Tải bản đầy đủ

Phát triển vốn từ tiếng anh cho trẻ 3 4 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện cho trẻ nghe

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

HOÀNG THU HUYỀN

PHÁT TRIỂN VỐN TỪ TIẾNG ANH
CHO TRẺ 3 – 4 TUỔI THÔNG QUA
HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN CHO TRẺ NGHE

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

HÀ NỘI - 2018


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

HOÀNG THU HUYỀN

PHÁT TRIỂN VỐN TỪ TIẾNG ANH

CHO TRẺ 3 – 4 TUỔI THÔNG QUA
HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN CHO TRẺ NGHE

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
Người hướng dẫn khoa học

PGS. TS Nguyễn Thu Hương

HÀ NỘI - 2018


LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2, các thầy cô khoa Giáo dục Mầm non đã giúp đỡ em rất nhiều trong
quá trình em học tập tại trường và tạo điều kiện cho em để em thực hiện tốt
khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo – PGS.TS. Nguyễn
Thu Hương người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em trong quá trình
học tập, nghiên cứu và giúp em hoàn thành khóa luận này.
Qua đây, em xin gửi tới Ban giám hiệu và các cô giáo trường Mầm non
Khai Quang – thành phố Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc cùng các bạn sinh viên
khoa Giáo dục Mầm non lời cảm ơn chân thành nhất.
Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót và hạn
chế. Kính mong nhận được sự đóng góp ý của các thầy cô giáo và các bạn để
đề tài được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên

Hoàng Thu Huyền


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đề tài “ Phát triển vốn từ tiếng anh cho trẻ 3 – 4 tuổi
thông qua hoạt động kể chuyện cho trẻ nghe” là kết quả nghiên cứu của tôi.
Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng tài liệu của một số nhà nghiên cứu,
một số tác giả khác. Tuy nhiên đó là cơ sở để tôi rút ra vấn đề cần tìm hiểu
cho đề tài của mình. Những kết quả trong khóa luận chưa được công bố dưới
bất cứ hình thức nào. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự cam đoan này.
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên

Hoàng Thu Huyền


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài .......................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.......................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu................................................................................... 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................. 5
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.................................................................. 5
6. Phương pháp nghiên cứu............................................................................ 5
7. Cấu trúc khóa luận...................................................................................... 6
NỘI DUNG....................................................................................................... 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN và CƠ SỞ THỰC TIỄN.......................... 7
1.1. Cơ sở lí luận .............................................................................................. 7
1.1.1. Cơ sở ngôn ngữ học ............................................................................... 7
1.1.2. Cơ sở tâm, sinh lý của trẻ 3 – 4 tuổi .................................................... 16
1.1.3. Kể chuyện và vai trò của kệ chuyện cho trẻ nghe trong việc phát triển
ngôn ngữ......................................................................................................... 21
1.2. Cơ sở thực tiễn........................................................................................ 25
1.2.1. Mục đích điều tra ................................................................................. 25
1.2.2. Đối tượng và địa bàn điều tra.............................................................. 25
1.2.3. Nội dung điều tra.................................................................................. 26
1.2.4. Phương pháp điều tra .......................................................................... 26
1.2.5. Thời gian điều tra................................................................................. 26
1.2.6. Phân tích và đánh giá kết quả điều tra ............................................... 26
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG MỘT SỐ CÂU CHUYỆN CÓ CHỨA TỪ
TIẾNG ANH ĐƠN GIẢN NHẰM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO
TRẺ................................................................................................................. 31
2.1. Mục đích, nội dung, nguyên tắc xây dựng câu chuyện....................... 31


2.1.1. Mục đích ............................................................................................... 31
2.1.2. Nội dung ............................................................................................... 31
2.1.3. Nguyên tắc ............................................................................................ 31
2.2. Cách thức xây dựng câu chuyện ........................................................... 31
2.3. Hệ thống các câu chuyện nhằm phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ 32
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ TIẾNG ANH CHO
TRẺ VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ....................................................... 38
3.1. Biện pháp ................................................................................................ 38
3.1.1. Kể chuyện cho trẻ nghe bằng lời......................................................... 38
3.1.2. Kể chuyện cho trẻ nghe theo tranh ..................................................... 40
3.1.3. Kể chuyện theo mô hình rối................................................................. 42
3.1.4. Kể chuyện theo video............................................................................ 44
3.2. Thực nghiệm ........................................................................................... 47
3.2.1. Mục đích thực nghiệm ......................................................................... 47
3.2.2. Đối tượng thực nghiệm ........................................................................ 47
3.2.3. Nội dung thực nghiệm ......................................................................... 48
3.2.4.Quy trình thực nghiệm.......................................................................... 48
3.2.5. Tiêu chí đánh giá thực nghiệm ........................................................... 49
3.2.6. Giáo án thực nghiệm............................................................................ 49
3.2.7. Kết quả thực nghiệm ............................................................................ 60
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .............................................. 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 67
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục mầm non hiện nay là một bậc học được đảng và nhà nước ta
quan tâm sau sắc. Bởi lẽ giáo dục mầm non là một khâu quan trọng, là nền
móng đầu tiên cho việc hình thành nhân cách của trẻ em sau này.
Bảo vệ và chăm sóc trẻ không chỉ là trách nhiệm của gia đình mà nó là
trách nhiệm của toàn xã hội. Chính vì vậy hiện nay Đảng và nhà nước ta có
rất nhiều biện pháp tích cực để bảo vệ và chăm sóc trẻ em nhằm tạo ra những
con người đáp ứng được yêu cầu của xã hội mới, những con người phát triển
về đức, trí, thể, mỹ nhằm đưa đất nước ngày càng phát triển. Đây là vấn đề
mang tính thời đại và cấp bách với ngành giáo dục đặc biệt là Giáo dục Mầm
non.
Thực tế hiện nay tiếng Anh đóng vai trò quan trọng trong xã hội. Vì
vậy việc dạy tiếng Anh cho các cấp bậc nói chung và đặc biệt là giáo dục
Mầm non nói riêng mang tính cấp bách và cần thiết, góp phần xây dựng nên
những con người hoàn thiện hơn, đáp ứng nhu cầu của xã hội. Giáo dục Mầm
non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân vì vậy việc dạy
ngoại ngữ cho trẻ là cần thiết, tạo tiền đề cho trẻ có thể học tốt ở các cấp bậc
tiếp theo.
Xuất phát từ nhu cầu của trẻ rất thích nghe kể chuyện và được kể
chuyện vì vậy việc lồng ghép tiếng Anh vào những câu chuyện để dạy cho trẻ
sẽ gây hứng thú cho trẻ trong việc học tiếng Anh. Thay vì dạy tiếng Anh cho
trẻ theo những cách truyền thống hiện nay là cho trẻ đọc từng từ, từng từ rồi
nói nghĩa, phương pháp dạy tiếng Anh khô cứng, thiếu linh hoạt và gò bó thì
việc đưa những từ đó vào những câu chuyện sau đó kể cho trẻ nghe sẽ kích
thích sự tưởng tượng, hứng thú cho trẻ và trẻ sẽ nhớ dễ dàng hơn.

