Tải bản đầy đủ

Phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

======

BÙI THỊ GIANG

PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG SO SÁNH CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI
TRONG HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG
HÌNH DẠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các kết quả nghiên
cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào.
Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Bùi Thị Giang


LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học sư phạm Hà
Nội 2, các thầy cô giáo trong khoa giáo dục mầm non đã giúp em trong quá trình
học tập và tạo điều kiện cho em tìm hiểu đề tài khóa luận tốt nghiệp này.
Đồng thời em cũng xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo
Nguyễn Văn Đệ - người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo tận tình em
trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn chân thành tới các cô giáo trường mầm
non Tích Sơn – Vĩnh Yên – Vĩnh phúc đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận
lợi nhất cho em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận. Trong
quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Kính mong
sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn thiện.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên

Bùi Thị Giang


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài................................................................................................ 1
2. Mục đích nghiên cứu......................................................................................... 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................ 2
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu .................................................................. 2
5. Phạm vi nghiên cứu........................................................................................... 2
6. Phương pháp nghiên cứu................................................................................... 3
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận.......................................................... 3
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn...................................................... 3
7. Giả thuyết khoa học........................................................................................... 3
8. Cấu trúc khóa luận............................................................................................. 4
NỘI DUNG ........................................................................................................... 5
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG SO
SÁNH CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH BIỂU
TƯỢNG HÌNH DẠNG ......................................................................................... 5
1.1. Một số khái niệm cơ bản ................................................................................ 5
1.1.1. So sánh ........................................................................................................ 5
1.1.2. Kĩ năng so sánh ........................................................................................... 5
1.1.3. Phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ mầm non ............................................... 7
1.1.4. Nhận thức về hình dạng của trẻ mẫu giáo lớn ............................................ 7
1.2. Mối quan hệ giữa kĩ năng so sánh với các hoạt động tư duy khác ................
8
1.3. Vai trò của việc phát triển kĩ năng so sánh với sự phát triển các quá trình
nhận thức của trẻ mẫu giáo ................................................................................. 10
1.4. Sự phát triển kĩ năng so sánh của trẻ mẫu giáo trong hoạt động hình thành
biểu tượng hình dạng........................................................................................... 11
1.5. Thực trạng phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động hình
thành biểu tượng hình dạng................................................................................. 15


1.5.1. Thực trạng nội dung chương trình hình thành biểu tượng hình dạng nhằm
phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi ....................................................... 15
1.5.2. Thực trạng nhận thức của giáo viên mầm non về việc phát triển khả năng
so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng..... 18
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1.................................................................................... 24
CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG SO
SÁNH CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH BIỂU
TƯỢNG HÌNH DẠNG ....................................................................................... 26
2.1. Các nguyên tắc xây dựng một số biện pháp phát triển kĩ năng so sánh cho
trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạy động hình thành biểu tượng hình dạng........................ 26
2.1.1. Nguyên tắc 1: Các biện pháp phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi
cần phù hợp và góp phần thực hiện nội dung chương trình hình thành biểu tượng
toán học sơ đẳng cho trẻ 5 – 6 tuổi ..................................................................... 26
2.1.2. Nguyên tắc 2: Các biện pháp phải phù hợp với sự phát triển kĩ năng so
sánh của trẻ lứa tuổi 5 – 6 tuổi ............................................................................ 26
2.1.3. Nguyên tắc 3: Các biện pháp phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi
trong hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng phải phù hợp quá trình tổ chức
hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng........................................................ 28
2.1.4. Nguyên tắc 4: Các biện pháp cần đảm bảo phát huy tính tích cực nhận
thức, độc lập, sáng tạo ......................................................................................... 28
2.2. Đề xuất một số biện pháp phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi trong
hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng........................................................ 29
2.2.1. Biện pháp 1: Tạo tình huống có vấn đề nhằm kích thích hứng thú so sánh
cho trẻ và giúp trẻ nắm được ý nghĩa của việc so sánh hình dạng giữa các vật,
các nhóm đối tượng............................................................................................. 29
2.2.2. Biện pháp 2: Sử dụng vấn đáp tìm tòi để kích thích trẻ tìm kiếm phương
thức so sánh hình dạng ........................................................................................ 32


2.2.3. Biện pháp 3: Sử dụng hệ thống các trò chơi học tập nhằm cho trẻ luyện
tập so sánh hình dạng .......................................................................................... 33
2.2.4. Biện pháp 4: Sử dụng hệ thống các bài tập so sánh hình dạng theo hướng
đa dạng và phức hợp dần nhằm phát triển và kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện
nhiệm vụ so sánh của trẻ ..................................................................................... 35
2.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi
trong hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng .............................................. 36
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2.................................................................................... 37
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ....................................................... 38
3.1. Mục đích thực nghiệm.................................................................................. 38
3.2. Nội dung thực nghiệm.................................................................................. 38
3.3. Quy mô và địa bàn thực nghiệm .................................................................. 38
3.4. Phương pháp và kĩ thuật tiến hành............................................................... 39
3.5. Phân tích kết quả thực nghiệm ..................................................................... 40
3.5.1. Kết quả khảo sát trước thực nghiệm ......................................................... 40
3.5.2. Kết quả khảo sát sau thực nghiệm............................................................. 41
3.5.3. So sánh biểu hiện của trẻ các nhóm TN với trẻ các nhóm ĐC sau khi thực
nghiệm ................................................................................................................. 42
3.5.4. Sự phát triển một số kĩ năng khi cho trẻ thực hiện kĩ năng so sánh .........
43
3.5.5. Tác dụng của việc sử dụng các biện pháp so sánh trong việc phát triển kĩ
năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi............................................................................ 43
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3.................................................................................... 44
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ............................................................................. 45
1. Kết luận chung ................................................................................................ 45
2. Kiến nghị sư phạm .......................................................................................... 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................... 47
PHỤ LỤC


