Tải bản đầy đủ

Phát triển vốn từ cho trẻ mầm non thông qua các sáng tác thơ phạm hổ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======

NGUYỄN THỊ KHÁNH HUYỀN

PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẦM NON
THÔNG QUA CÁC SÁNG TÁC THƠ PHẠM HỔ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

HÀ NỘI, 2018


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======

NGUYỄN THỊ KHÁNH HUYỀN


PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẦM NON
THÔNG QUA CÁC SÁNG TÁC THƠ PHẠM HỔ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

Người hướng dẫn khoa học:

TS. Lê Thị Thùy Vinh

HÀ NỘI, 2018


LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo
trong Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo trong Khoa Giáo dục
mầm non và đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô Tiến sĩ Lê
Thị Thùy Vinh – người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo để tôi hoàn thành khóa
luận tốt nghiệp này.
Chúng tôi xin bày tỏ sự biết ơn đến ban quản lí thư viện trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện, giúp đỡ để chúng tôi hoàn thành khóa luận
của mình.
Trong công trình nghiên cứu, không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn
chế. Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp, góp ý của các thầy cô giáo và
các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày

tháng 5 năm 2018
Sinh viên

Nguyễn Thị Khánh Huyền


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các căn cứ, số liệu
trong khóa luận là trung thực, đề tài này chưa được công bố trong bất kì khóa
luận nào khác.
Hà Nội, ngày

tháng 5 năm 2018
Sinh viên

Nguyễn Thị Khánh Huyền


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài .......................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................. 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................... 5
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................. 5
6. Bố cục khóa luận .......................................................................................... 5
NỘI DUNG.......................................................................................................... 6
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN.............................................................................. 6
1.1. Cơ sở tâm lí ................................................................................................ 6
1.1.1. Kĩ năng giao tiếp của trẻ có bước phát triển mới .................................. 6
1.1.2. Trẻ bắt đầu hình thành cái tôi cá nhân và tính từ lập .......................... 6
1.1.3. Khả năng tư duy ....................................................................................... 7
1.1.4. Khả năng chú ý ......................................................................................... 8
1.1.5. Trí tưởng tượng của trẻ ........................................................................... 8
1.2. Cơ sở sinh lí................................................................................................ 8
1.3. Cơ sở giáo dục học................................................................................... 10
1.4. Cơ sở ngôn ngữ........................................................................................ 11
1.4.1.

Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát tiển của trẻ em ................... 11

1.4.2.

Khái niệm từ...................................................................................... 13

1.4.3.

Phân loại từ ....................................................................................... 13

1.4.4.

Đặc điểm vốn từ trẻ mầm non ......................................................... 14

1.5. Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Phạm Hổ............................ 17
Chương 2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ
MẦM NON THÔNG QUA CÁC SÁNG TÁC THƠ PHẠM HỔ................. 21


2.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp ................................................................ 21
2.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích....................................................... 21
2.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính tích cực của trẻ ............................................ 23
2.1.3. Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với vốn sống và kinh ngiệm của trẻ ... 24
2.2. Thơ Phạm Hổ với phát triển vốn từ cho trẻ mầm non ........................ 25
2.2.1. Phát triển vốn từ cho trẻ thông qua các bài thơ về thiên nhiên trong
trẻo, đầy chất thơ ..............................................................................................
26
2.2.2. Phát triển vốn từ cho trẻ mầm non thông qua các bài thơ về thế giới
thực vật ..............................................................................................................
27
2.2.3. Phát triển vốn từ cho trẻ mầm non qua các bài thơ về thế giới các đồ
vật sống động..................................................................................................... 34
2.3. Các biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mầm non thông qua các sáng
tác thơ Phạm Hổ ............................................................................................... 37
2.3.1. Biện pháp đọc thơ cho trẻ nghe............................................................. 37
2.3.2. Biện pháp đàm thoại............................................................................... 39
2.3.3. Biện pháp giải nghĩa của từ ................................................................... 40
2.3.4. Dạy trẻ học thuộc thơ ............................................................................. 43
KẾT LUẬN ....................................................................................................... 44
TÀI LỆU THAM KHẢO ................................................................................. 45


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân,
đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm
mỹ cho trẻ em. Những kỹ năng mà trẻ được tiếp thu qua chương trình chăm sóc
giáo dục mầm non sẽ là nền tảng cho việc học tập và thành công sau này của trẻ.
Việc chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non phải dựa trên nhu cầu căn bản, thỏa mãn
được những mong muốn của trẻ. Ngôn ngữ của trẻ phát triển sẽ giúp trẻ nhận
thức, giao tiếp tốt, góp phần quan trọng trong việc hình thành nhân cách cho trẻ.
Văn chương khơi dậy cảm xúc cho con người, làm cho người ta biết khóc,
biết cười, biết vui, biết buồn, biết yêu, biết ghét… nó bồi đắp cho con người
nhiều hơn về mặt tình cảm. Thật khó có thể hình dung một người sống mà
không có cảm xúc, không có tình cảm. Sự nhạy cảm, tinh tế của tâm hồn được
hình thành từ thời thơ ấu. Trên thực tế, không ai không thừa nhận vai trò của văn
học thiếu nhi đối với việc bồi dưỡng tâm hồn, cao hơn là cách xây dựng nhân
cách cho các thế hệ trẻ thơ. Trẻ nhỏ thường đến với thơ ca một cách tự nhiên
như đến với chính mình vậy. Cho trẻ tiếp xúc với thơ ca ngay từ khi còn nằm
trong lòng mẹ là điều nên làm, bởi thơ ca là nguồn nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ
về nhiều mặt như phát triển ngôn ngữ, giáo dục đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ, tư
duy… góp phần làm phong phú thêm vốn tri thức của trẻ.
Nhắc đến dòng văn học thiếu nhi chúng ta không thể không nhắc tới
những nhà thơ nổi tiếng như: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Trần Đăng Khoa,
Võ Quảng và đặc biệt là nhà thơ, nhà văn Phạm Hổ - một cái tên đã trở nên khá
quen thuộc đối với trẻ thơ. Phạm Hổ được biết đến với những vần thơ ngộ
nghĩnh, cách định nghĩa sự vật hiện tượng xung quanh đáng yêu và với khát
vọng cháy lòng là mãi được làm bạn với trẻ thơ.
Khác với nhiều người, Phạm Hổ chọn con đường đi vào thế giới tâm hồn
trẻ thơ: “Đối với tôi, được viết cho các em là cả một hạnh phúc” , “Nếu được
sống thêm lần nữa, tôi vẫn chọn nghề cũ: Làm thơ, viết văn cho các em đọc, còn
vẽ tranh cho các em xem nữa. Tôi thường lấy lòng yêu mến các em, lấy những
1


công việc mình làm cho các em làm thước đo lòng mình đối với dân đối với
nước. Bây giờ đã trên bẩy mươi, tôi vẫn thấy cái thước đo ấy có độ chuẩn, có độ
tin cậy”. Tinh thần ấy ta bắt gặp trong Những bài thơ nho nhỏ, khúc đồng dao
được cất lên từ một tâm hồn đồng điệu với trẻ em và của một tấm lòng nhân hậu
vì trẻ thơ :

