Tải bản đầy đủ

Khảo sát nhu cầu thông tin thuốc tại bệnh viện e

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC

BÙI SƠN NHẬT

KHẢO SÁT NHU CẦU THÔNG
TIN THUỐC TẠI BỆNH VIỆN E

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH DƯỢC HỌC

Hà Nội – 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC

BÙI SƠN NHẬT

KHẢO SÁT NHU CẦU THÔNG
TIN THUỐC TẠI BỆNH VIỆN E


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH DƯỢC HỌC

Khóa: QH.2012.Y
Người hướng dẫn:

1. PGS.TS Dương Thị Ly Hương
2. ThS. Lê Anh Tuấn

Hà Nội – 2017


Lời cảm ơn
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với hai người
thầy: PGS.TS Dương Thị Ly Hương và ThS. Lê Anh Tuấn – giảng viên bộ môn Dược
lý – Dược lâm sàng – Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình hướng dẫn,
chỉ bảo và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo cũng như các cán bộ, công nhân viên
tại bệnh viện E đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thu thập số liệu.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn với các thầy cô thuộc bộ môn Dược lý –
Dược lâm sàng nói riêng cũng như các thầy cô tại Khoa Y Dược, Đại học Quốc gia
Hà Nội – những người thầy đã dìu dắt tôi trong suốt năm năm học vừa qua.
Cuối cùng, tôi xin được cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, những người đã
luôn ở bên chia sẻ, động viên, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và hoàn thành
khóa luận.
Hà Nội, ngày 29 tháng 06 năm 2017

Sinh viên

Bùi Sơn Nhật


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Kí hiệu
BV
CSDL
ASHP

TTT

Tên đầy đủ

Bệnh viện
Cơ sở dữ liệu
Hội Dược sĩ thuộc hệ thống chăm sóc sức khỏe Mỹ
(American Society of Health-System Pharmacists)
Thông tin thuốc


DANH MỤC BẢNG
Bảng



3.1

Đặc điểm chung của nhóm bệ

3.2

Đặc điểm của nhóm bệnh nhâ

3.3

Mối quan hệ của một số yếu t
bệnh nhân

3.4

Mục đích sử dụng thông tin th

3.5

Những khó khăn gặp phải kh

3.6

Tỉ lệ tham gia tập huấn thông

3.7

Ý kiến đánh giá hoạt động th
viện

3.8

Mức độ thường xuyên tra cứu
viên y tế


DANH MỤC HÌNH

Hình


1.1

Sơ đồ vị trí của đơn vị thông t

3.1

Nhu cầu cung cấp thông tin th

3.2

Tỉ lệ bệnh trên các hệ cơ quan

3.3

Tỉ lệ số bệnh mắc phải ở hai n

3.4

Nhu cầu được cung cấp theo n

3.5

Thời gian tư vấn thông tin thu

3.6

Hình thức tư vấn thông tin thu

3.7

Đánh giá mức độ cần thiết củ
bác sĩ

3.8

Đánh giá mức độ cần thiết củ
điều dưỡng

3.9

Các nội dung thông tin thuốc
tâm

3.10

Hình thức trao đổi thông tin th

3.11

Nguồn tài liệu tra cứu thông t


DANH MỤC ĐỐI CHIẾU ANH-VIỆT

Tiếng Anh

Tiếng Vi ệt

Drug information

Thông tin thuốc

Medication information

Thông tin thuốc

Resources

Nguồn lực

Polypharmacy

Sử dụng số lượng lớn thuốc trong một đơn

Drug

Thuốc

Substance

Hoạt chất

Information

Thông tin thuốc

Drug information center

Trung tâm thông tin thuốc

Drug information specialist

Chuyên gia thông tin thuốc


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH ẢNH
DANH MỤC ĐỐI CHIẾU ANH-VIỆT
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ............................................................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN............................................................................................................... 3
1.1. Tổng quan về thông tin thuốc................................................................................................... 3
1.1.1. Khái niệm thông tin thuốc....................................................................................................... 3
1.1.2. Yêu cầu của thông tin thuốc.................................................................................................... 3
1.1.3. Phân loại thông tin thuốc.......................................................................................................... 5
1.1.4. Quy trình trả lời câu hỏi thông tin thuốc............................................................................ 6
1.1.5. Vai trò của thông tin thuốc....................................................................................................... 8
1.2. Hoạt động về thông tin thuốc trên thế giới và tại Việt Nam...................................... 9
1.2.1. Hoạt động thông tin thuốc trện thế giới.............................................................................. 9
1.2.2. Hoạt đông thông tin thuốc tại Việt Nam.......................................................................... 10
1.2.3. Đơn vị thông tin thuốc tại bệnh viện................................................................................. 12
1.3. Hoạt động của dược sĩ lâm sàng trong công tác thông tin thuốc...........................14
1.3.1. Điều kiện của dược sĩ lâm sàng........................................................................................... 14
1.3.2. Dược sĩ trong hoạt động thông tin thuốc......................................................................... 15
1.4. Một số nét về hoạt động thông tin thuốc tại Bệnh viện E......................................... 16
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.........18
2.1. Đối tượng nghiên cứu.................................................................................................................. 18
2.2. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................................... 18
2.3. Chỉ tiêu nghiên cứu...................................................................................................................... 18


2.3.1. Nhu cầu thông tin thuốc của bệnh nhân........................................................................ 18
2.3.2. Nhu cầu thông tin thuốc của cán bộ, nhân viên y tế.................................................. 19
2.4. Xử lí số liệu....................................................................................................................................... 19
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ..................................................................................................................... 20
3.1. Nhu cầu thông tin thuốc của bệnh nhân............................................................................ 20
3.1.1. Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu...................................................................................... 20
3.1.2. Nhu cầu thông tin thuốc của bệnh nhân........................................................................ 21
3.1.3. Đặc điểm của nhóm bệnh nhân có nhu cầu thông tin thuốc.................................. 22
3.1.4. Mối quan hệ của một số yếu tố với nhu cầu thông tin thuốc của bệnh nhân .. 26