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Thực trạng nhận thức của giáo viên về mức độ cần thiết của việc phát
triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi ............................................................... 18
Bảng 1.2: Thực trạng về nội dung chuẩn bị của giáo viên trong hoạt động hình
thành biểu tượng hình dạng................................................................................. 19
Bảng 1.3: Thực trạng thực hiện nhiệm vụ phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6
tuổi của giáo viên ................................................................................................ 19
Bảng 1.4: Thực trạng mức độ thường xuyên dạy trẻ 5 – 6 tuổi so sánh theo số
lượng đối tượng ................................................................................................... 20
Bảng 1.5: Thực trạng sử dụng các hình thức dạy học nhằm phát triển kĩ năng so
sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng ......... 21
Bảng 1.6: Thực trạng việc sử dụng các biện pháp phát triển kĩ năng so sánh cho
trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng......................... 22
Bảng 3.1: Mức độ so sánh của trẻ các nhóm ĐC và nhóm TN trước TN........... 40
Bảng 3.2: Mức độ so sánh của trẻ các nhóm ĐC và nhóm TN sau TN.............. 41


DANH MỤC VIẾT TẮT
MGL : Mẫu giáo lớn
SL

: Số lượng

TL

: Tỉ lệ

GV

: Giáo viên

BT

: Biểu tượng

BP

: Biện pháp

BTHD: Biểu tượng hình dạng
TN

: Thực nghiệm

ĐC

: Đối chứng


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân,
mục tiêu của giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non là giúp trẻ phát triển toàn diện,
hài hòa cả về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu
tiên của nhân cách và chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1. Để đạt được mục tiêu đó, một
trong những yêu tố quan trọng là trẻ cần phải được trang bị các năng lực hoạt
động trí tuệ, đặc biệt là năng lực tư duy với các thao tác cơ bản như: phân tích,
so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa.
Kĩ năng so sánh là một trong những kĩ năng nhận thức, kĩ năng tư duy rất
quan trọng. Đây là một trong những năng lực nhận biết, phân biệt các sự vật,
hiện tượng đa dạng, phong phú xung quanh trẻ. Trên cơ sở kết quả so sánh, đối
chiếu để tìm ra những dấu hiệu giống và khác nhau về hình dạng giữa các sự vật,
hiện tượng, các quá trình tư duy khác sẽ được diễn ra nối tiếp và hiệu quả. Mặt
khác, thực tế cho thấy kĩ năng so sánh là một kĩ năng rất cần thiết, gắn với vô
vàn các tình huống nảy sinh hàng ngày trong cuộc sống của trẻ, đòi hỏi trẻ phải
sử dụng kĩ năng so sánh để giải quyết các tình huống đó. Phát triển kĩ năng so
sánh vừa có ý nghĩa giúp phát triển khả năng tư duy cho trẻ, vừa giúp trẻ có thể
giải các bài toán so sánh đặt ra trong cuộc sống.
Hoạt động cho trẻ làm quen với toán nói chung và hình thành biểu tượng
hình dạng cho trẻ nói riêng là dạng hoạt động rất có ưu thế trong việc phát triển
kĩ năng so sánh cho trẻ. Trong quá trình hoạt động, trẻ phải thực hiện rất nhiều
nhiệm vụ nhận thức đòi hỏi trẻ phải sử dụng kĩ năng so sánh để phân biệt các
hình học phẳng - khối hình để khám phá sự giống và khác nhau về hình dạng
giữa các đồ vật xung quanh trẻ.
Trên thực tiễn giáo dục mầm non, các giáo viên mầm non đã quan tâm
đến việc phát triển khả năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động hình
thành biểu tượng hình dạng. Tuy nhiên, hiệu quả thực tiễn vẫn chưa được cao,

1


do đó các biện pháp được giáo viên sử dụng vào quá trình dạy học nhằm phát
triển kĩ năng so sánh cho trẻ còn chưa tốt và mang tính rập khuôn, máy móc. Do
vậy, tính linh hoạt trong sự vận dụng kĩ năng này của trẻ vào nhiều tình huống
cụ thể, đa dạng còn thấp, kết quả so sánh vẫn hạn chế.
Với tất cả các lí do nêu trên tôi quyết định chọn đề tài “Phát triển kĩ năng
so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng” làm
nội dung nghiên cứu của để tài.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6
tuổi trong hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng nhằm phát triển tư duy
cho trẻ.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lí luận của việc phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi
trong hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng.
- Nghiên cứu thực trạng phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi trong
hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6
tuổi trong hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng.
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5
– 6 tuổi trong hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu: Quá trình phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6
tuổi trong hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng.
4.2. Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ
5 – 6 tuổi trong hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng.
5. Phạm vi nghiên cứu
Một số biện pháp nhằm phát triển kĩ năng so sánh của trẻ 5 – 6 tuổi trong
hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng trên hoạt động học tập có chủ đích.