2


“Suốt đời tôi chỉ mơ
Được viết cho các em
Những bài thơ nho nhỏ”
Hay:
“Thật đơn sơ là hạnh phúc của tôi
Được viết cho các em
Những bài thơ nho nhỏ”
Nói về thơ Phạm Hổ, Vũ Duy Thông nhận xét: “Một cách tự nhiên, Thơ
Phạm Hổ thiên về lứa bạn đọc nhỏ tuổi”. Đây là lứa tuổi có đặc thù riêng về tâm
lí tiếp nhận thơ ca. Phạm Hổ không ngừng tìm tòi những nội dung, những hình
thức biểu đạt phù hợp, khiến mỗi bài thơ là một niềm vui dành tặng cho các em.
Đi vào thế giới thơ Phạm Hổ, ta bắt gặp tất cả những gì quen thuộc trong cuộc
sống hàng ngày của các em. Đó là cái kéo, cái chổi, dây cầu chì, là con chó, con
mèo, là cây na, quả khế...Tất cả đều có mặt trong thơ ông một cách tự nhiên,
dung dị. Nhiều tác phẩm của ông được dịch và giới thiệu ở các nước như Nga,
Pháp, Trung Quốc, Đức… Ông là tác giả của những tập thơ: Ra Khơi(1960),
Chú bò tìm bạn (1970), Những ô cửa những ngả đường(1976)…
Với ý nghĩa ấy, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Phát triển vốn từ
cho trẻ mầm non thông qua các sáng tác thơ Phạm Hổ” nhằm mục đích phát
triển vốn từ vựng cho các em, giúp các em cảm thấy yêu đời, yêu cuộc sống và
có những bước đệm vững vàng nhất trong tương lai của mình.
2. Lịch sử vấn đề
Ngôn ngữ là tài sản quý báu của nhân loại, là kho tàng trí tuệ của loài
người. Nó chứa đừng và làm sống lại những thành tựu do xã hội gây dựng nên,
là tượng đài giá trị nền văn mình nhân loại. Với vai trò to lớn đó, ai cũng sẽ hiểu

3


rằng việc giúp trẻ mầm non phát triển ngôn ngữ là nhiệm vụ vô cùng quan trọng.
Về vấn đề phát triển ngôn ngữ và phát triển vốn từ cho trẻ đến nay đã có rất
nhiều công trình nghiên cứu được xã hội ghi nhận.
Ở Việt Nam, từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, vấn đề này cũng
được quan tâm. Một số hội nghị khoa học ở Trung Ương cũng như địa phương
đã hướng vào nội dung việc thảo luận nâng cao chất lượng giảng dạy phát triển
ngôn ngữ cho trẻ mầm non.
Tác giả Đinh Hồng Thái trong cuốn Phương pháp phát triến lời nói trẻ
em, NXB Đại học Sư phạm, 2007, đã nêu lên đặc điểm ngôn ngữ và chú trọng
đến dạy nói cho trẻ, phát triển ngôn ngữ thông qua các thành phần của ngữ pháp
tiếng Việt, hình thành và phát triển vốn từ, dạy trẻ các mẫu câu tiếng Việt, phát
triển lời nói mạch lạc, phát triến vốn từ nghệ thuật cho trẻ thông qua các tác
phẩm văn học, tạo tiền đề tốt để trẻ chuẩn bị vào lớp một.
Trong cuốn Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo, NXB Đại học Sư phạm,
năm 2004, tác giả Nguyễn Xuân Khoa đã nói về phương pháp phát triển ngôn
ngữ cho trẻ mẫu giáo rất chi tiết, tỉ mỉ. Qua đó, ông đưa ra một số phương pháp
phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, trong đó có cả vấn đề phát trienr lời nói
mạch lạc cho trẻ.
Tác giả Nguyễn Xuân Khoa cũng đã cung cấp tri thức cơ bản về tiếng việt
trong 2 tập Tiếng Việt, NXB Đại học Sư phạm, 2003; từ đó giúp giáo viên mầm
non có vốn kiến thức cơ bản phục vụ tốt việc phát triển ngôn ngữ mẹ đẻ cho trẻ
mầm non.
Trong cuốn Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi, NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, các tác giả Hoàng Thị Oanh- Phạm Thị Việt –
Nguyễn Kim Đức đã nói lên tầm quan trọng của ngôn ngữ trong việc giáo dục
toàn diện cho trẻ và nêu sơ lược nội dung, phương pháp, biện pháp để luyện phát
âm, phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ mạch lạc
cho trẻ.


Tạp chí Giáo dục mầm non có rất nhiều bài viết về cách tố chức, quản lí,
những sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên và cán bộ quản lí ngành mầm non.
Trong đó cũng có khá nhiều bài viết về vấn đề phát triến ngôn ngữ cho trẻ mầm
non. Trong đó tạp chí Giáo dục mầm non số 1/2006, tác giả Đinh Thị Uyên có
bài dịch tìm hiểu về chương trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non Hàn
Quốc. Đây là một góc nhìn mở cho nền giáo dục mầm non Việt Nam hiện nay.
Cũng trong tạp chí Giáo dục mầm non số 1/2009, có bài: “Một số biện
pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non”, của tiến sĩ Bùi Kim Tuyến(Viện
khoa học giáo dục Việt Nam), đã đề cập tới việc tạo thói quen nói đúng ngữ
pháp cho trẻ thông qua việc giao tiếp với trẻ bằng những câu hỏi gợi mở.
Đứng trên phương diện một nhà giáo dục học, một nhà tâm lí học, tác
giả Nguyễn Ánh Tuyết với cuốn “Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non”, 2005,
đã đề cập đến sự phát triển vốn từ của trẻ ở từng giai đoạn, từng lứa tuối.
Như vậy, có rất nhiều công trình nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ, phát
triển vốn từ cho trẻ mầm non. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên
cứu về phát triển vốn từ cho trẻ mầm non thông qua các sáng tác thơ Phạm Hổ.
Đây là vấn đề mà chúng tôi đã tìm được và có hướng đi riêng cho việc nghiên
cứu và đưa ra các phương pháp phát triển vốn từ cho trẻ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Thông qua các sáng tác thơ của nhà thơ Phạm Hổ, khóa luận hướng tới
khẳng định vai trò của các sáng tác thơ Phạm Hổ nói riêng và thơ ca nói chung
đối với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non. Từ đó, khóa luận cũng đưa ra
một số biện pháp phát triển vốn từ cụ thể thông qua những sáng tác thơ của nhà
thơ viết cho thiếu nhi này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu một số cơ sở lí luận phát triển vốn từ cho trẻ mầm non thông
qua các sáng tác thơ Phạm Hổ.
Đề xuất một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mầm non thông qua
các sáng tác thơ Phạm Hổ.