3.2. Nhu cầu thông tin thuốc của cán bộ, nhân viên y tế.................................................... 26
3.2.1. Đánh giá mức độ cần thiết của thông tin thuốc.......................................................... 27
3.2.2. Nhu cầu về nội dung thông tin thuốc của cán bộ, nhân viên................................. 27
3.2.3. Hình thức trao đổi thông tin thuốc muốn nhận được................................................ 29
3.2.4. Mục đích của tra cứu thông tin thuốc............................................................................. 30
3.2.5. Nguồn tài liệu tra cứu thông tin thuốc............................................................................ 30
3.2.6. Khó khăn gặp phải khi tra cứu thông tin thuốc........................................................... 31
3.2.7. Tỷ lệ tham gia tập huấn công tác thông tin thuốc...................................................... 32
3.2.8. Đánh giá hoạt động thông tin thuốc từ khoa Dược bệnh viện..............................32
3.2.9. Mức độ thường xuyên tra cứu thông tin thuốc từ khoa Dược bệnh viện..........33
CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN.................................................................................................................. 34
4.1. Về nhu cầu thông tin thuốc của bệnh nhân..................................................................... 34
4.1.1. Đặc điểm của nhóm bệnh nhân nghiên cứu................................................................. 34
4.1.2. Đặc điểm nhu cầu thông tin thuốc của bệnh nhân..................................................... 35
4.1.3. Mối quan hệ của một số yếu tố với nhu cầu thông tin thuốc................................. 36
4.2. Về nhu cầu thông tin thuốc của cán bộ, nhân viên y tế.............................................. 36
4.2.1. Nhu cầu thông tin thuốc của cán bộ, nhân viên.......................................................... 36
4.2.2. Thực hành tra cứu thông tin thuốc của cán bộ và nhân viên y tế.........................37


4.2.3. Đánh giá hoạt động thông tin thuốc từ khoa Dược bệnh viện..............................38
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT................................................................................. 40
5.1. Kết luận.............................................................................................................................................. 40
5.1.1. Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu...................................................................................... 40
5.1.2. Đặc điểm nhu cầu thông tin thuốc của bệnh nhân..................................................... 40
5.2. Đề xuất............................................................................................................................................... 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuốc là một phần không thể thiếu trong đời sống, chúng có ảnh hưởng trực
tiếp tới sức khỏe của mỗi cá nhân nói riêng và cộng đồng nói chung. Để sử dụng
thuốc hiệu quả, an toàn, góp phần vào sự thành công của điều trị bệnh, việc có được
các thông tin thuốc chính xác, đầy đủ là rất quan trọng. Quan điểm hiện đại là
“Drug = Substance + Information” [3] cho thấy khi nói về thuốc, những thông tin
thuốc đi kèm là không thể thiếu. Cung cấp thông tin thuốc là nhiệm vụ cơ bản của
người dược sĩ nhằm đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả - một trong
những mục tiêu hàng đầu trong công tác điều trị.
Hiện nay, tình trạng sử dụng số lượng lớn thuốc trong một đơn
(polypharmacy) và các chế độ điều trị phức tạp đang trở nên phổ biến hơn, dẫn tới
tăng nguy cơ xảy ra tác dụng xấu, tương tác thuốc, không tuân thủ đúng hướng dẫn
điều trị bệnh cũng như giá cả tăng cao, gây khó khăn cho việc sử dụng thuốc hợp lí.
Cùng lúc đó, thông tin thuốc càng ngày càng trở nên dễ tiếp cận hơn [22]. Thông tin
thuốc có mặt ở rất nhiều dạng, dưới hình thức bản in cũng như bản lưu điện tử. Nhu
cầu thông tin thuốc của các đối tượng khác nhau cũng rất khác nhau. Bác sĩ và dược
sĩ cần đầy đủ thông tin về thuốc gốc và biệt dược, chỉ định và chống chỉ định của
thuốc, thuốc sử dụng trong điều trị cùng với các lựa chọn thay thế, chú ý trước khi
sử dụng thuốc, tương tác thuốc, tác dụng phụ, dạng thuốc và hiệu quả của dạng
thuốc đó, giá thành điều trị, …Trong khi đó, bệnh nhân cần những hướng dẫn cơ
bản để sử dụng thuốc được kê đơn cũng như biết cách tự chăm sóc bản thân [17].
Bên cạnh đó, với sự phát triển của khoa học và công nghệ trong ngành Dược, nhiều
thuốc mới với hoạt chất mới, công thức mới, dạng bào chế mới và biệt dược mới đã
được đưa ra thị trường, khiến cho nhu cầu thông tin thuốc chính xác, kịp thời dành
cho bệnh nhân cũng như cán bộ y tế càng trở nên cấp thiết. Đặc biệt là trong bối
cảnh mạng Internet phát triển và việc tiếp cận thông tin thuốc dễ dàng hơn như hiện
tại, bệnh nhân càng ngày càng có tiếng nói hơn trong quá trình điều trị của chính
mình, vì vậy đối tượng này càng ngày càng có nhu cầu được cung cấp thông tin
thuốc chính xác và toàn diện. Đồng thời, trình độ chuyên môn của và nhận thức của
cán bộ y tế càng ngày càng nâng cao, khiến cho áp lực xử lí và cung cấp thông tin
thuốc chuẩn xác, kịp thời trở nên lớn hơn.
Tại Việt Nam, công tác thông tin thuốc mới còn ở giai đoạn sơ khai và còn
gặp nhiều khó khăn. Tại nhà thuốc bệnh viện, hoạt động chủ yếu là cấp phát thuốc.
Sự tư vấn, trao đổi về thông tin thuốc cũng như cách sử dụng thuốc giữa dược sĩ và

1


người bệnh còn hạn chế. Trong khi đó, hoạt động trả lời câu hỏi, cung cấp thông tin
thuốc cho cán bộ y tế còn lồng ghép với công tác dược lâm sàng, dược sĩ làm nhiệm
vụ thông tin thuốc còn phải kiêm nhiệm, khiến cho hoạt động thông tin thuốc chưa
được thực hiện bài bản.
Bệnh viện E được thành lập vào tháng 10/1967, là một trong những bệnh
viện tuyến đầu trong hệ thống chăm sóc sức khỏe của thành phố Hà Nội. Hiện tại,
công tác cung cấp, tư vấn thông tin thuốc trực tiếp cho bệnh nhân chưa được triển
khai, tuy thông tin thuốc là một trong những nhiệm vụ của khoa Dược.
Chính vì lí do đó chúng tôi thực hiện đề tài “Khảo sát nhu cầu thông tin
thuốc tại bệnh viện E” với mục tiêu:
1. Khảo sát được nhu cầu trong nội dung thông tin thuốc và đánh giá được mức độ

ưu tiên trong nội dung thông tin thuốc của các bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện
E.
2. Khảo sát được nhu cầu thông tin thuốc của bác sĩ và điều dưỡng tại Bệnh viện E.

