Tải bản đầy đủ

Tổ chức hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi việt nam theo phương pháp dạy học montessori

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

======

NGUYỄN THỊ THU TRANG

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG
SỐ LƯỢNG CHO TRẺ 5-6 TUỔI VIỆT NAM
THEO PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MONTESSORI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

HÀ NỘI - 2018


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

======


NGUYỄN THỊ THU TRANG

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG
SỐ LƯỢNG CHO TRẺ 5-6 TUỔI VIỆT NAM
THEO PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MONTESSORI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

Người hướng dẫn khoa học

ThS. NGUYỄN VĂN ĐỆ

HÀ NỘI - 2018


LỜI CẢM ƠN
Bằng tất cả lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn tới
các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô trong khoa Giáo
dục Mầm non, các thầy cô trong tổ bộ môn Phương pháp hình thành biểu tượng
toán cho trẻ mầm non đã giúp em trong quá trình học tập tai trường và tạo điều
kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS. Nguyễn Văn Đệ đã tận
tình hướng dẫn để em nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể các cô giáo và học sinh
trường mầm non Đồng Xuân đã giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Do hạn chế về mặt thời gian và năng lực của bản thân nên đề tài không thể
tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các
thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để đề tài của em được hoàn thiện hơn.
Xuân Hòa ngày 22 tháng 4 năm 2018
Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Thu Trang


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn của ThS. Nguyễn Văn Đệ. Các kết quả nghiên cứu được nêu trong
khóa luận là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác. Nếu
không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề tài của
mình.
Xuân Hòa ngày 22 tháng 4 năm 2018
Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Thu Trang


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài............................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu......................................................................................... 2
3. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu .............................................. 2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................ 3
5. Phạm vi nghiên cứu........................................................................................... 3
6. Phương pháp nghiên cứu................................................................................... 3
7. Giả thuyết khoa học........................................................................................... 4
8. Cấu trúc khóa luận tốt nghiệp ........................................................................... 4
NỘI DUNG ........................................................................................................... 5
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HÌNH
THÀNH BIỂU TƯỢNG SỐ LƯỢNG CHO TRẺ 5-6 TUỔI VIỆT NAM THEO
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MONTESSORI..................................................... 5
1.1. Phương pháp giáo dục Montessori................................................................. 5
1.1.1. Khái niệm .................................................................................................... 5
1.1.2. Bản chất của phương pháp Montessori .......................................................
6
1.1.3. Đặc trưng của phương pháp Montessori ..................................................... 8
1.1.4. Vai trò của phương pháp dạy học Montessori đối với việc hình thành biểu
tượng toán học cho trẻ........................................................................................... 9
1.1.5. Bộ giáo cụ Montessori .............................................................................. 10
1.2. Sự phát triển biểu tượng số lượng của trẻ em lứa tuổi mầm non nói chung và
trẻ 5-6 tuổi nói riêng............................................................................................ 11
1.2.1. Khái niệm “biểu tượng” ............................................................................ 11
1.2.2. Khái niệm “số lượng”................................................................................ 12
1.2.3. Khái niệm “biểu tượng số lượng” ............................................................ 12
1.3. Đặc điểm phát triển biểu tượng số lượng ở trẻ mầm non 5-6 tuổi............... 13


1.4. Hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm
non Việt Nam ...................................................................................................... 17
1.5. Phương pháp dạy học Montessori vói việc hình thành biểu tưọng số lượng
cho trẻ mẫu giáo .................................................................................................. 21
1.5.1. Giáo cụ Montessori với việc hình thành biểu tượng số lượng, con số cho
trẻ 5-6 tuổi ........................................................................................................... 21
1.5.2. Phương pháp dạy học Montessori với việc hình thành biểu tượng số
lượng, con số cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.............................................................. 23
1.6. Thực trạng việc tổ chức hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi
theo phương pháp dạy học montessori................................................................ 25
1.6.1. Thực trạng nhận thức về số và số lượng của trẻ 5-6 tuổi.......................... 25
1.6.2. Thực trạng tổ chức hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6
tuổi theo phương pháp Montessori...................................................................... 27
1.6.3. Mức độ sử dụng giáo cụ Montessori trong hoạt động hình thành biểu
tượng số lượng cho trẻ (5-6 tuổi) ........................................................................ 28
1.6.4. Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học trong quy trình tổ chức hoạt
động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi........................................ 29
1.6.5. Hiệu quả của việc tổ chức hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho
trẻ 5-6 tuổi, theo phương pháp dạy học Montessori ........................................... 31
Kết luận chương 1 ............................................................................................... 33
CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT QUI TRÌNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HÌNH
THÀNH BIỂU TƯỢNG SỐ LƯỢNG CHO TRẺ 5-6 TUỔI VIỆT NAM ........ 34
THEO PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MONTESSORI ....................................... 34
2.1. Các nguyên tắc xây dựng qui trình tổ chức hoạt động hình thành biểu tượng
số lượng cho trẻ 5-6 tuổỉ Việt Nam theo phương pháp dạy học Montessori...... 34
2.1.1. Tuân theo quy luật nhận thức của lứa tuổi trẻ........................................... 34
2.1.2. Phù hợp với nội dung và góp phần thực hiện nội dung chương trình hình
thành biểu tượng số lượng cho trẻ Việt Nam...................................................... 35


2.1.3. Phát triển khả năng độc lập, tích cực của trẻ trong quá trình học, đảm bảo
được nguyên tắc cá biệt hóa trong dạy trẻ .......................................................... 36
2.2. Đề xuất Qui trình tổ chức hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ
5-6 tuổi Việt Nam theo phương pháp dạy học Montessori................................. 37
2.2.1. Giai đoạn 1: Xây dựng môi trường tổ chức hoạt động hình thành biểu
tượng số lượng theo phương pháp dạy học Montessori...................................... 37
2.2.2. Giai đoạn 2: Giáo viên tổ chức hoạt động hình thành biểu tượng số lượng
cho trẻ theo phương pháp giáo dục Montessori .................................................. 40
Kết luận chương 2 ............................................................................................... 49
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ............................................................................. 50
1. Kết luận chung ................................................................................................ 50
2. Kiến nghị ......................................................................................................... 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................... 53
PHỤ LỤC