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự phát triển vốn từ cho trẻ mầm non
thông qua các sáng tác thơ Phạm Hổ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những bài thơ viết cho thiếu nhi của nhà
thơ Phạm Hổ.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp so sánh
6. Bố cục khóa luận
Ngoài các phần mở đầu và kết luận nội dung khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận.
Chương 2: Một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ mầm non thông
qua các sáng tác thơ Phạm Hổ.


NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Cơ sở tâm lí
Ở từng giai đoạn phát triển, trẻ có những đặc điểm tâm lí riêng đòi hỏi
giáo viên phải nắm bắt một cách rõ ràng để có thể giao tiếp tốt với trẻ cũng như
đưa ra phương pháp, chương trình dạy học phù hợp. Đứng ở góc độ tâm lí học,
các nhà ngôn ngữ thấy rằng: việc tiếp thu ngôn ngữ có nhiều điểm khác so với
tiếp thu kiến thức trong các lĩnh vực khác. Ngôn ngữ được hình thành rất sớm.
Ngay từ giai đoạn hài nhi, ở trẻ đã hình thành những tiền đề của sự lĩnh hội ngôn
ngữ. Nhu cầu giao tiếp với người lớn ngày càng tăng làm nảy sinh khả năng nói
nói năng của trẻ. Trẻ không có ý thức về ngôn ngữ nhưng bằng cách bắt chước
có tính bản năng, trẻ em sẽ được học nói từ những người xung quanh mình.
1.1.1. Kĩ năng giao tiếp của trẻ có bước phát triển mới
Phát triển kí năng giao tiếp là một trong những đặc điểm tâm lí trẻ mầm
non. Ở độ tuổi này trẻ bắt đầu được giao tiếp nhiều hơn và cảm thấy hào hứng
với việc này. Trẻ sẽ quan sát những gì xảy ra xung quanh và ghi nhớ những lời
nói và hành động của người lớn để học theo từ đó ngôn ngữ của trẻ được phát
triển hoàn thiện hơn. Việc cho trẻ học các tác phẩm thơ góp phần quan trọng
trong việc phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo.
1.1.2. Trẻ bắt đầu hình thành cái tôi cá nhân và tính từ lập
Đặc điểm tâm lý trẻ mầm non nổi bật ở giai đoạn này là bắt đầu hình
thành ý thức cá nhân. Trẻ có thể tự đưa ra nhận xét hay – không hay , thích không thích khi xem một bộ phim hay nghe một bài hát.Trẻ thích được thể hiện
cái tôi cá nhân của mình, thích tự mình làm những việc như mặc quần áo, đánh
răng, rửa tay, tự ăn, sắp xếp đồ chơi, đi vệ sinh…. Ngoài ra, trẻ cũng luôn chú ý
đến những lời nhận xét của người khác dành cho mình. Với đặc điểm tâm sinh
lý trẻ mầm non như vậy, giáo viên nên hỗ trợ trẻ trong quá trình hình thành ý
thức bản thân bằng các tác phẩm thơ phát triển kĩ năng sống . Việc cho trẻ tiếp
xúc nhiều với thơ và việc giáo dục đạo đức trẻ thông qua nội dung các bài thơ là


hai hướng đi song song nhất quán, thúc đẩy, hỗ trợ phát triển cho trẻ và dần hình
thành nhân cách trẻ thơ.
1.1.3. Khả năng tư duy
Tư duy và tưởng tượng của con người không thể tách rời ngôn ngữ. Ngôn
ngữ là phương tiện tư duy, hay ngôn ngữ cũng chính là “dòng tư duy”. Tư duy
của trẻ: tư duy trực quan - hành động và trực quan hình ảnh. Ở trẻ chưa hình
thành loại tư duy ngôn ngữ - logic nên ngôn ngữ của trẻ mầm non còn hạn chế.
Ở tuổi ấu nhi, hầu hết trẻ đều rất tích cực hoạt động với đồ vật, nhờ đó trí tuệ, tư
duy phát triển khá mạnh, đó là tư duy trực quan hành động. Nhưng đó mới chỉ là
những hành động bên ngoài, làm tiền đề cho sự hình thành những hoạt động
định hướng bên trong. Đến tuổi mẫu giáo, tư duy của trẻ có một bước ngoặt rất
cơ bản, chuyển từ kiểu tư duy trực quan - hành động sang kiểu tư duy trực quanhình tượng. Tuổi mẫu giáo bé, trẻ bắt đầu biết tư duy bằng những hình ảnh trong
đầu, nhưng do những biểu tượng còn nghèo nàn và tư duy mới được chuyển từ
bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong nên trẻ chỉ mới giải quyết được
những bài toán hết sức đơn giản theo kiểu tư duy trực quan- hình tượng. ở tuổi
mẫu giáo nhỡ trẻ phải giải những bài toán ngày càng phức tạp và đa dạng, đòi
hỏi tách biệt và sử dụng mối liên hệ giữa những sự vật, hiện tượng và hành động.
Trẻ mẫu giáo nhỡ đã bắt đầu đề ra những bài toán nhận thức, tìm tòi cách giải
thích những sự vật, hiện tượng mà mình nhìn thấy, kiểu tư duy trực quan hình
tượng đã bắt đầu chiếm lĩnh. Đến tuổi mẫu giáo lớn, khi ngôn ngữ trở thành
phương tiện của tư duy và cho phép trẻ giải những bài toán trí tuệ mà không cần
sử dụng trực tiếp hành động và biểu tượng. Lúc này trẻ bắt đầu tập làm quen,
lĩnh hội những khái niệm đơn giản, khái niệm trừu tượng. những khái niệm đó là
những tri thức về các dấu hiệu chung và bản chất của sự vật cũng như hiện
tượng trong hiện thực đã được khái quát lại bằng các từ. Trẻ biểu hiện năng lực
trí tuệ qua hoạt động tổng hợp của lời nói, qua quan sát, chú ý và suy nghĩ bằng
năng lực ghi nhớ liên tưởng và khả năng giải quyết các nhiệm vụ thông qua vui
chơi sáng tạo. Tư duy trực quan giải thích việc trẻ mẫu giáo bé và mẫu giáo nhỡ
có vốn từ biểu danh là chủ yếu. Tư duy trừu tượng và tư duy logic xuất hiện ở
7