1


Mặt khác việc học tiếng Anh của trẻ ở những vùng nông thôn hiện nay
còn gặp nhiều khó khăn do nhiều lý do khác nhau đặc biệt là do kinh tế còn
nghèo vì vậy gần như không có khả năng để thuê giáo viên tiếng Anh về dạy
cho trẻ. Đó là một sự thiệt thòi cho trẻ ở những vùng này không được tiếp xúc
với ngoại ngữ. Vì vậy việc đưa những từ tiếng Anh đơn giản vào những câu
chuyện sẽ giúp cho các cô giáo trong trường cũng có thể dạy tiếng Anh cho
trẻ, ít nhiều cũng giúp cho các trẻ ở những vùng khó khăn được tiếp xúc với
ngoại ngữ.
Ngoài ra việc lồng ghép những từ tiếng Anh đơn giản vào những câu
chuyện để dạy cho trẻ có thể dễ dàng thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, các cô
giáo sẽ là người dạy trực tiếp cho trẻ trong những giờ luyện tập hay thậm chí
các mẹ cũng có thể dễ dàng dạy cho trẻ ở nhà mọi lúc, mọi nơi.
Là một giáo viên Mầm non trong tương lai, chúng tôi ý thức được tầm
quan trọng của việc dạy tiếng Anh cho trẻ Mầm non. Vì vậy tôi lựa chọn đề
tài: “Phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ 3 - 4 tuổi thông qua hoạt động kể
chuyện cho trẻ nghe” và quyết tâm đi sâu tìm hiểu. Chúng tôi cũng hi vọng đề
tài của chúng tôi sẽ góp một phần nào đó trong việc giúp trẻ học ngoại ngữ
một cách dễ dàng và góp một phần nào đó cho việc nâng cao chất lượng giáo
dục và đào tạo tại các trường Mầm non.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trẻ em luôn nhận được sự quan tâm của gia đình và nhà trường và toàn
xã hội, đặc biệt là các nhà khoa học. Hiện nay việc dậy tiếng Anh cho trẻ là
hết sức cần thiết và cũng không còn nhiều mới mẻ nữa, có rất nhiều cách khác
nhau để dậy tiếng Anh cho trẻ và cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu ở
nhiều mức độ và phạm vi khác nhau.
Ở Việt Nam trong những năm gần đây vấn đề này cũng được quan tâm
nhiều hơn. Một số hội nghị khoa học ở trung ương cũng như các địa phương


đã hướng nội dung vào việc thảo luận nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy,
phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầm non trong đó không thể thiếu được chính là
việc phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ lứa tuổi mẫu giáo.
Trong cuốn giáo trình “ Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầm
non” của tác giả Đinh Hồng Thái (2006), Nxb Đại học Sư phạm chú trọng tới
việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, hình thành và phát triển vốn từ cho
trẻ mẫu giáo, phát triển ngôn ngữ, vốn từ cho trẻ thông qua thơ và truyện để
tạo tiền đề tốt cho trẻ bước vào lớp 1.
Đứng trên phương diện một nhà giáo dục học, một nhà tâm lí học, tác
giả Nguyễn Ánh Tuyết với cuốn “Tâm lí học trẻ em lứa tuổi Mầm non”
(2005) đã đề cập đến sự phát triển vốn từ của trẻ ở từng giai đoạn, từng lứa
tuổi.
Có rất nhiều các tác giả nghiên cứu các biện pháp phát triển ngôn ngữ
cho trẻ tiêu biểu như EI. Tikheeva đã đề ra phương pháp phát triển ngôn ngữ
cho trẻ một cách có hệ thống, trong đó cần tổ chức cho trẻ tìm hiểu thế giới
thiên nhiên xung quanh trẻ, dạo chơi, xem tranh, kể chuyện cho trẻ nghe, tác
giả Nguyễn Xuân Khoa trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ
mẫu giáo” đã đưa ra một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Nghiên cứu sự phát triển các thành phần ngôn ngữ của trẻ: Vốn từ, khả
năng hiểu từ, ngữ pháp ở các độ tuổi khác nhau có các công trình nghiên cứu
của Lưu Thị Lan (1996) “Những bước phát triển ngôn ngữ của trẻ em từ 1 – 6
tuổi [19] đã chỉ rõ các bước phát triển về ngữ âm của trẻ bắt đầu từ giai đoạn
tiền ngôn ngữ (0 – 1 tuổi), giai đoạn ngôn ngữ (1 – 6) tuổi và nhiều công trình
khác.
Báo “Người Lao Động số ngày 25/10/2015” Có viết. Hiện nay trên thế
giới có gần 60 quốc gia sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ chính bên cạnh tiếng
mẹ đẻ, gần một trăm quốc gia sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ thứ 2. Theo


