Tải bản đầy đủ

Xây dựng hệ thống bài tập học phần hóa học đại cương 1 nhằm tăng cường năng lực tự học của sinh viên

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA HÓA HỌC
======

PHẠM THỊ NGỌC LINH

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỌC PHẦN
HÓA HỌC ĐẠI CƯƠNG 1 NHẰM TĂNG CƯỜNG
NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Hóa Vô cơ

Hà Nội – 2018


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA HÓA HỌC
======

PHẠM THỊ NGỌC LINH


XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỌC PHẦN
HÓA HỌC ĐẠI CƯƠNG 1 NHẰM TĂNG CƯỜNG
NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Hóa Vô cơ
Người hướng dẫn khoa học

TS. Đăng Thị Thu Huyền

Hà Nội – 2018


LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Hóa
học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô trong tổ Hóa Vô cơ - Đại
cương đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong suốt thời gian em theo học tại khoa
và trong thời gian em làm khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Đăng Thị Thu Huyền
người đã trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn, luôn tận tâm chỉ bảo những kiến thức về
chuyên môn thiết thực và những chỉ dẫn khoa học quý báu, giúp đỡ em trong quá
trình em làm khóa luận tốt nghiệp.
Em xin cảm ơn gia đình, anh em, bạn bè, những người đã luôn ở bên, chia
sẻ, động viên và giúp đỡ em quá trình em làm khóa luận tốt nghiệp.
Để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, mặc dù đã rất cố gắng, song
trong những ngày đầu làm quen, tiếp cận và học hỏi nghiên cứu khoa học sẽ không
tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót về mặt kiến thức cũng như kinh nghiệm, em rất
mong nhận được sự đóng góp ý kiến chân thành từ quý thầy cô giáo và bạn bè để
khóa luận được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Phạm Thị Ngọc Linh


MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU.......................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài....................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu.................................................................................. 2
3. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................... 2
4. Phạm vi nghiên cứu................................................................................... 2
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................ 2
6. Phương pháp nghiên cứu........................................................................... 2
7. Giả thuyết khoa học .................................................................................. 3
8. Đóng góp mới của đề tài ........................................................................... 4
PHẦN 2: NỘI DUNG...................................................................................... 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN....................................... 5
1.1.Tổng quan về vấn đề tự học .................................................................... 5
1.1.1. Khái niệm tự học............................................................................. 5
1.1.2. Các kĩ năng tự học........................................................................... 5
1.1.3. Quy trình tự học .............................................................................. 6
1.1.4. Các hình thức tự học ....................................................................... 7
1.1.5. Tác dụng của tự học ........................................................................ 8
1.2. Tổng quan về bài tập hóa học ................................................................ 9
1.2.1. Khái niệm về bài tập hóa học.......................................................... 9
1.2.2. Vai trò của bài tập hóa học.............................................................. 9
1.2.3. Phân loại bài tập hóa học .............................................................. 13
1.2.4. Vận dụng kiến thức để giải bài tập hóa học.................................. 15
1.2.5. Xu hướng phát triển của bài tập hóa học hiện nay........................ 16
CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG BÀI TẬP .......................................................... 18
2.1. Bài tập chương 2: Cấu tạo nguyên tử và hệ thống tuần hoàn. .......... 18
2.1.1. Bài tập về hạt nhân nguyên tử........................................................... 18
Dạng 1: Bài tập về đồng vị ..................................................................... 18


Dạng 2: Bài tập về độ hụt khối, năng lượng liên kết hạt nhân............... 20
Dạng 3: Bài tập về phản ứng hạt nhân................................................... 21
2.1.2. Bài tập về thuyết lượng tử Planck và đại cương về cơ học lượng tử 23
Dạng 1: Bài tập về thuyết lượng tử Planck............................................. 23
Dạng 2: Bài tập về hiện tượng quang điện ............................................. 26
Dạng 3: Bài tập về sóng vật chất De Broglie ......................................... 28
Dạng 4: Bài tập về nguyên lý bất định Heisenberg ................................ 29
2.1.3. Bài tập về nguyên tử hiđro và ion giống hiđro ................................. 32
Dạng 1: Bài tập về kết quả giải phương trình Schroedinger ................. 32
Dạng 2: Bài tập về quang phổ ................................................................ 35
Dạng 3: Bài tập về ion giống nguyên tử hiđro ....................................... 38
2.1.4. Bài tập về nguyên tử nhiều electron ................................................. 40
Dạng 1: Bài tập về cơ sở viết cấu hình electron..................................... 40
Dạng 2: Bài tập về cấu hình electron của nguyên tử và ion .................. 44
Dạng 3: Bài tập áp dụng phương pháp Slater........................................ 47
2.1.5. Bài tập về hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học ...................... 50
Dạng 1: Bài tập về mối quan hệ giữ vị trí và cấu hình electron ............ 50
Dạng 2: Bài tập về quy luật biến đổi tính chất ....................................... 56
2.2. Bài tập chương 3: Cấu tạo phân tử và liên kết hóa học ..................... 60
2.2.1. Bài tập viết công thức cấu tạo Lewis ................................................ 60
2.2.2. Bài tập xác định dạng hình học phân tử theo thuyết VSEPR ........... 66
2.2.3. Bài tập về momen lưỡng cực ............................................................ 75
2.2.4. Bài tập giải thích sự hình thành kiên kết theo thuyết liên kết cộng hóa
trị (Thuyết VB)............................................................................................ 77
2.2.5. Bài tập giải thích sự hình thành kiên kết theo thuyết orbital phân tử
(Thuyết MO) ............................................................................................... 87
2.2.6. Bài tập giải thích sự hình thành kiên kết trong phức chất ................ 94
Dạng 1: Gọi tên phức.............................................................................. 94