tuổi thứ năm và cho phép trẻ em lĩnh hội những khái niệm đầu tiên- đó là những
khái niệm về sự vật, hiện tượng gần gũi xung quanh trẻ.
1.1.4. Khả năng chú ý
Đặc điểm chú ý của trẻ 5-6 tuổi chủ yếu là không chủ định. Trẻ mẫu giáo
chỉ chú ý, ghi nhớ những gì mình thích và có liên quan đến nhu cầu của chính
bản thân trẻ, những gì gây ấn tượng xúc cảm đối với trẻ. Do vậy, khi dạy trẻ
trình bày diễn cảm tác phẩm cần có biện pháp phù hợp để lôi cuốn sự chú ý của
trẻ. Trẻ muốn trình bày tác phẩm một cách diễn cảm, sáng tạo thì trước hết cần
có sự chú ý, ghi nhớ tác phẩm.
1.1.5. Trí tưởng tượng của trẻ
Trẻ mầm non lứa tuổi mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) có trí tưởng tượng vô cùng
phong phú, trẻ biết sử dụng trí tưởng tượng của mình để khám phá thế giới và
thỏa mãn nhu cầu nhận thức của bản thân. Như vậy, trí tưởng tượng là một phần
quan trọng của các quá trình tâm lí góp phần tích cực vào hoạt động tư duy,
nhận thức và phát triển ngon ngữ của trẻ. Theo nghiên cứu của các nhà tâm lí,
tưởng tượng của trẻ em lứa tuổi này đã bắt đầu mang tính chất sáng tạo. Giai
đoạn đầu tiên của tưởng tượng là tưởng tượng hoang đường. Đặc điểm của giai
đoạn này là tưởng tượng những điều mang tính chất kì diệu, khác thường. Đây
chính là cơ hội để chúng ta sử dụng các tác phẩm văn học, nhất là tuyện cổ tích
cho trẻ làm quen. Thể giới đầy bí ẩn, diệu kì trong truyện cổ tích sẽ làm khơi
dậy trong trẻ trí tưởng tượng phong phú và sự sáng tạo phong phú trong trẻ.
1.2.

Cơ sở sinh lí
Hệ thần kinh là một hệ thống trẻ tuổi trong các hệ thống cơ quan của con

người, là cơ quan điều khiển mọi hoạt động của cơ thể. Hệ thần kinh duy trì mối
liên hệ giữa cơ thể với môi trường, điều chỉnh mọi hoạt động của cơ thể, và tạo
mối thống nhất giữa hoạt động bên ngoài và hoạt động bên trong cơ thể. Não bộ
chính là cơ quan trung tâm điều khiển hệ thần kinh trung ương. Cho đến lúc ra
đời, não bộ của trẻ phát triển chưa hoàn thiện, mặc dù hình thái và cấu tạo giải
phẫu của nó không khác não người lớn là mấy. Ở trẻ sơ sinh: não bộ có kích
thước nhỏ, khoảng 370 - 392g (1/8 - 1/9 trọng cơ thể). Trong 9 năm đầu, trọng
8


lượng não trẻ tăng lên mạnh mẽ. Chẳng hạn, trẻ được 6 tháng tuổi, trọng lượng
của não tăng lên gấp đôi lúc sơ sinh; trẻ 3 tuổi tăng gấp 3 và đa số các tế bào
thần kinh đã được biệt hóa.
Ở người, hệ thống tín hiệu thứ nhất và thứ hai có mối liên hệ chặt chẽ với
nhau, trong đó hệ thống tín hiệu thứ hai chiếm ưu thế. So với hệ thống tín hiệu
thứ nhất thì hệ thống tín hiệu thứ hai có đặc điểm vượt trội hơn đó là khả năng
trừu tượng hóa, khái quát hóa các sự vật, hiện tượng xảy ra ngoài môi trường
cũng như xảy ra bên trong cơ thể. Do vậy, hệ thống tín hiệu thứ hai chính là cơ
sở tư duy của con người. Học thuyết về các hệ thống tín hiệu đã khẳng định:
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ hai, là sự hoạt động đặc biệt của vỏ bán cầu
đại não. Hệ thống tín hiệu thứ hai có được là nhờ những kích thích trừu tượng
như ngôn ngữ, lời nói, chữ viết… Việc phát triển ngôn ngữ phải liên quan mật
thiết tới việc phát triển, hoàn thiện bán cầu đại não và hệ thần kinh. Trong ba
năm đầu là kết thúc sự trưởng thành về mặt giải phẫu vùng não chỉ huy ngôn
ngữ, vì thế phải phát triển ngôn ngữ cho trẻ đúng lúc mới đạt hiệu quả tốt nhất.
Để có thể giao tiếp tốt chúng ta không thể không kể đến bộ máy phát âm.
Mỗi con người sinh ra đã có sẵn bộ máy phát âm, đó là tiền đề vật chất để sản
sinh âm thanh ngôn ngữ. Đó là một trong những điều kiện vật chất quan trọng
nhất mà thiếu nó không thể có ngôn ngữ; nếu như bộ máy phát âm có một khiếm
khuyết nào đó (ví dụ như sứt môi, hở hàm ếch, ngắn lưỡi, lưỡi dài…) thì việc
hình thành lời nói cũng gặp rất nhiều khó khăn. Khi sinh ra mỗi con người
không phải đã có ngay bộ máy phát âm hoàn chỉnh. Độ tuổi mầm non là giai
đoạn hoàn thiện dần bộ máy đó: sự xuất hiện và hoàn thiện của hai hàm răng, sự
vận động của môi, lưỡi, hàm dưới…quá trình đó diễn ra tự nhiên theo các quy
luật sinh học, nó phát triển và hoàn thiện cùng sự lớn lên của trẻ. Trong thực tế ở
cùng một độ tuổi nhiều em có ngôn ngữ phát triển tốt, phát âm rõ ràng bên cạnh
đó có những em ngôn ngữ kém phát triển hơn, nói ngọng hoặc lời nói không rõ
ràng. Có sự khác nhau như thế là do bộ máy phát âm khác nhau và quá trình
chăm sóc giáo dục cũng khác nhau. Trẻ nói ngọng là do bộ máy phát âm phát
triển chưa hoàn chỉnh. Tuy nhiên bộ máy phát âm hoàn chỉnh mới chỉ là tiền đề
9


