành, giữa ông Quyết và bà Thùy
không?
- Bà nhận được Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC khi nào? Nhận
từ ai?
- Trong quá trình giải quyết khiếu nại, Thanh tra Sở có gọi bà lên làm việc không? Gọi
mấy lần? Làm việc về nội dung gì?
2.2. Hỏi đại diện người bị kiện
- Đoàn thanh tra lập Biên bản xử lý vi phạm vào thời gian nào?
- Đoàn kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan ngày 23/12/2013 có những ai?
- Căn cứ để kiểm tra đột xuất nhà trọ Hoàng Lan?
- Cơ sở nào xác định hành vi của ông Thường, bà Lành là mua bán dâm?
- Lúc đoàn thanh tra đến nhà trọ Hoàng Lan kiểm tra, bà Tuyết có mặt không?
- Tại sao sau hơn 2 tháng kể từ khi có Biên bản vi phạm hành chính mới ra Quyết định xử
phạt hành chính?
- Chánh thanh tra Sở có xin gia hạn thời hạn ra quyết định xử phạt không? Lý do là gì?
2.3 Hỏi những người liên quan
a, Hỏi anh Thường
- Anh cho biết họ tên? Địa chỉ? Nghề nghiệp?
- Anh thuê phòng ở nhà trọ Hoàng Lan vào thời gian nào? Anh ở phòng nào?


- Anh và chị Lành có mối quan hệ như thế nào?
- Anh đã đăng ký kết hôn với chị Lành chưa?
- Khi Đoàn thanh tra bất ngờ kiểm tra, anh chị đang làm gì?
- Đoàn thanh tra có yêu cầu anh xuất trình Giấy đăng ký kết hôn không?
b, Hỏi chị Lành
- Chị cho biết họ tên, địa chỉ, nghề nghiệp?
- Chị thuê phòng ở nhà trọ Hoàng Lan vào thời gian nào? Chị ở phòng nào?
- Chị và anh Thường có mối quan hệ thế nào?
- Ai là người thuê phòng 11 trước?
- Chị đã kết hôn với anh Thường chưa?
- Đoàn thanh tra có yêu cầu chị xuất trình Giấy đăng ký kết hôn khi họ kiểm tra không?
- Khi Đoàn thanh tra bất ngờ kiểm tra, anh chị đang làm gì?
c, Hỏi anh Văn
- Anh cho biết họ tên? Địa chỉ? Nghề nghiệp?
- Anh thuê phòng ở nhà trọ Hoàng Lan vào thời gian nào? Anh ở phòng nào?
- Anh và chị Thùy có mối quan hệ như thế nào?
- Anh và chị Thùy đã đăng ký kết hôn chưa?
- Khi Đoàn thanh tra bất ngờ kiểm tra, anh chị đang làm gì?
- Đoàn thanh tra có yêu cầu anh xuất trình Giấy đăng ký kết hôn khi họ kiểm tra không?
d, Hỏi chị Thùy
- Chị cho biết họ tên, địa chỉ, nghề nghiệp?
- Chị thuê phòng ở nhà trọ Hoàng Lan vào thời gian nào? Chị ở phòng nào?
- Chị và anh Quyết có mối quan hệ thế nào?
- Chị đã đăng ký kết hôn với anh Văn chưa?
- Chị đang có thai phải không?
- Đoàn thanh tra có yêu cầu chị xuất trình Giấy đăng ký kết hôn khi họ kiểm tra không?
- Khi Đoàn thanh tra bất ngờ kiểm tra, anh chị đang làm gì?