thầy Đặng Lộc Thọ Hiệu trưởng Trường Cao Đẳng Sư phạm Trung ương cho
biết các nghiên cứu trên thế giới đề chỉ ra rằng lĩnh hội ngôn ngữ là quá trình
tự nhiên ở lứa tuổi nhỏ. Mẫu giáo là giai đoạn thuận lợi nhất để tiếp thu ngoại
ngữ do sự hình thành các quá trình nhận thức và ghi nhớ tài liệu ngôn ngữ
một cách nhanh chóng, trẻ có động cơ giao tiếp ngôn ngữ một cách tự nhiên
và không có rào cản ngôn ngữ như sự sợ hãi, ức chế.
Thầy Đặng Lộc Thọ Còn nói “Nghiên cứu mới đây từ các nhà khoa học
Pháp và Canada cho biết trẻ từ 7 tháng tuổi có thể học, hiểu hai ngôn ngữ dù
cấu trúc ngữ pháp của chúng rất khác nhau”.
Một khảo sát tại Trường Cao Đẳng Sư phạm Trung ương cho thấy kết
quả thăm dò tại 50 trường Mầm non với 80 hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và
330 giáo viên trực tiếp cho trẻ làm quen với tiếng Anh cho thấy hiện chỉ có
khoảng 10% đơn vị giáo dục mầm non tự tổ chức giáo dục tiếng Anh tại
trường, 90% thực hiện theo hình thức tổ chức liên kết với các trung tâm bên
ngoài.
Theo Lê Thị Luận (Viện khoa học Giáo dục Việt Nam) thực tế khảo sát
trực tiếp tại các trường mầm non tại Hà Nội và TP HCM cho thấy đội ngũ
giáo viên tham gia vào việc hướng dẫn trẻ mầm non làm quen với ngoại ngữ
tại các trường đều tự hợp đồng với các trung tâm ngoại ngữ nhưng chưa có
chứng chỉ về sư phạm mầm non.
Và còn nhiều cuốn sách, tạp chí khác cũng đề cập đến vấn đề này.
Như vậy có rất nhiều tác giả đã đưa ra các công trình nghiên cứu về các
phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầm non, và có rất nhiều nghiên
cứu và ý kiến khác nhau nói về phát triển ngôn ngữ tiếng Anh cho trẻ. Tựu
chung lại các nhà khoa học đều hướng tới mục tiêu phát triển ngôn ngữ cho
trẻ mầm non nói chung và phát triển ngôn ngữ tiếng Anh cho trẻ Mầm non
nói riêng. Đưa ra các biện pháp, các hình thức nhằm nâng cao chất lượng dạy


và học của ngành giáo dục Mầm non nói riêng và nền giáo dục của đất nước
ta nói riêng. Tuy nhiên vẫn chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu phát triển
vốn từ tiếng Anh cho trẻ 3 – 4 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện cho trẻ
nghe. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, chúng tôi mạnh dạn
chọn và đi sâu nghiên cứu đề tài: “Phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ 3 - 4
tuổi thông qua hoạt động kể chuyện cho trẻ nghe”.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu biện pháp kể chuyện cho trẻ nghe nhằm phát triển vốn từ
tiếng Anh cho trẻ.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài.
- Xây dựng một số câu chuyện có những từ tiếng Anh đơn giản nhằm
phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 - 4 tuổi.
- Đề xuất biện pháp phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ.
- Thực nghiệm sư phạm.
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ 3 - 4 tuổi
thông qua hoạt động kể chuyện cho trẻ nghe.
Phạm vi nghiên cứu: Trong đề tài này chúng tôi giới hạn nghiên cứu
việc phát triển vốn danh từ tiếng Anh cho trẻ 3 – 4 tuổi.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp quan sát
Tiến hành quan sát chung về mức độ vốn từ tiếng Anh của trẻ, môi
trường cho trẻ học tiếng Anh và dự giờ tiết học tiếng Anh buổi chiều của trẻ
để nắm được khẳ năng học tiếng Anh của trẻ, khả năng tiếp thu những từ mới
tiếng Anh và vốn từ tiếng Anh mà trẻ có.


6.2. Phương pháp đàm thoại
Trảo đổi với cô giáo về đề tài nghiên cứu. Trò chuyện với trẻ, hỏi trẻ
một số câu hỏi để tìm hiểu về vốn từ tiếng Anh của trẻ và khả năng phát âm
của trẻ, hứng thú của trẻ khi học tiếng Anh.
6.3. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu các tài liệu, công trình nghiên cứu của chương trình dạy và
học liên quan đến tiếng Anh để đánh giá các hoạt động học tiếng Anh của trẻ.
6.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm trả tính đúng đắn của đề tài nghiên
cứu đã đề ra.
6.5. Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến chuyên gia là những giáo viên có thâm niên giảng dạy tại
trường về nội dung câu chuyện đã được xây dựng, hình thức tổ chức, hứng
thú của trẻ và khả năng áp dụng của đề tài nghiên cứu trong dạy tiếng Anh
cho trẻ.
7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo khóa luận
gồm 3 chương chính
Chương 1: Cơ sở lý luận về ngôn ngữ và thực tiễn dạy học tiếng Anh ở
trường mầm non hiện nay
Chương 2: Xây dựng một số câu chuyện có chứa từ tiếng Anh đơn giản
thông qua hoạt động kể chuyện nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 - 4 tuổi
Chương 3: Biện pháp phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ thông qua
hoạt động kể chuyện và thực nghiệm sư phạm


NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN và CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Cơ sở ngôn ngữ học
1.1.1.1. Ngôn ngữ và vai trò của ngôn ngữ
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp quan
trong nhất của con người.
Giao tiếp là sự truyền đạt thông tin từ người này đến người khác với
một mục đích nhất định nào đó. Khi giao tiếp người ta trao đổi tư tưởng tình
cảm với nhau, tác động đến nhau, những tư tưởng, trí tuệ của người này được
truyền từ người này đến người khác, từ thế hệ này đến thế hệ khác – đó là nhờ
ngôn ngữ một trong những động lực đảm bảo sự tồn tại của xã hội loài người.
Ngôn ngữ là một thứ sản phẩm độc quyền của con người. Nó chỉ được
hình thành, tồn tại và phát triển trong xã hội loài người, do ý muốn và nhu cầu
của con người. Bên ngoài xã hội loài người ngôn ngữ không thể phát sinh.
Ngôn ngữ có vai trò to lớn trong đời sống tâm lý con người. Ngôn ngữ
là một trong hai yếu tố (cùng với lao động) đã làm cho con vật trở thành con
người (Ph. Ăng-ghen). Nói cách khác, ngôn ngữ đã góp phần tích cực làm cho
các quá trình tâm lý của con người có chất lượng khác hẳn với con vật. Ngôn
ngữ đã cố định lại những kinh nghiệm lịch sử xã hội của loài người, nhờ đó
thế hệ sau có được các sức mạnh tinh thần của thế hệ trước. Ngôn ngữ là hình
thức tồn tại của ý thức, ngôn ngữ là “ý thức thực tại” của con người (C. Mác).
Nó liên quan đến tất cả các quá trình tâm lý của con người, là thành tố quan
trọng nhất về mặt nội dung và cấu trúc tâm lý của con người, đặc biệt là các
quá trình nhận thức.
Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng đối với các quá trình nhận thức cảm
tính nó làm cho các quá trình này ở người mang một chất lượng mới.