Dạng 2: Bài tập giải thích sự hình thành kiên kết trong phức chất theo
thuyết Pauling ......................................................................................... 97
Dạng 3: Bài tập giải thích sự hình thành kiên kết trong phức chất theo
thuyết trường tinh thể ............................................................................ 102
KẾT LUẬN .................................................................................................. 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 107


Khóa luận tốt nghiệp
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hóa học Đại cương 1 là một học phần cơ bản trong chương trình đào tạo đại học
của ngành Hóa học trong Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Học phần này gồm 3 nội
dung chính là:
+ Chương 2: Cấu tạo nguyện tử - Hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học
+ Chương 3: Cấu tạo phân tử - Liên kết phân tử
+ Chương 4: Tinh thể.
Việc học hiệu quả môn học này giúp sinh viên có một nền tảng vững chắc giúp ích
cho việc học tập và nghiên cứu sau này. Nắm vững lý thuyết cơ bản và vận dụng để
giải được bài tập là vấn đề cốt lõi để hiểu được môn học này. Tuy nhiên, với chính
sách mới hiện nay của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chúng ta đã chuyển sang đào tạo đại
học với hình thức tín chỉ, lấy người học làm trung tâm. Hình thức đào tạo này còn
nhiều mới mẻ và yêu cầu sinh viên phải tự giác, chủ động trong học tập nhiều hơn, và
tự học là điều tất yếu.
Khả năng tự học của sinh viên phụ thuộc vào nhiều yếu tố như ý thức tự học của
sinh viên, nội dung môn học, điều kiện ngoại cảnh… Việc ý thức được tầm quan trọng
của kiến thức để rèn luyện cho bản thân là rất quan trọng cho khả năng tự học. Đó
không phải là việc ghi ghi, chép chép, học thuộc lòng những gì thầy nói trên lớp hay
lên mạng tìm tài liệu, nó phải là kết quả lâu dài của việc hiểu kiến thức và vận dụng
giải bài tập.
Học tập hiệu quả các môn học nói chung, và Hóa học Đại cương 1 nói riêng, sinh
viên đòi hỏi phải dành nhiều thời gian cho việc học ở nhà, và đó không phải việc dễ
dàng với sinh viên năm nhất, những bạn vừa mới làm quen với môn học chuyên ngành
này.
Để giúp các bạn có thêm tham khảo về cách tự học ở nhà đạt hiệu quả cao cho
môn Hóa học Đại cương 1, đặc biệt là chương 2, 3 em đã nghiên cứu đề tài “Xây dựng

Phạm Thị Ngọc Linh

1

K40C - Sư phạm Hóa học


hệ thống bài tập học phần Hóa học Đại cương 1 nhằm tăng cường năng lực tự học của
sinh viên”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
+ Nhằm góp phần nâng cao năng lực tự học bộ môn Hóa học nói chung và học
phần Hóa học Đại cương 1 - Chương 2: Nguyên tử - Hệ thống tuần hoàn các nguyên tố
hóa học và Chương 3: Cấu tạo phân tử - Liên kết hóa học nói riêng của sinh viên
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
+ Xây dựng hệ thống bài tập chương 2, chương 3. Phân loại và tìm phương pháp,
đề xuất hướng làm.
3. Đối tượng nghiên cứu
Mối quan hệ giữa phương pháp tự học có hướng dẫn với chất lượng dạy và học
chương 2, 3 của học phần Hóa học Đại cương 1 ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
4. Phạm vi nghiên cứu
Quá trình dạy và học chương 2, 3 của học phần Hóa học Đại cương 1 ở trường
Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc xây dựng hệ thống bài tập để
hướng dẫn sinh viên tự học chương 2, 3 học phần Hóa học Đại cương 1.
- Xây dựng hệ thống bài tập có lời giải chương 2, 3. Đồng thời xây dựng hệ thống
các bài tập tương tự phục vụ khả năng tự học của sinh viên theo học chuyên
ngành Hóa học tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết (Phân tích, so sánh, tổng hợp): Thu thập
thông tin thông qua sách vở, đọc sách báo, tài liệu nhằm mục đích tìm chọn những khái
niệm và tư tưởng là cơ sở cho lí luận của đề tài, hình thành giả thuyết khoa học.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, trò chuyện với sinh viên nhằm
đánh
giá khả năng tự học của sinh viên.


- Phương pháp xây dựng hệ thống bài tập hóa học: Mỗi một dạng bài tập phù hợp
với một mục đích khác nhau. Vì thế, cần xác định được mục đích sử dụng bài tập đó để
xây dựng bài cho hợp lý.
+ Sử dụng bài tập để củng cố, mở rộng, đào sâu kiến thức: xây dựng các bài tập
dựa vào các công thức đã học ở lý thuyết, yêu cầu tìm các đại lượng đặc trưng
cho từng nội dung lý thuyết đã học, từ đó mở rộng vấn đề, ghép nối các nội
dung lý thuyết đề thành bài tập vận dụng.
+ Sử dụng bài tập để rèn kỹ năng: để rèn được một kỹ năng ta cần xây dựng nhiều
bài tập tương tự nhau, từ một công thức ta có thể biến đổi thành các bài tập có
dữ kiện khác nhau và yêu cầu tính các đại lượng khác nhau.
+ Sử dụng bài tập để rèn tư duy logic: xây dựng các bài tập mà khi giải cần dựa
vào tính logic của vấn đề.
+ Sử dụng bài tập để rèn năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề: sử dụng
bài tập này giúp học sinh ghi nhớ và khắc sâu lý thuyết, không học vẹt và nhớ
máy móc. Cần xây dựng bài tập có mấu chốt của vấn đề, dựa vào đó sinh viên
giải được bài tập. Hiện nay, bài tập được xây dựng theo xu hướng loại bỏ các
bài tập có nội dung hóa học nghèo nàn nhưng cần sử dụng thuật toán phức tạp
để giải. Bài tập hóa học thường phải đáp ứng nhu cầu học tập chủ động (tự học)
của sinh viên.
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến đóng góp của các thầy (cô) giáo để
hoàn thiện tài liệu tự học.
7. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được hệ thống bài tập (tài liệu tự học có hướng dẫn) tốt và sử dụng
tài liệu đó một cách hiệu quả thì sẽ góp phần tăng cường năng lực tự đọc, tự học của
sinh viên, nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Hóa học Đại cương 1 ở Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội 2.