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Thực trạng hiểu biết về số và số lượng của trẻ 5-6 tuổi ..................... 26
Bảng 1.2: Mục đích tổ chức hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 56 tuổi Việt Nam theo phưong pháp dạy học Montessori .................................... 27
Bảng 1.3: Mức độ sử dụng giáo cụ Montessori trong hoạt động hình thành biểu
tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi........................................................................... 28
Bảng 1.4: Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học trong quy trình tổ chức
hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi................................ 29
Bảng 1.5: Hiệu quả của việc tổ chức hoạt động hình thành biểu tượng số lượng
cho trẻ 5-6 tuổi, theo phương pháp dạy học Montessori..................................... 31


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong mọi thời đại, giáo dục luôn đóng vai trò quan trọng đối với sự phát
triển của mỗi quốc gia. Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống
giáo dục nước ta. Mục tiêu của chương trình giáo dục mầm non là giúp trẻ em
phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu
tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ
em những chức năng tâm sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng,
những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa
những khả năng tiềm ẩn, đặt nền móng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và
cho việc học tập suốt đời.
Để xây dựng mục tiêu trên việc xây dựng nội dung và phương pháp giáo
dục phù hợp với từng độ tuổi nhằm phát huy hết khả năng vốn có của trẻ đóng
vai trò rất quan trọng. Hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non nói chung và
hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi nói riêng là một trọng những nội
dung quan trọng trong chương trình học ở trường mầm non. Nội dung này góp
phần giúp trẻ nhận biết và phản ánh bằng lời nói dấu hiệu số lượng và mối quan
hệ số lượng có trong các sự vật và hiện tượng của thế giới xung quanh trẻ, hình
thành ở trẻ biểu tượng về con số và mối liên hệ giữa các số liền kề thuộc dãy số
tự nhiên, là cơ sở giúp trẻ học các phép tính đại số ở trường tiểu học sau này.
Trên thực tế giáo dục mầm non Việt Nam hiện nay đã và đang triển khai
thực hiện nội dung hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
được quy định trong chương trình giáo dục mầm non. Tuy nhiên, quá trình giáo
dục này vẫn còn khá nhiều bất cập do các nguyên nhân khác nhau như: nội dung
chương trình hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi còn thấp hơn so
với nội dung này của nhiều nước trên thế giới và trong khu vực. Phần lớn giáo
viên chưa biết cách lựa chọn và sử dụng các phương pháp, biện pháp tiên tiến
của Việt Nam và trên thế giới để dạy trẻ 5-6 tuổi sao cho phù hợp. Hơn nữa,

1


giáo viên cũng chưa tổ chức được môi trường giáo dục cho trẻ phù hợp với điều
kiện thực tiễn. Vì vậy hiệu quả của quá trình dạy học chưa cao, trẻ tiếp thu một
cách thụ động, máy móc, chưa phát huy được hết khả năng của trẻ.
Bên cạnh đó, phương pháp Montessori là phương pháp giáo dục sớm cho
trẻ, phương pháp này lấy khả năng tự học của trẻ làm nền tảng cơ sở, khai thác
tiềm năng sẵn có của trẻ, không áp đặt bất cứ hành động gì, chỉ quan sát, gợi ý,
khuyến khích, động viên để trẻ tự phát triển và chủ động hòa nhập với môi
trường xung quanh. Phương pháp giáo dục sớm Montessori mang đến cho trẻ rất
nhiều lợi ích ví dụ như: trẻ ham mê khám phá và giải quyết vấn đề bằng các
dụng cụ học tập một cách độc lập; trẻ biết cách tự hợp tác và thỏa hiệp; trẻ được
phát triển toàn diện và phát triển các giác quan một cách tinh tế nhất; trẻ biết tất
cả các khía cạnh của môi trường học tập và văn hóa của mình trên góc độ riêng
của bản thân; trẻ tự có mục tiêu để hướng tới và hoàn toàn có thể phát triển các
kỹ năng tự đánh giá sự tiến bộ và khả năng của mình.
Dựa và những lý luận và thực tiễn trên, tôi chọn vấn đề “Tổ chức hoạt
động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi Việt Nam
theo phương pháp dạy học Montessori” làm nội dung nghiên cứu của đề tài.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu qui trình tổ chức hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho
trẻ 5-6 tuổi Việt Nam theo phương pháp dạy học Montessori nhằm nâng cao
mức độ hình thành biểu tượng số lượng và con số của trẻ, qua đó góp phần giáo
dục nhận thức, giáo dục toàn diện nhân cách trẻ.
3. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình tổ chức hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6
tuổi Việt Nam.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Qui trình tổ chức hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6
tuổi Việt Nam theo phương pháp dạy học Montessori.


4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức hoạt động hình
thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi Việt Nam theo phương pháp dạy
học Montessori.
4.2. Đề xuất qui trình tổ chức hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho
trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non Việt Nam theo phương pháp dạy học
Montessori.
5. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tôi nghiên cứu và đề xuất qui trình tổ
chức hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi ở tỉnh Vĩnh
Phúc.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu: Thu thập tài liệu, phân
tích, tổng hợp, khái quát hóa những vấn đề có liên quan đến đề tài nhằm hệ
thống hóa cơ sở lý luận của đề tài.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1. Phương pháp điều tra bằng phiếu
Điều tra bằng phiếu với giáo viên về việc tổ chức hoạt động hình thành
biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non.
6.2.2. Phương pháp quan sát
Quan sát hoạt động của giáo viên trong qua trình tổ chức hướng dẫn các
hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi.
6.2.3. Phương pháp thống kê
Xử lý số liệu để bước đầu đánh giá định tính và định lượng về kết quả thu
được.
6.2.4. Phương pháp khảo sát
Khảo sát về mức độ hình thành biểu tượng số lượng của nhóm trẻ 5-6 tuổi
ở trường mầm non.


7. Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng qui trình tổ chức hoạt động hình thành biểu tượng số lượng
cho trẻ 5-6 tuổi Việt Nam theo phương pháp dạy học Montessori theo hướng
xây dựng môi trường tổ chức hoạt động học tập với các giáo cụ Montessori và
giáo cụ sáng tạo kết hợp với việc tổ chức các hoạt động hình thành biểu tượng
số lượng cho trẻ nhằm kích thích khả năng nhận biết số lượng và tính tích cực
nhận biết của từng cá nhân giúp phát triển mức độ nhận biết biểu tượng số lượng
cho trẻ.
8. Cấu trúc khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo khóa luận dự kiến gồm
2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc tổ chức hoạt động hình thành biểu
tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi Việt Nam theo phương pháp dạy học
Montessori.
Chương 2: Đề xuất qui trình tổ chức hoạt động hình thành biểu tượng số
lượng cho trẻ 5-6 tuổi Việt Nam theo phương pháp dạy học Montessori.


NỘI DUNG
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HÌNH
THÀNH BIỂU TƯỢNG SỐ LƯỢNG CHO TRẺ 5-6 TUỔI VIỆT NAM
THEO PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MONTESSORI
1.1. Phương pháp giáo dục Montessori
1.1.1. Khái niệm
Phương pháp giáo dục của M. Montessori là phương pháp giáo dục trẻ em
với tiến trình giáo dục đặc biệt. Chủ yếu dựa vào việc trẻ học khái niệm thông
qua hoạt động trải nghiệm với các giác quan dưới hình thức cá nhân hóa được
sáng lập bởi bác sĩ thần kinh, nhà giáo dục người Ý M. Montessori, bà đã có
công to lớn trong việc tạo ra bộ đồ dùng cảm giác sáng tạo để chữa trị trẻ suy
nhược thần kinh và đạt được sự hiệu quả xuất sắc. Bởi đó giáo dục Montessori
được phổ biến trên thế giới.
Ở lớp học theo phương pháp Montessori trẻ được học toán với thái độ tích
cực, tự tin, nhờ đó trẻ dần nắm được hệ thống biểu tượng toán học, giúp trẻ học
toán một cách hứng thú và tích cực.
M. Montessori [34] cho rằng khiến thức toán học là cơ sở quan trọng của
thế giới tinh thần và sự phát triển của trẻ, mục tiêu của giáo dục toán là sự hình
thành nền tảng cho sự phát triển khả năng tư duy lô-gic cho trẻ. Để trẻ tiếp thu
khái niệm toán cơ sở bằng giác quan trong môi trường để phát triển tinh thần
toán hiện tại của trẻ. Vì vậy phải xây dựng môi trường từ sớm cho trẻ, phải giúp
trẻ cảm thấy học toán là sự hoạt động không khó thông qua việc tổ chức những
hoạt động của trẻ với hệ thống đồ dùng dạy học trên cơ sở khai thác khả năng và
mức độ phát triển của trẻ. Bằng cách đó, phải giúp hình thành ở trẻ thái độ tích
cực khi học toán.
Dựa trên kết quả quan sát và nghiên cứu trẻ, bà cho rằng trong mỗi giai
đoạn phát triển nhất định của trẻ sẽ có những hành vi chủ đạo đặc trưng dựa vào
các xu hướng vốn có của loài người là: tự bảo vệ một cách bản năng, khuynh


hướng thích gần gũi thiên nhiên, thích khám phá, thao tác với môi trường xung
quanh, thích hành động lặp lại, thích giao tiếp, trí tuệ toán học, tính chính xác,
tính trừu tượng, tính định hướng của hoạt động và tính trật tự. Trên cơ sở đó bà
cho rằng nếu trẻ được tự do lựa chọn và hoạt động trong môi trường được chuẩn
bị kỹ càng, phù hợp với khả năng và giai đoạn phát triển thì sẽ phát huy được tối
đa tiềm năng của trẻ. Do đó môn chỉ hoạt động trong lớp học Montessori là các
hoạt động của trẻ mang tính xây dựng, tự do không bị áp đặt và được tổ chức
dựa trên nguyên tắc chính là: trẻ được tự do hoạt động bằng các giác quan,
không bị ngắt quãng quá trình “làm việc” giữa lớp học trộn lẫn các độ tuổi với
nhau và trẻ học khái niệm thông qua trải nghiệm thực tiễn với các học cụ chuyên
biệt do bà cùng các cộng sự nghiên cứu xây dựng.
1.1.2. Bản chất của phương pháp Montessori
Triết lý giáo dục của Montessori
- Triết lý giáo dục của Montessori coi trọng hai năng lực nội sinh cho sự
phát triển của một đứa trẻ là: quá trình nhận biết và khả năng nhận thức. Trẻ em
có năng lực trí tuệ và khả năng nhận thức riêng để học hỏi và tiếp thu kiến thức
từ chính môi trường của trẻ không giống như năng lực nhận thức của người lớn.
Trong môi trường đó trẻ em có thể sáng tạo và hoạt động theo ý tưởng của mình.
Trẻ em cũng có đời sống tinh thần riêng, vừa có năng lực học tập vừa có tinh
thần sẵn sàng học hỏi. Trẻ em có khả năng tiếp thu trực giác, tự nhận thức thông
qua các hoạt động độc lập, những gì trẻ tự thực hiện sẽ tác động đến việc hình
thành tính cách của trẻ, trẻ tự nhận thức được giá trị của bản thân, chúng cảm
thấy việc lao động không còn là gánh nặng đối với chúng.
- Phương pháp Montessori nhằm hướng tới sự phát triển tổng thể tính
cách của trẻ dựa trên ba lĩnh vực: sự vận động của cơ thể, kích thích giác quan
và cách phát huy hoạt động trí tuệ. Sự phát triển hài hòa giữa thể chất và tinh
thần giúp cho trẻ trở thành một con người toàn diện có tri thức và sức khỏe.
- Tôn trọng sự tự do của trẻ là một trong những triết lý được Montessori
chú trọng đến. Trẻ em được tự do lựa chọn công việc và được quyền quyết định