6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Sử dụng phối lợp các phương pháp nghiên cứu: Thu thập tài liệu, nghiên
cứu, phân tích, tổng hợp các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu nhằm hình
thành cơ sở lí luận cũng như làm sáng tỏ các vấn đề khác liên quan đến đề tài.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1. Phương pháp điều tra
Điều tra thực trạng phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt
động hình thành biểu tượng hình dạng tại một số trường mầm non.
6.2.2. Phương pháp quan sát
Quan sát, ghi chép các hoạt động của giáo viên và học sinh trong một số
hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng có chủ đích; nhằm đánh giá, phân
tích đặc điểm, mức độ phát triển kĩ năng so sánh của trẻ trong hoạt động hình
thành biểu tượng hình dạng.
6.2.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm định tính khả thi của các biện
pháp phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi được xây dựng trong đề tài.
6.2.4. Phương pháp sử dụng các bài tập khảo sát
Xây dựng các bài tập để khảo sát mức độ phát triển kĩ năng so sánh của
trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng với các mức độ
so sánh khác nhau
6.3. Phương pháp xử lí số liệu
- Xử lí số liệu để bước đầu đánh giá định tính và định lượng về kết quả
thu được.
7. Giả thuyết khoa học
Kĩ năng so sánh của trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt động hình thành biểu tượng
hình dạng còn chưa cao. Đưa ra các đề xuất phù hợp có thể nâng cao được kĩ


năng so sánh của trẻ từ đó phát triển tư duy cho trẻ nói chung và trẻ mẫu giáo
lớn ( 5 – 6 tuổi ) nói riêng sẽ được nâng cao.
8. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo thì khóa luận được cấu
trúc thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của việc phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6
tuổi trong hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng
Chương 2: Đề xuất biện pháp phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi
trong hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG SO
SÁNH CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH
BIỂU TƯỢNG HÌNH DẠNG
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. So sánh
Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về so sánh như:
Cuốn Từ điển tâm lý học do tác giải Vũ Dũng làm chủ biên định
nghĩa “So sánh – Một trong những thao tác tư duy làm chức năng đối chiếu các
đối tượng để phát hiện ra những nét khác nhau giữa chúng” [4, tr 240]
Theo E.Durkheim thì “So sánh là phương pháp thực nghiệm gián tiếp”
[Dẫn theo Lê Đức Phúc, 29]. Một số tác giả khác thì xem so sánh là “Nhìn cái
này mà xem xét cái kia để thấy sự giống và khác nhau hoặc sự hơn kém” [10, tr
830]
Như vậy có thể hiểu, so sánh không chỉ là đối chiếu giữa các đối tượng
mà còn là đối chiếu ngay trên chính một đối tượng duy nhất bởi vì so sánh được
sử dụng rộng rãi để xác định sự thay đổi của cùng một hiện tượng, có nghĩa là so
sánh với chính bản thân.
Các tác giả này còn nhấn mạnh vai trò của quá trình so sánh là một trong
các thao tác của tư duy để có thể đối chiếu, phát hiện và tìm ra được các điểm
tương đồng hay các điểm khác nhau của các sự vật, hiện tượng.
Quá trình so sánh cần phải sử dụng đến các phương tiện. Phương tiện đó
bao gồm: vật thật, phương tiện mô phỏng, tranh ảnh và biểu tượng.
1.1.2. Kĩ năng so sánh
Dựa trên quan điểm xem xét kĩ năng là năng lực thực hiện một nhiệm vụ
nào đó cả về thể chất, tinh thần, vật chất và quan điểm xem xét so sánh là một
thao tác của tư duy chúng ta có thể hiểu:


Kĩ năng so sánh là năng lực sử dụng các phương tiện so sánh để thực
hiện nhiệm vụ so sánh nhằm tìm ra những đặc điểm giống và khác nhau giữa
các đối tượng hoặc phát hiện ra sự thay đổi của một đối tượng trong quá trình
nhận thức.
Kĩ năng so sánh phát triển với nhiều mức độ từ mức độ thấp đến mức độ
cao cùng với sự phát triển của chủ thể so sánh. Kĩ năng so sánh này sẽ phát triển
tốt hơn nếu trẻ được hành động – tức trẻ được thực hành so sánh và được người
lớn hỗ trợ, hướng dẫn.
Kĩ năng so sánh được thể hiện thông qua một số tiêu chí như sau:
- Mức độ nắm phương thức xác định sự giống nhau và khác nhau giữa
các đối tượng: thể hiện ở việc chủ thể so sánh nhận ra và phát hiện được sự
giống nhau và khác nhau giữa các đối tượng. Mức độ này phản ánh thông qua
kết quả thực hiện nhiệm vụ so sánh xem có đúng hay không, chủ thể so sánh có
tìm ra chính xác các thuộc tính giống – khác nhau giữa các đối tượng cần so
sánh hay không.
- Tính đa dạng trong việc thực hiện nhiệm vụ so sánh: Tính đa dạng này
được thể hiện qua số lượng các dấu hiệu, chủng loại đối tượng so sánh và nó thể
hiện sự vận dụng kĩ năng so sánh của chủ thể vào nhiều đối tượng khác nhau. Số
lượng các dấu hiệu mà trẻ cần định hướng khi so sánh càng đa dạng, phức tạp thì
mức độ so sánh càng cao. Trong đó so sánh giữa hai đối tượng đơn lẻ là mức độ
đơn giản nhất.
- Phương tiện được sử dụng để so sánh: Các phương tiện được sử dụng để
so sánh càng mang tính khái quát hóa, trừu tượng hóa thì mức độ khó của nhiệm
vụ so sánh càng cao.
- Tốc độ thực hiện nhiệm vụ so sánh nhanh hay chậm.
- Tính độc lập của chủ thể khi thực hiện nhiệm vụ so sánh.