8. Đóng góp mới của đề tài
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận về nâng cao chất lượng dạy học và tổ chức việc tự
học có hướng dẫn, sử dụng tài liệu hợp lí cho sinh viên.
- Xây dựng hệ thống bài tập có lời giải (tài liệu tự học có hướng dẫn) chương 2, 3
của học phần Hóa học Đại cương 1 và sử dụng hợp lí, hiệu quả nhằm nâng cao năng
lực tự đọc, tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.


PHẦN 2: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1.Tổng quan về vấn đề tự học
1.1.1. Khái niệm tự học
Trong tập bài giảng chuyên đề: “Dạy tự học cho sinh viên trong các nhà trường
trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học” Giáo sư - Tiến sĩ Khoa học Thái
Duy Tuyên viết: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là
tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích,
tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực
hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành
sở hữu của chính bản thân người học”.
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ,
sử dụng cả năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp và các phẩm chất khác của người học,
cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một tri thức nào đó
của nhân loại, biến tri thức đó thành sở hữu của chính mình” [13].
Tóm lại, tổng hợp các quan điểm về tự học của các tác giả, có thể đưa ra khái
niệm về tự học như sau: “Tự học là hoạt động học hoàn toàn không có gióa viên, học
sinh không có sự tiếp xúc với gióa viên, là hình thức học tập hoàn toàn không có sự
tương tác thầy trò, do đó học sinh phải tự lực thông qua tài liệu, qua hoạt động thực tế,
qua thí nghiệm để chiếm lĩnh kiến thức”.
1.1.2. Các kĩ năng tự học
Để đạt kết quả tốt trong tự học, người tự học cần nắm vững những kỹ năng,
phải rèn luyện để hình thành cho mình những kỹ năng. Căn cứ vào chức năng của từng
loại hoạt động có thể chia kỹ năng tự học làm bốn nhóm.
Thứ nhất: Kỹ năng kế hoạch hóa việc tự học.
Kỹ năng này cần tuân thủ các nguyên tắc sau: Đảm bảo thời gian tự học tương
xứng với lượng thông tin của môn học; Xen kẽ hợp lý giữa các hình thức tự học, giữa
các môn học, giữa giờ tự học, giờ nghỉ ngơi.


Thứ hai: Kỹ năng nghe và ghi bài trên lớp.
Quy trình nghe giảng gồm các khâu như ôn bài cũ, làm quen với bài sắp học,
hình dung các câu hỏi đối với bài mới. Khi nghe giảng cần tập trung theo dõi sự dẫn
dắt của thầy, liên hệ với kiến thức đang nghe, kiến thức đã có với các câu hỏi đã hình
dung trước.
Thứ ba: Kỹ năng ôn tập.
Kỹ năng này được chia làm hai nhóm là kỹ năng ôn tập, kỹ năng tập luyện.
Kỹ năng ôn bài là hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong việc chiếm lĩnh kiến
thức bài giảng của thầy. Đó là hoạt động tái nhận bài giảng như xem lại bài ghi, mối
quan hệ giữa các đoạn rời rạc, bổ sung bài ghi bằng những thông tin nghiên cứu được
ở các tài liệu khác, nhận diện cấu trúc từng phần và toàn bài. Việc tái hiện bài giảng
dựa vào những biểu tượng, khái niệm, phán đoán được ghi nhận từ bài giảng của thầy,
từ hoạt động tái nhận bài giảng, dựng lại bài giảng của thầy bằng ngôn ngữ của chính
mình, đó là những mối liên hệ lôgic có thể có cả kiến thức cũ và mới.
Kỹ năng tập luyện có tác dụng trong việc hình thành kỹ năng tương ứng với
những tri thức đã học. Từ việc giải bài tập của thầy đến việc người học tự thiết kế
những loại bài tập cho mình giải, từ bài tập củng cố đơn vị kiến thức đến bài tập hệ
thống hóa bài học, chương học, cũng như những bài tập vận dụng kiến thức vào cuộc
sống.
Thứ tư: Kỹ năng đọc sách.
Phải xác định rõ mục đích đọc sách, chọn cách đọc phù hợp như tìm hiểu nội
dung tổng quát của quyển sách, đọc thử một vài đoạn, đọc lướt qua nhưng có trọng
điểm, đọc kĩ có phân tích, nhận xét, đánh giá. Khi đọc sách cần phải tập trung chú ý,
tích cực suy nghĩ, khi đọc phải ghi chép. [15]
1.1.3. Quy trình tự học
Gồm 3 giai đoạn: Tự nghiên cứu; Tự thể hiện; Tự kiểm tra, Tự điều chỉnh.


- Tự nghiên cứu: Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn
đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học)
và tạo ra sản phẩm có tính chất cá nhân.
- Tự thể hiện: Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự sắm
vai trong các tình huống, vấn đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân
ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với các bạn
và thầy cô, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học.
- Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác, trao đổi
với bạn bè và thầy cô, sau khi thầy cô kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản
phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học (tri thức).
1.1.4. Các hình thức tự học
Có 5 hình thức tự học:
- Tự học hoàn toàn (không có giáo viên): Thông qua tài liệu, qua tìm hiểu thực
tế, học kinh nghiệm của người khác. Sinh viên gặp nhiều khó khăn do có nhiều lỗ
hổng kiến thức, sinh viên khó thu xếp tiến độ, kế hoạch tự học, không tự đánh giá
được kết quả tự học của mình... Từ đó sinh viên dễ chán nản và không tiếp tục tự học.
- Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập: Thí dụ như học bài hay làm
bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của sinh viên. Để
giúp sinh viên có thể tự học ở nhà, sinh viên cần tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả
học bài, làm bài tập ở nhà của họ.
- Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa): Sinh viên được nghe giáo
viên giảng giải minh họa, nhưng không được tiếp xúc với gióa viên, không được hỏi
han, không nhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn.
- Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Trong tài liệu trình bày cả nội dung, cách xây
dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra
cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được (thí dụ học theo các phần mềm trên máy
tính).