PHẦN 3: LUẬN CỨ CỦA LUẬT SƯ BẢO VỆ QUYỀN LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO
NGƯỜI KHỞI KIỆN
Kính thưa HĐXX,
Kính thưa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh GL,
Kính thưa vị luật sư đồng nghiệp,
Tôi là luật sư Nguyễn Thị Hồng Vân là luật sư của Công ty luật TNHH HH, thuộc
Đoàn luật sư Tp. Hà Nội. Theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Tuyết – chủ cơ sở kinh doanh
nhà trọ Hoàng Lan, được sự cho phép của quý Tòa, hôm nay tôi tham gia phiên tòa với tư
cách là Luật sư bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị Tuyết, là người
khởi kiện trong vụ án hành chính “Kiện yêu cầu hủy Quyết định số 23/QĐ-XPHC trong
hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch của Ông Trần Ngọc Minh – Chánh Thanh tra Sở
Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh GL ban hành ngày 10/3/2014 đối với chủ cơ sở kinh
doanh Hoàng Lan là bà Nguyễn Thị Tuyết về hành vi “Thiếu tinh thần trách nhiệm tạo
điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ
chức hoạt động mại dâm.”
Kính thưa hội đồng xét xử!
Qua việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, thu thập các chứng cứ có liên quan và phần trả
lời công khai của các bên trước Hội đồng xét xử tại phiên Toà hôm nay, tôi với tư cách là
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Tuyết, tôi
xin trình bày một số ý kiến pháp lý của mình đối với vụ án như sau:
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC của Chánh thanh tra Sở
Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh GL được ban hành không đúng các quy định của pháp
luật hiện hành và xâm phạm trực tiếp đến các quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ tôi.
Trước tiên, tôi đánh giá về mặt thủ tục.
Thứ nhất, về đối tượng khởi kiện
Đối tượng khởi kiện của vụ án là Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số
23/QĐ-XPHC của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh GL đối với bà
Tuyết là chủ cơ sở kinh doanh nhà trọ Hoàng Lan. Quyết định này đã xâm phạm trực tiếp
đến quyền và lợi ích hợp pháp của chính bà Tuyết cũng như cơ sở kinh doanh của bà. Đối
tượng khởi kiện đáp ứng đầy đủ điều kiện của pháp luật hiện hành, căn cứ khoản 1,
khoản 2 Điều 3 “Giải thích từ ngữ” Luật tố tụng hành chính năm 2015.
Thứ hai, về chủ thể khởi kiện và quyền khởi kiện
Bà Tuyết có quyền khởi kiện theo Điều 115 quy định về quyền khởi kiện vụ án của
Luật tố tụng hành chính năm 2015.
Thứ ba về thời hiệu khởi kiện
Căn cứ điểm a, khoản 3 Điều 116 quy định về thời hiệu khởi kiện của Luật tố tụng
hành chính năm 2015, thời hiệu khởi kiện là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được
quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quyết định giải quyết khiếu nại lần hai. Theo


hồ sơ tài liệu, ngày 20/4/2014 Chánh thanh tra Sở ra Quyết định số 01/2014 giải quyết
khiếu nại, ngày 02/5/2014, bà Tuyết khởi kiện. Như vậy thời hiệu khởi kiện vẫn còn khi
bà khởi kiện.
Về mặt nội dung, tôi xin trình bày một vài ý kiến quan điểm để bảo vệ cho thân
chủ của tôi như sau:
Thứ nhất, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC được ban
hành không ghi rõ ngày tháng năm.
Điều 2 của Quyết định chỉ ghi nhận “Bà Nguyễn Thị Tuyết phải nghiêm chỉnh
chấp hành Quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được giao Quyết định
xử phạt là ngày...tháng...năm 2014” và Điều 3 cũng không quy định rõ thời gian có hiệu
lực của quyết định xử phạt này, tôi xin được trích dẫn cụ thể “Điều 3: Quyết định này có
hiệu lực kể từ ngày...tháng...năm 2014. ...” Xét về hình thức của một văn bản, một quyết
định hành chính được ban hành bởi lãnh đạo của Sở ban ngành như thế này là không chấp
nhận được và không hiểu lý do vì sao, mục đích gì mà những mốc thời gian có ý nghĩa
quan trọng thế này lại bị bỏ trống.
Thứ hai, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC được ban
hành không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC của Chánh thanh tra Sở
Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành căn cứ điều 25, mục 2 chương II Nghị định số
167/2013/NĐ-CP. Tuy nhiên, theo Điều 69 về “Thẩm quyền xử phạt hành chính của
Thanh tra, Quản lý thị trường” của Nghị định số 167/2013/NĐ-CP thì Thanh tra Sở Văn
hóa, Thể thao và Du lịch chỉ có quyền xử phạt đối với những hành vi quy định tại mục 4,
chương II của Nghị định này, cụ thể là các vi phạm hành chính về phòng, chống bạo lực
gia đình. Vì vậy, việc Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh GL ra Quyết
định số 23/QĐ-XPHC để xử lý hành vi vi phạm quy định tại Điều 25 “Hành vi lợi dụng
kinh doanh, dịch vụ để hoạt động mua dâm, bán dâm” là trái thẩm quyền theo quy định
pháp luật.
Thứ ba, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC được ban
hành không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật.
Căn cứ theo khoản 1 Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, thời hạn
ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tối thiểu là 7 ngày, tối đa là 30 ngày kể từ ngày
lập Biên bản vi phạm đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp cần thêm thời gian để
xác minh, thu thập chứng cứ nhưng phải có văn bản xin gia hạn của người có thẩm quyền
giải quyết vụ việc báo cáo thủ trưởng trực tiếp. Như vậy, từ 23/12/2013 là ngày lập Biên
bản vi phạm đến 10/3/2014 là ngày ra quyết định xử phạt vi phạm đã quá 30 ngày.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của ông Chánh thanh
tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch khẳng định đã xin gia hạn thêm thời gian ra quyết
định xử phạt và được cơ quan có thẩm quyền đồng ý nhưng lại không cung cấp được bất
cứ một văn bản nào chứng minh việc đã được đồng ý gia hạn thời hạn ra quyết định xử