tương lai của mình, Montessori giao quyền quyết định về cho các em.
Montessori cho rằng sự tự do như nhân tố quan trọng nhất để tạo ra cơ hội và hỗ
trợ quá trình học tập của trẻ. Tự do trong hoạt động nhận thức là cơ sở cho sự
rèn luyện bên trong. Tuy nhiên sự tư do trong phương pháp Montessori là có
giới hạn thông qua đồ dùng và quy tắc xã hội bởi các em chỉ được tự do lựa
chọn đồ dùng tương ứng với giai đoạn phát triển, chỉ sử dụng những đồ dùng trẻ
đã được hướng dẫn, mỗi đồ dùng chỉ có một. Chính sự tự do lựa chọn ấy đã làm
bộc lộ những khả năng kỳ diệu của trẻ và những quy tắc chi phối sự hình thành
tâm lý của trẻ.
- Montessori đề cao vai trò của vận động, Montessori cho rằng: một trong
những sai lầm lớn nhất của chúng ta là cho rằng bản thân vận động có khoảng
cách với những chức năng bậc cao...Sự phát triển nhận thức cần liên kết với vận
động và dựa trên vận động, trong đó quan trọng nhất là sự rèn luyện nội tâm. Vì
vậy trong các hoạt động mà giáo viên thiết kế cho trẻ luôn bao hàm việc rèn
luyện nội tâm tĩnh lặng. Trong mỗi hoạt ở lớp học, trẻ được hướng dẫn làm cụ
thể nhưng chính xác và trẻ phải thực hiện các động tác thiết kế sẵn một cách
tuần tự. Thông qua những bài tập rèn luyện tập như vậy trẻ luôn ý thức về từng
hành động riêng lẻ của mình.
- Trẻ em có một sự nhạy cảm đặc biệt kèm theo khả năng trí tuệ để tiếp
thu và học hỏi từ môi trường bên ngoài mà không giống như của người lớn cả về
năng lực và cấp độ. Sáu năm đầu đời của trẻ là khoảng thời gian quan trọng nhất
tạo tiền đền cho sự phát triển sau này khi mà từ việc học mà chơi, chơi mà học
sẽ dần dần hình thành thói quen học tập nghiêm túc. Đây được coi là thời kỳ
nhạy cảm, là thời điểm quyết định trong sự phát triển của trẻ. Trẻ em có niềm
say mê khám phá ngay từ khi còn rất nhỏ nên chúng cần người lớn hướng dẫn
những hoạt động có chủ đích. Với những trẻ khuyết tật trí tuệ thì khả năng tập
chung của trẻ không cao nên nếu như người lớn biết cách tổ chức và hướng trẻ
vào hoạt động thì các em sẽ rất hứng thú.


Như vậy, thông qua các nội dung trong triết lý giáo dục của Montessori
nêu trên có thể thấy rằng phương pháp Montessori có nhiều ưu thế trong việc
giáo dục và phát triển toàn diện cho trẻ.
1.1.3. Đặc trưng của phương pháp Montessori
- Phương pháp Montessori ra đời dựa trên những quan sát về bản chất tự
nhiên của trẻ.
- Ứng dụng của phương pháp Montessori là phổ quát. Kết quả đạt được
thành công với trẻ em thuộc bất cứ quốc gia nào, thuộc tất cả các chủng tộc, tín
ngưỡng, văn hoá hay điều kiện xã hội nào.
- Trẻ được học về sự tử tế, sự thanh thản và cách sống hòa bình.
- Phương pháp Montessori cho thấy đứa trẻ như một người yêu công việc,
làm việc với cả trí tuệ và sự tinh thông của cơ thể (đặc biệt là đôi bàn tay). Công
việc này được trẻ tự do lựa chọn và thực hiện với niềm vui sâu sắc.
- Thông qua công việc của mình, đứa trẻ cho thấy sự kỷ luật tự phát. Kỷ
luật này bắt nguồn từ trẻ và không bị áp đặt từ bên ngoài. Kỷ luật này là có thật,
trái với kỷ luật nhân tạo của phần thưởng và hình phạt.
- Cung cấp những công việc cho trẻ dựa trên sự thúc giục bên trong của
mỗi trẻ ở mỗi giai đoạn phát triển. Mỗi giai đoạn cần được hoàn thành trước khi
qua giai đoạn kế tiếp.
- Cung cấp cho trẻ một sự tự giác tối đa trong việc lựa chọn hoạt động thể
chất và tinh thần. Tuy nhiên, đứa trẻ vẫn đạt được trình độ học vấn tương đương
hoặc cao hơn như trong các hệ thống giáo dục truyền thống.
- Mỗi trẻ hoạt động, làm việc theo tốc độ riêng của mình. Trẻ làm việc mà
không bị cản trở, hối thúc hoặc cũng không gây áp lực. Có rất nhiều cơ hội để
trẻ làm việc theo nhóm, và trẻ tự nguyện giúp đỡ các công việc mà chúng đã làm
chủ được cho những đứa trẻ khác.
- Người lớn được đào tạo để hướng dẫn từng trẻ theo từng nhu cầu phát
triển của chúng.