- Tự lực thực hiện một số hoạt động học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của giáo
viên ở lớp: Với hình thức này cũng đem lại kết quả nhất định. Song nếu sinh viên vẫn
sử dụng sách giáo khoa hóa học như hiện nay thì họ cũng gặp khó khăn khi tiến hành
tự học vì thiếu sự hướng dẫn về phương pháp học.
Các hình thức tự học ở trên chúng ta thấy rằng mỗi hình thức tự học có những
mặt ưu điểm và nhược điểm nhất định. Để nhằm khắc phục được những nhược điểm
của các hình thức tự học đã có này và xét đặc điểm của sinh viên giỏi hoá học chúng
tôi đề xuất một hình thức tự học mới: Tự học theo tài liệu hướng dẫn và có sự giúp đỡ
trực tiếp một phần của giáo viên gọi tắt là "Tự học có hướng dẫn".
1.1.5. Tác dụng của tự học
- Tự học có ý nghĩa quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người, ảnh hưởng
trực tiếp đến kết quả học tập.
- Tự học là con đường khẳng định của mỗi con người. Tự học giúp con người
giải quyết được những mâu thuẫn giữa khát khao đẹp đẽ về học vấn với khó
khăn trong cuộc sống.
- Tự học là con đường đi tới mọi thành công trong cuộc sống. Tự học giúp ta chủ
động tìm hiểu, thu thập kiến thức, tự làm giàu kho kiến thức của mình.
- Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho con người, quá trình tự học
khác hẳn với quá trình học tập thụ động, nhồi nhét, áp đặt. Kiến thức có được
là do tự học, là kết quả của sự hứng thú, đam mê, không chịu sự chi phối của
bất kỳ yếu tố nào. Đó là một quy luật tự nhiên. Sinh viên từ đó có tinh thần tự
giác, chủ động, tích cực và có thái độ đúng đắn trong học tập.
- Tự học giúp cho sinh viên tích lũy được lượng kiến thức khổng lồ của các năm
học tại trường đại học.
- Tự học của sinh viên ở trong trường đại học có vai trò quan trọng đối với yêu
cầu đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng giáo dục. [14]


1.2. Tổng quan về bài tập hóa học
1.2.1. Khái niệm về bài tập hóa học
Bài tập hóa học (BTHH) là một dạng bài tập gồm những dạng toán, những câu
hỏi hay đồng thời cả bài toán và câu hỏi, mà trong quá trình hoàn thành chúng, sinh
viên nắm được một tri thức hay kĩ năng cụ thể hoặc hoàn thiện chúng. Câu hỏi là
những bài tập mà khi hoàn thành, sinh viên phải tiến hành một hoạt động tái hiện các
tri thức khoa học đã biết hay kèm theo thực hành hoặc xác minh bằng thực nghiệm.
BTHH là bài toán mà khi hoàn thiện chúng sinh viên phải tiến hành một hoạt động tự
lực, sáng tạo, bát luận hình thức trả lời bài toán là miệng hay viết, thực hành hay thí
nghiệm, bất cứ BTHH nào cũng được sắp xếp vào hai nhóm bài tập định lượng (có
chứa phép tính) và bài tập định tính (sử dụng những phép suy luận lôgic trên cơ sở hiểu
rõ bản chất của các khái niệm, định luật). BTHH là những câu hỏi hay dạng toán xoay
quanh các vấn đề lý thuyết, thực tiễn về khoa học hóa học được thể hiện trong các dữ
kiện của các dạng BTHH.
Việc sử dụng BTHH trong dạy học hóa học có tầm quan trọng đặc biệt, đối với
giáo viên, BTHH là yếu tố điều khiển quá trình giáo dục, là công cụ thiết yếu trong
kiểm tra, đánh giá năng lực lĩnh hội tri thức hóa học của sinh viên. Đối với sinh viên,
đây là phương pháp học tập tích cực, hiệu quả, vừa giúp sinh viên nắm vững kiến thức,
vừa giúp phát triển tư duy và hình thành khái niệm, khả năng ứng dụng kiến thức vào
thực tiễn, giảm nhẹ sự nặng nề về kiến thức và gây hứng thú học tập cho sinh viên.
Tuy nhiên, hiệu quả của việc sử dụng BTHH còn bị tác động bởi nhiều yếu tố
như: tính tự giác, tính vừa sức, mức độ hứng thú, yêu thích môn học của sinh viên. Do
đó trong quá trình dạy học, người giáo viên cần sử dụng linh hoạt các dạng BTHH có
sự phân hóa để phù hợp với từng đối tượng cụ thể, góp phần rèn luyện, phát triển tư
duy cho sinh viên.
1.2.2. Vai trò của bài tập hóa học
- Làm cho sinh viên hiểu sâu và khắc sâu kiến thức đã học