vật chất. Cùng với thời gian, quá trình học tập, rèn luyện một cách có hệ thống
sẽ làm cho bộ máy phát âm đáp ứng được nhu cầu thực hiện các chuẩn mực âm
thanh ngôn ngữ. Cấu tạo bộ máy phát âm gồm: dây thanh và các hộp cộng
hưởng phía trên thanh hầu. Âm sắc và tiếng nói do tính chất của âm xác định và
phụ thuộc vào các khoang cộng hưởng của phần trên các bộ phận thanh quản,
họng, khoang, miệng, mũi. Bộ máy phát âm của trẻ chưa phát triển đầy đủ, các
bộ phận tạo thành tiếng nói chưa liên kết chặt chẽ nên trẻ phát âm còn chưa
chuẩn, không chính xác. Do đó, việc nghiên cứu bộ máy phát âm để tìm hiểu
vốn từ của trẻ mầm non hoàn toàn có cơ sở và mang tính khoa học.
Ở cuối Tuổi mẫu giáo , do việc giao tiếp bằng ngôn ngữ được mở rộng, tai
nghe âm vị được rèn luyện thường xuyên để tiếp nhận các ngữ âm khi nghe
người lớn nói, mặt khác cơ quan phát âm đã trưởng thành đến mức trẻ có thể
phát âm tương đối chuẩn kể cả những âm khó của tiếng mẹ đẻ khi nói năng. Trẻ
mẫu giáo lớn đã biết sử dụng ngữ điệu một cách phù hợp với nội dung giao tiếp
hay nội dung câu chuyện mà trẻ kể.
1.3.

Cơ sở giáo dục học
Dạy học ở trường mẫu giáo là quá trình phát triển có hệ thống, có kế

hoạch, có mục đích các năng lực nhận thức cửa trẻ, trang bị cho trẻ hệ thống tri
thức sơ đẳng, hình thành kĩ năng, kĩ xảo tương ứng. trên cơ sở đó góp phần hình
thành nhân cách cho trẻ. Trong quá trình dạy học gồm có nhiều hoạt động khác
nhau như: Làm quen với văn học, Hình thành biểu tượng toán sơ đẳng cho trẻ
mầm non, Làm quen với môi trường xung quanh… Tất cả các hoạt động này
nhằm mục đích mở rộng kiến thức hiểu biết cho trẻ và bên cạnh đó còn một
nhiệm vụ quan trọng là phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Hiện nay ở các trường mầm
non có hai hình thức phát triển lời nói cho trẻ đó là : tiết học và ngoài tiết học.
Các tiết học như: nhận biết tập nói, làm quen với chữ cái, làm quen với các tác
phẩm văn học, làm quen với môi trường xung quan, Hình thành biểu tượng toán
sơ đẳng cho trẻ mầm non, Tổ chức hoạt động tạo hình, Giáo dục âm nhạc… Tất
cả đều phát triển lời nói cho trẻ. Vì vậy trong giờ học các hoạt động khác chúng
10


ta phải chú ý phát triển ngôn ngữ cho trẻ vì ngôn ngữ là cửa ngõ để trẻ phát triển
toàn diện nhân cách.
Ngôn ngữ của trẻ được hình thành và phát triển qua giao tiếp với con
người, với sự vật hiện tượng xung quanh. Để thực hiện điều đó phải thông qua
nhiều hoạt động khác nhau như qua các giờ học, các trò chơi, dạo chơi ngoài trời
và sinh hoạt hằng ngày. Qua đó rèn luyện và phát triển vốn từ cho trẻ, tập cho
trẻ biết nghe, hiểu và phát âm chính xác các âm của tiếng mẹ đẻ, hướng dẫn trẻ
biết cách diễn đạt ý muốn của mình cho người khác hiểu.Vì vậy, khi cho trẻ làm
quen, tiếp xúc với các sự vật hiện tượng ngoài việc giới thiệu tên gọi, đặc điểm
của đối tượng cho trẻ thì giáo viên cần dạy trẻ biết nói các câu đầy đủ, rõ nghĩa,
dạy trẻ phát âm đúng các âm chuẩn tiếng Việt, đảm bảo các nguyên tắc của giáo
dục như tính khoa học, tính hệ thống, tính vừa sức.
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một nhiệm vụ quan trọng trong chương
trình giáo dục toàn diện trẻ. Chương trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ đã được
nhà giáo dục mầm non Liên Xô (cũ) nổi tiếng Eiti- Kheeva xem là khâu chủ yếu
nhất của các hoạt động trong trường mầm non, là tiền đề thành công của các
công tác khác.
1.4.

Cơ sở ngôn ngữ

1.4.1. Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát tiển của trẻ em
a, Ngôn ngữ là công cụ để giao tiếp
“Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” (C.Mac). Con
người muốn tồn tại thì phải gắn bó với cộng đồng. Giao tiếp là một đặc trưng
quan trọng của con người. “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất
của con người” (V.I.Lênin). Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thẻ hiểu được
nhau, cùng nhau hành động vì có mục đích chung: Lao động, đấu tranh, xây
dựng và phát triển xã hội.
Không có ngôn ngữ không thể giao tiếp được, thậm chí không thể tồn tại
được, nhất là đứa trẻ, một sinh thể yếu ớt cần sự chăm sóc và bảo vệ của người
lớn.
11