Mặt khác ngôn ngữ ảnh hưởng mạnh đến ngưỡng nhạy cảm của cám
giác, làm cho các cảm giác được thu nhận rõ ràng, đậm nét hơn. Đối với tri
giác ngôn ngữ làm cho quá trình tri giác diễn ra dễ dàng, nhanh chóng hơn và
làm cho những cái tri giác trở thành khách quan, đầy đủ và rõ ràng hơn
Đối với trí nhớ ngôn ngữ tham gia tích cực vào các quá trình trí nhớ,
gắn chặt với các quá trình đó. Ví dụ như việc ghi nhớ sẽ dẽ dàng và có kết quả
tốt hơn nếu ta nói lên thành lời điều ta cần ghi nhớ. Không có ngôn ngữ thì
không thể thực hiện sự ghi nhớ có chủ định, sự ghi nhớ có ý nghĩa và kể cả sự
ghi nhớ máy móc (học thuộc lòng). Ngôn ngữ là một phương tiện để ghi nhớ,
là một hình thức để lưu giữ những kết quả cần nhớ. Nhờ ngôn ngữ con người
có thể chuyển hẳn những thông tin cần nhớ ra bên ngoài đầu óc con người.
Chính bằng cách này con người có thể lưu giữ và truyền đạt được những kinh
nghiệm của loài người cho thế hệ sau.
Đối với tư duy. Ngôn ngữ và tư duy có mối quan hệ song song. Ngôn
ngữ càng không phải là tư duy và ngược lại tư duy không phải là ngôn ngữ.
Mối quan hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ với tư duy được thể hiện ở chỗ tư duy
dùng ngôn ngữ làm công cụ, phương tiện cho mình, chính vì điều này mà tư
duy của con người khác về chất so với tư duy của con vật, con người có tư
duy trừu tượng, không có ngôn ngữ thì con người không thể tư duy trừu tượng
và khái quát được. Mối quan hệ không tách rời giữa tư duy và ngôn ngữ được
thể hiện trong ý nghĩa của các từ. Mỗi từ đều có quan hệ với một lớp sự vật,
hiện tượng nhất định và gọi tên lớp sự vật, hiện tượng đó. Khi gọi tên các sự
vật, từ tựa như thay thế chúng và nhờ đó tạo ra những điều kiện vật chất cho
những hành động hay thao tác đặc biệt đối với các vật ấy.
Đối với tưởng tượng ngôn ngữ càng giữ vai trò to lớn trong tưởng
tượng. Nó là phương tiện để hình thành biểu đạt và duy trì các hình ảnh mới
của tưởng tượng. Ngôn ngữ giúp ta làm chính xác hóa các hình ảnh tưởng


tượng đang nảy sinh, tách ra trong chúng những mặt cơ bản nhất, gắn chúng
lại với nhau, cố định chúng lại bằng từ và lưu giữ chúng trong trí nhớ. Ngôn
ngữ làm cho tưởng tượng trở thành một quá trình ý thức, được điều khiển tích
cực, có kết quả và chất lượng cao. Độ tuổi 3 - 4 tuổi tưởng tượng của trẻ phát
triển cả về dạng loại và các mức độ của hình ảnh tượng tượng. Hình ảnh
tưởng tượng thường gắn với biểu tượng trong hoàn cảnh cụ thể giới hạn bởi
kinh nghiệm tích lũy được ở lứa tuổi này. Ngôn ngữ có vai trò kích thích
tưởng tượng của trẻ phát triển.
Đối với việc giáo dục đạo đức.Ở lứa tuổi mầm non, đặc biệt là tuổi mẫu
giáo, các cháu bắt đầu hiểu biết và lĩnh hội những khái niệm, những quy tắc,
những chuẩn mực đạo đức của xã hội. Tuy mới chỉ là những khái niệm ban
đầu nhưng lại vô cùng quan trọng, có tính chất quyết định những nét tính cách
riệng biệt của mỗi con người trong tương lai. Muốn cho các cháu hiểu, và lĩnh
hội những khái niệm đạo đức này, chúng ta không thể thông qua những hoạt
động cụ thể hoặc qua những sự vật hiện tượng trực quan đơn thuần, mà phải
có ngôn ngữ. Nhờ có ngôn ngữ mà các cháu có thể thể hiện được đầy đủ
những nhu cầu và nguyện vọng đầy đủ của mình . Cũng nhờ có ngôn ngữ mà
các bậc cha mẹ, các nhà giáo dục có điều kiện hiểu con cháu mình hơn, để từ
đó có thể uốn nắn, giáo dục và xây dựng cho các cháu những tình cảm và
những hình vi đạo đức trong sáng nhất.
Vai trò của tiếng Anh trong đời sống trẻ thơ
Trẻ nhỏ học ngoại ngữ càng sớm càng tốt, điều này sẽ giúp trẻ hoàn
thiện một cách dễ dàng hơn cả 2 loại ngôn ngữ. Hiện nay công nghệ ngày
càng phát triển trẻ được xem, được nghe các bài hát tiếng Anh, các câu
chuyện tiếng Anh nhiều hơn, điều đó làm cho trẻ cảm thấy thú vị, hứng thú
với các bài hát tiếng Anh. Trẻ lứa tuổi mầm non thích tìm tòi khám phá những
cái mới lạ vì vậy việc trẻ được học tiếng Anh giống như trẻ được thỏa sự