Giải BTHH làm chính xác hoá các khái niệm, định luật Hóa học, củng cố, đào
sâu kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn thông qua các câu hỏi
hay bài toán cụ thể; chỉ khi vận dụng kiến thức vào giải bài tập, sinh viên mới nắm
được kiến thức một cách sâu sắc [19].
Sự nắm vững kiến thức có thể phân biệt ở bốn mức độ nhận thức và tư duy:
Nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao. Sinh viên nắm vững kiến thức hóa
học một cách chắc chắn khi họ được hình thành các kĩ năng, kĩ xảo vận dụng và chiếm
lĩnh kiến thức thông qua nhiều hình thức luyện tập khác nhau.
Khối lượng kiến thức giảng dạy ở bậc Đại học là vô cùng lớn, phương pháp
giảng dạy và môi trường học tập cũng khác xa bậc học phổ thông. Vì vậy, sinh viên
cần có được phương pháp học tập thích hợp để có thể tiếp thu hết khối kiến thức đồ sộ
đó. Sử dụng bài tập nhằm mục đích luyện tập kết hợp với việc nghiên cứu tài liệu giúp
sinh viên có kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá hoạt động tự học của bản thân, từ đó có các
biện pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực lĩnh hội kiến thức của cá nhân.
- Cung cấp thêm những kiến thức mới và mở rộng sự hiểu biết mà không làm
nặng nề khối lượng kiến thức của sinh viên
Ngoài tác dụng củng cố kiến thức, giải BTHH còn đào sâu, mở rộng các kiến
thức đã học, cung cấp thêm cho sinh viên những kiến thức khoa học có liên quan và
mở rộng tầm hiểu biết của sinh viên mà không làm nặng nề khối lượng kiến thức của
sinh viên.
Trong quá trình giải quyết các tình huống cụ thể do BTHH đề ra, sinh viên có
nhu cầu tìm kiếm các vấn đề liên quan, đảm bảo lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc,
biết cách phân tích kiến thức, ứng dụng chúng vào vấn đề thực tiễn, biến kiến thức sách
vở thành vốn riêng của sinh viên. Các BTHH được sử dụng khéo léo có thể dẫn sinh
viên đến những suy nghĩ về một hiện tượng mới, hoặc xây dựng những khái niệm,
công thức mới để giải thích tình huống do bài tập đề ra.
- Hệ thống hóa các kiến thức đã học


Mọi sự vật, hiện tượng, quá trình trong thế giới khách quan không tồn tại biệt
lập mà tồn tại trong một hệ thống, trong những mối quan hệ mật thiết với nhau. Việc
xây dựng hệ thống BTHH cần vận dụng quan điểm hệ thống - cấu trúc.
Thông qua việc giải BTHH mà việc ôn tập, hệ thống hóa kiến thức một cách
tích cực nhất. Trong các tiết ôn tập sinh viên cảm thấy thích thú hơn khi hoàn thiện các
BTHH thay vì chỉ nhắc lại các kiến thức đã học. Trong quá trình giải quyết các tình
huống do bài tập đặt ra, sinh viên phải nhớ lại kiến thức đã học, đào sâu khía cạnh nào
đó của kiến thức hoặc phải tổng hợp các kiến thức liên quan khác nhau để giải quyết
được vấn đề đặt ra.
- Thường xuyên rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo về hóa học
Trong quá trình giải các BTHH, sinh viên tự lực rèn luyện các kỹ năng hóa học
như cân bằng phương trình phản ứng, tính toán theo công thức hóa học, phương trình
hóa học, định luật trong hóa học… Nếu là các BTHH thực nghiệm, sinh viên sẽ được
rèn luyện các kỹ năng thực hành, góp phần giáo dục kĩ thuật tổng hợp cho người học
[19]. Vì vậy, BTHH sẽ là phương tiện rất tốt để phát triển tư duy, trí tưởng tượng, bồi
dưỡng hứng thú học tập và phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên, đặc biệt là
khi khám phá ra bản chất các hiện tượng hóa học được trình bày dưới dạng tình huống
có vấn đề.
Mỗi BTHH cụ thể tương ứng với một kĩ năng nhất định và đây là những kĩ năng
cơ bản, vì một bài tập không thể dàn trải cho mọi kĩ năng. Toàn bộ hệ thống gồm nhiều
BTHH sẽ hình thành hệ thống kĩ năng vận dụng toàn diện cho sinh viên. Trong hệ
thống BTHH có những loại bài tập được đầu tư nhiều hơn, vì chúng góp phần quan
trọng hơn vào việc hình thành và rèn luyện những kĩ năng liên quan đến nhiều hoạt
động giáo dục đặc biệt là kĩ năng vận dụng…
Giữa các BTHH trong hệ thống luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, BTHH
trước là cơ sở, nền tảng để thực hiện BTHH sau và BTHH sau là sự cụ thể hóa, là sự
phát triển và củng cố vững chắc hơn BTHH trước. Toàn bộ hệ thống BTHH đều nhằm