Ngôn ngữ làm cho đứa trẻ trở thành một thành viên của xã hội loài người.
Ngôn ngữ là một công cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏ những nguyện vọng của
mình từ khi còn rất nhỏ để người lớn có thể chăm sóc, điều khiển, giáo dục trẻ,
là một điều kiện quan trọng để trẻ tham gia mọi hoạt động và trong hoạt động
hình thành nhân cách trẻ.
b, Ngôn ngữ là công cụ để phát triển tư duy, nhận thức
Quá trình trưởng thành của một đứa trẻ bên cạnh thể chất là trí tuệ. Công
cụ để phát triển tư duy, trí tuệ chính là ngôn ngữ. Ngôn ngữ chính là hiện thực
của tư duy. Tư duy của con người có thể hoạt động được cũng chính nhờ
phương tiện là ngôn ngữ. tư duy và ngôn ngữ có mối liên hệ mật thiết với nhau.
Nếu không có ngôn ngữ thì quá trình tư duy của con người cũng không diễn ra
được. ngôn ngữ làm cho các kết quả tư duy được cố định lại, do đó có thể khách
quan hóa nó cho người khác và cho bản thân chủ thể tư duy. Ngược lại nếu
không có tư duy với các sản phẩm của nó thì ngôn ngữ chỉ là các âm thanh vô
nghĩa.
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ không chỉ có mục đích tự thân. Có ngôn ngữ,
tư duy của trẻ được phát triển. Đây là hai mặt của một quá trình biện chứng có
tác động qua lại ảnh hướng mạnh mẽ đến nhau. Ngôn ngữ phát triển làm cho tư
duy phát triển. Ngược lại tư duy phát triển càng đẩy mạnh quá trình phát triển
ngôn ngữ.
Ngôn ngữ là công cụ để học tập, vui chơi – Hoạt động chủ đạo ở tường
mầm non. Giống như dạy tiếng mẹ đẻ ở các cấp học khác, phát triển lời nói cho
trẻ ở trường mầm non thực hiện mục tiêu “kép”. Đó là, trẻ học để biết tiếng mẹ
đẻ, đồng thời sử dụng nó như một công cụ để vui chơi, học tập. Ngôn ngữ được
tích hợp trong tất cả các loại hình giáo dục, ở mọi nơi, mọi lúc. Như vậy, ngôn
ngữ cần thiết cho tất cả các hoạt động và ngược lại, mọi hoạt động tạo cơ hội
cho ngôn ngữ trẻ phát triển.
c. Ngôn ngữ là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện.
Sự phát triển toàn diện của đứa trẻ bao gồm cả sự phát triển về đạo đức,
chuẩn mực hành vi văn hóa. Điều gì tốt, điều gì xấu, cần phải ứng xử, giao tiếp
12


như thế nào cho phù hợp … chứ không phải chỉ là bắt chước một cách máy móc.
Ngôn ngữ phát triển sẽ giúp cho trẻ mở rộng giao tiếp. Điều này làm cho trẻ có
điều kiện học hỏi những gì tốt đẹp xung quanh trẻ. Cô giáo cũng sẽ dễ dàng hơn
trong việc giải thích, nêu gương, thuyết phục trẻ, giáo dục những hành vi đạo
đức cho trẻ.
Ngôn ngữ phát triển giúp trẻ sớm tiếp thu những giá trị thẩm mĩ trong thơ
ca, truyện kể - những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ đầu tiên người lớn có thể đem
đến cho trẻ ngay từ những ngày thơ ấu. Đó là sự tác động của lời nói nghệ thuật
như một phương tiện hữu hiệu giáo dục thẩm mĩ cho trẻ.
1.4.2. Khái niệm từ
Từ là đơn vị cơ bản, trung tâm của ngôn ngữ. Tuy nhiên để đưa ra một
khái niệm đầy đủ và toàn diện về từ thì các nhà ngôn ngữ đều thấy khá nan giải.
Cái khó ở đây một phần do từ trong các ngôn ngữ khác nhau về loại hình, khác
nhau về nguồn gốc và có những đặc trưng rất khác nhau. Vì thế đi tìm một định
nghĩa về từ, một mặt phải chú ý đến những điểm đồng nhất, chú ý đến tính phổ
quát của từ nói chung, mặt khác cũng phải chú ý đến đặc điểm riêng của từng
ngôn ngữ. Dựa theo phương châm này, từ của tiếng Việt được định nghĩa như
sau:
Từ tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang theo
những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định.
Tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong hệ thống và nhỏ nhất
để tạo câu. (Đỗ Hữu Châu)
Định nghĩa này cho thấy từ là một đơn vị bao gồm 2 bộ phận: hình thức
của từ (thành phần ngữ âm, thành phần ngữ pháp, thành phần cấu tạo) và ý
nghĩa của từ. Những thành phần này có sự quy định lẫn nhau, thống nhất với
nhau thành một hợp thể là từ.
1.4.3. Phân loại từ
Có thể phân chia các từ trong Tiếng Việt về các mặt cấu tạo thành: từ đơn và từ
phức (từ láy và từ ghép).
 Từ đơn
13


Đại bộ phận các từ đơn là một âm tiết, chúng mang những đặc trưng ngữ
nghĩa chủ yếu của từ vựng Tiếng Việt. Ví dụ: Nước, cơm, cây, … có một số ít từ
đơn đa âm tiết như: bù nhìn, mồ hôi, bò hóng. Có một số từ đơn đa âm tiết là từ
vay mượn của các ngôn ngữ ẩn ấu như: cà phê, ô tô, …
 Từ phức: Từ láy và từ ghép
- Từ láy là từ trong đó các âm tiết có quan hệ với nhau về ngữ âm (bàn bạc,
làm lụng, chắc chắn, …) hoặc giống nhau ở vần (bối rối, lộp bộp, lì xì, …) hoặc
có những âm tiết khác nhau (chuồn chuồn, xanh xanh, …). Từ láy bao gồm láy
đôi (bối rối, tôn tốt, …), láy ba (dửng dừng dung, khít khìn khịt, ...) và láy bốn
(lơ thơ lẩn thẩn, …).
- Từ ghép là từ trong đó các thành tố có ý nghĩa được kết hợp với nhau, các
thành tố này có thể độc lập hoặc không độc lập. Từ ghép bao gồm từ ghép đẳng
lập (nhà cửa, to lớn, đẹp tươi, …) và từ ghép chính phụ (áo dài, nhà ăn, sân
bay…)
1.4.4. Đặc điểm vốn từ trẻ mầm non
a, Xét về mặt số lượng
Trong độ tuổi từ 0 – 1 tuổi, trẻ sẽ nói chuyện với bạn bằng nét mặt, tiếng
khóc hay ánh mắt.Trẻ giao tiếp thông qua nét mặt và nụ cười. Khả năng ngôn
ngữ giao tiếp với thế giới bên ngoài của trẻ khác nhau theo đặc điểm phát triển
của trẻ từng tháng tuổi. Khi trẻ đươc 7-8 tháng, trẻ bắt đầu biết tên mình.Từ 1011 tháng, trẻ bắt đầu hiểu một số từ chỉ sự vật, người mà trẻ thường xuyên được
tiếp xúc.
Từ 12 tháng trở đi, nhu cầu giao tiếp của trẻ với thế giới xung quanh ngày
càng tăng, bên cạnh các âm bập bẹ xuất hiện các từ chủ động đầu tiên.Khi 18
tháng, số từ bình quân là 11 từ, cháu ít nhất là 0, nhiều nhất là 25 từ (trường hợp
đặc biệt lên tới 45 từ) trẻ bắt chước người lớn và lặp lại một số từ gần gũi như:
bố, mẹ, bà, măm…
Từ 19-21 tháng, môi trường tiếp xúc của trẻ được mở rộng, trẻ được làm
quen với nhiều sự vật, hiện tượng hơn, số lượng từ của trẻ tăng lên rõ rệt. Đến
14