thích thú, đam mê của mình, trẻ được vui chơi, học hỏi trong cac bài hát,
trong các câu chuyện.
Khi trẻ biết tiếng Anh sẽ giúp trẻ mở rộng hiểu biết về thế giới xung
quanh nhiều hơn, mở rộng các mối quan hệ giao tiếp trong cuộc sống, trẻ
được tiếp xúc với nhiều người nước ngoài mà đặc biệt trẻ nhỏ rất thích được
nói chuyện với những người nước ngoài vì trẻ thấy tò mò, thấy lạ và muốn
được khám phá, đồng thời ngôn ngữ tiếng Anh giúp trẻ hoàn thiện nhân cách
một cách tích cực hướng đến một con người hiện đại hóa, hướng đến những
người công dân toàn cầu.
Tiếng anh làm phong phú thêm cuộc sống của trẻ với một phạm vi mới
và mở rộng, mở mang tâm trí của trẻ bằng những ý tưởng mới, khái niệm mới
và những kiến thức mới.
1.1.1.2. Từ và vốn từ
Từ tiếng Việt
Khái niệm: Từ là một đơn vị để xây dựng câu, xây dựng lời nói. Từ là
công cụ cơ bản và hữu hiệu trong giao tiếp. Từ bao gồm hai mặt âm thanh và
ý nghĩa.
Phân loại: Có thể phân chia các từ tiếng Việt về các mặt cấu tạo thành:
Từ đơn và từ phức (từ láy và từ ghép).
Từ đơn
Đại bộ phận các từ đơn là một âm tiết, chúng mang những đặc trương
ngữ nghĩa chủ yếu của từ vựng tiếng Việt. Ví dụ: Nước, cơm, cây…Có một
số ít từ đơn đa âm tiết như: Mồ hôi, bù nhìn, bò hóng. Có một số từ đơn đa âm
tiết là từ vay mượn của các ngôn ngữ ấn âu như: Cà phê, ô tô…
Từ phức: Từ láy và từ ghép
Từ láy là từ trong đó các âm tiết quan hệ với nhau về ngữ âm (chắc
chắn, làm lụng, bàn bạc…) hoặc giống nhau ở vần (bối rối, lì xì…) hoặc có


những âm tiết khác nhau (chuồn chuồn, xanh xanh…). Từ láy bao gồm láy
đôi (tôn tốt, bối rối…), láy ba (khít khìn khịt, dửng dừng dưng…) và láy bốn
(hớt hơ hớt hải, lơ thơ lẩn thẩn…)
Từ ghép là từ trong đó các thành tố có ý nghĩa được kết hợp với nhau,
các thành tố này có thể độc lập hoặc không độc lập. Từ ghép bao gồm từ ghép
đẳng lập (đẹp tươi, to lớn, nhà cửa…) và từ ghép chính phụ (áo dài, sân bay,
chia rẽ…)
Từ tiếng Anh
Khái niệm: Từ tiếng Anh là một đơn vị để xây dựng câu, xây dựng lời
nói. Từ là công cụ hữu hiệu và cơ bản trong giao tiếp. Từ tiếng Anh bao gồm
từ có một âm tiết. Ví dụ: Cat, Dog, Pig…, từ có hai âm tiết. Ví dụ: Chicken,
sister,…, từ có ba âm tiết. Ví dụ: Decorate, concentrate…, từ có bốn âm tiết.
Ví dụ: Maturity, neccessitous…
Vốn từ tiếng Việt
Khái niệm: Vốn từ được hình thành tích lũy dần trong quá trình trưởng
thành của con người, xét trên bốn phương diện: số lượng, cơ cấu từ loại, khả
năng hiểu nghĩa của từ và việc sử dụng tích cực hay thụ động. Vốn từ của một
người chỉ có thể hình thành khi người đó sử dụng ngôn ngữ nào đó giao tiếp
trong cuộc sống và học tập. Như vậy vốn từ tỉ lệ thuận với mức độ, mật độ
giao tiếp của con người. Nói cách khác một người sử dụng một ngôn ngữ nào
đó để học tập, giao tiếp càng nhiều thì vốn từ đó càng phong phú. Vì vậy, môi
trường giao tiếp, học tập vô cùng quan trọng đối với việc hình thành vốn từ
vựng của con người.
Việc phát triển vốn từ cho trẻ là giúp trẻ nắm được nhiều từ, hiểu ý
nghĩa của từ và biết sử dụng từ trong các tình huống giao tiếp.


1.1.1.3. Đặc điểm ngôn ngữ học của trẻ 3 – 4 tuổi
Ngôn ngữ của trẻ mang tính hoàn cảnh, tình huống nghĩa là ngôn ngữ
của trẻ gắn liền với sự vật, hoàn cảnh, con người, hiện tượng đang xảy ra
trước mắt trẻ.
Cuối 4 tuổi, ngôn ngữ của trẻ đã bắt đầu biết kết nối giữa tình huống
hiện tại với quá khứ thành một văn cảnh. Vốn từ của trẻ tăng lên không chỉ số
lượng mà điều quan trọng là lĩnh hội được các cấu trúc ngữ pháp đơn giản. Đã
hình thành những cảm xúc ngôn ngữ qua giọng nói, ngữ điệu, âm tiết… Tuy
nhiên dưới tác động của cảm xúc trẻ có thể nghe nhầm, phát âm nhầm.
Đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ 3 - 4 tuổi:
Một nhà tâm lý học người Nga đã nghiên cứu đặc điểm phát triển vốn
từ của trẻ mẫu giáo và ông đã chỉ rỗ rằng: trong vốn từ của trẻ mẫu giáo đầu
tiên trẻ em được phản ánh những đặc trưng của sự vật, hiện tượng, càng lớn
trẻ càng có nhiều vốn từ để thể hiện được đặc điểm của các sự vật hiện tượng
xung quanh một cách chính xác bằng từ ngữ, tư duy trực quan hành động, giải
thích việc trẻ mẫu giáo bé và mẫu giáo nhỡ chủ yếu có vốn từ biểu danh. Tư
duy trừu tượng và tư duy logic xuất hiện ở lứa tuổi thứ 5, cho phép trẻ lĩnh
hội ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Trẻ có ba loại vốn từ
Vốn từ chủ động là vốn từ mà chủ thể nói năng sử dụng một cách tích
cực trong giao tiếp, vốn từ chủ động của trẻ mẫu giáo nhỡo trong giao tiếp
của trẻ ít hơn vốn từ thụ động.
Vốn từ thụ động là vốn từ mà chủ thể nói năng có thể hiểu nhưng
không biết cách sử dụng trong giao tiếp. Vì vậy ở trẻ mẫu giáo thì giáo viên
phải chuyển từ vốn từ thụ động sang vốn từ chủ động cho trẻ.


