Tải bản đầy đủ

Mở rộng vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn tại trường mầm non trưng nhị phúc yên vĩnh phúc

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

=====
=

ĐINH THỊ THƯƠNG

MỞ RỘNG VỐN TỪ CHO TRẺ
MẪU GIÁO LỚN TẠI TRƯỜNG MẦM
NON
TRƯNG NHỊ - PHÚC YÊN - VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

HÀ NỘI - 2018


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON


=====
=

ĐINH THỊ THƯƠNG

MỞ RỘNG VỐN TỪ CHO TRẺ
MẪU GIÁO LỚN TẠI TRƯỜNG MẦM
NON
TRƯNG NHỊ - PHÚC YÊN - VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

Người hướng dẫn khoa học

TS. PHẠM THỊ HÒA

HÀ NỘI - 2018


LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường ĐHSP Hà Nội 2,
các thầy cô giáo trong khoa Giáo Dục Mầm Non và các thầy cô giáo khoa
Ngữ Văn đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện
cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo - T.S. Phạm Thị
Hòa, người đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo em trong quá trình học tập, nghiên
cứu và hoàn thành khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn toàn thể các cô giáo trong trường mầm non
Trưng Nhị đã giúp em có những tư liệu tốt.
Trong quá trình nghiên cứu và xử lí đề tài, em không thể tránh khỏi
những sai sót và hạn chế. Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy
cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 02 tháng 05 năm 2018
Sinh viên

Đinh Thị Thương


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn của cô Phạm Thị Hòa. Đề tài chưa được công bố trong bất cứ một
công trình khoa học nào khác.
Hà Nội, ngày 02 tháng 05 năm 2018
Sinh viên

Đinh Thị Thương


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
MGL: Mẫu giáo lớn
NXB: Nhà xuất bản
ĐHSP: Đại học Sư phạm
ĐHQG: Đại học Quốc Gia


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài........................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu..................................................................................... 4
4. Nhiệm vụ ....................................................................................................... 4
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................ 4
6. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 4
7. Cấu trúc khóa luận ........................................................................................ 5
PHẦN NỘI DUNG .......................................................................................... 6
Chương 1. Cơ sở lí thuyết và thực tiễn.......................................................... 6
1.1. Cơ sở lý thuyết ........................................................................................... 6
1.1.1. Cơ sở Ngôn ngữ học ............................................................................... 6
1.1.1.1. Trường nghĩa và vấn đề mở rộng vốn từ ............................................. 6
1.1.1.2. Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ em Mầm non........ 7
1.1.2.Cơ sở Tâm lí học ...................................................................................... 9
1.1.3. Cơ sở sinh lý học................................................................................... 11
1.2. Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 12
1.2.1. Thực trạng vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn trường Mầm non Trưng Nhị.. 12
1.2.2. Thực trạng hoạt động dạy phát triển vốn từ tại trường mầm non Trưng
Nhị - Phúc Yên................................................................................................ 13
1.3. Tiểu kết..................................................................................................... 16
Chương 2. Các biện pháp mở rộng vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn ............. 17
2.1. Biện pháp trực quan ................................................................................. 17
2.1.1 Nội dung biện pháp trực quan................................................................ 17
2.1.2 Các bước thực hiện biện pháp trực quan................................................ 17
2.2. Biện pháp dùng lời ................................................................................... 21


2.3. Biện pháp tổ chức các trò chơi................................................................. 26
2.4. Biện pháp chữa lỗi dùng từ cho trẻ .......................................................... 31
2.4.1. Lỗi phát âm............................................................................................ 31
2.4.2. Lỗi dùng sai nghĩa................................................................................. 32
2.5. Tiểu kết..................................................................................................... 33
Chương 3.Thể nghiệm .................................................................................. 34
3.1 Mục đích thể nghiệm................................................................................. 34
3.2 Cách thức thể nghiệm................................................................................ 34
3.3 Đối tượng và địa bàn thể nghiệm.............................................................. 34
3.4 Nội dung thể nghiệm................................................................................. 34
3.5 Kết quả thể nghiệm ................................................................................... 43
3.6 Nhận xét kết quả thực nghiệm .................................................................. 43
3.7 Tiểu kết...................................................................................................... 43
KẾT LUẬN .................................................................................................... 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 47


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục Mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc
dân. Việc chăm sóc tốt cho trẻ lứa tuổi mầm non sẽ góp phần tạo nền móng
vững chắc cho sự phát triển toàn diện của trẻ. Cùng với sự phát triển của xã
hội, giáo dục mầm non ngày càng khẳng định được vai trò to lớn của mình
trong xã hội. Ý thức được tầm quan trọng của giáo dục mầm non đối với sự
phát triển trong những năm đầu đời của trẻ nhà nước ta ngày càng chú trọng
và đẩy mạnh phát triển giáo dục mầm non.
Trẻ em là những mầm xanh, là chủ nhân tương lai của đất nước. Để
khẳng định vai trò quan trọng của thế hệ trẻ trong sự nghiệp xây dựng và phát
triển đất nước, tổ chức UNESCO đã đưa ra câu khẩu hiệu: “Trẻ em hôm nay
thế giới ngày nay”. Bác Hồ kính yêu cũng đã thể hiện thái độ quan tâm, lo
lắng qua lời căn dặn: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân
tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm
châu được hay không chính là nhờ vào một phần lớn ở công hộc tập của các
em”.
Ngôn ngữ là thành tựu lớn nhất của con người nó là phương tiện giao
tiếp quan trọng của con người trong xã hội. Nhờ có ngôn ngữ con người có
thể trao đổi cho nhau những kinh nghiệm, hiểu biết; chia sẻ với nhau những
nguyện vọng, tình cảm,... Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non tạo điều kiện
cơ hội cho trẻ lĩnh hội những bài học kinh nghiệm lịch sử - xã hội của xã hội
loài người. Giúp trẻ tích lũy kiến thức, phát triển tư duy, giúp trẻ giao tiếp với
mọi người xung quanh, giúp trẻ lĩnh hội, điều chỉnh những giá trị đạo đức
chuẩn mực.
Mở rộng vốn từ cho trẻ là một trong những nội dung của phương pháp
phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non. Vốn từ của trẻ Mẫu giáo lớn thì đã phát
triển hơn các lứa tuổi trước, số lượng từ loại đã tăng lên, trẻ có thể hiểu và sử
1