2


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về thông tin thuốc
1.1.1. Khái niệm thông tin thuốc
“Thông tin thuốc” được định nghĩa là “việc thu thập và/hoặc cung cấp các
thông tin có liên quan đến thuốc như chỉ định, chống chỉ định, liều dùng, cách dùng,
phản ứng có hại của thuốc, phòng ngừa khi dùng cho những nhóm người đặc biệt
(trẻ em, phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú, người cao tuổi và các đối tượng khác)
của đơn vị, cá nhân có trách nhiệm thông tin thuốc nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin
của các đơn vị, cá nhân đang trực tiếp hành nghề y, dược hoặc của người sử dụng
thuốc” [6].
“Thông tin thuốc” có thể được mô tả là thông tin dưới dạng in trong văn bản
hoặc được phát ngôn ra mà gắn liền với thuốc [21]. Trong nhiều trường hợp, cụm từ
này được sử dụng gắn liền với các cụm từ khác nhau tương ứng với các văn cảnh
khác nhau, cụ thể là:
 Chuyên gia/dược sĩ/người cung cấp
 Trung tâm/dịch vụ/thực hành
 Chức năng/kĩ năng
Với thực tế vô cùng đa dạng và phức tạp của các thuốc điều trị cũng như các tài
liệu liên quan đến thuốc, thuật ngữ “Thông tin thuốc” thường được gắn liền với các
khái niệm “Trung tâm thông tin thuốc” và “chuyên gia thông tin thuốc”, có nghĩa là nói
tới thông tin thuốc là nói đến hoạt động chuyên môn của người dược sĩ cũng như nói
đến một hệ thống thông tin hoạt động với các chức trách chuyên biệt [3].

1.1.2. Yêu cầu của thông tin thuốc
1.1.2.1. Yêu cầu về nội dung thông tin thuốc






Một thông tin thuốc phải có đầy đủ những yêu cầu sau:
Khách quan
Chính xác
Trung thực
Mang tính khoa học
Rõ ràng và dứt khoát [3]
Nội dung thông tin thuốc bao gồm [12]:

 Thông tin cho người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh bao gồm tên thuốc,

thành phần, nồng độ, hàm lượng, dạng bào chế, chỉ định, chống chỉ định, liều

3


dùng, cách dùng, sử dụng thuốc trên các đối tượng đặc biệt, các thông tin liên
quan đến cảnh báo và an toàn thuốc và các thông tin cần thiết khác;
 Thông tin cho người sử dụng thuốc bao gồm tên thuốc, công dụng, chỉ định,

chống chỉ định, liều dùng, cách dùng và những vấn đề cần lưu ý trong quá trình
sử dụng thuốc;
 Thông tin cho cơ quan quản lý nhà nước về dược bao gồm thông tin cập nhật về

chất lượng, an toàn, hiệu quả của thuốc.
Nội dung thông tin thuốc được xây dựng căn cứ theo những tài liệu [12]:
 Dược thư Quốc gia Việt Nam
 Tờ hướng dẫn sử dụng thuốc đã được Bộ Y tế phê duyệt
 Tài liệu, hướng dẫn chuyên môn có liên quan đến thuốc do Bộ Y tế ban hành

hoặc công nhận.
Tài liệu thông tin thuốc chỉ được cung cấp các thông tin về thuốc, không đưa
những thông tin không liên quan đến thuốc [12].
1.1.2.2. Yêu cầu về hình thức thông tin thuốc
Tài liệu thông tin để giới thiệu thuốc cho cán bộ y tế phải có dòng chữ "Tài liệu
thông tin cho cán bộ y tế” ở trên đầu tất cả các trang. Đối với những tài liệu gồm nhiều
trang phải đánh số trang, ở trang đầu phải ghi rõ phần thông tin chi tiết về sản phẩm
xem ở trang nào (ghi số trang cụ thể) và in rõ: (a) Số Giấy tiếp nhận hồ sơ đăng ký tài
liệu thông tin thuốc của Cục Quản lý dược - Bộ Y tế XXXX/XX/QLD-TT, ngày ...
tháng ... năm ..., (b) ngày ... tháng ... năm ... in tài liệu [5].

Phần tài liệu chứng minh và phần trích dẫn để minh hoạ cho nội dung thông
tin phải trung thực, cập nhật và ghi rõ tên tài liệu, tên tác giả, thời gian xuất bản tài
liệu. Các thông tin mới phát minh, phát hiện qua nghiên cứu khoa học hoặc qua theo
dõi sản phẩm trên thị trường phải được cung cấp theo hình thức cập nhật thông tin
khoa học kèm theo tài liệu chứng minh. Phần thông tin mới phải ghi dòng chữ:
“Phần thông tin này chỉ dùng để tham khảo” [6].
1.1.2.3. Yêu cầu về trách nhiệm cung cấp thông tin thuốc
Những tổ chức, đơn vị, cá nhân có quyền và nghĩa vụ cung cấp thông tin
thuốc bao gồm [12]:


Cơ sở kinh doanh dược, văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài hoạt
động trong lĩnh vực dược tại Việt Nam, cơ sở đăng ký thuốc có trách nhiệm cập
nhật thông tin thuốc của cơ sở đang lưu hành trên thị trường cho cơ quan quản

4


lý nhà nước về dược và cung cấp thông tin thuốc phù hợp cho người hành nghề
khám bệnh, chữa bệnh và người sử dụng thuốc.


Người của cơ sở kinh doanh dược giới thiệu thuốc cho người hành nghề khám
bệnh, chữa bệnh theo quy định.



Người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm cung cấp thông tin thuốc
có liên quan cho người sử dụng thuốc trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh.