giúp sinh viên nắm vững kiến thức, hình thành và phát triển hệ thống kĩ năng cơ bản
[18].
Trong hệ thống BTHH có những bài tập nâng cao dùng để cho các đối tượng
khá, giỏi giúp giáo viên có thể phân loại sinh viên. Hệ thống BTHH khi được xây dựng
một cách đa dạng, phong phú sẽ giúp cho việc hình thành các kĩ năng cụ thể, chuyên
biệt một cách hiệu quả.
- Phát triển kĩ năng: So sánh, quy nạp, diễn dịch, phân tích, tổng hợp, loại suy,
khái quát hóa, …
Mỗi BTHH đều hướng vào một kỹ năng cơ bản xác định. Việc diễn tả câu trả lời
cho mỗi bài tập đòi hỏi sinh viên phải tư duy ở các mức độ phù hợp với yêu cầu bài
toán (khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh), từ đó phát triển các kĩ năng (so sánh, quy
nạp, diễn dịch, phân tích, tổng hợp, loại suy, khái quát hóa…). Giải BTHH không
những kiểm tra được mức độ chính xác của kiến thức mà còn nâng cao năng lực làm
việc độc lập của sinh viên.
Năng lực khái quát là khả năng sinh viên phát hiện những nét chung bản chất
nhất của nhiều vấn đề, nhiều đối tượng … để đưa vấn đề về một kiểu, dạng cụ thể.
Trong giải BTHH, năng lực khái quát hóa thể hiện khả năng sinh viên biết nhận dạng
BTHH, tìm ra phương pháp giải chung cho từng dạng BTHH.
- Giáo dục tư tưởng đạo đức
Để có được nền khoa học Hóa học ngày nay, lịch sử hóa học đã trải qua biết bao
cuộc thăng trầm, đấu tranh quyết liệt chống lại tư tưởng bảo thủ, lạc hậu. Nhờ dạy học
về BTHH, giáo viên có thể giới thiệu cho sinh viên biết được sự xuất hiện những tư
tưởng và quan điểm tiên tiến hiện đại, các phát minh làm thay đổi thế giới của các nhà
Hóa học. Tiếp xúc với các hiện tượng trong đời sống thực tế hàng ngày thông qua các
bài tập giúp sinh viên nhìn thấy khoa học Hóa học tồn tại xung quanh mình, qua đó
kích thích đam mê, hứng thú đối với bộ môn. Giải BTHH góp phần xây dựng một thế
giới quan duy vật biện chứng, làm cho sinh viên hiểu rõ thế giới tự nhiên là vật chất,


vật chất luôn ở trạng thái vận động, con người tin vào sức mạnh của mình, muốn đem
tài năng và trí tuệ của mình để cải tạo thế giới. Thường xuyên giải BTHH giúp sinh viên
rèn luyện đức tính chính xác, kiên nhẫn, trung thực và lòng say mê khoa học Hóa học.
Ngoài ra, BTHH thực nghiệm còn có tác dụng rèn luyện văn hóa lao động (lao động có
tổ chức, có kế hoạch, gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ nơi làm việc) [17].
- Giáo dục kĩ năng tổng hợp
BTHH tạo điều kiện tốt nhất cho giáo viên làm nhiệm vụ giáo dục kĩ thuật tổng
hợp cho sinh viên, là phương tiện thuận lợi để liên hệ lí thuyết với thực hành, học tập
với các hiện tượng của đời sống, vận dụng kiến thức đã học vào thực tế sản xuất và
cuộc sống.
BTHH chứa đựng những vấn đề kĩ thuật của nền sản xuất hóa học trong việc sản
xuất vật chất phục vụ cuộc sống hiện tại và việc chế tạo các vật liệu mới làm cho cuộc
sống ngày càng tươi đẹp hơn, cuốn sinh viên theo những suy nghĩ về các vấn đề của kĩ
thuật. Ngoài ra trong BTHH còn chứa đựng những số liệu kĩ thuật, những số liệu mới
về phát minh, về năng suất lao động, sản lượng của của ngành Hóa học giúp sinh viên
hòa nhập với sự phát triển của khoa học, kĩ thuật thời đại mà chúng ta đang sống.
1.2.3. Phân loại bài tập hóa học
Có nhiều cách phân loại BTHH, mỗi cách phân loại dựa trên một tiêu thức và có
một ý nghĩa ứng dụng nhất định.
a. Phân loại theo nội dung
Bài tập Hóa học được phân chia thành:
- Bài tập định tính: là các dạng bài tập nhận thức mà khi giải sinh viên không
cần thực hiện các phép tính phức tạp mà phải sử dụng các pháp suy luận lôgic trên cơ
sở hiểu rõ bản chất của các khái niệm, định luật để quan sát giải thích các hiện tượng
hóa học, quá trình điều chế các chất, xác định thành phần hóa học các chất, tách, phân
biệt các chất trong hỗn hợp.


- Bài tập định lượng: là dạng bài tập cần sử dụng các kĩ năng toán học kết hợp
với các kiến thức hóa học về các chất để giải quyết.
- Bài tập thực nghiệm: là dạng bài tập cần vận dụng các kĩ năng như:
+ Quan sát, giải thích, mô tả các hiện tượng thí nghiệm.
+ Thực hiện các thí nghiệm nghiên cứu tính chất của các chất đã biết và chứng
minh các định luật hóa học đã được công nhận.
+ Điều chế, nhận biết, tách các chất.
- Bài tập tổng hợp: là dạng bài tập có cả hai yếu tố định tính và định lượng trong
quá trình giải quyết bài toán.
- Bài tập gắn với thực tiễn: là dạng bài tập mà nội dung chứa đựng những điều
kiện, yêu cầu xuất phát từ thực tiễn đời sống. Giải bài tập này không chỉ giúp sinh viên
giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra mà còn giúp sinh viên vận dụng kiến thức đã
học vào đời sống và sản xuất.
b. Phân loại theo hình thức
- Bài tập tự luận: là loại bài tập khi làm bài, sinh viên phải tự viết câu trả lời,
phải tự trình bày, lí giải, chứng minh bằng ngôn ngữ của mình [19].
- Bài tập trắc nghiệm khách quan (thường quen gọi là bài tập trắc nghiệm): là
loại bài tập mà khi làm bài sinh viên chỉ chọn một phương án trong số các phương án
đã được cung cấp. Khi làm bài tập sinh viên phải lựa chọn một câu trả lời đúng, hoặc
điền khuyết những cụm từ, những câu trả lời ngắn hay ghép đôi các ý kiến.
c. Phân loại theo mức độ nhận thức và tư duy
Có thể phân loại bài tập Hóa học ở các mức độ : Nhận biết - Thông hiểu - Vận
dụng - Vận dụng cao.
- Mức độ nhận biết: BTHH ở mức độ này chỉ yêu cầu nhận biết, tái hiện lại kiến
thức đã học một cách máy móc. Sinh viên sử dụng các kiến thức đã học trả lời dễ dàng
các BTHH này thông qua các thao tác tư duy cụ thể, bắt chước theo mẫu.