dụng được một số từ cơ bản vào trong giao tiếp, tuy nhiên vẫn chưa hoàn
thiện. Việc mở rộng vốn từ cho trẻ nhằm làm tăng số lượng từ trong trường
nghĩa tạo điều kiện cho trẻ lựa chọn.Nếu vốn từ ít thì khả năng lựa chọn sẽ bị
hạn hẹp, hiệu quả dùng từ sẽ giảm, ảnh hưởng đến chất lượng giao tiếp của
trẻ. Do đó, việc mở rộng vốn từ cho trẻ Mẫu giáo lớn là rất cần thiết để giúp
trẻ giao tiếp tốt hơn.
Ngoài những ý nghĩa kể trên, việc thực hiện khóa luận này còn có ý
nghĩa thiết thực đối với sinh viên năm cuối khoa Giáo dục Mầm non - Trường
Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Vì việc thực hiện đề tài đã định hướng cho tác giả
khóa luận về một nội dung cần được thực hiện có hiệu quả trong đợt thực tập
cuối khóa tại trường Mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên - Vĩnh Phúc. Đồngthời
việc nghiên cứu thực hiện đề tài này cũng giúp tác giả củng cố thêm kiến thức
đã học về bộ môn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em”.
Nhận thức được rõ về ý nghĩa và vai trò to lớn của nội dung nghiên
cứu, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Mở rộng vốn từ cho trẻ Mẫu giáo lớn
tại trường Mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên - Vĩnh Phúc”.
2. Lịch sử vấn đề
Có thể tìm hiểu nội dung phương pháp nghiên cứu về vấn đề này trong
1 số nguồn tài liệu sau:
2.1: Những giáo trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo.
a, Trong cuốn “Phát triển ngôn ngữ cho trẻ em” của Nguyễn Xuân
Khoa đã khái quát đến những vấn đề có liên quan đến nội dung phát triển
ngôn ngữ cho trẻ mầm non.
b, Trong giáo trình “Phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non” của Đinh Hồng
Thái (NXB ĐHSP HN 2013) đã đề cập đến việc phát triển vốn từ cho trẻ mầm
non nói chung chứ không đề cập đến phát triển vốn từ cho một vùng, một
trường cụ thể nào.

2


2.2: Những cuốn tạp chí, luận văn, khóa luận có đề cập đến nội dung
và biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mầm non
Tạp chí GDMN số 01/ 2009, có bài “Một số biện pháp phát triển ngôn
ngữ cho trẻ mẫu giáo”của tiến sĩ Bùi Kim Tuyến cũng đề cập tới việc tạo thói
quen nói đúng ngữ pháp cho trẻ thông qua việc giao tiếp với trẻ.
Khóa luận tốt nghiệp đại học “Phát triển vốn từ cho trẻ mầm non
thông qua hoạt động cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh” của
sinh viên Nguyễn Thị Thảo - K38 - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đề cập
đến việc phát triển vốn từ cho trẻ mầm non thông qua hoạt động cho trẻ làm
quen với môi trường xung quanh nhằm giúp trẻ phát triển được vốn từ phong
phú trong các hoạt động làm quen với môi trường xung quanh.
Đề tài của chúng tôi có hướng đi khác với hướng đi của khóa luận này.
Chúng tôi quan tâm tới việc phát triển vốn từ cho trẻ không chỉ ở hình thức
trong giờ học mà cả ở ngoài tiết học.
Khóa luận tốt nghiệp đại học của sinh viên Hoàng Phương Thanh - K38
- Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 về vấn đề “Mở rộng vốn từ cho trẻ
MGL qua tập thơ Góc sân và Khoảng trời của nhà thơ Trần Đăng Khoa”.
Cũng bàn đến vấn đề nghiên cứu mở rộng vốn từ nhưng tác giả Phương
Thanh quan tâm đến hình thức dạy học cho trẻ làm quen với tác phẩm văn
học để từ đó cung cấp vốn từ cho trẻ. Hướng đi này khác với hướng đi của
chúng tôi.
Như vậy, đã có một số công trình bàn đến nội dung và phương pháp
phát triển vốn từ cho trẻ mầm non, nhưng chưa có công trình nào đi sâu tìm
hiểu các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ MGL ở trường Mầm non Trưng
Nhị - Phúc Yên - Vĩnh Phúc. Đề tài của chúng tôi sẽ đi sâu vào hướng còn bỏ
ngỏ đó.