- Cho phép trẻ phát triển trong sự độc lập bằng cách tôn trọng nhu cầu của
trẻ và loại bỏ những ảnh hưởng quá mức của người lớn. Phương pháp
Montessori cho phép trẻ có một sự tự do lớn dựa trên sự tôn trọng các quyền của
người khác. Sự tự do này không phải là giấy phép cho phép, mà là cơ sở của kỷ
luật thực sự.
- Động lực chính cho việc học không phải là sự cạnh tranh. Đứa trẻ cạnh
tranh với chính mình. Các phương tiện phát triển, những bài trình bày trong lớp
học mang lại những cơ hội làm việc bất tận và môi trường mà ở đó trẻ vui vẻ
giúp đỡ và nhận sự giúp đỡ của những trẻ khác.
- Trẻ hoạt động từ sự lựa chọn tự do của mình. Sự lựa chọn này là sự lựa
chọn trước sự hiểu biết và do đó là một sự lựa chọn thực sự.
- Phương pháp Montessori phát triển toàn bộ nhân cách của đứa trẻ không
chỉ là trí tuệ mà còn cả sức mạnh và sự cân nhắc, sáng kiến và sự lựa chọn độc
lập, và cảm xúc. Bằng cách sống như một thành viên tự do của một cộng đồng
xã hội thực sự, đứa trẻ được đào tạo về những phẩm chất xã hội căn bản tạo
thành nền tảng để hình thành một công dân tốt.
- Các học cụ giáo dục được Bà Montessori, đồng sự và các thế hệ tiếp nối
nghiên cứu, hoàn thiện, sáng tạo và phát triển theo thời gian. Hiện trên toàn thế
giới chỉ có ba công ty có bản quyền sản xuất dụng cụ Montessori.
1.1.4. Vai trò của phương pháp dạy học Montessori đối với việc hình thành
biểu tượng toán học cho trẻ
- Trẻ ham mê khám phá và giải quyết vấn đề bằng cách sử dụng các dụng
cụ học tập thiết thực nhằm phát triển sự kết hợp, tập trung, yêu cầu và cách tiếp
cận học tập một cách độc lập.
- Trẻ có thể hiểu các biểu tượng toán, khái niệm về lượng trong toán
thông qua các hoạt động với giáo cụ trong góc toán của lớp học. Qua đó trẻ hiểu
được nguyên lí của toán và thực hiện được những phép tính một cách dễ dàng.


Ngoài ra khi làm việc với giáo cụ trong góc toán, trẻ phát triển khả năng tư duy,
suy luận, trẻ hiểu rõ một quá trình thông qua việc lặp đi lặp lại công việc.
- Trẻ biết cách tự hợp tác và thỏa hiệp với các bạn trong quá trình học tập
và khám phá.
- Trẻ phát triển toàn diện về: Thính giác, thị giác, vận động từ các dụng cụ
học tập thiết kế riêng biệt theo phương pháp giáo dục Montessori. Trẻ có cảm
nhận về giác quan một cách tinh tế nhất.
- Trẻ hiểu biết tất cả các khía cạnh của môi trường học tập và văn hóa của
mình trên góc độ riêng của bản thân. Phương pháp dạy học Montessori giúp trẻ
yêu thích toán học với một thái độ tích cực, giúp trẻ hiểu biết toán học dưới
dạng hệ thống các biểu tượng toán học sơ đẳng, nhờ vậy giúp trẻ hiểu biết tốt
hơn về thế giới xung quanh của mình, giúp trẻ nắm được kiến thức ban đầu một
cách hứng thú và tích cực.
- Trẻ tự có mục tiêu để hướng tới và hoàn toàn có thể phát triển các kỹ
năng tự đánh giá sự tiến bộ và khả năng của mình. Phương pháp này có cơ sở để
đánh giá tiến độ phát triển của từng giai đoạn của trẻ.
- Phương pháp dạy học này hướng tới kích thích trẻ say mê tìm tòi, khám
phá và trải nghiệm với sự tham gia tích cực của các giác quan, hướng tới lấy
hoạt động của trẻ làm trung tâm, nghĩa là: trẻ tự hoạt động, tự tìm tòi, nghiên
cứu phát hiện và tự phản ánh bằng lời nói những lời mình nhận biết được, sau đó
trẻ tích cực độc lập thực hành, áp dụng những kiến thức, kinh nghiệm thu được
vào thực tiễn. Do đó trẻ chủ động hơn, kiến thức trẻ thu được sẽ vững chắc hơn,
từ đó hiệu quả dạy học sẽ cao hơn.
1.1.5. Bộ giáo cụ Montessori
Đồ dùng dạy học hay thiết bị dạy học là công cụ bổ trợ cho việc giảng
dạy, giúp học sinh hiểu rõ hơn về những điều đã được giảng giải. Từ lâu, việc sử
dụng các đồ dùng dạy học đã trở thành một phần không thể thiếu trong các
phương pháp giáo dục.


Phương pháp Montessori nhấn mạnh tầm quan trọng và mối liên hệ giữa
tất cả các vật thể sống, và nhu cầu của mỗi con người trong việc tìm được một
công việc ý nghĩa cũng như một chỗ đứng cho riêng mình trong thế giới.
Giáo cụ Montessori do người sáng lập ra phương pháp này-bà Montessori
thiết kế; hoặc cũng có thể được thiết kế riêng phù hợp với nhu cầu dạy và học
bởi các công ty thiết bị giáo dục. Ngoài bộ giáo cụ Montessori chính hãng còn
có bộ giáo cụ do giáo viên tự sáng tạo để phục vụ cho quá trình học tập của trẻ.
Tất cả các giáo cụ Montessori đều được thiết kế dựa trên nhu cầu và sự
phát triển tự nhiên của trẻ. Chúng đều được chú trọng vào thiết kế đẹp, khả
dụng; nhấn vào một chủ điểm nhất định. Trẻ em được áp dụng phương pháp
Montessori sẽ sử dụng các giác quan của mình để cảm nhận và làm quen với các
giáo cụ; từ đó trẻ được hướng dẫn học, hiểu được các khái niệm, quy luật, sự
phối hợp nhịp nhàng giữa tay và mắt.
Sử dụng bộ giáo cụ Montessori đem đến cho trẻ khả năng rèn luyện tính
độc lập, chú ý và quan sát, từ đó, trẻ được khám phá khả năng của bản thân trong
các lĩnh vực khác nhau, trong đó có toán học, mỹ thuật, ngôn ngữ, văn hoá...
1.2. Sự phát triển biểu tượng số lượng của trẻ em lứa tuổi mầm non nói
chung và trẻ 5-6 tuổi nói riêng
1.2.1. Khái niệm “biểu tượng”
Theo từ điển Tiếng Việt [16 tr.30], “Biểu tượng là hình ảnh tượng trưng,
là hình ảnh của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ
lại trong đầu óc khi tác dụng của sự vật vào các giác quan đã chấm dứt”.
Theo từ điển tâm lý học “Biểu tượng là hình ảnh của các vật thể, cảnh
tượng và sự xuất hiện trên cơ sở nhớ lại hay tưởng tượng. Khác với tri giác, biểu
tượng có thể mang tính khái quát. Nếu chi giác chỉ liên quan đến hiện tại, thì
biểu tượng liên quan cả đến quá khứ và tương lai”. [15 tr.22]
Trong triết học thì biểu tượng là một hình ảnh của khách thể đã được tri
giác còn lưu lại trong bộ óc con người và do một tác động nào đó được tái hiện,