phạt vi phạm hành chính. Từ đó tôi khẳng định Quyết định số 23/QĐ-XPHC đã được ban
hành không đúng thời hạn theo quy định pháp luật hiện hành.
Thứ tư, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHP áp dụng sai
văn bản pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích của người vi phạm.
Cụ thể, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHP căn cứ vào Nghị
định số 167/2013/NĐ-CP để xử phạt hành vi vi phạm xảy ra trước ngày Nghị định này có
hiệu lực thi hành là không sai, gây bất lợi cho người vi phạm.
Căn cứ khoản 1 Điều 72 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định về hiệu lực thi
hành thì “Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 28 tháng 12 năm 2013”. Tuy
nhiên, hành vi vi phạm của bà tuyết xảy ra vào ngày 23/12/2013 căn cứ theo Biên bản vi
phạm số 11/BB-VPHC ngày 23/12/2013, như vậy là trước ngày Nghị định 167/2013 có
hiệu lực thi hành. Điều này là cái sai cơ bản khi áp dụng pháp luật để xử lý hành vi vi
phạm của người có thẩm quyền xử phạt, cần phải áp dụng pháp luật hiện hành tại thời
điểm xảy ra hành vi vi phạm để xử lý hành vi. Ông Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể
thao và Du lịch không thể áp dụng một văn bản pháp luật mà chưa có hiệu lực thi hành để
xử lý hành vi vi phạm là cái sai cơ bản trong việc áp dụng quy định pháp luật.
Khoản 2 Điều 73 về điều khoản chuyển tiếp của Nghị định số 167/2013/NĐ-CP
quy định như sau “Đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an
toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo
lực gia đình xảy ra trước ngày Nghị định này có hiệu lực mà còn khiếu nại thì áp dụng
quy định của những Nghị định trước đây để xử lý.”
Như vậy, Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh GL phải áp dụng
Nghị định số 73/2010/NĐ-CP tại thời điểm ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối
với bà Tuyết – chủ cơ sở mộc Hoàng Lan.
Thứ năm, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC kết luận
hành vi vi phạm không đúng với sự thật khách quan.
Cụ thể, theo tôi bà Tuyết không có hành vi vi phạm đã được nêu trong Quyết định
xử phạt là “thiếu tinh thần trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh
doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm”.
Căn cứ Điều 3, Pháp lệnh phòng chống mại dâm số 10/2018/PL-UBTVQH quy
định về những hành vi liên quan đến tệ nạn mại dâm như sau:
“1. Bán dâm là hành vi giao cấu của một người với người khác để được trả tiền
hoặc lợi ích vật chất khác.


2. Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho
người bán dâm để được giao cấu.
3. Mại dâm là hành vi mua dâm, bán dâm.
4. Chứa mại dâm là hành vi sử dụng, thuê, cho thuê hoặc mượn, cho mượn địa
điểm, phương tiện để thực hiện việc mua dâm, bán dâm.
5. Tổ chức hoạt động mại dâm là hành vi bố trí, sắp xếp để thực hiện việc mua
dâm, bán dâm.
6. Cưỡng bức bán dâm là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ
đoạn buộc người khác phải thực hiện việc bán dâm.
7. Môi giới mại dâm là hành vi dụ dỗ hoặc dẫn dắt của người làm trung gian để
các bên thực hiện việc mua dâm, bán dâm.
8. Bảo kê mại dâm là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín hoặc dùng vũ
lực, đe doạ dùng vũ lực để bảo vệ, duy trì hoạt động mại dâm.”
Qua quá trình nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ, dựa vào các chứng cứ thu thập được
và kết hợp với phần xét hỏi công khai tại phiên tòa hôm nay, tôi thấy không có một căn
cứ nào chứng minh rằng tại thời điểm bị kiểm ra, nhà trọ Hoàng Lan có hành vi mại dâm,
mua dâm, bán dâm, chứa mại dâm, tổ chức mại dâm theo quy định của pháp luật. Tại
Biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC ngày 23/12/2013, tại các bản tường trình
của khách thuê phòng cũng không có nội dung nào thể hiện có hành vi mua dâm, bán
dâm của những người khách thuê phòng trọ.
Tại Quyết định xử phạt hành chính có nội dung “Phòng 11 có ông Nguyễn Văn
Thường, bà Nguyễn Thị Lành không có giấy kết hôn đang quan hệ vợ chồng (quan hệ
tình dục); 2) phòng số 9 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy không có giấy kết hôn
đang ở chung phòng...”. Không có cơ sở để kết luận những người này không có giấy kết
hôn mà quan hệ tình dục với nhau là trái quy định pháp luật. Họ là vợ chồng, tại thời
điểm Đoàn kiểm tra tới nhà trọ, họ không mang theo Giấy đăng ký kết hôn và không xuất
trình được là điều dễ hiểu. Vợ tới thăm chồng không bắt buộc phải mang theo Giấy đăng
ký kết hôn. Họ là vợ chồng, hoàn toàn có quyền quan hệ tình dục Hơn nữa, bà Tuyết
không có nghĩa vụ yêu cầu khách thuê phòng phải xuất trình giấy chứng nhận đăng ký
kết hôn của họ khi họ thuê nhà. Bà không có trách nhiệm yêu cầu ông Thường và bà
Lành, ông Văn và bà Thùy phải chứng minh họ là vợ chồng hợp pháp khi cho họ thuê trọ.
Mại dâm, mua dâm, bán dâm là hành vi quan hệ tình dục có điều kiện, là giao dịch bằng
tiền. Tổ chức mại dâm là hành vi tổ chức, sắp xếp để hoạt động mua, bán dâm được diễn
ra, nghĩa là nếu bà Tuyết có hành vi tổ chức mại dâm thì bà phải có sự chuẩn bị phòng ốc,
sắp xếp người (do bà quản lý) cho hoạt động này. Thế nhưng trên thực tế hoàn toàn


không có những hành động này mà chỉ đơn thuần là bà cho khách thuê trọ, những người
khách họ có mối quan hệ hợp pháp, việc quan hệ tình dục và ở chung một phòng được
pháp luật cho phép. Đoàn kiểm tra không làm rõ được mối quan hệ của họ, không chứng
minh được có hành vi mại dâm ở nhà trọ của bà Tuyết mà chỉ căn cứ vào cơ sở là họ
không có giấy kết hôn, đang quan hệ và ở chung một phòng để kết luận đó là hành vi mại
dâm, quy tội thiếu trách nhiệm cho bà Tuyết là không có căn cứ, không phản ánh được sự
thật khách quan của vụ án, gây thiệt hại cho thân chủ tôi là bà Tuyết – chủ cơ sở kinh
doanh nhà trọ Hoàng Lan.
Từ những quan điểm trên đây và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, tôi khẳng định
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC của ông Chánh thanh tra Sở
Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh GL được ban hành trái với các quy định của pháp luật
và cơ sở thực tế khách quan.
Vì vậy, tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử: 1) Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của bà Nguyễn Thị Tuyết, tuyên hủy toàn bộ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số
23/QĐ-XPHC và Quyết định giải quyết khiếu nại số 01/QĐ-TTr của Chánh thanh tra Sở
Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh GL; 2) Buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
bồi thường thiệt hại, khôi phục quyền lợi ích hợp pháp của cơ sở kinh doanh Hoàng Lan
nói chung, bà Tuyết nói riêng bị xâm phạm bởi Quyết định xử phạt vi phạm hành chính
số 23/QĐ-XPHC gây ra.
Trên đây là quan điểm của tôi bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của Người
khởi kiện là bà Nguyễn Thị Tuyết. Tôi mong HĐXX xem xét, đánh giá để đưa ra một
phán quyết khách quan, công bằng và đúng pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp
pháp của các đương sự tại phiên tòa ngày hôm nay.
Tôi xin chân thành cảm ơn HĐXX đã chú ý lắng nghe.
Luật sư Nguyễn Thị Hồng Vân



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×