3


3. Mục đích nghiên cứu
Tìm ra các biện pháp phát triển, phong phú hóa vốn từ để từ đó giúp trẻ
có khả năng ngôn ngữ mạch lạc, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giao
tiếp trong học tập và đời sống thường ngày hiệu quả hơn.
4. Nhiệm vụ
4.1: Lựa chọn những lý thuyết thuộc chuyên ngành ngôn ngữ học, tâm
lý học, giáo dục học,… để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
4.2: Tìm hiểu thực trạng vốn từ của trẻ MGL tại trường Mầm non
Trưng Nhị để từ đó đánh giá năng lực của trẻ.
4.3: Đề xuất những nội dung, biện pháp mở rộng vốn từ phù hợp với trẻ
MGL tại trường Mầm non Trưng Nhị.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là hoạt động dạy học phát triển vốn từ cho trẻ
mầm non.
Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn
Ở bình diện này chúng tôi tập chung vào việc mở rộng vốn từ cho trẻ
thông
qua các trò chơi giúp trẻ vận dụng tối đa vốn từ của mình vào cuộc giao tiếp.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1: Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng khi xây dựng cơ sở lý luận.
6.2: Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
a, Phương pháp quan sát:
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng trong tiết dự giờ một số tiết
học của trẻ trường Mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên - Vĩnh Phúc. Quan sát trẻ
trong các hoạt động để thấy được thực trạng sử dụng vốn từ của trẻ.
b, Phương pháp đàm thoại:
Phương pháp này chúng tôi sử dụng để trao đổi với các cô giáo trên lớp
về những nội dung có liên quan đến đề tài. Phương pháp này còn giúp chúng
4


tôi trò chuyện với trẻ để thấy được năng lực của trẻ từ đó tìm ra các biện pháp
mở rộng vốn từ phù hợp cho trẻ.
6.3: Phương pháp thể nghiệm
Phương pháp này chúng tôi dùng để kiểm nghiệm kết quả nghiên cứu
của mình.
6.4: Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu chúng tôi còn sử dụng một số
biện pháp như: thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, ....
7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận cấu trúc của khóa luận bao gồm 3
chương:
Chương 1. Cơ sở lý thuyết và thực tiễn
Chương 2.Các biện pháp mở rộng vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn tại
trường mầm non Trưng Nhị.
Chương 3. Thể nghiệm.

5


PHẦN NỘI DUNG
Chương 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý thuyết
1.1.1. Cơ sở Ngôn ngữ học
1.1.1.1. Trường nghĩa và vấn đề mở rộng vốn từ
“Trường nghĩa là tập hợp các từ ngữ có một điểm đồng nhất nào đó về
ngữ nghĩa” (Đỗ Hữu Châu, Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt, NXB ĐHQG
2006, trang 169). Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được coi là một trường nghĩa.
Căn cứ vào các thành phần ý nghĩa trong từ, căn cứ vào các quan hệ
ngữ nghĩa, người ta phân loại trường nghĩa thành 2 loại: trường nghĩa dọc và
trường nghĩa ngang.
a, Trường nghĩa dọc lại được phân hóa thành: trường nghĩa biểu vật và
trường nghĩa biểu niệm.
- Trường nghĩa biểu vật là tập hợp những từ ngữ đồng nghĩa về ý nghĩa
biểu vật. Ví dụ: Trường nghĩa biểu vật về cây, về con vật, về đồ chơi,... Mỗi
một trường nghĩa biểu vật đều có một danh từ có ý nghĩa khái quát làm trung
tâm.
- Trường nghĩa biểu niệm là tập hợp các từ có chung cấu trúc biểu
niệm. Ví dụ trường biểu niệm: (vật thể nhân tạo), (đồ dùng trong gia
đình),...
 Đồ dùng nấu nướng: xoong, chảo, nồi, niêu,...
 Đồ dùng để chứa đựng: tủ, hòm, vali,...
b, Trường nghĩa ngang: tập hợp các từ có khả năng kết hợp với một từ
trung tâm thì tạo thành một trường nghĩa ngang (Trường nghĩa tuyến tính).
Ví dụ: Các từ: nhanh, chậm, lên, xuống, ra, vào,... lập thành trường
nghĩa ngang với từ đi.

6


c, Trường liên tưởng: Tập hợp các từ được gợi ra từ một từ kích thích
lập thành một trường liên tưởng.