1.1.3. Phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ mầm non
Trong phép biện chứng duy vật “phát triển dùng để chỉ quá trình vận động
theo chiều hướng đi lên của sự vật: từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn”. Các kĩ
năng của trẻ nói chung và kĩ năng so sánh cho trẻ mầm non nói riêng cũng cần
phải được phát triển.
Phát triển các kĩ năng so sánh cho trẻ mầm non là vô cùng quan trọng với
việc học của trẻ. Giúp cho trẻ mở rộng được tầm hiểu biết của tư duy về các vật
thể có trong môi trường xung quanh.
Kĩ năng so sánh rất quan trọng trong quá trình tư duy của trẻ cho phép trẻ
nhận biết và giải quyết các vấn đề. Việc phát triển kĩ năng so sánh được mở rộng
thông qua việc học toán và khám phá khoa học, xã hội.
Bên cạnh đó các kĩ năng so sánh của trẻ không ngừng phát triển, phụ
thuộc vào lứa tuổi trẻ, vào môi trường hoạt động và sự giáo dục của người lớn.
Kĩ năng so sánh phát triên giúp trẻ có thể tìm ra các đặc điểm giống nhau
và khác nhau giữa các đối tượng một cách dễ dàng hơn. Tuy nhiên muốn phát
triển kĩ năng so sánh thì người lớn cần phải có các biện pháp để dạy trẻ so sánh
một cách có hiệu quả bởi lẽ, trẻ nhỏ vẫn còn rất hạn chế khi so sánh, trẻ thường
chỉ tập trung chú ý đến các đặc điểm bên ngoài mà không chú ý đến các đặc
điểm đặc trưng bên trong của đối tượng cần so sánh.
1.1.4. Nhận thức về hình dạng của trẻ mẫu giáo lớn
Từ khi còn nhỏ trẻ đã có khả năng nhận biết về hình dạng các vật trong
môi trường xung quanh. Trẻ ở các lứa tuổi khác nhau thì khả năng nhận biết về
hình dạng vật thể và các hình học khác nhau.
Trẻ 5 – 6 tuổi đã được trang bị rất nhiều các kĩ năng trong đó có kĩ năng
nhận thức về hình dạng. Trẻ có kĩ năng nhận biết được hình dạng của một số
hình khối thông dụng: khối cầu, khối vuông, khối chữ nhật, khối trụ. Kĩ năng
nhận biết, phân biệt các hình học bằng các hoạt động của tay và mắt của trẻ theo
đường bao tiến triển hoàn thiện trẻ chủ động sờ mó vật bằng hai tay, cầm nắm


vật bằng các đầu ngón tay, biết đưa mắt quan sát theo đường bao của vật, phần
chủ yếu đặc trưng cho hình dạng của vật . Đó là điều kiện giúp cho trẻ khảo sát
được hình dạng của vật đó một cách đúng và đầy đủ. Ngôn ngữ của trẻ phát triển
hơn, có sự kết hợp chặt chẽ giữa các giác quan, các cơ quan thị giác, xúc giác và
ngôn ngữ đã tạo điều kiện thuận lợi giúp trẻ thu nhận các kiến thức về hình dạng
chính xác hơn, giúp trẻ củng cố và nhớ lâu hơn điều mà mình cảm nhận được
thông qua hình dạng của đồ vật được tiếp xúc. Lời nói cũng giúp cho nhận thức
của trẻ về hình dạng được tổng quát hơn. Trẻ có thể hiểu được các vật khác nhau
thì có các hình dạng khác nhau, có thể phân biệt được hình dạng của các vật theo
các nhóm phù hợp và gọi tên được các nhóm cơ bản của chúng theo dấu hiệu.
1.2. Mối quan hệ giữa kĩ năng so sánh với các hoạt động tư duy khác
Để giải quyết một vấn đề cần kết hợp rất nhiều các thao tác của tư duy.
Việc kết hợp giúp cho thời gian giải quyết vấn đề được rút ngắn và tạo ra kết
quả chính xác nhất, hợp lý nhất. Như vậy, so sánh cũng không bao giờ được
thực hiện một cách tách biệt mà nó có mối quan hệ nhất định với các giai đoạn,
thao tác tư duy khác. Quá trình tư duy bao gồm 5 thao tác cơ bản là: phân tích,
tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa.
*Về mối quan hệ giữa so sánh và phân tích, tổng hợp:
Phân tích là quá trình con người dung trí óc phân chia đối tượng nhận thức
thành nhiều bộ phận, thành phần, tách ra trong đối tượng nhận thức các yếu tố,
các thuộc tính, các mối quan hệ nhất định. Trong đó có thuộc tính cơ bản nhất,
quan trọng nhất nổi lên hàng đầu cần phải quan tâm đối với tư duy.
Tổng hợp là quá trình con người dung trí óc để hợp nhất các bộ phận, yếu
tố, thành phần đã được tách ra ở giai đoạn phân tích nhằm tạo thành một tổng
thể tư duy.
Phân tích – tổng hợp là bước đầu cho sự phát triển tư duy logic ở trẻ 5 tuổi,
mà trước đó là tư duy tiền logic ở trẻ dưới 5 tuổi. Trước đây ở lứa tuổi nhỏ hơn,
với tư duy trực quan thì trẻ chỉ có những hình ảnh trong tâm trí khi thấy được