- Mức độ thông hiểu: BTHH ở mức độ này yêu cầu phản ánh đúng bản chất, ý
nghĩa kiến thức đã học (giải thích được nội dung kiến thức, diễn đạt khái niệm theo sự
hiểu biết mới của mình). Sinh viên chỉ cần nhớ lại các kiến thức đã học, thông qua các
thao tác tư duy đơn giản để trả lời một cách sáng tạo, không còn bắt chước máy móc.
- Mức độ vận dụng: BTHH ở mức độ này yêu cầu khả năng sử dụng thông tin và
biến đổi kiến thức từ dạng này sang dạng khác, vận dụng kiến thức trong tình huống
tương tự. Sinh viên phải áp dụng được các kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề
tương tự trong cùng phạm vi nhưng đã bị thay đổi, biến đổi một phần bằng cách phối
hợp các thao tác tư duy sao cho phù hợp.
- Mức độ vận dụng cao: BTHH ở mức độ này yêu cầu sử dụng các kiến thức đã
có, nghiên cứu có hệ thống và bao quát một tình huống bằng những tiêu chí riêng, vận
dụng vào tình huống mới với cách giải quyết mới, linh hoạt, độc đáo, hữu hiệu. Sinh
viên phải tự mình tái hiện kiến thức một cách đầy đủ, chính xác và nhanh chóng, kết
hợp các thao tác tư duy một cách sáng tạo để giải quyết các vấn đề hoàn toàn mới. Loại
bài tập này thường dành riêng cho sinh viên khá, giỏi, có tư duy nhanh nhạy.
Trên thực tế còn nhiều cơ sở để phân loại BTHH, song sự phân loại chỉ mang
tính tương đối vì mỗi cách phân loại không có ranh giới rõ rệt, tùy theo mỗi tiêu thức
phân loại mà ta có các dạng BTHH khác nhau.
1.2.4. Vận dụng kiến thức để giải bài tập hóa học
Vận dụng kiến thức đã học để giải BTHH là khả năng của bản thân sinh viên tự
giải quyết những vấn đề gặp phải một cách nhanh chóng và hiệu quả bằng cách áp
dụng những kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm đã có của bản thân vào các tình huống cụ
thể. Năng lực này thể hiện phẩm chất, nhân cách con người trong quá trình hoạt động
của tư duy để thỏa mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri thức.
Năng lực vận dụng kiến thức để giải bài tập hóa học được bộc lộ qua:
- Khả năng tiếp cận, nhận thức, phát hiện vấn đề và tìm cách giải quyết vấn đề.
- Tổng hợp thông tin: thu thập, xử lí thông tin, nêu được phương hướng giải
quyết vấn đề đó.


- Dự đoán, kiểm tra, đưa ra biện pháp:
- Dự đoán hiện tượng xảy ra, kiểm tra được kiến thức lí thuyết đã học và đưa
rakết luận.
+ Đưa ra phương pháp giải BT mới dựa trên những kiến thức đã học.
Vai trò của việc vận dụng kiến thức để giải BTHH:
- Vận dụng kiến thức để giải BTHH là khâu quan trọng nhất của quá trình nhận
thức và học tập, là giai đoạn kiểm tra hiểu quả của quá trình giảng dạy cũng như khả
năng tổng hợp kiến thức của sinh viên .
- Vận dụng kiến thức góp phần phát triển năng lực tổng hợp của sinh viên: khi
vận dụng kiến thức đòi hỏi phải có khả năng phân tích, tổng hợp những kiến thức đã có
để tìm ra những thông tin phù hợp để giải quyết vấn đề.
- Vận dụng kiến thức để giải BTHH góp phần phát triển tư duy.
Sinh viên sẽ nắm chắc kiến thức hóa học khi họ hình thành được các kĩ năng, kĩ
xảo vận dụng và chiếm lĩnh kiến thức qua nhiều hình thức luyện tập khác nhau. BTHH
được sử dụng nhằm mục đích luyện tập hỗ trợ sinh viên vận dụng kiến thức giải BTHH
dưới nhiều hình thức khác nhau làm kiến thức được củng cố vững chắc hơn.
1.2.5. Xu hướng phát triển của bài tập hóa học hiện nay
Trong những năm gần đây bộ Giáo dục và Đào tạo đã có những cải cách lớn
trong toàn ngành giáo dục nói chung và đặc biệt là trong việc nâng cao chất lượng dạy
và học một cách toàn diện. Nội dung dạy học được thay đổi một cách hợp lý vừa đảm
bảo cung cấp đầy đủ các kiến thức trọng tâm, vừa được sắp xếp một cách có hệ thống
tạo điều kiện thuận lợi để phát triển năng lực sinh viên, đặc biệt là năng lực nhận thức
và tư duy. Chương trình được xây dựng vừa đảm bảo tính khoa học (cơ bản, hiện đại),
vừa kế thừa và phát triển nội dung các môn học ở cấp dưới theo cấu trúc đồng tâm kết
hợp cấu trúc tuyến tính nhằm mở rộng và nâng cao kiến thức, kĩ năng cho sinh viên.
Chương trình môn học vận dụng các phương pháp giáo dục tích cực hoá hoạt động của
sinh viên, nhằm khơi gợi hứng thú, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của sinh
viên, tăng cường các hoạt động trải nghiệm, rèn luyện kĩ năng cho sinh viên. Cách