Vốn từ cơ bản là vốn từ có tần số xuất hiện cao trong giao tiếp của trẻ.
Chính vì vậy dạy trẻ phát triển ngôn ngữ là phát triển vốn từ cơ bản cho trẻ vì
chỉ khi đó trẻ mới có thể giao tiếp bằng ngôn ngữ một cách tốt nhất.
Vốn từ của trẻ mẫu giáo phát triển rất nhanh theo từng độ tuổi cụ thể
được thể hiện ở các mặt như sau:
Về mặt số lượng:
Trẻ đã có sự phát triển về mặt số lượng từ các độ tuổi nhỏ. Đến 3 - 4
tuổi số lượng từ của trẻ cũng đạt số lượng tương đối lớn. Trẻ 4 tuổi có thể
nắm được gần 700 từ, phần lớn là danh từ, tính từ, động từ và các loại từ loại
khác. Nhưng đa phần vẫn là danh từ, động từ và tính từ còn các loại từ loại
khác đã xuất hiện trong vốn từ của trẻ. Danh từ chỉ đồ dùng trong nhà, danh
từ chỉ các con vật nuôi gần gũi,…động từ chỉ hoạt động hằng ngày gần gủi
với trẻ và những người xung quanh.
Tốc độ tăng vốn từ của trẻ ở các độ tuổi khác nhau là khác nhau, tốc độ
tăng chậm dần theo độ tuổi tăng dần. Cuối 2 tuổi so với đầu 3 tuổi khác nhau,
đầu 4 tuổi so với cuối 4 tuổi là khác nhau tăng 40% - 58%, đến cuối 5 tuổi tốc
độ tăng vốn từ của trẻ giảm chỉ tăng từ 10% - 40%
Về mặt cơ cấu từ loại:
Trẻ 3 - 4 tuổi các từ loại bắt đầu xuất hiện dần dần, ban đầu các từ loại
chủ yếu là danh từ sau đó là sự xuất hiện của động từ và tính từ, các loại từ
khác thì xuất hiện muộn hơn.
Về cơ bản trong vốn từ của trẻ đã xuất hiện đầy đủ các loại từ. Tuy
nhiên danh từ và tính từ xuất hiện nhiều hơn nhiều so với các loại từ loại
khác: cụ thể danh từ chiếm 38%, động từ chiếm 32%, tính từ chiếm 6,8%, đại
từ chiếm 3,1%, phó từ chiếm 7,8%, tình thái từ chiếm 4,8%, quan hệ từ chiếm
1.7%, số từ chiếm 2,5%.


Đến các lứa tuổi lớn hơn thì vốn từ của trẻ đang dần dần từng bước
hình thành và hoàn thiện cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ. Tỉ lệ danh từ,
động từ sẽ giảm đi chỉ còn khoảng 50% và tỉ lệ tính từ và các loại từ khac sẽ
tăng lên. Tính từ tăng đạt đến 15%, quan hệ từ tăng lên đến 5,7%, còn lại là
các loại từ khác.
Mức độ hiểu nghĩa của từ. Trẻ càng lớn khả năng hiểu nghĩa của từ
càng rõ ràng. Đối với trẻ 4 tuổi trẻ hiểu được nghĩa biểu danh. Theo
Federenco (Nga) có 5 mưc độ hiểu nghĩa khái quát của từ như sau:
Mưc độ zero (mức độ không): Mọi sự vật có tên gắn với nó, trẻ hiểu
được ý nghĩa tên này: bố, mẹ, ấm, chén…
Mức độ 1: Ý nghĩa biểu niệm ở mức thấp, tên gọi chung của các sự vật
cùng loại: nhà, búp bê…
Mưc độ 2: Khái quát hơn: quả (quả chuối

, quả mít, quả cam…); con

(con chó, con mèo, con gà, con vịt…); xe (xe đạp, xe máy, xe ô tô…)
Mức độ 3: Ở mức độ cao hơn mà trẻ nắm được: phương tiện giao thông
(ô tô, xe máy, xe đạp, máy bay, ô tô, tàu hỏa…); đồ vật (đồ chơi, đồ nấu ăn,
đồ dùng gia đình, đồ dùng học tập…)
Mức độ 4: Khái quát tối đa những khái niệm trừu tượng: chất lượng, số
lượng, hành động…những điều này học ở cấp phổ thông.
Trẻ lứa tuổi nhà trẻ hiểu được ý nghĩa biểu danh (mức độ zero và mức
độ 1). Mức độ 2 và 3 chỉ dành cho trẻ mẫu giáo đặc biệt là trẻ mẫu giáo lớn.
Đặc điểm ngữ pháp trong ngôn ngữ của trẻ
Đặc điểm ngữ pháp trong lời nói của trẻ cũng thay đổi và phát triển
theo từng độ tuổi.
Trẻ ở các độ tuổi nhỏ nhu cầu giao tiếp của trẻ với thế giới xung quanh
ngày càng tăng, trẻ không dùng những âm bập bẹ mà đã bắt đầu nắm được