21 tháng tuổi, trẻ đạt 220 từ. Giai đoạn 21- 24 tháng, tốc độ chậm lại, chỉ đạt
234 từ vào tháng 24, sau đó tăng tốc: 30 tháng đạt 434 từ.
Trẻ 3 tuổi sử dụng được hơn 500 từ, phần lớn là danh từ, động từ, tính từ
và các từ loại khác. danh từ chỉ đồ chơi, đồ dùng quen thuộc, các con vật gần gũi
như: búp bê, siêu nhân, quả bóng, con chó, con mèo, con gà… Động từ chỉ
những hoạt động gần gũi với trẻ và những người xung quanh như: ăn, uống, ngủ,
chơi…
Trẻ 4 tuổi có thể nắm được gần 700 từ, ưu thế vẫn thuộc về danh từ và
động từ. Hầu hết các loại từ đã xuất hiện trong vốn từ của trẻ.
Ở độ tuổi 5-7 tuổi vốn từ của trẻ tăng bình quân 1033 từ, tính từ và các
loại từ khác đã chiếm tỉ lệ cao hơn.
Tốc độ tăng vốn từ ở các độ tuổi khác nhau, chậm dần theo độ tuổi: cuối 3
tuổi so với đầu 3 tuổi vốn từ tăng 107%; cuối 4 tuổi so với đầu 4 tuổi tăng
40,58%; cuối 5 tuổi so với đầu 5 tuổi, vốn từ của trẻ chỉ tăng 10,40% ; cuối 6
tuổi so với đầu 6 tuổi vốn từ chỉ tăng 10,01%.
Mặc dù số lượng từ của trẻ mẫu giáo do các nhà tâm lí học, ngôn ngữ học
đưa ra không khớp nhau, nhưng sự chênh lệch không lớn lắm; bởi lẽ số lượng từ
của trẻ phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác nhau trong đó quan trọng nhất là
tác động của môi trường như sự tiếp xúc thường xuyên với những người xung
quanh, sự chăm sóc giáo dục của gia đình và nhà trường.
b, Xét về mặt cấu trúc từ loại
Cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ là một tiêu chí để đánh giá chất lượng
vốn từ. Số lượng từ loại càng nhiều bao nhiêu thì càng tạo điều kiện cho trẻ diễn
đạt thuận lợi bấy nhiêu. Các loại từ xuất hiện dần dần trong vốn từ của trẻ. Theo
Xtecnơ, ban đầu chủ yếu là danh từ, sau đó đến động từ, tính từ và các từ loại
khác xuất hiện muộn hơn.
Theo nhà nghiên cứu Đinh Hồng Thái, đến 3-4 tuổi, về cơ bản vốn từ của
trẻ đã có đủ các loại từ. Tuy nhiên tỉ lệ danh từ và tính từ cao hơn nhiều so với
các loại từ khác: danh từ chiếm 38%, động từ 32%; còn lại là tính từ 6,8%, đại
15


từ 3,1%, phó từ 7,8%, tình thái từ 4,7%, quan hệ từ và số từ còn ít xuất hiện: số
từ 2,5%, quan hệ từ 1,7%.
Giai đoạn 5-6 tuổi cũng là giai đoạn hoàn thiện một bước cơ cấu từ loại
trong vốn từ của trẻ. Tỉ lệ danh từ, động từ giảm đi ( chỉ khoảng 50%) nhường
chỗ cho tính từ và các loại từ khác tăng lên: tính từ đạt tới 15%, quan hệ từ tăng
lên đến 5,7%, còn lại là các loại từ khác.
Từ đặc điểm này chúng ta cần chú ý đến các loại từ khác khi dạy từ cho trẻ, chú
trọng tới vốn từ cho trẻ vì lúc này vốn từ của trẻ còn nghèo nàn: lúc đầu số
lượng danh từ chiếm phần lớn, sau đó đến động từ, rồi đến tính từ.
c, Khả năng hiểu nghĩa của từ của trẻ mẫu giáo
Trẻ mẫu giáo bé có khả năng nắm được những từ ngữ có ý nghĩa cụ thể
như những từ ngữ là tên gọi các đồ vật trong gia đình ( bát, đĩa, bàn, tủ, ghế…),
tên gọi các con vật (lợn, chó, gà, mèo…), thực vật ( cây chuối, quả cam, hoa loa
kèn…). Từ “đồ vật” có ý nghĩa trừu tượng, trẻ hiểu nó không phải bằng cảm
giác mà bằng sự trừu tượng hóa. Đến 6 tuổi, để nắm từ với ý nghĩa khái quát trẻ
không đòi hỏi cảm giác trực tiếp nữa.
Theo Fedorenko (Nga), ở trẻ em có 5 mức độ hiểu nghĩa khái quát của từ
như sau:
- Mức độ zero ( mức độ 0): mỗi sự vật có tên gọi gắn với nó. Cuối tuổi lên một,
đầu tuổi lên 2, trẻ hiểu được những từ ngữ thể hiện một sự vật đơn lẻ, cụ thể,
tách biệt, những từ ngữ ở mức độ khái quát (nghĩa biểu danh).
Ví dụ: Mẹ, bố, bàn bát…
Một điều cần chú ý là: động từ và tính từ không có mức khái quát zero như
danh từ.
- Mức độ 1: cuối tuổi lên hai, trẻ nắm được mức độ thứ nhất của sự khái quátý nghĩa biểu niệm ở mức thấp, tức là tên gọi chung của đối tượng cùng loại
( đồ vật, hành động, tính chất).
Ví dụ: “Bóng” chỉ một quả bóng bất kì như bóng bay, bóng nhựa, bóng cao su;
“cốc” chỉ những vật dùng để uống nước.
- Mức độ 2: trẻ nắm được những từ ngữ thể hiện sự khái hơn.
16