những hình ảnh cụ thể trước mắt, chưa có được sự liên tưởng giữa các hình ảnh
mà trẻ đã nhìn thấy trước đó để tạo nên một chuỗi các hoạt động xảy ra theo
trình tự thời gian. Cái nhìn của trẻ là một cái nhìn tổng thể, chưa có khả năng
phân tích.
Nhờ so sánh mà ta biết được những dấu hiệu giống nhau và khác nhau, cái
chung và cái riêng. Đồng thời, bằng so sánh chủ thể có thể tiếp thu được tất cả
tính đa dạng, độc đáo của dấu hiệu và thuộc tính của đối tượng.
Ngược lại, thao tác so sánh có liên quan chặt chẽ với thao tác phân tích –
tổng hợp, vì mỗi sự vật đều có nhiều thuộc tính, nhiều khía cạnh, nhiều bộ phận,
do đó muốn so sánh thì chúng ta phải phân tích – tổng hợp.
Như vậy, so sánh vừa tham gia vào hai quá trình trên vừa là khâu kết nối
chúng lại. Ngược lại, việc phân tích và tổng hợp cũng tạo điều kiện thuận lợi cho
so sánh khi tách bạch các đặc điểm của đối tượng làm vật liệu so sánh và kết
hợp chúng để tạo ra cái chung, giống nhau.
*Về mối quan hệ giữa so sánh và trừu tượng hóa, khái quát hóa:
Trừu tượng hóa là quá trình con người dung trí óc để gạt bỏ những bộ
phận, yếu tố, mối quan hệ, thuộc tính không cơ bản, không cần thiết và giữ lại
những cái cơ bản, cần thiết để tư duy.
Khái quát hóa là quá trình con người dung trí óc để thống nhất nhiều đối
tượng khác nhau nhưng có những thuộc tính chung, mối liên hệ, quan hệ nhất
định thành một nhóm hay một loại.
Ngoài các thao tác trên còn có thao tác cụ thể hóa. Đây là quá trình vận
dụng các khái niệm, định luật hoặc quy tắc khái quát, trừu tượng hóa đã được
lĩnh hội vào hoạt động thực tiễn nhằm giải quyết những nhiệm vụ nào đó.
Nhờ có so sánh mà chủ thể tìm ra được đâu là đặc điểm, thuộc tính cơ
bản, thuộc tính không cơ bản của các đối tượng để quá trình trừu tượng hóa,
khái quát hóa được tiến hành một cách chính xác.


Trên cơ sở của sự so sánh mà chúng ta có thể nhanh chóng, dễ dàng nắm
được những đặc điểm giống, khác nhau của các sự vật, hiện tượng mà từ đó cụ
thể hóa cũng được thực hiện tốt hơn.
Như vậy có thể thấy so sánh có mối quan hệ tương tác qua lại và gắn bó
mật thiết với các thao tác tư duy khác.
*Về mối quan hệ giữa so sánh và ngôn ngữ:
Như chúng ta đều biết, ngôn ngữ là phương tiện của tư duy và sự phát
triển tư duy gắn liền với sự phát triển ngôn ngữ. Với vị trí là một thao tác tư duy
cơ bản, so sánh góp phần thúc đẩy cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ được thuận
lợi và đạt kết quả. Ngược lại, vì so sánh cần phải được tiến hành khi trẻ có ngôn
ngữ nên ngôn ngữ là điều kiện, phương tiện và là kết quả của quá trình so sánh.
Nói tóm lại, các thao tác tư duy có mối quan hệ tương tác, phụ thuộc lẫn
nhau. So sánh là điều kiện của các quá trình tư duy khác và ngược lại, kết quả
của các quá trình tư duy khác là cơ sở của quá trình so sánh. Các quá trình đó
diễn ra thống nhất, đan xen vào nhau và ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả của
nhau.
1.3. Vai trò của việc phát triển kĩ năng so sánh với sự phát triển các quá
trình nhận thức của trẻ mẫu giáo
Trên khía cạnh so sánh vừa là phương tiện, vừa là thao tác và sản phẩm
của hoạt động tư duy thì so sánh có vai trò quan trọng trong sự phát triển trí tuệ
của mỗi cá nhân, là điều kiện quan trọng để có thể nhận thức đầy đủ và sâu sắc
thế giới xung quanh cũng như chính mình. Nhà tâm lí học Vưgốtxki đã khẳng
định chính các thao tác trí tuệ là một công cụ tâm lý phân biệt giữa hành vi của
người và động vật; là công cụ, phương tiện hành động trong hoạt động tâm lý
[5,tr 51].
A.A Liublinxkaia lại nhận định: “Chính thao tác so sánh dẫn trẻ đến giải
quyết nhiệm vụ nhận thức, đến các tri thức mới” [12, tr 19].