7


Ví dụ: Từ từ cá sẽ liên tưởng đến: nước, ao, hồ, bơi,... Các từ nước, ao,
hồ, bơi,... lập thành một trường liên tưởng với từ cá.
Khi mở rộng vốn từ cho trẻ qua các trò chơi như: Hãy kể đủ ba thứ, Ai
đoán giỏi,... thực chất chúng tôi đã cho trẻ liên tưởng để mở rộng vốn từ theo
trường biểu vật. Các kiến thức về trường nghĩa biểu niệm, trường nghĩa ngang
cũng giúp chúng tôi chính xác hóa vốn từ và tích cực hóa vốn từ cho trẻ.
1.1.1.2. Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ em Mầm non
- Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người
Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong cuộc sống của con người. Nhờ có
ngôn ngữ mà con người có thể trao đổi với nhau những hiểu biết, truyền cho
nhau những kinh nghiệm, tâm sự với nhau những điều thầm kín.
Theo Marx: “Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”
Theo Lênin: “Con người muốn tồn tại thì phải gắn bó với cộng đồng.
Giao tiếp là một hoạt động đặc trưng quan trọng của con người. Ngôn ngữ là
phương tiện giao tiếp quan trọng nhất”. Nhờ có ngôn ngữ mà con người có
thể hiểu được nhau, cùng nhau hành động vì những mục đích chung: lao
động, đấu tranh, xây dựng và phát triển xã hội.
Không có ngôn ngữ con người không thể giao tiếp được. Ngôn ngữ là
một công cụ hữu hiện để trẻ có thể bày tỏ những nguyện vọng của mình từ khi
còn rất nhỏ. Ngôn ngữ làm cho đứa trẻ trở thành một thành viên của xã hội
loài người, giúp hình thành nhân cách trẻ.
- Ngôn ngữ là phương tiện phát triển tư duy
Tư duy của con người là sự phản ánh thế giới khách quan xung quanh
chủ yếu được tiến hành dưới hình thức ngôn ngữ. Ngôn ngữ là hình thức tồn
tại, là phương tiện vật chất để thể hiện tư duy. Về phương diện này, tư duy là
cái được biểu hiện, còn ngôn ngữ là cái để biểu hiện tư duy. Nếu không có
ngôn ngữ thì quá trình tư duy của con người không diễn ra được. Có ngôn

8


ngữ, tư duy của trẻ được phát triển. Đây là hai mặt của một quá trình biện
chứng có tác đông mạnh mẽ đến nhau. Ngôn ngữ phát triển làm cho tư duy
phát triển và ngược lại tư duy phát triển sẽ đẩy mạnh sự phát triển ngôn ngữ.
Với đặc điểm tư duy như trên, giáo viên cần tổ chức các tiết học vui
chơi, kích thích sự phát triển tư duy ở trẻ, kích thích trẻ tìm tòi các dấu hiệu
giống nhau, so sánh các đồ vật, hoa quả, đồ chơi.
- Ngôn ngữ là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện
Sự phát triển toàn diện của đứa trẻ bao gồm đức, trí, thể, mĩ, các chuẩn
mực hành vi văn hóa, cách ứng xử giao tiếp sao cho phù hợp. Không chỉ là sự
bắt chước máy móc, ngôn ngữ phát triển sẽ giúp cho trẻ mở rộng giao tiếp.
Điều này làm cho trẻ có điều kiện học hỏi những gì tốt đẹp nhất xung quanh
trẻ giúp phát triển một cách toàn diện.
Ngôn ngữ giúp trẻ sớm tiếp thu những giá trị thẩm mỹ trong thơ ca,
truyện kể, những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ đầu tiên người lớn có thể đem
đến cho trẻ từ những ngày thơ ấu. Sự tác động của lời nói nghệ thuật như một
phương tiện hữu hiệu giáo dục thẩm mỹ cho trẻ. Qua đó, trẻ nhận thức được
cái hay, cái đẹp trong cuộc sống xung quanh như những bông hoa, những
hàng cây, những con đường đẹp… hay những hành vi đạo đức nên làm và
không nên làm như: ngoan - hư, xấu - tốt, thật thà - không thật thà…
- Ngôn ngữ là phương tiện hình thành và phát triển nhận thức cảm tính
về thế giới xung quanh
Ngôn ngữ giúp trẻ tìm hiểu, khám phá và nhận thức về môi trường
xung quanh. Thông qua các từ ngữ và các câu nói của người lớn, trẻ em làm
quen với các sự vật, hiện tượng có trong môi trường xung quanh, trẻ hiểu
được những đặc điểm, tính chất, công dụng của các sự vật cùng với các từ
tương ứng với nó. Nhờ có ngôn ngữ mà trẻ nhận biết được nhiều các sự vật,
hiện tượng mà trẻ tiếp xúc, giúp trẻ hình thành, phát triển phong phú các biểu
tượng về thế giới xung quanh.

9


Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giúp trẻ nhận thức thế giới xung
quanh mà còn là công cụ giúp trẻ hoạt động vui chơi, và là phương tiện để trẻ
biểu hiện nhận thức của mình. Trẻ nhận thức được về môi trường xung quanh
và tiến hành hoạt động với nó, đồng thời trẻ sử dụng ngôn ngữ để kể lại, miêu
tả lại sự vật hiện tượng và những hiểu biết của trẻ để trao đổi với mọi người.
Ngôn ngữ là phương tiện để trẻ trao đổi những ý đồ chơi, giao lưu tình cảm
trong lúc chơi, phát triển tư duy và trí tưởng tượng của trẻ
1.1.2. Cơ sở Tâm lý học
Trẻ MGL là trẻ trong độ tuổi 5-6 tuổi, giai đoạn này là cơ sở đầu tiên
của tính cách con người. Cuối tuổi mẫu giáo, ngôn ngữ của trẻ có tốc độ phát
triển nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng, ngôn ngữ phát triển giúp trẻ biết tự
hướng sự chú ý của mình vào đối tượng nhất định. Sự phát triển này về mặt
ngôn ngữ gắn liền với tâm sinh lý của trẻ.
Trẻ MGL thì đã bộc lộ tính nhạy cảm cao nhất với các hiện tượng ngôn
ngữ. Điều đó khiến cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ khá nhanh và đến cuối
tuổi mẫu giáo thì trẻ sử dụng ngôn ngữ một cách thành thục trong hoạt động
sinh hoạt hàng ngày và trong hoạt động học. Vốn từ của trẻ MGL thì khá
phong phú như danh từ, động từ, tính từ, trạng từ, liêm từ,... Trẻ nắm vững
vốn từ trong tiếng mẹ đẻ đủ để diễn đạt trong đời sống hàng ngày.
Tâm lý của trẻ ở độ tuổi này giống như học sinh tiểu học phải chú ý
nghe giáo viên giảng giải, sử dụng các hình thức ghi nhớ, các thao tác tư duy
diễn ra theo yêu cầu của tiết học, ý thức được tối đa để hiểu bài.
Sự phát triển chú ý của trẻ MGL: Nhiều phẩm chất chú ý của trẻ được
phát triển, trẻ biết hướng ý thức của mình vào các đối tượng cần cho vui chơi,
học tập, lao động,... Trẻ có khả năng chú ý chủ định từ 37 - 51 phút. Trẻ có
thể phân phối sự chú ý vào 2, 3 đối tượng một lúc, tuy nhiên thời gian phân
phối chú ý chưa bền vững, dễ dao động. Di chuyển chú ý của trẻ nhanh, sự