nhớ lại. Biểu tượng cũng như cảm giác , tri giác “là hình ảnh chủ quan của thế
giới khách quan”. Nhưng khác với cảm giác và tri giác, biểu tượng phản ánh
khách thể một cách gián tiếp, là “hình ảnh của hình ảnh”. Ngoài ra, bằng tưởng
tượng từ những biểu tượng cũ, con người có thể sáng tạo ra những biểu tượng
mới. [16]
Trong tâm lý học thì biểu tượng là sản phẩm của quá trình trí nhớ và
tưởng tượng. Biểu tượng làm hiện ra trong óc cá nhân một cách nguyên vẹn
hoặc có sáng tạo những hình ảnh của sự vật hay hình ảnh mà ta tri giác trước kia
mặc dù không có những thuộc tính cụ thể của các sự vật, hiện tượng đó tác động
trực tiếp vào cơ quan cảm giác. Biểu tượng là kết quả của sự chế biến và tổng
quát những hình ảnh tri giác đã tạo ra. Biểu tượng giống sự lưu ảnh của tri giác
là chúng đều phản ánh thế giới khách quan dưới hình thức hình ảnh cụ thể.
Như vậy,biểu tượng là những hình ảnh của sự vật,hiện tượng của thế giới
xung quanh, được hình thành trên cơ sở các cảm giác và tri giác đã xảy ra trước
đó được lưu giữ lại trong ý thức hay là hình ảnh mới được hình thành trên cơ sở
những hình ảnh đã có từ trước.
1.2.2. Khái niệm “số lượng”
Số lượng là khái niệm chỉ số phần tử có trong một tập hợp tại một không
gian và thời điểm nhât định. Khái niệm số lượng có liên quan đến tập hợp, bất
kỳ một tập hợp nào cũng xác định được độ lớn (số lượng) nhất định của nó, dù
là các phần tử thuần nhất hay không thuần nhất.
1.2.3. Khái niệm “biểu tượng số lượng”
Biểu tượng số lượng là những hình ảnh về đặc trưng số lượng của các tập
hợp còn lưu lại và được tái hiện trong óc của ta khi các tập hợp ấy không còn
được ta tri giác trực tiếp, không còn đang tác động vào các giác quan của ta như
trước.
Biểu tượng số lượng bao gồm: Biểu tượng số lượng (đếm số lượng trong
một nhóm vật), biểu tượng về mối liên hệ số lượng (so sánh số lượng của 2


nhóm đối tượng xem chúng như thế nào với nhau), biểu tượng về mối quan hệ
số lượng (so sánh số lượng 2 nhóm đối tượng xem chúng hơn kém nhau bao
nhiêu đơn vị).
1.3. Đặc điểm phát triển biểu tượng số lượng ở trẻ mầm non 5-6 tuổi
Trẻ nhỏ sinh ra, lớn lên và được tiếp xúc với thế giới những sự vật hiện
tượng đa dạng về màu sắc, kích thước, số lượng... Trẻ lĩnh hội số lượng của
chúng bằng nhiều giác quan khác nhau: thị giác, thính giác, xúc giác.
Lứa tuổi nhà trẻ đã bắt đầu có những nhận biết về số lượng, đó là những
biểu tượng đầu tiên về những nhóm vật giống nhau như: nhiều quả bóng, nhiều
viên bi, nhiều búp bê,..được tích lũy và phản ánh trong ngôn ngữ thụ động của
trẻ. Được sự giúp đỡ của người lớn cùng với việc nắm được ngôn ngữ tích cực,
trẻ đã nhận biết, phân biệt và nắm được tên gọi của các nhóm vật.
Trẻ một tuổi thường nhận ra các nhóm vật giống nhau nhanh hơn việc
nhận biết riêng từng vật, sớm phân biệt một vật với nhiều vật và có phản ứng
trước sự khác nhau về số lượng các nhóm vật.
Trẻ hai tuổi đã tích lũy được nhiều biểu tượng về số lượng các nhóm vật
các âm thanh, các chuyển động, trẻ thích thú tạo ra số nhiều các nhóm vật giống
nhau, dịch chuyển chúng từ chỗ này đến chỗ khác...Trong quá trình thao tác,
hoạt động với đồ vật ở trẻ hình thành hứng thú phân biệt các nhóm vật có số
lượng là một và nhiều, trẻ lĩnh hội được từ “một” và “nhiều”.
Trẻ ba tuổi đã phân biệt được các khái niệm: Một, nhiều, ít và dễ dàng
thực hiện các nhiệm vụ được giao như: mang cho cô một gấu bông, mang cho cô
nhiều búp bê...; trẻ đã có phản ứng với những câu hỏi “có bao nhiêu” “có mấy”.
Một số trẻ còn sử dụng được các từ số như “ba”, “năm”, nhưng không có nghĩa
là trẻ hiểu các con số và phép đếm bởi các con số này không ứng với các nhóm
đối tượng tương ứng.
Điều này chứng tỏ, trẻ đã có những suy nghĩ liên quan đến câu hỏi về số
lượng của nhóm đối tượng nhưng còn phản ánh thiếu chính xác số lượng của