một số từ, câu nói của trẻ thường gắn liền với ngữ cảnh cùng với nét mặt, cử
chỉ, điệu bộ của trẻ.
Cấu trúc C – V là mô hình câu chủ yếu trong lời nói của trẻ. Chủ ngữ
thường là danh từ, ít khi là một loại từ khác. Còn vị ngữ chủ yếu là động từ,
danh từ ít xuất hiện, cũng đôi khi vị ngữ là tính từ.
Lời nói của trẻ 3 - 4 tuổi đôi khi chưa đủ cấu trúc C - V nhưng đa phần
là trẻ đã nói được đầy đủ cấu trúc C - V, có khi câu của trẻ có nhiều chủ ngữ,
vị ngữ đẳng lập.
Ví dụ: Hoa, Huyền đi học
Các loại câu mà trẻ thường nói:
Loại câu có chủ ngữ là danh từ: Thường là chỉ tên người, các sự vật,
hiện tượng gần gũi xung quanh trẻ
Ví dụ: Lan là bạn thân của con
Loại câu có vị ngữ là động từ (là loại câu phổ biến trong câu nói của
trẻ) chủ yếu là các hoạt động gần gũi
Ví dụ: Hoa đang chạy
Danh từ, động từ, tính từ có thể phát triển thành các nhóm danh từ,
nhóm động từ, nhóm tính từ
Ví dụ: Con chim đang hót
Câu có thành phần trạng ngữ chiếm khoảng 20% trong tổng số lời nói
của trẻ và chủ yếu là trạng ngữ chỉ thời gian, địa điểm
Ví dụ: Hôm nay con đi siêu thị
Trong lời nói của trẻ có nhiều câu đặc biệt và câu rút gọn
Ví dụ: Con – rút gọn vị ngữ
Có ạ - rút gọn chủ ngữ
Dần dần trẻ càng lớn trẻ sử dụng các loại câu càng đa dạng, tuy nhiên
vẫn còn một số hạn chế như: các hình thức câu ghép còn hạn chế, trẻ hay mắc


lỗi khi có câu ghép có cấu trúc phức tạp, trẻ hay mắc lỗi khi gặp các cuộc đối
thoại có nội dung truyện không rõ ràng và tính biểu cảm không cao.
1.1.2. Cơ sở tâm, sinh lý của trẻ 3 – 4 tuổi
1.1.2.1. Đặc điểm tâm lý học của trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi
Tâm lý của trẻ 3 - 4 tuổi khá đặc biệt đây là giai đoạn trẻ phát triển khá
mạnh và rõ rệt về mọi mặt, tính tình trẻ thay đổi, có lúc rất ngoan, có lúc lại
nghịch ngợm không sao bảo được, chung ta có thể hình dung tâm lý của trẻ 3
- 4 tuổi theo kiểu biến đổi không ngừng, nhiều đòi hỏi, lắm yêu sách và khó
chiều. Nhắc tới tuổi lên 3 các bậc cha mẹ thường nghĩ tới cụm từ “Khủng
hoảng tuổi lên 3” hay “Nổi loạn tuổi lên 3”.
- Ở giai đoạn này trẻ bắt đầu hình thành và thể hiện cái tôi:
Trẻ thích tự làm mọi việc, thích tự chơi theo ý mình. Trẻ quan tâm
nhiều hơn tới thế giới xung quanh, trẻ chú ý hơn tới các vật dụng gia đình,
quan sát các hiện tượng ngoài cửa sổ, bắt trước động tác của các con vật,
thích nghịch nước và chơi bóng…Trẻ biết thể hiện cảm xúc của mình như biết
bày tỏ tình cảm của mình với ông, bà, cha, mẹ, với những người xung quanh,
biết thể hiện tinh thần đoàn kết với các bạn cùng chơi. Trẻ thích được khen và
đã biết mình mắc lỗi khi làm sai. Trẻ bắt đầu xuất hiện những khủng hoảng
như: Đôi khi trẻ chống đối lại cha mẹ, không chịu làm theo một số yêu cầu
của người lớn. Trẻ có thể la hét thậm chí đập phá nếu không được theo ý
mình. Trẻ bắt đầu có nhiều thắc mắc, nhiều câu hỏi hơn và không chịu thỏa
hiệp nếu cha mẹ trả lời qua loa. Ví dụ khi bạn đang bận nấu cơm trẻ chạy vào
gọi mẹ ơi con bảo, bạn trả lời con nói đi nhưng lại không quay sang nhìn trẻ
thì trẻ sẽ gọi tiếp và thậm chí kéo người bạn đến khi nào bạn quay lại nhìn nó
mới chịu nói tiếp. Ở tuổi này trẻ đã biết lý luận thậm trí bắt bẻ người lớn vì
vậy hãy coi trẻ như những người lớn vì trẻ muốn được như vậy.
- Trẻ 3 - 4 tuổi ngôn ngữ của trẻ ở mức độ tiến bộ hơn cụ thể:


Vốn từ tăng nhanh, nói nhiều và nói câu dài hơn, câu phức tạp hơn,
thích hát, hiểu được hầu hết các từ nói được, có thể nghe câu chuyện 15 - 20
phút. Nói được tên và tuổi của mình, nói được từ khoảng 250 - 500 từ. Trẻ trả
lời được một số câu hỏi đơn giản từ người lớn. Nói được nhiều câu đơn giản
từ 5 - 6 từ và đến 4 tuổi trẻ có thể nói được những câu hoàn chỉnh, dài hơn.
Trẻ thường xuyên thường xuyên nói mà ít bị mắc các lỗi như lặp từ hoặc âm
tiết. Bắt trước hầu hết tiếng nói của người lớn. Trẻ có thể luyên thuyên suất
ngày, nói đủ rõ để người lạ có thể hiểu được. Kể được các câu chuyện tuân
theo nhiều quy tắc ngữ pháp đơn giản, sử dụng các từ “Con”, “Của con”,
“Mình” và “Bạn” mặc dù chưa hoàn toàn chính xác. Nhắc lại các từ hoặc cụm
từ mà mình được nghe thấy nhiều lần. Sử dụng đại từ nhân sưng “Con”
“Mẹ”…Biết sử dụng các từ ở số nhiều “Các em nhỏ, Nhiều đồ chơi…”
Tính tự lực của trẻ bắt đầu xuất hiện, được thể hiện ở các mặt sau:
Trong việc lựa chọn chủ đề và nội dung chơi: Do trong quá trình tiếp
xúc hằng ngày với các đồ vật xung quanh, giao tiếp rộng rãi với mọi người
mà trẻ cũng có ít nhiều vốn kinh nghiệm sống điều đó tạo điều kiện cho trẻ tự
do lựa chọn chủ đề chơi và phản ánh vào vai chơi những mảnh hiện thực mà
mình quan tâm.
Trẻ đã bắt đầu biết thiết lập các mối quan hệ rộng rãi và phong phú với
các bạn chơi, biết chọn bạn chơi, việc chơi trong nhóm bạn bè là một nhu cầu
bức thiết. Ở độ tuổi 3 - 4 tuổi, một “xã hội trẻ em bắt đầu được hình thành
nhưng những xã hội trẻ em này còn khác rất nhiều với xã hội người lớn. Hợp
rồi tan, tan rồi hợp, thực và chơi, chơi và thực đó chính là nét độc đáo trong
xã hội ấy. Nhưng chính từ những mối quan hệ xã hội đầu tiên trong nhóm bạn
bè này có một ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của trẻ về mọi mặt tâm lý,
tư duy, tình cảm, kỹ năng xã hội sau này và ảnh hưởng lớn lao đến cả cuộc
đời của trẻ sau này. Trong xã hội của mình trẻ vừa là sản phẩm đồng thời vừa