Phát triển kĩ năng so sánh trong các hoạt động cho trẻ là tạo điều kiện để
trẻ thực hiện nhiệm vụ so sánh nhằm vận dụng các kiến thức, kĩ năng khảo sát
mà trẻ đã nắm được vào việc phân biệt sự giống và khác nhau cũng như mối liên
hệ giữa các vật thể.
Như vậy, với trẻ nhỏ thì kĩ năng so sánh là một kĩ năng quan trọng để
nhận thức về thế giới xung quanh. Nó giúp trẻ thiết lập mối quan hệ giữa các
hiểu biết, giữa các mặt của một đối tượng cũng như các đối tượng với nhau
trong môi trường. Nhờ đó, trẻ có thể nhận biết và phân biệt một cách tách bạch
giữa vật này với vật khác. Phát triển kĩ năng so sánh tạo điều kiện thúc đẩy phát
triển toàn bộ hoạt động trí tuệ của trẻ, giúp hoàn thiện các chức năng tâm lí của
trẻ và góp phần giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh một cách đầy đủ, phong
phú và sâu sắc hơn.
1.4. Sự phát triển kĩ năng so sánh của trẻ mẫu giáo trong hoạt động hình
thành biểu tượng hình dạng
Kĩ năng so sánh của trẻ mẫu giáo nói chung cũng như trẻ 5 – 6 tuổi nói
riêng không ngừng phát triển, phụ thuộc vào lứa tuổi, khả năng, trình độ nhận
thức và cả sự giáo dục của người lớn. Quá trình phát triển đó trải qua các giai
đoạn, các mức độ từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao.
Một số tác giả cho rằng trong độ tuổi mẫu giáo, có thể chia mức độ so
sánh của trẻ thành 2 cấp độ cơ bản là:
- Cấp độ thấp: Trẻ so sánh chủ yếu được tiến hành dựa trên các dấu hiệu
bên ngoài của đối tượng về màu sắc, kích thước… Trẻ chưa phân tách được dấu
hiệu bản chất của mỗi sự vật, hiện tượng và chưa biết so sánh các đối tượng dựa
trên các dấu hiệu này.
- Cấp độ cao: Trẻ sử dụng phối hợp các thao tác tư duy để so sánh, trẻ có
thể đối chiếu những dấu hiệu chung và bản chất của sự vật, hiện tượng.
Mặt khác, so sánh bao giờ cũng cần sử dụng các phương tiện so sánh. Do
vậy, mức độ phát triển kĩ năng so sánh cũng được đánh giá một phần bởi


phương tiện sử dụng để tiến hành so sánh. Theo đó, tương ứng với 4 loại
phương tiện so sánh thì có 4 mức độ so sánh là:
+ Mức độ 1: So sánh sử dụng vật thật: So sánh bằng phương tiện vật thật
rất phù hợp với tư duy trực quan hành động của trẻ mẫu giáo. Tuy nhiên, việc
phụ thuộc vào vật thật, thao tác trực tiếp với các vật đó sẽ gây cản trở cho quá
trình trừu tượng hóa cũng như cản trở việc hình thành các khái niệm mang tính
bản chất của đối tượng ở trẻ. Trẻ khó phân tách được dấu hiệu bản chất ra khỏi
một tập hợp bao gồm hàng loạt các đặc điểm, thuộc tính khác nhau của cùng
một vật. Do vậy, quá trình so sánh có thể bị phân tán, dấu hiệu, chi tiết so sánh
trở nên vụn vặt làm cho việc so sánh của trẻ trở nên khó khăn hơn.
+ Mức độ 2: So sánh sử dụng phương tiện mô phỏng: Mô hình, đồ chơi,
các sản phẩm ghép, nặn… Vì các phương tiện mô phỏng thường mang tính đặc
trưng nên trẻ có thể dễ dàng phát hiện ra những cặp thuộc tính – đặc điểm mang
tính tương đồng hoặc khác biệt giữa 2 hay nhiều đối tượng. Chính vì thế các
phương tiện mô phỏng đóng vai trò là các vật định hướng cho quá trình so sánh
của trẻ. Tuy nhiên, so sánh dựa trên phương tiện mô phỏng vẫn là lối so sánh
theo cấp độ tư duy trực quan hình tượng, chưa góp phần thúc đẩy sự phát triển
tư duy của trẻ lên hình thức tư duy cao hơn là tư duy logic.
+ Mức độ 3: So sánh sử dụng tranh, ảnh: Các phương tiện này có tác
dụng giúp gợi lại trí nhớ, khiến trẻ liên tưởng đến các thuộc tính có thật của đối
tượng được miêu tả trong tranh, ảnh. Việc sử dụng tranh, ảnh để so sánh sẽ giúp
quá trình tư duy của trẻ thoát ly khỏi sự phụ thuộc vào đồ vật, đồ chơi; đồng thời
kích thích trí nhớ của trẻ từ đó tư duy tái tạo của trẻ được phát triển.
+ Mức độ 4: So sánh sử dụng biểu tượng: Việc so sánh bằng biểu tượng –
tức sử dụng các kí hiệu tượng trưng hoặc lời nói là mức độ so sánh cao nhất.
Mức độ phát triển khả năng so sánh của trẻ còn căn cứ vào phạm vi số
lượng đối tượng trẻ cần so sánh. Khi đó, mức độ so sánh sẽ phức tạp dần theo


hướng tăng dần số lượng đối tượng cần so sánh và tiến đến việc so sánh giữa các
nhóm đối tượng với nhau.
Trẻ mầm non lĩnh hội biểu tượng hình dạng thông qua rất nhiều các hoạt
động đa dạng. Hoạt động hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ ở trường mầm
non là hoạt động đặt cơ sở cho việc trẻ có thể học tập một cách có hiệu quả các
nội dung toán hình học ở trường phổ thông sau này, hoạt động này được xác
định bởi các yếu tố như: mục đích và nội dung giáo dục trẻ, đặc điểm lứa tuổi,
đặc biệt là đặc trưng và mức độ phát triển trí tuệ, mức độ phát triển biểu tượng
hình dạng ở trẻ…
Trẻ lứa tuổi mẫu giáo bé 3 – 4 tuổi tri giác ngày càng hoàn thiện, biểu
tượng về hình dạng của trẻ ngày càng đa dạng và chính xác. Trẻ đã có khả năng
hiểu và thực hiện nhiệm vụ tìm các đối tượng.
Lên 3 tuổi, trẻ bắt đầu nhận biết khá chính xác các hình học không gian
phụ thuộc vào vị trí của chúng trong không gian. Tuy nhiên, trẻ chưa có khả
năng so sánh, phân biệt các hình học với nhau nên trẻ vẫn thường nhầm lẫn các
hình tương đối giống nhau như: hình vuông và hình chữ nhật, hình tam giác và
hình vuông…
Sang đến 4 – 5 tuổi, trẻ có khả năng tri giác hoàn thiện hơn, hoạt động của
các giác quan ngày càng phát triển, mức độ khảo sát hình dạng của trẻ càng cao.
Nhờ đó, biểu tượng về hình dạng vật thể và các hình học của trẻ phong phú và
chính xác hơn. Trẻ biết sử dụng các đồ vật như những hình chuẩn để so sánh,
lựa chọn, xác định hình dạng của mọi vật xung quanh.
Dưới sự hướng dẫn của người lớn, trẻ 4 – 5 tuổi đã có khả năng nhận biết,
phân biệt và gọi tên một số hình học, trẻ ít nhầm lẫn các hình tương đối giống
nhau; nhận biết và gọi tên được một số hình khối như: khối cầu, khối vuông,
khối chữ nhật… Đa số trẻ thực hiện đúng nhiệm vụ tìm những đồ vật có hình
dạng tròn hay vuông, tìm ra được dấu hiệu chung về hình dạng của các đồ vật,
đồ chơi xung quanh trẻ.