đánh giá kết quả giáo dục cũng được đổi mới để hỗ trợ việc phát triển phẩm chất và
năng lực cho sinh viên. Điểm mới quan trọng nhất trong Chương trình môn Hoá học là
định hướng tăng cường bản chất hoá học của đối tượng; giảm bớt và hạn chế các nội
dung phải ghi nhớ máy móc cũng như phải tính toán theo kiểu “toán học hoá” ít đi vào
bản chất hoá học và gắn với thực tiễn [20]. Định hướng đổi mới giúp sinh viên hình
thành thái độ học tập đúng đắn, phương pháp học tập chủ động, tích cực, sáng tạo, lòng
ham học, ham hiểu biết, năng lực tự học, năng lực vận dụng kiến thức vào cuộc sống.
Xu hướng phát triển của BTHH hiện nay chú trọng đến rèn luyện khả năng vận
dụng kiến thức, phát triển khả năng tư duy hóa học của sinh viên:
- Loại bỏ những bài tập có nội dung hóa học nghèo nàn nhưng lại cần đếnnhững
thuật toán phức tạp để giải (hệ nhiều ẩn nhiều phương trình, bất phương trình, phương
trình bậc 2, cấp số cộng, cấp số nhân…).
- Loại bỏ những bài tập có nội dung lắt léo, giả định rắc rối, phức tạp, xa rời
hoặc phi thực tiễn hóa học.
- Tăng cường sử dụng bài thực nghiệm.
- Tăng cường sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan.
- Xây dụng bài tập mới về bảo vệ môi trường và phòng chống ma túy.
- Xây dựng bài tập mới để rèn luyện cho học sinh năng lực phát hiện vấn đề và
giải quyết vấn đề.
- Đa dạng hóa các loại hình bài tập như bài tập bằng hình vẽ, bài tập vẽ đồ thị,
sơ đồ, bài tập lắp dụng cụ thí nghiệm…
- Xây dựng những bài tập có nội dung hóa học phong phú, sâu sắc, phần tính
toán đơn giản nhẹ nhàng.
- Xây dựng và tăng cường sử dụng bài tập thực nghiệm định lượng [19].


CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG BÀI TẬP
2.1. Bài tập chương 2: Cấu tạo nguyên tử và hệ thống tuần hoàn.
2.1.1. Bài tập về hạt nhân nguyên tử
Dạng 1: Bài tập về đồng vị
Công thức tính nguyên tử khối trung bình: M 

M1x1  M2 x 2  ...  M n x n
x1  x2  ...  x n

Trong đó: M1, M2,... Mn là số khối của các đồng vị.
x1, x2,…xn là số đồng vị, tỉ lệ số đồng vị, phần trăm số đồng vị.
Bài 1: Người ta biết rằng nguyên tử Ar tồn tại 3 loại đồng vị khác nhau ứng với các số
khối 36, 38 và A. Phần trăm số nguyên tử tương ứng của 3 đồng vị đó lần lượt bằng
0,34%; 0,06% và 99,6%. Nguyên tử khối chiếm bởi 125 nguyên tử Ar là 4997,5. Hãy:
a. Tính nguyên tử khối trung bình của Ar.
b. Xác định số khối A của đồng vị thứ 3.
Đáp án: a. M= 39,98

b. A  40.

Bài 2: Nguyên tử Mg thường có 3 đồng vị khác nhau ứng với các thành phần:
Đồ
ng
a. Tính nguyên tử khối trung bình của Mg.
b. Nếu giả sử trong hỗn hợp đồng vị nói trên có 50 nguyên tử

25

Mg , thì số nguyên

tử tương ứng với hai đồng vị còn lại là bao nhiêu?
Đáp án: a. MMg = 24,33

b. 389 nguyên tử

Bài 3: Ở trạng thái tự nhiên, cacbon chứa 2 đồng vị là

24

Mg và 56 nguyên tử

12

C và

13

26

Mg .

C với nguyên tử khối

tương ứng bằng 12,0000 và 13,0034. Biết rằng C tự nhiên có nguyên tử khối trung bình
bằng 12,0111. Hãy tính thành phần phần trăm của mỗi đồng vị.
Đáp án: % 13 C  1,109%;

12

% C  98,891%

Bài 4: Biết tổng số các hạt của nguyên tố X là 126, trong đó số nơtron nhiều hơn số
electron là 12 hạt.


a. Tính số proton và số khối A của X.
b. Người ta lại biết nguyên tố R có 3 đồng vị X, Y, Z. Số khối của X bằng trung
bình cộng số khối của Y và Z. Hiệu số nơtron của Y và Z gấp 2 lần số proton
của hiđro. Hãy xác định số khối của Y và Z.
Giải:
2p   126
p  e  38
 
a. Ta có hệ phương trình: n

 n - p  12
 n  50

Vậy số proton của X là p = 38
Số khối của X là A = p + n = 38 + 50 = 88
b. Ta có hệ phương trình:

X A



AY +A

= 88

Z

 AY

 89

2

A - A = 2
 Y
Z


A Z


87

Bài 5: Bốn dạng đồng vị của nguyên tố X có đặc điểm sau:
- Tổng số khối của bốn đồng vị là 825.
- Tổng số nơtron của đồng vị thứ 3 và thứ 4 lớn hơn số nơtron của đồng vị thứ
nhất 121 hạt.
- Hiệu số số khối đồng vị thứ 2 và thứ 4 nhỏ hơn hiệu số số khối đồng vị thứ nhất
và thứ 3 là 5 đơn vị.
- Tổng số các hạt của đồng vị thứ nhất và thứ 4 lớn hơn tổng số các hạt không
mang điện của đồng vị thứ 2 và thứ 3 là 333.
- Số khối của đồng vị thứ 4 bằng 33,5% tổng số khối của 3 đồng vị kia.
Từ các dữ liệu trên, hãy xác định số khối của khối của 4 đồng vị và điện tích hạt
nhân của nguyên tử X.
Đáp án: Z  82; A1  208; A 2  206; A3  204; A 4  207
Bài 6: Hiđro có 2 đồng vị tồn tại trong tự nhiên là 1 H > 99 % và 2 H < 1 %.
Clo có 2 đồng vị tồn tại trong tự nhiên là 35 Cl 76 % và 37 Cl 24 %.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×