là người tạo ra những mối quan hệ đó. Có thể nói mỗi đứa trẻ đều được tạo ra
bởi những đứa trẻ khác. Trẻ 3 - 4 tuổi mong muốn được hòa mình vào nhóm
bạn bè để được vui chơi, được học hỏi và được nhận ra mình trong đó và điều
này có ý nghĩa quan trọng đối với việc hình thành nhân cách của trẻ sau này.
Sự phát triển đời sống tình cảm:
Trong lứa tuổi mẫu giáo thì tình cảm thống trị tất cả các mặt trong hoạt
động tâm lí của trẻ, đặc biệt ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ thì đời sống tình cảm có
một bước chuyển biến mạnh mẽ vừa phong phú, vừa sâu sắc hơn so với lứa
tuổi trước đó.
Trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo đặc biệt là mẫu giáo nhỡ, tình cảm của trẻ phát
triển mãnh liệt, đặc biệt là sự đồng cảm và tính dễ xúc cảm với con người và
với cảnh vật xung quanh. Đây cũng là thời điểm rất thuận lợi để giáo dục lòng
nhân ái cho trẻ: Khi được mọi người yêu thương trẻ rất phấn khởi và ngược
lại trẻ sẽ tỏ ra rất buồn khi mọi người thờ ơ trẻ, trẻ biết đồng cảm và dễ xúc
cảm với bạn bè xung quanh và với những người thân gần gũi với trẻ, trẻ thể
hiện bằng sự quan tâm thông cảm với họ.
Ví dụ: Khi cùng chơi với một nhóm bạn, có một bạn bị ngã chảy máu
chân trẻ thể hiện sự lo lắng trên khuân mặt và hỏi han xem bạn có sao không
và chạy lại thưa ngay với cô giáo là bạn bị ngã.
Trẻ 3 - 4 tuổi vốn từ của trẻ đang tăng rất nhanh vì vậy phát triển vốn từ
tiếng anh cho trẻ trong giai đoạn này là rất cần thiết, trẻ sẽ dàng tiếp thu hơn
và tiếp thu một cách hứng thú hơn vì trẻ lứa tuổi này thích khám phá và học
hỏi, việc phát triển cho trẻ vốn từ tiếng anh còn giúp trẻ mở rộng các mối
quan hệ với những người nước ngoài và dần dần trẻ sẽ tiếp thu và học hỏi
được tri thức mới về văn hóa, xã hội…giúp trẻ phát triển toàn diện hơn hướng
đến việc xây dựng con người lao động mới phù hợp với yêu cầu của xã hội
trong tương lai.


Đặc điểm tâm lí của trẻ 3 – 4 tuổi đang ở giai đoạn phát triển mạnh mẽ
cả về tư duy lẫn tình cảm. Vì vậy giáo viên cần cung cấp các kiến thức và mở
rộng hiểu biết cho trẻ về thế giới xung quanh một cách tích cực và hiệu quả
nhất để trẻ có thể khắc sâu những biểu tượng, phát huy những động cơ tích
cực và khơi dậy tình cảm mạnh mẽ của trẻ làm trẻ thêm yêu cuộc sống.
1.1.2.2. Đặc điểm sinh lý của trẻ 3 - 4 tuổi
Trẻ em là một thực thể đang phát triển. Trẻ càng nhỏ thì tốc độ phát
triển ngày càng nhanh, các cơ quan dần được hoàn thiện về cấu tạo và chức
năng, chúng ta có thể quan sát thấy trẻ lớn lên từng ngày. Tuy nhiên các cơ
quan và hệ cơ quan có các giai đoạn phát triển khác nhau chứ không giống
nhau và trùng nhau. Quá trình hình thành và phát triển của các cơ quan và hệ
cơ quan có tác dụng rất lớn tới các quá trình tâm lý của trẻ. Vì vậy tính thích
nghi và khả năng hoạt động của trẻ dễ bị thay đổi dưới những tác động thay
đổi đó. Không ngoại trừ những tác động đó trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi cũng có
những thay đổi đáng kể về tâm lý và thay đổi của cơ quan và hệ cơ quan.
Hệ thần kinh: Từ lúc trẻ mới sinh ra hệ thần kinh của trẻ chưa chuẩn bị
đầy đủ để thực hiện một chức năng của mình. Trẻ mẫu giáo nhỡ quá trình ức
chế dần phát triển, trẻ có khả năng phân tích, đánh giá, hình thành kỹ năng, kỹ
xảo vận động và phân biệt được các hiện tượng xung quanh.
Hệ thần kinh điều khiển sự hoạt động cảu các cơ quan trong cơ thể,
phối hợp điều hòa sự hoạt động của các cơ quan làm cho cơ thể thích nghi
được sự thay đổi thường xuyên của môi trường và có thể cải tạo nó. Nhờ có
hệ thần kinh mà con người có tư duy và tâm lí. Hệ thần kinh chính là cơ quan
điều khiển cơ thể như là một khối thống nhất.
Sự phát triển các đường dẫn truyền diễn ra rất mạnh và tăng lên theo
từng độ tuổi. Vì vậy trẻ mẫu giáo phát triển hệ thần kinh hơn là ở lứa tuổi nhà
trẻ. Chức năng của tất cả các cơ quan trong vỏ đại não, hoạt động thần kinh


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×