10


phân tán chú ý ở trẻ mạnh. Ở giai đoạn này ý nghĩa của âm thanh làm cho trẻ
chú ý nhiều. Cần luyện tập các phẩm chất chú ý cho trẻ qua các trò chơi và
các tiết học.
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ MGL: Nắm vững ngữ âm và ngữ điệu
khi sử dụng tiếng mẹ đẻ: Trẻ biết đọc diễn cảm, biết dùng điệu bộ bổ sung
cho ngôn ngữ nói. Vốn từ và cơ cấu ngữ pháp phát triển. Các tính chất ngôn
ngữ thường gặp là: ngôn ngữ giải thích; ngôn ngữ tình huống (hoàn cảnh);
tính mạch lạc rõ ràng do vốn từ của trẻ chiếm 50% là danh từ nên câu nói của
trẻ thường ngắn gọn, rõ ràng; tính địa phương trong ngôn ngữ; tính cá nhân
bộc lộ rõ qua các sắc thái khác nhau của trẻ, đặc biệt ở chức năng ngôn ngữ
biểu cảm.
Sự phát triển các quá trình nhận thức của trẻ MGL: Các hiện tượng tâm
lý như tri giác, trí nhớ, tưởng tượng về cơ bản là sự nối tiếp sự phát triển ở lứa
tuổi từ 4-5 tuổi nhưng chất lượng mới hơn. Thể hiện ở:
- Mức độ phong phú của các kiểu loại
- Mức độ chủ định các quá trình tâm lý rõ ràng hơn, có ý thức hơn.
- Tính mục đích hình thành và phát triển ở mức độ cao hơn.
- Độ nhạy cảm của các giác quan được tinh nhạy hơn.
- Khả năng kiềm chế các phản ứng tâm lý được phát triển.
Quá trình tâm lý phát triển mạnh mẽ và đặc trưng nhất đó là tư duy. Sự
phát triển tư duy ở độ tuổi này mạnh mẽ về kiểu loại, các thao tác và thiết lập
nhanh chóng các mối quan hệ giữa các sự kiện, hiện tượng, thông tin giữa
mới và cũ, gần và xa,... Ở trẻ 5 - 6 tuổi phát triển cả 3 loại tư duy, tư duy hành
động trực quan vẫn chiếm ưu thế. Tuy nhiên do nhiệm vụ hoạt động mà cả
loại tư duy hình ảnh trực quan, tư duy trừu tượng được phát triển ở trẻ. Loại
tư duy này giúp trẻ đến gần với hiện thực khách quan.
Sự phát triển xúc cảm, tình cảm và ý chí của trẻ MGL: Đời sống xúc
cảm, tình cảm ổn định hơn so với trẻ 4 - 5 tuổi, mức độ phong phú, phức tạp

11


tăng dần theo các mối quan hệ giao tiếp với những người xung quanh. Tuy
nhiên đời sống xúc cảm của trẻ còn dễ dao động, mang tính chất tình huống.
Sự phát triển ý chí của trẻ MGL thể hiện ở việc trẻ dần dần đã xác định rõ mục
đích của hành động. Trẻ dần tách động cơ ra khỏi mục đích với sự cố gắng
hoàn thành nhiệm vụ. Tính mục đích ngày càng được trẻ ý thức và cố gắng
hoàn thành công việc, tinh thần trách nhiệm bản thân dần dần được hình thành
ở trẻ. Sự phát triển ý chí mạnh hay yếu tùy thuộc phần lớn vào sự giáo dục,
các biện pháp giáo dục của cha mẹ, cô giáo và những người lớn xung quanh.
1.1.3. Cơ sở Sinh lý học
Cho đến lúc ra đời não bộ của trẻ chưa phát triển đầy đủ, mặc dù hình
thái giải phẫu không khác người lớn là mấy. Hoạc thuyết về các hệ thống tín
hiệu đã khẳng định: Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ hai, là sự hoạt động
đặc biệt của vỏ bán cầu đại não. Hệ thống tín hiệu thứ hai có được những kích
thích trừu tượng như ngôn ngữ, lời nói, chữ viết,... Việc phát triển ngôn ngữ
phải liên quan mật thiết tới việc phát triển, hoàn thiện bán cầu đại não và hệ
thần kinh nói chung.
Mỗi con người sinh ra đều có bộ máy phát âm, đó là tiền đề vật chất để
sản sinh ra âm thanh ngôn ngữ, trẻ phát âm đúng hầu hết các âm vị của tiếng
mẹ đẻ, điều chỉnh nhịp điệu, cường độ khi giao tiếp, tuy nhiên vẫn còn phát
âm sai các từ khó nhưng bộ máy phát âm được phát triển và hoàn thiện cùng
với sự lớn lên của trẻ. Trong thực tế, có những em cùng sinh ra nhưng có
những trẻ có ngôn ngữ phát triển rất tốt, có trẻ không nói ngọng. Có sự khác
nhau như thế là do bộ máy phát âm khác nhau và quá trình chăm sóc, giáo dục
cũng khác nhau. Trẻ nói ngọng là do bộ máy phát âm chưa hoàn thiện.
Não bộ của trẻ được hoàn thiện sau khi sinh, hoạt động trí não của trẻ
trưởng thành cùng với những kích thích từ môi trường bên ngoài. Ngay từ khi
sinh ra nên dạy trẻ những từ ngữ phong phú, tích lũy dần trong tiềm thức từ
đó sẽ hình thành cho trẻ kho tàng ngôn ngữ phong phú.