chúng. Như vậy, sự hình thành biểu tượng số lượng ở trẻ mầm non diễn ra trên
cơ sở trè thực hành thao tác với các nhóm vật. Tuy nhiên, mới đầu biểu tượng về
số lượng của trẻ còn rất phân tán, không cụ thê và thiếu chính xác, trẻ chưa nhận
biết rõ ràng số lượng cũng như giới hạn cùa các nhóm vật. Vì vậy trẻ nhỏ
thường không nhận thấy sự biến mất của một số vật trong nhóm. Ví dụ: trẻ có
rất nhiều viên bi nhưng nếu ta lấy bớt bi đi thi trẻ vẫn không nhận ra sự biến mất
đó.
Mức độ phát triển biểu tượng số lượng ở trẻ tương ứng với việc trẻ sử
dụng lời nói để diễn đạt chúng. Có thể thấy sự tri giác số nhiều không xác định
đặc trưng cho trẻ 2 tuổi, nên cần thiết phải dạy trẻ tri giác tập hợp như một thể
trọn vẹn bởi sự sắp đặt các nhóm vật có ảnh hưởng lớn tới sự tri giác tập hợp. Sự
bố trí không gian của tập hợp dưới dạng sơ đồ ven, tạo điều kiện lĩnh hội tập
hợp tốt hơn so với tập hợp xếp hàng ngang. Tuy nhiên, tập hợp xếp hàng ngang
lại giúp trẻ nhận thức rõ từng phần tử của tập hợp, thuận lợi cho việc học đếm.
Trẻ 3-4 tuổi hiểu và phân biết đúng các từ “một”, “ít”. “nhiều” và biết vận
dụng những kiến thức đó vào thực tiễn cuộc sống. Trẻ ở độ tuổi này thích so
sánh các nhóm vật và phân biết được số lượng các âm thanh, các động tác. Các
từ “ít”, “nhiều” dần trở thành vốn từ tích cực của trẻ. Trẻ có thể tạo ra các nhóm
vật và so sánh số lượng của chúng bằng biện pháp xếp chồng hoặc xếp cạnh
từng vật của nhóm này với từng vật của nhóm khác, tức là bước đầu biết thiết
lập tương ứng 1:1 giữa các vật của các nhóm khác nhau đề xác định mối quan hệ
số lượng giữa chúng. Kết quả so sánh giúp trẻ lĩnh hội các khái niệm như: bằng
nhau, không bằng nhau, nhiều hơn, ít hơn. Tuy nhiên, ban đầu trẻ còn chưa biết
tri giác lần lượt tất cả các phần tử có trong tập hợp mà trẻ ít chú ý tới từng phần
tử của tập hợp.
Ví dụ: Khi yêu cầu trẻ phát cà rốt cho những thỏ bông đứng thành hàng
ngang, trẻ luôn nhớ phát cà rốt cho những thỏ bông đứng ở đầu hàng và cuối
hàng, còn thỏ bông ở giữa hàng thường bị trẻ bỏ quên.


Khả năng phân tích chính xác từng phần tử của tập hợp ở trẻ 3 tuổi còn
yếu. Vì vậy, kết quả so sánh độ lớn của tập hợp bị ảnh hưởng bởi các yếu tố màu
sắc, hình dạng, kích thước, vị trí sắp đặt trong không gian. Ví dụ: kích thước
cũng ảnh hưởng nhiều đến sự đánh giá số lượng ở trẻ như trẻ thường cho rằng 3
con hổ to sẽ nhiều hơn 4 con gà con...
Trẻ 4 tuổi xuất hiện nhu cầu xác định chính xác số lượng nhóm vật và nhu
cầu đếm, khả năng đếm, xác định số lượng cùa trẻ là rất khác nhau, phụ thuộc
vào sự tác động của người lớn. Trẻ chưa nắm được vai trò của số kết quả. Trẻ
chưa phân biệt được quá trình đếm và kết quà phép đếm, tuy nhiên các lỗi trên
sẽ nhanh chóng khắc phục nếu người lớn dạy trẻ. Trẻ độ tuổi này chưa có khả
năng đếm số lượng lớn các vật, vì thế, chúng ta chỉ nên dạy trẻ đếm trong phạm
vi 5.
Trẻ 4-5 tuổi, những biểu tượng về tập hợp được phát triển và mở rộng
dần, trẻ có khả năng nhận biết tập hợp ngay cả khi tập hợp có những phần tử
không giống nhau. Ví dụ: Tập hợp các loại quả gồm các quả dài, quà tròn
màu sắc khác nhau, như vậy chứng tỏ trẻ có khả năng nhận biết dấu hiệu chung
của tập hợp. Trẻ có khả năng phân tích từng phần tử của tập hợp biết đánh
giá độ lớn của chúng theo số lượng các phần tử của tập hợp. Trẻ lứa tuổi này
đã nắm và sử dụng tốt biện pháp thiết lập tương ứng 1:1 giữa các phần tử của
tập hợp. Trẻ nắm được phép đếm, phân biệt được quá trình đếm và kết quả phép
đếm, hiểu được ý nghĩa khái quát của con số - là chỉ số cho số lượng các phần tử
của tập hợp. Trẻ hiểu rằng các tập hợp có số phần tử bằng nhau sẽ được biểu thị
bằng cùng một số, còn các tập hợp có số phần tử khác nhau sẽ được biểu thị
bằng các số khác nhau. Trẻ ở độ tuổi này có khả năng đếm đến 10, nhận biết các
chữ số trong phạm vi 5.
Trẻ 5-6 tuổi có khả năng phân tích chính xác các phần tử của tập hợp, các
tập con trong tập lớn. Trẻ khái quát được một tập lớn gồm nhiều tập con và
ngược lại nhiều tập hợp riêng biệt có thể gộp lại với nhau theo một đặc điểm