Cơ quan quản lý nhà nước về dược trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình có trách nhiệm công bố thông tin về chất lượng, an toàn, hiệu quả của thuốc.
1.1.3. Phân loại thông tin thuốc [3]
1.1.3.1. Phân loại theo nguồn thông tin
Thông tin thuốc có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau: dựa trên
đối tượng được thông tin (thầy thuốc kê đơn, y tá điều dưỡng, dược sĩ, người bệnh,
…) theo nội dung chuyên biệt của thông tin (đặc tính và cách sử dụng của thuốc, giá
cả,…). Một cách phân loại phổ biến là phân loại theo nguồn thông tin.
 Nguồn thông tin cấp một: Các bài báo, công trình gốc đăng tải đầy đủ trên các

tạp chí hoặc đưa lên mạng Internet, các báo cáo chuyên môn, khóa luận tốt
nghiệp của sinh viên, …
 Nguồn thông tin cấp hai: Bao gồm hệ thống mục lục các thông tin hoặc các bài

tóm tắt của các thông tin thuộc nguồn thông tin thứ nhất, được sắp xếp theo các
chủ đề nhất định.
 Nguồn thông tin cấp ba: Các thông tin được xây dựng bằng cách tổng hợp các

thông tin từ hai nguồn thông tin trên. Tác giả của nguồn thông tin thứ ba thường
là các chuyên gia về thuốc trong một lĩnh vực nào đó; từ các kiến thức chuyên
sâu trong lĩnh vực đó, họ sẽ phân tích, tổng hợp các thông tin liên quan để đưa ra
thông tin mang tính khái quát về một vấn đề. Các thông tin thuộc nguồn cấp ba
thường được công bố dưới dạng sách giáo khoa, bản hướng dẫn điều trị
chuẩn,…[3]
1.1.3.2. Phân loại theo đối tượng được thông tin
 Thông tin cho cán bộ y tế:
Cho cá nhân: Thầy thuốc kê đơn; y tá điều dưỡng; dược sĩ (bệnh viện, cửa
hàng).
 Cho tổ chức: Hội đồng thuốc và điều trị; Bảo hiểm y tế…
 Thông tin cho người sử dụng:
 Bệnh nhân, người dùng thuốc


5


Nhân dân, người tiêu dùng thuốc
1.1.3.3. Phân loại theo nội dung thông tin [3]


 Các thông tin liên quan tới đặc tính và cách sử dụng của thuốc: Bao gồm các

thông tin về:
 Dạng bào chế và sinh khả dụng của thuốc
 Dược lực học
 Dược động học
 Đánh giá sử dụng, lựa chọn thuốc
 Hướng dẫn sử dụng thuốc (chế độ liều, phác đồ điều trị, lưu ý khi dùng…)
 ADR, độc tính của thuốc
 Tác dụng gây quái thai, đột biến
 Sử dụng thuốc cho các đối tượng đặc biệt
 Độ ổn định, tính tương kị của thuốc
 Tương tác thuốc
 Các thông tin về luật, chính sách y tế, số đăng kí…
 Thông tin về giá cả
1.1.4. Quy trình trả lời câu hỏi thông tin thuốc
Nếu như không có quy trình trả lời thông tin thuốc một cách có hệ thống, câu
trả lời sẽ không phù hợp và/hoặc thiếu chất lượng, sự liên lạc sẽ không tốt, những
thông tin quan trọng bị bỏ qua và sẽ thiếu những dẫn chứng phù hợp [18]. Vì vậy, từ
năm 1975, mô hình quy trình câu hỏi thông tin thuốc đầu tiên đã được xây dựng bởi
Watanabe và cộng sự [25]. Mô hình này đã được chỉnh sửa và phát triển thêm, điển
hình là mô hình của Host và Kirkwood đưa ra năm 1987 [21]:
 Bước 1: Xác định đặc điểm của người yêu cầu thông

tin Bao gồm:
Tên, địa chỉ liên lạc, điện thoại, email, số fax …để có thể liên lạc một cách
thuận tiện nhất
 Nghề nghiệp, trình độ chuyên môn.


Với các đối tượng yêu cầu thông tin thuốc khác nhau thì nội dung của thông tin
trả lời sẽ khác nhau. Thông tin cho cán bộ y tế phải mang tính khoa học, chuyên sâu
trong khi thông tin cho người sử dụng thường phải ngắn gọn, đơn giản và dễ hiểu.
 Bước 2: Thu thập các thông tin cơ bản từ người yêu cầu thông tin

Khả năng thu thập các thông tin có liên quan để làm rõ cho hoàn cảnh cụ thể
là rất quan trọng cho việc sử dụng hiệu quả mô hình quy trình trả lời câu hỏi thông

6


tin thuốc. Đây là bước khó nhất đối với sinh viên thực tập cũng như các dược sĩ
đang hành nghề. Để trả lời được câu hỏi “Tại sao người hỏi lại hỏi về thông tin này”
thì các thông tin liên quan phải đủ và rõ ràng [21].
Một số thông tin cơ bản cần được thu thập, trong khi một số câu hỏi thông tin
khác còn phụ thuộc vào bản chất của yêu cầu. Năm 1990, trung tâm thông tin thuốc
thuộc Đại học Y và Bệnh viện Virginia đưa ra các câu hỏi thu thập thông tin cơ bản
sau [21]:
 Tên của người yêu cầu thông tin
 Địa chỉ và/hoặc điện thoại liên lạc
 Cơ quan hoặc địa chỉ nơi hành nghề (nếu người hỏi là nhân viên y tế)
 Một số thông tin tham khảo như: học vị, nghề nghiệp, chức vụ,…
 Các nguồn thông tin thuốc mà họ đã tham khảo
 Câu hỏi thông tin thuốc sẽ dùng cho bệnh nhân hay dùng cho nhân viên y tế
 Chẩn đoán bệnh, kết quả xét nghiệm, các thuốc đang điều trị đồng thời
 Tính cấp thiết của câu hỏi (thời hạn phải trả lời)
Tùy theo yêu cầu trong hoàn cảnh cụ thể, người làm công tác tư vấn thông
tin thuốc phải đưa ra các câu hỏi chuyên biệt để nhận được các thông tin cần thiết.
 Bước 3: Xác định và phân loại yêu cầu cơ bản
Theo một nghiên cứu được tiến hành tại trung tâm thông tin thuốc của bệnh
viện trực thuộc Đại học Y Virginia trong khoảng thời gian 06 tháng, 85% yêu cầu
cơ bản của người hỏi khác với câu hỏi ban đầu của họ [21]. Vì vậy, một kỹ năng
quan trọng trong quy trình thông tin thuốc (TTT) là phải kết hợp câu hỏi ban đầu
với các thông tin được khai thác trong hai bước trên để tìm ra câu hỏi cuối cùng.
Sau khi đã xác định được yêu cầu cơ bản của khách hàng, việc tiếp theo là
phân loại yêu cầu này. Việc phân loại không chỉ có ích cho định hướng chiến lược
tìm kiếm thông tin ban đầu mà còn để xác định các nguồn lực cũng như nhân lực
cần thiết.
 Bước 4: Tìm kiếm thông tin
Căn cứ vào nội dung chuyên biệt của thông tin cần tìm kiếm, người làm
công tác thông tin thuốc sẽ lựa chọn nguồn thông tin thích hợp để tìm ra các thông
tin đáp ứng yêu cầu. Có thể bắt đầu từ nguồn thông tin thứ hai để tìm ra các tài liệu
có liên quan và tùy theo yêu cầu cụ thể để tiếp tục lựa chọn thông tin từ các nguồn
tài liệu này. Tuy vậy, thông thường việc tìm kiếm thông tin hiệu quả nhất khi bắt
đầu từ nguồn tài liệu cấp 3 [18]. Nó cung cấp cho người sử dụng một cái nhìn tổng
thể nhất về vấn đề cần tìm kiếm.
7