Ví dụ: “quả” có thể chỉ bất cứ loại quả nào ( quả cam, quả xoài, quả táo…);
“xe” ( xe đạp, xích lô, ô tô…); “con” (gà, mèo, lợn, chim…).
Cam , xoài, táo: mức độ thứ nhất của sự khái quát; “quả”: mức độ thứ hai của
sự khái quát.
- Mức độ 3: trẻ 5-6 tuổi có thể nắm được mức độ ba của sự khái quát.
Ví dụ: “đồ vật” có thể chỉ đồ chơi như búp bê, máy bay, ô tô…; “đồ gỗ” chỉ
các đồ dùng, vật dụng được làm từ gỗ (bàn, ghế, giường…); “phương tiện
giao thông” (xe máy, tàu thủy, tàu hỏa, máy bay…).
“Búp bê”: mức độ thứ nhất của sự khái quát; “đồ chơi”: mức độ thứ hai của sự
khái quát; “đồ vật”: mức độ thứ ba của sự khái quát.
- Mức độ 4: trẻ hiểu được những từ biểu thị sự khái quát tối đa - những khái
niệm thực sự khoa học.
Ví dụ: vật chất, hành động, trạng thái, chất lượng, số lượng, quan hệ…
Khả năng nắm được mức độ thứ tư của sự khái quát xuất hiện vào tuổi
thiếu niên. Đối với trẻ mầm non, khi ở tuổi nhà trẻ, trẻ hiểu được nghĩa biểu
danh ( mức độ zero và 1). Mức độ 2 và 3 dành cho trẻ mẫu giáo, đặc biệt là mẫu
giáo lớn.
1.5. Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Phạm Hổ
Phạm Hổ có bút danh là Hồ Huy. Ông sinh ngày 28-11-1926 trong một
gia đình nho học tại xã Thanh Liêm (nay là xã Nhơn An), Thị xã An Nhơn, tỉnh
Bình Định. Ông qua đời ngày 4 tháng 5 năm 2007, hưởng thọ 80 tuổi.
Phạm Hổ cũng chịu ảnh hưởng rất sâu ở ông anh ruột của mình là nhà báo,
nhà thơ, nhà văn viết tiếng Việt và tiếng Pháp - Phạm Văn Ký - người đạt giải
thưởng lớn về tiểu thuyết của Viện Hàn lâm Pháp năm 1961, người đã viết tựa
cho tập "Gái quê" của Hàn Mặc Tử. Thời kỳ ông Ký làm chủ bút tờ "Gazette de
Hue" (Tạp chí Huế), Phạm Hổ đã ra đây học ở anh. Phạm Hổ kể: "Lúc bé tôi có
người anh viết văn, làm thơ. Anh tôi thường cho tôi tiền, mỗi tháng phải mua và
đọc cho được bốn quyển sách Hồng. Cứ đọc xong quyển nào thì viết tóm tắt
quyển ấy. Viết càng gọn và càng đầy đủ thì càng được anh tôi khen… Nhờ đó
mà sau này, đọc sách, tôi dễ dàng nắm được ý chính - tức chủ đề của câu chuyện,
17


của bài thơ. Có lẽ thời kỳ này, Phạm Hổ làm quen với những tác phẩm của
Andecxen, anh em Grim, Laphongten… và điều đó đã nuôi dưỡng hoài bão viết
văn, làm thơ cho nhà thơ sau này.
Cuộc đời Phạm Hổ, ngay từ những ngày đầu đến với nghệ thuật, đã có
may mắn gặp được những bậc thầy thật sự. Ngoài việc sáng tác thơ và truyện
cho thiếu nhi và người lớn, ông còn sáng tác âm nhạc và hội họa. Năm 1995,
ông đã có một cuộc triển lãm tranh đầu tiên tại Hà Nội. Với ông, tranh cũng như
thơ, đều thể hiện một tâm hồn yêu đời, yêu người, yêu thiên nhiên. Thời kháng
chiến chống Pháp, ông đã từng theo học một lớp họa do danh họa Nguyễn Đỗ
Cung giảng dạy. Hơn nữa, ông còn được "đặc ân" cắp giá vẽ theo hầu thầy suốt
2 năm.
Lĩnh vực mà Phạm Hổ thành công hơn cả là văn thơ viết cho thiếu nhi.
Điều đó, giúp ông có một vị trí trong nền văn học thiếu nhi hiện đại của nước ta.
Có thể kể các tập truyện dành cho các bạn đọc nhỏ tuổi là: Bê và Sáo, Viết thư
cho cha, Khẩu súng người ông, Chuyện hoa chuyện quả, Bạn trong vườn, Chú
bò tìm bạn, Từ không đến mười, Mẹ, Mẹ ơi, Cô bảo...
Tính từ tập truyện đầu tiên "Em Tre" (1949) đến năm 1993, Phạm Hổ đã
có 11 tập thơ, 9 tập truyện, 4 vở kịch viết cho các em. Ngoài ra ông có 8 tập thơ,
văn viết cho người lớn. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, Phạm Hổ
hoạt động văn nghệ ở khu V. Thơ của ông được in ở 2 tập "Em vẽ Bác Hồ"
(1948) và "Lúa non" (1952). Ở 2 tập sáng tác phục vụ kịp thời và có ý nghĩa tập
dượt này đã bắt đầu bộc lộ thiên hướng viết cho thiếu nhi của ông.
Ông cũng gặt hái được nhiều thành công trong sự nghiệp với rất nhiều
giải thưởng: Giải chính thức về thơ, Hội đồng văn học thiếu nhi Hội Nhà văn
năm 1985 cho tác phẩm "Những người bạn im lặng". Giải thưởng về kịch viết
cho thiếu nhi do Trung ương Đoàn và Hội Nghệ sỹ Sân khấu tặng cho vở kịch
"Nàng tiên nhỏ thành ốc", năm 1986. Tặng thưởng loại A cuộc vận động sáng
tác cho thiếu nhi do Trung ương Đoàn tổ chức năm 1967-1968 cho tác phẩm
"Chú vịt bông". Tặng thưởng loại A cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi do
18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×