chung nào đó để tạo thành một tập hợp lớn. Khi đánh giá độ lớn của tập hợp trẻ
mẫu giáo lớn ít bị ảnh hưởng các yếu tố như: màu sắc, kích thước, vị trí sắp đặt
của các phần tử trong tập hợp.
Hoạt động đếm xác đinh số lượng đã phát triển lên một bước mới, trẻ có
hứng thú đếm và phần lớn nắm được trình tự của các con sổ từ 1 đến 10 và còn
nhiều số hơn; trẻ biết thiết lập tương ứng 1:1 trong quá trình đếm, mỗi từ số ứng
với một phần tử của tập hợp mà trẻ đếm. Trẻ không chi hiểu rằng, khi đếm thi số
cuối cùng là số kết quả ứng với toàn bộ nhóm vật, mà trẻ còn bắt đầu hiểu con
số là chỉ số cho số lượng phẩn tử của tất cả các tập hợp có cùng độ lớn không
phụ thuộc vào những đặc điểm, tính chất cũng như cách sắp đặt chúng
Trẻ 5 - 6 tuổi bắt đầu hiểu mối quan hệ thuận nghịch giữa các số liền của
dãy số tự nhiên (mỗi số đứng trước nhỏ hơn số đứng sau một đơn vị và mỗi số
đứng sau lớn hơn số đứng trước một đơn vị). Trên cơ sở đó dần dần trẻ hiểu
được quy luật thành lập dãy số tự nhiên n ± 1. Khả năng đếm của trẻ ngày càng
trở nên thuần thục, trẻ không chỉ đếm đúng số lượng các nhóm vật mà còn đếm
âm thanh, động tác. Qua đó, trẻ hiểu sâu sắc hơn vai trò cùa số kết quả. Mặt
khác, trẻ không chỉ đếm từng vật mà còn đếm từng nhóm vật, trè biết đếm xuôi,
đếm ngược, nhận biết các số từ 1 đến 10. Trẻ hiểu rằng, mồi con số không chỉ
được diễn đạt bằng lời nói mà còn có thể viết, và muốn biết số lượng của các vật
trong nhóm không thống nhất thiết lúc nào cũng phải đếm, đôi lúc chỉ cần nhìn
con số biểu thị số lượng của chúng. Việc cho trẻ làm quen với các con số có tác
dụng phát triển tư duy trừu tượng cho trẻ, phát triển khả năng trừu tượng số
lượng khỏi những vật cụ thể, dạy trẻ thao tác với các kí hiệu - các con số.
Như vậy, trẻ 5 - 6 tuổi cần tiếp tục phát triển biểu tượng về tập hợp, bước
đầu cho trẻ làm quen với một số phép tính trên tập hợp; dạy trẻ phép đếm trong
phạm vi 10 và không chỉ đếm từng vật riêng lẻ mà còn đếm từng nhóm vật, nhờ
vậy tư duy trẻ phát triền, giúp trẻ hiểu sâu hơn khái niệm đơn vị, tạo tiền đề cho
trẻ hiểu bản chất của các phép tính đại số mà trẻ sẽ học ở trường phổ thông.


1.4. Hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi ở trường
mầm non Việt Nam
Theo quan điểm cùa tâm lí học, hoạt động là quá trình tác động qua lại
giữa chủ thể và đối tượng dựa trên hai quá trình chính, đó là: chủ thể hóa và đối
tượng hóa. Trong quá trình chủ thể hóa, chủ thể tác động lên đối tượng nhằm
biến đổi đối tượng theo mục đích đặt ra của chủ thể. Quá trình này có thể tạo ra
sản phẩm vật chất hoặc tinh thần cho thế giới. Song song với quá trình chủ thể
hóa là quá trình đối tượng hóa. Đối tượng mới tác động ngược trở lại chủ thể,
làm thay đổi nhận thức của chủ thể, tạo nên cách nhìn mới, quan niệm mới.
Thực chất của quá trình hình thành ở trẻ những biểu tượng sơ đẳng về tập
hợp, con số, phép đếm là quá trình tổ chức các hoạt động nhận biết số lượng,
mối quan hệ số lượng, nhận biết con số và phép đếm cho trẻ mẫu dưới sự tổ
chức, hướng dẫn, điều khiển, đánh giá của giáo viên trong quá trình dạy học ở
trường mầm non. Hoạt động hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ ở trường
mầm non đóng vai trò quan trọng đối vói sự phát triển nhận thức, phát triển trí
tuệ của trẻ nói riêng và nhân cách trẻ nói chung, hơn nữa nó còn góp phần hình
thành ở trẻ những tiền đề mới của hoạt động học tập. Quá trình hình thành biểu
tượng số lượng sơ đẳng cho trẻ mầm non thực hiện nội dung chương trình hình
thành biểu tượng số lượng cho tré 5-6 tuổi, bao gồm:
- Đếm trong phạm vi 10 và đếm theo khả năng.
- Nhận biết các chữ số, số lượng và số thứ tự trong phạm vi 10.
- Gộp các nhóm đối tượng và đếm.
- Tách một nhóm thành hai nhóm nhỏ bằng các cách khác nhau.
- Nhận biết ý nghĩa các con số được sử dụng trong cuộc sống hằng ngày.
Nội dung hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5 - 6 tuổi không chỉ bao
gồm những kiến thức, kỹ năng (đếm, tính toán) mà còn bao gồm cả những biện
pháp hoạt động thực tiễn, hoạt động trí tuệ, tất cả những điều đó là cơ sở để góp
phần giáo dục toàn diện nhân cách trẻ và chuẩn bị cho trẻ vào lớp một.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×