Sau khi các nguồn thông tin đã được lựa chọn, chúng sẽ được xếp theo độ
quan trọng dựa trên khả năng chúng có chứa thông tin cần tìm hay không. Nếu
không xếp theo độ quan trọng, các nguồn thông tin có thể được đánh giá theo khả
năng dễ tiếp cận hay dễ sử dụng thay vì hiệu quả [21].
 Bước 5: Đánh giá, phân tích, tổng hợp thông tin
Kĩ năng đánh giá thông tin là một kĩ năng rất khó, đòi hỏi phải có kiến thức
chuyên sâu về nhiều lĩnh vực trong y dược học. Việc phân tích và tổng hợp ở bước
này phải tính tới các thông tin cơ bản đã thu thập trước đó để cho câu trả lời trở nên
có liên quan và hữu ích đối với người hỏi.
 Bước 6: Trả lời thông tin
Nếu câu trả lời không được cung cấp đúng lúc hay không đủ sâu, toàn bộ
công sức sẽ bị uổng phí. Thông thường, thông tin sẽ được trả lời qua giao tiếp – kĩ
năng giao tiếp tốt, từ cách diễn đạt cho tới phát âm chính xác, là rất quan trọng.
Mỗi lần trả lời cũng tương tự như một bài giảng – người trả lời phải chuẩn bị cho
những câu hỏi đi kèm, vì vậy nội dung trả lời câu hỏi chỉ phản ánh một phần kiến
thức cũng như phần chuẩn bị của người trả lời [21].
Tuỳ theo yêu cầu của khách hàng mà thông tin có thể được trả lời dưới
nhiều hình thức: trả lời miệng, trả lời qua điện thoại, qua thư/ thư điện tử, phiếu trả
lời thông tin…có gửi kèm tài liệu tham khảo dưới dạng đường link, bản tóm tắt
hoặc bản đầy đủ nếu được yêu cầu.
 Bước 7: Lưu trữ, thu thập thông tin phản hồi
Việc thu thập thông tin phản hồi là để đánh giá xem câu trả lời đã hợp lí,
chính xác và đầy đủ hay chưa sau khi trao đổi, đặc biệt trong trường hợp câu hỏi
liên quan đến bệnh nhân cụ thể. Khi có những dữ liệu mới hoặc có thay đổi trong
những tình huống hoặc hoàn cảnh quyết định tới câu trả lời thông tin thuốc, cần có
quá trình tiếp tục liên lạc với khách hàng để trao đổi tiếp; làm như vậy sẽ giúp
người trả lời trong việc tăng kiến thức và hiểu biết cũng như người bệnh mạn tính
và cả người quản lí [21].
1.1.5. Vai trò của thông tin thuốc
Việc tiếp cận với những thông tin chính xác, cập nhật, khách quan, phù hợp
với từng đối tượng là cần thiết để phục vụ cho việc kê đơn, phân phát và sử dụng
thuốc hợp lí. Dù cho hệ thống y tế có thể cung cấp thuốc chất lượng tốt như thế nào,
nếu những thuốc đó không được sử dụng chính xác, chúng sẽ không có hiệu quả,
thậm chí có thể để lại tác dụng xấu. Mặc dù tiếp cận với thông tin thuốc tốt không

8


đảm bảo chắc chắn rằng việc sử dụng thuốc sẽ tốt, nhưng đó là yêu cầu cơ bản cho
việc ra quyết định hợp lí liên quan tới thuốc [17].
1.2. Hoạt động về thông tin thuốc trên thế giới và tại Việt Nam
1.2.1. Hoạt động thông tin thuốc trên thế giới
1.2.1.1. Hoạt động thông tin thuốc tại các nước phát triển
Năm 1962, Trung tâm thông tin thuốc đầu tiên được thành lập tại Trung tâm
y tế Kentucky - Mỹ, do một bộ phận tách ra khỏi khoa Dược chuyên làm nhiệm vụ