12


Trẻ 5-6 tuổi, tinh thần phát triển nhanh, tiếng nói phát triển mạnh, trẻ
nói đúng ngữ pháp. Hệ thống ngôn ngữ phát triển nhanh. Hệ thống thần kinh
phát triển mạnh, các phản xạ có điều kiện ngày càng nhiều, phong phú, tốc độ
hình thành phản xạ có điều kiện nhanh. Trẻ thích tìm hiểu môi trường xung
quanh, thích sinh hoạt tập thể.
Qua đây ta thấy được mức độ phát triển của trẻ mẫu giáo lớn rất mạnh
mẽ nhưng nhiều chỗ chưa được hoàn thiện. Do đó cần lựa chọn những hình
thức và các biện pháp dạy học cho phù hợp.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Thực trạng vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn trường Mầm non Trưng Nhị.
Khi ở độ tuổi mẫu giáo lớn, trẻ đã có thể hiểu được những câu chuyện
dài và phức tạp hơn, thậm chí còn kể lại được vài mẩu chuyện theo đúng trình
tự câu chuyện. Vốn từ ngữ của trẻ phát triển không ngừng cả về số lượng lẫn
chất lượng và trẻ biết cách sử dụng tốt vốn từ ngữ của mình trong giao tiếp.
Trẻ đã sử dụng được những câu phức tạp hơn: Trẻ đã sử dụng được các
câu tường thuật để miêu tả, sự vật, con người; câu cảm thán; câu nghi vấn,...
(Ví dụ: Tại sao con không được ăn cái này?). Trẻ cũng đã có thể có những lời
nói bày tỏ cảm xúc hay nhu cầu, ý nghĩ và kinh nghiệm của bản thân (như:
Con nhớ ông bà lắm, mẹ con cũng rất nhớ ông bà.). Trẻ đã sử dụng thành thạo
các từ nối (khi, nhưng,...); các từ thể hiện cảm xúc phức tạp (bối rối, khó chịu,
sung sướng,...);... Vốn từ của trẻ được bổ sung thêm nhiều tính từ để diễn đạt
sự vật, sự việc cụ thể hơn.Trẻ nói được nhiều câu phức tạp hơn lên đến 9 từ.
Trẻ hiểu và dùng được những từ chỉ trật tự thời gian (như: trước - sau,
sắp tới,...). Trẻ cũng hiểu được những câu nói tu từ như “Con là chú sâu đo”.
Khả năng ngôn ngữ của bé phát triển đáng kể. Trẻ cũng phát âm các từ một
cách rõ ràng và hiểu được nghĩa của các từ mình nói ra.
Trẻ mạnh dạn, tự tin, sử dụng từ chủ động, phong phú khi giao tiếp với
mọi người xung quanh. Trẻ đã trả lời đúng câu hỏi của giáo viên nhưng vốn
từ chưa phong phú.