Đến mẫu giáo lớn 5 – 6 tuổi, trí tuệ của trẻ ngày càng phát triển, khả năng
suy luận và phán đoán của trẻ tốt hơn nên trẻ có thể phân biệt các hình học và
hình dạng vật thể chính xác, tốc độ nhanh hơn. Nhiều trẻ đã có khả năng tạo ra
sự thay đổi của hình dạng, khả năng tạo ra hình mới từ các hình đã biết, ví dụ:
cắt hình vuông thành hai hình tam giác, ghép hai hình vuông thành một hình chữ
nhật…
Đồng thời, do biểu tượng hình dạng của trẻ đã phong phú, tư duy của trẻ
đã khá phát triển nên trẻ đã thực hiện được các nhiệm vụ lựa chọn vật hoặc hình
học theo yêu cầu của giáo viên.
Về thao tác khảo sát hình của trẻ của giai đoạn này cao hơn các giai đoạn
trước trẻ tích cực sờ nắm vật một cách trình tự, có hệ thống bằng các đầu ngón
tay của hai bàn tay. Sự phối hợp nhịp nhàng chuyển động giữa tay và mắt theo
đường bao của vật, theo các cạnh và trên bề mặt vật dường như mô hình hóa
dạng vật. Từ đó, sự nhận biết của trẻ về hình dạng của vật đạt mức chính xác cao
hơn.
Trẻ 5 – 6 tuổi cũng đã nắm được những dấu hiệu đặc trưng của các hình
học, trẻ không chỉ nhận biết, phân biệt được các hình học mà còn biết tạo nhóm
các hình theo dấu hiệu chung nhất định. Trẻ sử dụng đúng các hình hình học như
những hình chuẩn để xác định hình dạng của các vật xung quanh.
Phát triển kĩ năng so sánh trong các hoạt động hình thành BTHD cho trẻ
là tạo điều kiện để trẻ thực hiện nhiệm so sánh và tìm ra mối liên hệ giữa các đối
tượng xung quanh trẻ.
Trong rất nhiều các dạng hoạt động khác nhau ở trường mầm non thì hoạt
động hình thành BTHD là một trong những hoạt động có ưu thế lớn trong việc
phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ mẫu giáo. Khi tham gia hoạt động này bản
thân đứa trẻ được tiếp xúc với hình dạng của các vật phong phú, muôn màu
muôn vẻ. Từ đó, luôn nảy sinh nhu cầu không ngừng về việc tìm hiểu các đặc
điểm cấu tạo, hình dáng của các sự vật ấy, bao gồm cả nhu cầu so sánh hình


dạng giữa các đồ vật, đồ chơi. Mặt khác, hoạt động hình thành BTHD không chỉ
tạo điều kiện cho việc thúc đẩy nảy sinh nhu cầu so sánh hình dạng các đối
tượng ở trẻ mà nó còn đáp ứng nhu cầu so sánh hình dạng cho đứa trẻ. Trong
hoạt động này, đứa trẻ được sờ nắn, quan sát, nhìn ngắm và sử dụng hàng loạt
các biện pháp khảo sát như: lăn vật, xếp chồng, xếp cạnh các hình hình học và
các vật với nhau. Nhờ vậy, trẻ vừa được cung cấp, làm giàu kinh nghiệm cảm
nhận về hình dạng, vừa được hướng dẫn và có cơ hội rèn luyện các biện pháp so
sánh nhằm nhận biết, so sánh hình dạng các đối tượng xung quanh một cách có
hệ thống, bài bản và tích cực.
Trong quá trình tổ chức hoạt động hình thành BTHD, người giáo viên có
vai trò rất quan trọng. Giáo viên đóng vai trò là người tổ chức môi trường học
tập, tạo các cơ hội, tình huống, nhằm kích thích trẻ tham gia vào hoạt động tìm
tòi, khám phá để chiếm lĩnh tri thức và vận dụng chúng vào quá trình so sánh
cũng như các hoạt động đa dạng khác của trẻ. Nếu giáo viên biết tạo điều kiện
cho trẻ tham gia vào các hoạt động nhận biết hình dạng, sử dụng các phương
pháp, hình thức dạy học phát huy tính tích cực, tính chủ thể, sáng tạo của trẻ
trong hoạt động thì kĩ năng so sánh các dấu hiệu hình dạng của trẻ sẽ được phát
triển một cách hiệu quả.
1.5. Thực trạng phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi trong hoạt
động hình thành biểu tượng hình dạng
1.5.1. Thực trạng dạy học nội dung hình thành biểu tượng hình dạng nhằm
phát triển kĩ năng so sánh cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non
Trước đây, tại các cơ sở giáo dục mầm non đang thực hiện 2 chương trình
chăm sóc, giáo dục là Chương trình cải cách giáo dục mầm non và Chương trình
đổi mới giáo dục. Tuy nhiên hiện nay, Chương trình đổi mới giáo dục giáo dục
mầm non được thực hiện đại trà trên khắp cả nước.
*Chương trình cải cách:


Đây là chương trình đã được thực hiện ở mọi lứa tuổi mẫu giáo.Số lượng
các trường thực hiện chương trình này hiện nay còn rất ít, chủ yếu ở các khu vực
nông thôn, hải đảo xa xôi.
Về nội dung hình thành BTHD cho trẻ 5 – 6 tuổi, chương trình này đã
đảm bảo được việc cung cấp kiến thức cho trẻ một cách tương đối hợp lí, phù
hợp như: tiếp tục dạy trẻ nhận biết các hình học như hình vuông, hình tròn, hình
tam giác, hình chữ nhật và các khối: khối vuông, khối cầu, khối trụ, khối chữ
nhật theo hình mẫu và nhận biết các khối theo tên gọi; dạy trẻ nhận biết các dấu
hiệu đặc trưng của mỗi khối, phân biệt sự giống và khác nhau giữa các hình khối
dựa trên đặc điểm hình dạng và số lượng các mặt bao quanh khối.
Về hình thức các hoạt động này chủ yếu được thực hiện thông qua hình
thức “tiết học”, giáo viên chưa chú trọng đến vấn đề dạy trẻ gắn với cuộc sống
thực, dạy trẻ mọi lúc mọi nơi.
Như vậy, về mặt ưu điểm, chương trình này đã bám sát mục tiêu, kế
hoạch đào tạo bậc học mầm non. Chương trình này đã chú trọng đến việc hình
thành kĩ năng so sánh cho trẻ trong hoạt động hình thành BTHD thông qua việc
giúp trẻ so sánh các hình tròn, hình vuông, hình tam giác, hình chữ nhật theo dấu
hiệu đặc trưng của các hình.
Tuy nhiên, các nội dung hình thành BTHD đưa đến trẻ còn đơn lẻ, rời rạc,
phạm vi so sánh còn giới hạn ở việc so sánh sự giống nhau và khác nhau giữa 2
hình hình học theo dấu hiệu đặc trưng: chiều dài các cạnh, số lượng các cạnh,
góc,… mà chưa hướng đến việc so sánh các nhóm hình với nhau. Mặt khác, quá
trình dạy trẻ so sánh chủ yếu về mặt kiến thức chứ chưa thực hướng đến việc
hình thành khả năng vận dụng kĩ năng so sánh hình dạng vào tinhd huống thực
tiễn.
*Chương trình đổi mới
Chương trình đổi mới được xây dựng một cách tích hợp, lấy trẻ làm trung
tâm và dạy trẻ thông qua hoạt động. Trong chương trình đổi mới, các kiến thức


về hình dạng vật thể được dạy trẻ một cách lồng ghép, tích hợp theo chủ đề giáo
dục và tích hợp với các hoạt động khác như: tạo hình, LQMTXQ, âm nhạc, văn
học…
Hiện nay, nội dung cho trẻ làm quen với đồ vật ở trường mầm non được
thực hiện trong 15 tuần, nội dung hình thành BTHD cho trẻ được thiết kế theo 8
chủ đề giáo dục theo hướng tích hợp. Giáo viên được phép lựa chọn, điều chỉnh
nội dung và chủ đề cho phù hợp tùy theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của lớp
mình. Điều này đòi hỏi giáo viên cần phải lưu ý, kết hợp các hoạt động giáo dục
khác nhau một cách phù hợp trên cơ sở xoay quanh chủ đề giáo dục nhằm cung
cấp kiến thức cho trẻ một cách tổng thể, tạo ra sự giáo dục đồng bộ, hướng đến
sự phát triển toàn diện, đặc biệt là phát triển nhận thức.
Nội dung chương trình hình thành BTHD cho trẻ 5 – 6 tuổi được phân
thành 4 bài. Trong đó, 1 bài ôn luyện củng cố và 3 bài cung cấp kiến thức – kĩ
năng mới theo hướng phát triển dựa trên các kiến thức, kĩ năng đã có của trẻ.
Bao gồm các kĩ năng sau:
- Mở rộng và làm phong phú hơn các biểu tượng về các hình học cho trẻ.
- Dạy trẻ các biện pháp khảo sát các hình khối như: khối cầu, khối vuông,
khối chữ nhật và khối trụ nhằm giúp trẻ nắm được các dấu hiệu đặc trưng của
các hình khối như: cấu tạo về mặt bao quanh khối, số lượng các mặt, các góc
của chúng và hình dạng của mặt khối.
- Luyện tập cho trẻ xác định hình dạng những vật xung quanh trẻ trên cơ
sở so sánh hình dạng của chúng với các hình học đã biết.
Các nội dung được sắp xếp theo hệ thống từ dễ đến khó, từ đơn giản đến
phức tạp và phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ 5 – 6 tuổi.
Chương trình đổi mới cũng khuyến khích các giáo viên chủ động, sáng
tạo trong việc lựa chọn nội dung, vận dụng các phương pháp, biện pháp, hình
thức tổ chức cho trẻ hoạt động, trải nghiệm, khám phá một cách đa dạng.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×