cung cấp thông tin thuốc. Nhiều trung tâm thông tin thuốc khác cũng được lập ra
sau đó – vào năm 1973, có 54 trung tâm như vậy do dược sĩ điều hành tại Mỹ [21].
Sang thập kỉ 70, tại nhiều nước đã hình thành hệ thống các trung tâm thông tin
thuốc từ trung ương đến địa phương. Tại Úc, trung tâm thông tin thuốc đầu tiên
được thành lập năm 1968 tại bệnh viện Royal Melbourne, Victoria - đến cuối thập kỉ
70, các trung tâm thông tin thuốc đã được hình thành ở hầu hết các bệnh viện đa
khoa địa phương [23].
1.2.1.2. Hoạt động thông tin thuốc tại các nước đang phát triển
Tại các nước đang phát triển, hoạt động thông tin thuốc bắt đầu muộn hơn.
Cho đến những năm 80, các trung tâm thông tin thuốc đầu tiên mới được thành lập
như Zimbabwe (1979), Costa Rica (1983), Hong Kong (1988) [16,19,20]. Hoạt
động thông tin thuốc mặc dù đã có những bước tiến nhưng còn chậm chạp và gặp
nhiều khó khăn. Các cơ sở hạ tầng, vốn, có sẵn tại các nước phát triển như dịch vụ
bưu điện và viễn thông, còn thiếu thốn, khiến cho việc tiến hành các dự án tại các
nước đang phát triển khó khăn hơn nhiều. Bên cạnh đó, còn những vấn đề về các
mặt khác như: kinh tế, văn hóa, chính trị… [24]
Ví dụ tại châu Phi, những khó khăn sau được nhận dạng:
 Kinh tế: Thiếu thốn nguồn vốn, cơ sở hạ tầng và khoa học kĩ thuật làm thiếu hụt

nguồn dữ liệu thông tin, làm hạn chế khả năng thu thập thông tin thuốc các cơ
quan y tế và hành pháp cũng như khả năng mở ra các dịch vụ thông tin thuốc.
 Nhân lực: Các cơ quan Nhà nước không có đủ ngân sách để chi cho việc thuê

một người chuyên trách công tác thông tin thuốc hoặc thuê các tổ chức, cơ quan
bên ngoài làm. Các công chức thường phải đảm nhận nhiệm vụ này song song
với nhiệm vụ chính của họ, dẫn tới quá tải và trì hoãn công việc.
 Hệ thống y tế: Nhiều nguồn dữ liệu thiết yếu cho công tác thông tin thuốc

không hề tồn tại, ví dụ như tỉ lệ tử vong chỉ có một số quốc gia châu Phi lưu trữ.
Nhiều hệ thống dữ liệu đang trong quá trình xây dựng phải phụ thuộc vào dữ
liệu từ các cơ quan hành pháp. Thêm vào đó, nhiều nghiên cứu chuyên biệt, ví
9


dụ như các khảo sát trong trường, hiếm khi được tiến hành và nếu có thì thường
có quy mô hạn chế do thiếu nguồn tài chính cũng như nhân lực đủ trình độ.
 Trình độ: Số lượng người được đào tạo về những lĩnh vực chuyên sâu như dịch

tễ thuốc là có hạn do cơ hội học lên cao ở châu Phi hạn chế. Vì vậy, số liệu hiện
có sẽ thiếu độ tin cậy và thiếu chất lượng.
 Tầm quan trọng: Các quốc gia châu Phi phải đối mặt với những tình trạng cấp

bách như nạn đói, đại dịch HIV/AIDS; các hoạt động trước mắt như đảm bảo
nước sạch, vaccine…là quan trọng và cấp thiết hơn.
 Liên lạc, giao tiếp: Tình trạng bất đồng ngôn ngữ cũng như văn hóa làm cản trở

việc thu thập thông tin và xây dựng hệ thống thông tin thuốc.
 Chính trị: Bất ổn chính trị kéo dài và xung đột liên miên khiến cho khả năng

thực hiện hoạt động thông tin thuốc trở nên bị hạn chế; các cá nhân thực hiện
công tác này có thể không đủ năng lực hoặc không công tác được lâu dài.
Những vấn đề trong việc thiết lập hệ thống thông tin thuốc tại châu Phi
không chỉ có riêng tại đây mà còn là những vấn đề chung với các nước đang phát
triển [24].
1.2.2. Hoạt động thông tin thuốc tại Việt Nam
Trung tâm Theo dõi phản ứng có hại của thuốc đầu tiên của Việt Nam được
thành lập tại Hà Nội vào năm 1994 với sự hỗ trợ về chuyên gia cũng như trang thiết
bị và cơ sở dữ liệu từ tổ chức SIDA (Thụy Điển). Năm 2003, Bộ Y tế ban hành công
văn 10766/YT-ĐTr về việc hướng dẫn tổ chức, chức năng nhiệm vụ và hoạt động
của đơn vị thông tin thuốc trong bệnh viện. Công văn số 3483/YT-ĐTr của Bộ
Y tế ngày 19/5/2004 cũng một lần nữa hướng dẫn các BV trên toàn quốc phải thành

lập đơn vị thông tin thuốc trong bệnh viện.
Ngày 9/6/2009, Trung tâm quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản
ứng có hại của thuốc đã được thành lập. Đây là đơn vị đầu ngành về thông tin thuốc
và cảnh giác dược ở tuyến trung ương, có chức năng giúp Bộ y tế xây dựng và cung
cấp cơ sở dữ liệu thông tin về thuốc bao gồm cả thông tin về cảnh giác dược, đào
tạo, nghiên cứu khoa học, chỉ đạo tuyến, hợp tác quốc tế, tư vấn dịch vụ về thông tin
thuốc và cảnh giác dược [5].
Bộ Y tế, Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Y tế ngành và
các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm tổ chức thông tin thuốc và theo dõi
phản ứng có hại của thuốc; kịp thời thông báo tới các đối tượng kê đơn và sử dụng
thuốc nhằm đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả. Trung tâm Quốc
gia về thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc có trách nhiệm giúp
10


Bộ Y tế trong việc thu thập, tổng hợp, phân tích, báo cáo và cung cấp các thông tin
có liên quan đến thuốc, các phản ứng có hại của thuốc [6].
Tuy nhiên, hoạt động thông tin thuốc hiện tại còn hoàn toàn nhờ sự hỗ trợ
của các tổ chức quốc tế, vì vậy chưa có sự định hướng lâu dài. Bên cạnh đó, hoạt
động thông tin thuốc tại Việt Nam còn những tồn tại như sau:
 Về hệ thống tổ chức:
 Hệ thống các trung tâm thông tin thuốc và theo dõi tác hại của thuốc từ trung
ương đến cơ sở đều chưa hoàn chỉnh về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ.
 Hiệu quả hoạt động của các trung tâm thông tin thuốc phụ thuộc nhiều vào các

nguồn tài trợ, dự án và chưa có sự phối hợp với nhau.
 Tại các cơ sở điều trị, đơn vị thông tin thuốc thành lập nhưng hầu như không