13


1.2.2. Thực trạng hoạt động dạy phát triển vốn từ tại trường mầm non
Trưng Nhị - Phúc Yên
Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu tại trường Mầm non Trưng NhịPhúc Yên - Vĩnh Phúc. Nhìn chung cơ sở vật chất của trường khá đầy đủ song
không gian trường chật hẹp, thiếu không gian để trẻ vui chơi, khám phá, tìm
hiểu về những thứ mới lạ xung quanh mình. Trẻ nhỏ trước khi đến trường đã
có vốn từ phong phú, giáo viên cần hệ thống lại các từ ngữ trẻ đã có và cung
cấp thêm một số từ mới.
Việc mở rộng vốn từ cho trẻ chủ yếu thông qua tiết học Cho trẻ làm
quen với tác phẩm văn học. Trong thời gian nghiên cứu tại trường, tôi đã có
dịp dự một giờ Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học, tôi thấy giáo viên đã
chú ý đến những từ khó, từ mới để cung cấp cho trẻ và có ý thức giải nghĩa từ
cho trẻ hiểu để trẻ có vốn từ đa năng; không chỉ chú trọng làm giàu vốn từ
cho trẻ mà còn mở rộng kinh nghiệm sống của trẻ. Nhưng việc giải nghĩa từ
cho trẻ hiểu lại rất sơ sài, qua loa, không cặn kẽ. Chính vì thế, có những trẻ
hiểu được nghĩa của từ nhưng cũng có nhiều trẻ chưa nắm bắt được hết nghĩa
của từ cũng như các văn cảnh dùng từ sao cho chính xác, từ đó khiến giữa các
trẻ có sự chênh lệch phát triển không đồng đều. Như trong tiết dạy trẻ câu
chuyện “Giọt nước tí xíu”, giáo viên đã có ý thức cung cấp và giải thích
nghĩa của từ mới “tí xíu” (nghĩa là rất nhỏ đấy); nhưng trong hoàn cảnh này,
tác giả muốn nói tới ở đây là hơi nước nên “tí xíu” ở đây được hiểu là rất nhỏ,
chỉ nhỏ bằng hạt bụi thôi mà mắt thường khó có thể nhìn thấy được.Vậy nên,
nếu chỉ giải thích như trên trẻ vẫn chưa thể hình dung được giọt nước đấy rất
nhỏ là nhỏ như thế nào, có nhìn thấy được không. Khi không hiểu rõ về nghĩa
của từ sẽ làm trẻ bị hạn chế sử dụng từ trong giao tiếp. Trong hoạt động giảng
dạy của mình, giáo viên đã áp dụng được nguyên tắc vừa sức và tích hợp để
giúp trẻ nắm vững nội dung bài học như là đặt những câu hỏi bắt buộc mang

14


tính chất nhận biết để trẻ biết tên tác giả, tác phẩm, các nhân vật và sự việc
xảy ra trong tác phẩm văn học,... Ví dụ: Cô vừa đọc câu chuyện gì? Do ai
sáng tác? Trong câu chuyện có những nhân vật nào? Ông Mặt Trời đã rủ Tí
Xíu đi đâu?...). Nhưng nếu chỉ sử dụng những câu hỏi như vậy thì vẫn chưa
khai thác được vốn từ của trẻ. Bên cạnh đó, giáo viên cũng rất hạn chế những
câu hỏi mang tính chất phỏng đoán, suy luận.
(Ví dụ: Giáo viên chỉ đưa ra những câu hỏi như:
- Dê con có mở cửa cho sói không? (Dê con ngoan ngoãn)
- Con có thích dê con không?
Nếu đưa ra các câu hỏi như vậy trẻ sẽ trả lời một cách rập khuôn mẫu
câu trả lời “Có” - “Không”. Vì thế nên đưa vào một số câu hỏi để trẻ suy luận
như:
- Nếu dê con mở cửa cho sói thì chuyện gì sẽ xảy ra?
- Con có thích dê con không? Vì sao con thích dê con?
Từ đó trẻ sẽ phát triển vốn từ một cách tốt hơn. Khi cho trẻ trình bày
tác phẩm văn học, giáo viên đã chú ý quan sát trẻ để kịp thời sửa cho những
trẻ có cách phát âm sai một số từ ngữ. Song giáo viên vẫn chưa bao quát hết
mọi trẻ trong lớp, chưa giải thích được nghĩa của từ để trẻ hiểu và chủ yếu
làm theo lối áp đặt. Sau mỗi tiết học, giáo viên cũng đã hệ thống lại kiến thức
để trẻ khắc sâu bài học, song lại không hệ thống lại các từ mà cô vừa cung cấp
cho trẻ khiến trẻ nhanh quên những từ đó.
Sau tiết học cho trẻ làm quen với những tác phẩm truyện, giáo viên
cũng không có điều kiện chuyển thể câu chuyện sang kịch bản để trẻ tích cực
hóa vốn từ mình vừa học. Một phần do không gian lớp học chật hẹp, phần
khác là do số lượng trẻ khá đông (54 trẻ).Vậy nên, giáo viên đã giúp trẻ nhớ
nội dung câu chuyện chủ yếu thông qua việc kể đi kể lại câu chuyện nhiều
lần, cho trẻ kể nối tiếp cùng cô hay cùng bạn. Như vậy sẽ không gây được
hứng thú cho trẻ để trẻ tập trung, hào hứng tham gia vào hoạt động kể lại câu
15


chuyện. Điều này làm hạn chế tính tích cực của trẻ trong việc sử dụng những
từ mới được giáo viên cung cấp.
Giáo viên hiểu được tầm quan trọng và đã có ý thức cho trẻ vui chơi,
tiếp xúc với môi trường xung quanh nhưng dường như là lấp thời gian trống
chứ chưa đi sâu vào tiết dạy, chưa giúp trẻ khai thác được những vốn từ khó,
từ mới để hiểu sâu hơn về thế giới xung quanh. Hay như khi cho trẻ đi tham
quan, do thiếu giáo viên hỗ trợ trong việc quản lý trẻ nên tôi thấy giáo viên
chỉ lo trông trẻ, giữ trẻ mà không chú ý đến việc cung cấp vốn từ cho trẻ hay
giải đáp được tất cả những thắc mắc mà trẻ đặt ra. Khi trẻ hỏi giáo viên có
điều kiện cung cấp từ mới hoặc chính xác vốn từ cho trẻ. Có thể nói môi
trường giao tiếp khi tham quan là điều kiện thuận lợi để cho trẻ sử dụng các từ
vừa được cung cấp song giáo viên lại không làm được.
Ví dụ: Trong buổi tham quan đền Hai Bà Trưng, trên đường từ chỗ đỗ
ô tô vào khu vực đền, trẻ tò mò, lao xao hỏi: “Cô ơi cái gì kia, cây gì mà hoa
nhiều thế cô ơi”. Cô không trả lời mà nhắc nhở trẻ chú ý vào đường đi kẻo
ngã và trật tự ổn định hàng.
Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ, hiểu được điều này giáo viên tại
trường Mầm non Trưng Nhị- Phúc Yên cũng đã có ý thức tích hợp các trò
chơi lồng ghép vào trong các tiết dạy để củng cố cho trẻ về nội dung bài học,
giúp trẻ phát triển vốn từ như trò chơi: chiếc túi kỳ lạ, vật nào biến mất,....
Tuy nhiên, các trò chơi mà giáo viên sử dụng đa phần đều là các trò chơi cũ
trẻ đã chơi rất nhiều,ít sáng tạo hay bổ sung thêm các trò chơi mới. Điều đó dễ
khiến trẻ nhàm chán, không hứng thú chơi cũng như không tập trung 100%
tinh thần và sức khỏe vào trò chơi.Từ đó, việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ
cũng bị hạn chế,không đạt hiệu quả cao.
Trong hoạt động Tạo hình, việc phát triển vốn từ cho trẻ ở hoạt động
này giáo viên lại không chú ý đi sâu mà chỉ mang tính chất giúp trẻ khám phá