hoạt động hoặc hoạt động không hiệu quả, còn mang nặng tính hình thức,
chưa có nội dung, phương hướng hoạt động cụ thể.
 Các nhà sản xuất dược phẩm của Việt Nam, các nhà phân phối của Việt Nam

và của nước ngoài mới chỉ chú trọng đến phần quảng bá sản phẩm và xem nhẹ
phần thông tin thuốc [1].
 Về cơ sở vật chất và trang thiết bị:
 Cơ sở vật chất của các trung tâm TTT chưa được trang bị đầy đủ để phục vụ

hữu hiệu cho hoạt động TTT.
 Hệ thống CSDL TTT còn rất hạn chế ở cả trung ương cũng như tuyến cơ sở.
 Trang thiết bị không đồng bộ do được mua từ nhiều nguồn tài trợ khác nhau [1].
 Về nhân lực:
 Thiếu đội ngũ cán bộ được đào tạo bài bản về thông tin thuốc.
 Biên chế cho công tác này chưa được bố trí phù hợp và đầy đủ cả về số lượng

và trình độ chuyên sâu. Một nghiên cứu tại bệnh viện Saint Paul cho thấy tổ
thông tin thuốc và dược lâm sàng gồm 3 dược sĩ đại học, số lượng ADR tổ
theo dõi và báo cáo trong năm 2008 chỉ là 15 [10]. Nghiên cứu về hoạt động
sử dụng thuốc tại bệnh viện Tim Hà Nội giai đoạn 2008-2010 cho thấy nhân
lực của tổ thông tin thuốc và dược lâm sàng chỉ gồm 4 thành viên nhưng tất cả
đều kiêm nhiệm công việc; đơn vị chỉ có 29 lần thông tin thuốc và không có
báo cáo ADR nào [9]
 Việc tập huấn và đào tạo về nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác TTT chưa

được tiến hành đồng bộ và thường xuyên.

11


 Kiến thức của cán bộ làm TTT về bệnh học, dược lâm sàng còn hạn chế. Vì

vậy việc tư vấn sử dụng thuốc trên lâm sàng cho cán bộ y tế còn gặp nhiều khó
khăn.
 Năng lực về ngoại ngữ, kỹ năng ứng dụng thành tựu công nghệ thông tin để

tìm và phân tích thông tin còn hạn chế [11]
1.2.3. Đơn vị thông tin thuốc tại bệnh viện
1.2.3.1. Vị trí
Đơn vị thông tin thuốc trong bệnh viện thường trực thuộc khoa Dược, hoạt
động dưới sự giám sát của Hội đồng thuốc và điều trị và Ban giám đốc bệnh viện
nhằm tư vấn, cung cấp thông tin thuốc cho Hội đồng thuốc và điều trị, cán bộ y tế
trong khoa Dược, các khoa lâm sàng và cận lâm sàng.
Giám đốc bệnh viện có trách nhiệm quản lý, chỉ đạo hoạt động thông tin
thuốc trong bệnh viện. Trách nhiệm này được thực hiện thông qua đơn vị thông tin
thuốc của bệnh viện [6].

Hình 1.1: Sơ đồ vị trí của đơn vị thông tin thuốc tại bệnh viện [1]

Tư vấn, cung cấp thông tin thuốc
Đưa ra câu hỏi thông tin thuốc
Chỉ đạo hoạt động
Trực thuộc
1.2.3.2. Nhiệm vụ
Đơn vị thông tin thuốc trong bệnh viện có những nhiệm vụ sau [6]:
 Thu thập, tiếp nhận thông tin thuốc
 Cung cấp thông tin thuốc nhằm đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hợp lý trong

phạm vi bệnh viện. Cung cấp các thông tin phản hồi đã được xử lý tới bệnh viện
tuyến dưới (đối với bệnh viện khu vực và tuyến tỉnh)
12


 Hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra đơn vị thông tin thuốc bệnh viện tuyến dưới (đối

với bệnh viện khu vực và tuyến tỉnh)
 Thu thập, tổng hợp, báo cáo phản ứng có hại của thuốc tới Hội đồng thuốc và

điều trị của bệnh viện, Trung tâm Quốc gia/Trung tâm khu vực về thông tin
thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc
 Các vấn đề khác có liên quan đến thông tin thuốc.
1.2.3.3. Tổ chức hoạt động [4]
 Cơ sở vật chất: Tuỳ thuộc vào tuyến và mức độ công tác thông tin mà thiết bị

cần thiết cũng khác nhau. Nên tận dụng các trang thiết bị hiện có của khoa
Dược. Một số trang thiết bị thông thường là bàn ghế, giá sách, tủ đựng tài liệu,
điện thoại, máy tính nối mạng Internet.
 Người làm thông tin: Thông thường, dược sĩ là người làm công tác thông tin

thuốc, tuy nhiên cũng có thể là bác sĩ tùy tình hình thực tế. Người làm thông tin
thuốc phải có những yếu tố sau:
 Nhiệt tình, ham hiểu biết, có trách nhiệm
 Biết ngoại ngữ, tối thiểu là tiếng Anh
 Được đào tạo về nghiệp vụ thông tin
 Có kiến thức dược lý, dược lâm sàng
 Có kiến thức sử dụng thuốc trên lâm sàng.
 Nguồn tài liệu: Nguồn tài liệu bao gồm:
 Tài liệu gốc: Dược điển, Dược thư, tập san Dược học; tài liệu từ WHO; tài

liệu từ Cục quản lý Dược; hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế;…
 Tài liệu tham khảo: Sách, báo, tạp chí (trong và ngoài nước); Kinh nghiệm sử

dụng do Hội đồng thuốc của bệnh viện xây dựng; kinh nghiệm sử dụng của
các đơn vị khác được đúc kết và thừa nhận; các tài liệu cập nhật về các
nghiên cứu mới; thông tin phản hổi từ thầy thuốc và người bệnh trong quá
trình điều trị.
1.2.3.4. Nội dung hoạt động thông tin thuốc [4]
Công tác thông tin thuốc và tư vấn về sử dụng thuốc của khoa Dược bệnh
viện bao gồm [7]:
 Tổ chức đơn vị thông tin thuốc để phổ biến, theo dõi, tuyên truyền sử dụng

thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả.
 Thông tin về thuốc: tên thuốc, hoạt chất, liều dùng, liều độc, quá liều; hiệu