16


mẫu. Giáo viên chưa biết tận dụng lợi thế sử dụng tranh minh họa để giải
nghĩa các từ mới, từ khó giúp trẻ hiểu một cách dễ nhất, đơn giản nhất; ngược
lại, tranh minh họa lại phản lại tác dụng khiến trẻ chỉ hứng thú, tò mò vào
mẫu mà không tập trung vào bài học khiến cho việc tích hợp giữa dạy tạo
hình và cung cấp vốn từ cho trẻ không đạt hiệu quả. Điều đó làm cho việc
cung cấp thêm cho trẻ những vốn từ mới trở nên khó khăn. Hay như cho trẻ
hoạt động góc, giáo viên cho trẻ tự trải nghiệm trong các nhóm chơi, giáo
viên đã đến từng nhóm vui chơi cùng trẻ. Đây là lúc giáo viên có thể hỏi trẻ
những câu hỏi về nhóm chơi, vai chơi của trẻ để trẻ trả lời giúp trẻ củng cố lại
lượng từ cũ và phát triển vốn từ song giáo viên lại ít đưa ra các tình huống,
các câu hỏi mà đa phần là lấp thời gian trống hay để trẻ tự chơi rồi nhận xét.
1.3. Tiểu kết
Trong chương một, khi xác định cơ sở lí luận cho đề tài chúng tôi đã
tổng hợp các kiến thức khoa học Ngôn ngữ, Tâm lý, Sinh lý trẻ em và đặc biệt
là những hiểu biết về hoạt động dạy phát triển vốn từ cho trẻ MGL. Những
kiến thức liên ngành đó kết hợp với những điều tra thực tế mà chúng tôi khảo
sát được tại trường mầm non Trưng Nhị - Phúc Yên - Vĩnh Phúc sẽ là cơ sở lí
luận và thực tiễn giúp chúng tôi thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất các
biện pháp mở rộng vốn từ cho trẻ MGL được trình bày ở chương hai.

17


Chương 2. CÁC BIỆN PHÁP MỞ RỘNG VỐN TỪ
CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN
Trong các giáo trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, các tác giả
đã đưa ra khá nhiều biện pháp để phát triển vốn từ cho trẻ. Căn cứ vào cơ sở lí
luận nói chung và cơ sở thực tiễn của việc dạy học mở rộng vốn từ cho trẻ
mẫu giáo lớn tại trường mầm non Trưng Nhị, chúng tôi chọn một số biện
pháp sau:
2.1. Biện pháp trực quan
2.1.1 Nội dung biện pháp trực quan
Đây là biện pháp giảng dạy dùng những vật cụ thể (vật thật, đồ chơi,
tranh ảnh,...) hay ngôn ngữ cử chỉ của giáo viên làm cho học sinh có được
hình ảnh cụ thể về những điều cần học.
Mở rộng vốn từ cho trẻ, thực chất là cung cấp cho trẻ các tên gọi về các
sự vật , tên gọi của các hành động, tính chất, đặc điểm của các sự vật hiện
tượng xung quanh bé. Vì vậy việc sử dụng biện pháp trực quan để hướng dẫn
trẻ quan sát trực tiếp thế giới đồ vật xung quanh, mở rộng tầm nhìn cho trẻ,
trên cơ sở đó mà cung cấp tên gọi đồ vật, đặc điểm đồ vật... là hoạt động dạy
học phù hợp với tâm lí lứa tuổi, đem lại hiệu quả tích cực.
Các phương tiện dùng trong biện pháp trực quan để mở rộng vốn từ cho
trẻ có thể là các vật thật, đồ chơi, tranh ảnh và các hình ảnh trong các
phương tiện trình chiếu.
2.1.2 Các bước thực hiện biện pháp trực quan
Để thực hiện biện pháp trực quan, giáo viên cần tiến hành các bước sau:
Bước 1: Chuẩn bị cho quan sát
- Chọn đối tượng quan sát phù hợp với chủ đề của bài học mở rộng vốn
từ. Đối tượng phải đẹp, hấp dẫn, lôi cuốn sự chú ý của trẻ và đặc biệt là phải

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×