chỉnh liều cho các đối tượng người bệnh đặc biệt; chỉ định, chống chỉ định, tác

13


dụng không mong muốn của thuốc, tương tác thuốc, tương hợp, tương kỵ của
thuốc; lựa chọn thuốc trong điều trị; sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai/cho con
bú, các lưu ý khi sử dụng thuốc.
 Thông báo kịp thời những thông tin về thuốc mới: tên thuốc, thành phần; tác

dụng dược lý, tác dụng không mong muốn, chỉ định, chống chỉ định, liều dùng
đến các khoa lâm sàng.
 Tư vấn cho Hội đồng thuốc và điều trị trong việc lựa chọn thuốc đưa vào Danh

mục thuốc dùng trong bệnh viện, trong việc xây dựng tiêu chí lựa chọn thuốc
trong đấu thầu.
 Tư vấn về sử dụng thuốc cho bác sĩ kê đơn lựa chọn thuốc trong điều trị.
 Hướng dẫn về sử dụng thuốc cho điều dưỡng, người bệnh nhằm tăng cường sử

dụng thuốc an toàn, hợp lý; hướng dẫn cách dùng, đường dùng, khoảng cách
dùng, thời điểm dùng thuốc; hướng dẫn, theo dõi, giám sát điều trị.
 Tham gia phổ biến, cập nhật các kiến thức chuyên môn liên quan đến thuốc và

sử dụng thuốc cho cán bộ y tế.
 Tham gia công tác cảnh giác dược; theo dõi, tập hợp các báo cáo về tác dụng

không mong muốn của thuốc trong đơn vị và báo cáo về Trung tâm Quốc gia về
Thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc. Đề xuất biện pháp giải
quyết và kiến nghị về sử dụng thuốc hợp lý, an toàn.
 Tham gia nghiên cứu khoa học về sử dụng thuốc, về thử nghiệm thuốc trên lâm

sàng, đánh giá hiệu quả kinh tế y tế trong bệnh viện.
 Tham gia chỉ đạo tuyến trước đối với bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh.
1.3. Hoạt động của dược sĩ lâm sàng trong công tác thông tin
thuốc 1.3.1. Điều kiện của dược sĩ lâm sàng
Dược sĩ chuyên trách làm công tác dược lâm sàng là dược sĩ đại học và phải
đáp ứng một trong ba điều kiện sau:
 Được đào tạo liên tục và có chứng chỉ thực hành dược lâm sàng.
 Được đào tạo đại học chuyên ngành định hướng dược lâm sàng.
 Được đào tạo sau đại học chuyên ngành dược lý - dược lâm sàng.
Đồng thời, dược sĩ lâm sàng phải được đào tạo và cập nhật thường xuyên
các hướng dẫn điều trị của Việt Nam, của thế giới, tài liệu về y dược có liên quan,
các vấn đề khoa học, công nghệ phục vụ hoạt động thực hành dược lâm sàng. Dược
sĩ lâm sàng cũng phải được tham dự các hội thảo khoa học, lớp học chuyên đề để
tiếp cận với dược lâm sàng trong nước, khu vực và trên thế giới [8].

14


1.3.2. Dược sĩ trong hoạt động thông tin thuốc
Sự phát triển của các trung tâm thông tin thuốc và các chuyên gia thông tin
thuốc đã dẫn tới sự khởi đầu của khái niệm “dược lâm sàng”. Đây là nền tảng cho
dược sĩ thể hiện khả năng tham gia tích cực hơn vào việc chăm sóc cho bệnh nhân.
Bằng việc sử dụng kiến thức chuyên ngành về thuốc cũng như mở rộng nền tảng
kiến thức ở một số lĩnh vực nhất định, dược sĩ có thể đóng vai trò cố vấn trong sử
dụng thuốc trong điều trị [21].
Hiện tại, dược sĩ hoạt động trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe (tại bệnh viện,
phòng khám, chăm sóc sức khỏe tại nhà,…) thường xuyên trả lời các câu hỏi thông tin
thuốc cũng như tham gia đánh giá liệu trình điều trị sử dụng cho bệnh nhân và đánh giá
sử dụng thuốc. Việc cung cấp thông tin thuốc có thể diễn ra bằng cách trao đổi trực tiếp
hoặc theo một cách có khuôn khổ hơn, ví dụ như thuyết trình trước một nhóm bệnh
nhân hay nhóm y tá trong khoa điều trị. Dược sĩ có thể tham gia giảng dạy, giám sát
sinh viên trong lĩnh vực chăm sóc bệnh nhân hoặc trong các môi trường thực hành
dược. Trong bất cứ vai trò nào kể trên, người dược sĩ cần có kĩ năng thu thập thông tin
và đánh giá để đảm bảo rằng mình có được những thông tin chính xác và cập nhật nhất
để phục vụ cho việc cung cấp thông tin thuốc cho khách hàng. Dược sĩ cũng cần kĩ
năng giải quyết vấn đề tốt để đánh giá tình hình, có chiến lược tìm kiếm thông tin
thuốc, đánh giá thông tin và đưa ra câu trả lời. Bên cạnh đó, kĩ năng giao tiếp tốt cũng
quan trọng không kém vì người dược sĩ cần đưa ra câu trả lời rõ ràng, mạch lạc với
cách diễn đạt phù hợp với đối tượng được cung cấp thông tin [21].

Để trở thành một người cung cấp thông tin thuốc hiệu quả, người dược sĩ
phải có khả năng diễn đạt tốt cả qua nói chuyện cũng như qua sử dụng văn bản,
đồng thời phải có khả năng [15]:
 Dự đoán và đánh giá đúng nhu cầu thông tin thuốc của bệnh nhân cũng như cán

bộ y tế
 Thu thập đầy đủ thông tin ban đầu
 Sử dụng cách tiếp cận có hệ thống để đáp ứng nhu cầu thông tin thuốc, bằng

cách tìm kiếm, thu thập và đánh giá văn bản (ví dụ như đánh giá thiết kế nghiên
cứu, thống kê, sai số, hạn chế, khả năng ứng dụng) một cách có hiệu quả.
 Tổng hợp, truyền đạt, lưu trữ và ứng dụng thông tin có được vào tình huống

chăm sóc bệnh nhân cụ thể.

15


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×