Tải bản đầy đủ

BAI THU HOACH TCCT- HÒA GIẢI CO SO 2019

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Hoà giải cơ sở là hoạt động đã góp phần ngăn chặn kịp thời các mâu thuẫn phát
sinh từ cơ sở, giữ gìn sự đoàn kết, gắn bó trong địa bàn dân cư, đảm bảo an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Cá nhân tổ chức tiết kiệm được kinh
phí, hạn chế việc khiếu kiện lên các cơ quan có thẩm quyền. Có được kết quả như vậy
là nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ đảng, chính quyền và nhận thức
đúng đắn về vai trò của công tác hoà giải của các ban ngành đoàn thể địa phương.
Đặc biệt là sự phối kết hợp giữa Mặt trận và các tổ chức thành viên trong quá trình
xây dựng, củng cố kiện toàn tổ chức hoà giải và thuờng xuyên tổ chức các lớp tập
huấn, bồi dưỡng kỹ năng, hướng dẫn nghiệp vụ cho đội ngũ hòa giải viên cơ sở. Bên
cạnh đó, sự nỗ lực, cố gắng của cán bộ tư pháp xã, đặc biệt là đông đảo lực lượng hoà
giải viên với tinh thần tự nguyện, không vì lợi ích cá nhân, tích cực, chủ động đã tạo
nên thành công chung cho công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn xã.
Công tác hòa giải cơ sở đã thực sự trở thành hoạt động gắn liền với đời sống
sinh hoạt của cộng đồng dân cư ở các thôn, bản, làng, góp phần đem lại đời sống ấm
no, hạnh phúc cho người dân. Chính vì vậy em chọn nội dung: “ Hòa giải cơ sở” của
xã Tà Chải, Na Hối và xã Cốc Lầu để làm báo cáo nghiên cứu thực tế lớp Trung
cấp lý luận Chính trị- hành chính A01- 2017.
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Hòa giải cơ sở của xã Tà Chải, Na Hối và Cốc Lầu của

huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai từ năm 2017- đến nay.
Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: Tổ chức, hoạt đông hòa giải cơ sở.
- Địa điểm: Xã Tà Chải, Na Hối, Cố Lầu của huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai
- Thời gian: Từ năm 2017 đến nay.

1


NỘI DUNG
1. KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA XÃ TÀ CHẢI, NA HỐI
VÀ XÃ CỐC LẦU
1.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Tà Chải, huyện
Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.
Tà Chải là một xã nằm gần trung tâm kinh tế chính trị huyện Bắc Hà với tổng
diện tích tự nhiên 517,47 ha với tổng số 726 hộ, 2.984 nhân khẩu gồm 10 dân tộc anh
em cùng chung sống trên 9 thôn bản trong đó dân tộc Tày chiếm phần đông, còn lại là
các dân tộc khác như: Kinh, Hmông, Nùng, Dao, Thu lao, phù lá, xa phó...
Trong năm 2017 việc lãnh chỉ đạo kết quả triển khai thực hiện kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội ở địa phương cũng còn gặp những thuận lợi, khó khăn đó là:
Thuận lợi:
Luôn được sự quan tâm lãnh chỉ đạo thường xuyên của Huyện uỷ - HĐND UBND huyện Bắc Hà và sự chỉ đạo trực tiếp của BTV - BCH Đảng uỷ sự giám sát
chặt chẽ của HĐND thông qua các Nghị quyết, chương trình hành động và sự điều
hành trực tiếp có hiệu quả của UBND xã. Bên cạnh đó còn có sự đoàn kết thống nhất
của tập thể TT Đảng ủy, HĐND, UBND, sự đồng tình ủng hộ của nhân dân các dân
tộc trên địa bàn, đã tạo động lực thúc đẩy phát triển toàn diện các chỉ tiêu kế hoạch
nhà nước giao trong năm 2017.
Khó khăn:
Diện tích đất đai sản xuất nông nghiệp dần bị thu hẹp do GPMB để xây dựng
các công trình trọng điểm của huyện, do vậy cũng phần nào ảnh hưởng đến phát triển
kinh tế - xã hội và đời sống của nhân dân.
Một số ít bà con nhân dân vẫn còn có tư tưởng trông chờ, ỉ lại vào sự đầu tư,
hỗ trợ của Nhà nước, chưa có ý thức tự vươn lên.
1.2. Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Na Hối, huyện
Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.
Na Hối là xã đặc biệt khó khăn thuộc diện được thụ hưởng chương trình 30a của
Chính phủ, nằm giáp trung tâm huyện lỵ 2,5 km, thường xuyên được sự quan tâm chỉ
đạo sát sao của HĐND và UBND huyện, sự giúp đỡ của các ban ngành chức năng
2


huyện. Việc nắm bắt thông tin, giao lưu kinh tế, văn hoá xã hội thường xuyên được
cập nhật qua các kênh thông tin truyền thanh, truyền hình. Thuận lợi cho công tác
chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi như các loại giống mới: lúa, ngô, …có năng
xuất cao.
Thuận lợi:
Có tiềm năng phong phú và đa dạng về tài nguyên đất đai, khí hậu mát mẻ.
Tổng Có tổng diện tích tự nhiên là 2375,11 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là
1364,54ha, đất lâm nghiệp 651,78 ha. Đất chưa sử dụng 237,59 ha….., chủ yếu là đồi
cao, núi đá vôi. Có 955 hộ và 4.212 nhân khẩu sinh sống trên 15 thôn bản. Đảng bộ
xã có 188 Đảng viên sinh hoạt ở 20 chi bộ trực thuộc trong đó 15 chi bộ nông thôn, 4
chi bộ nhà trường; 01 chi bộ trạm y tế. 100% Chi bộ nông thôn là Chi bộ độc lập.
Ngoài ra, xã Na Hối còn có nguồn lao động dồi dào với những truyền thống văn hoá,
lịch sử lâu đời.
Khó khăn:
Xã Na Hối là xã nằm giáp thị trấn nhưng vẫn là một xã đặc biệt khó khăn của
huyện.
Do trình độ nhận thức của bà con cũng như trình độ dân trí không đồng đều,
phong tục tập quán còn nhiều lạc hậu. Một số bà con nhân dân ở thôn vùng cao còn
chưa nói và hiểu được hết tiếng phổ thông từ đó dẫn tới công tác tuyên truyền vận
động gặp nhiều khó khăn.
Nền sản xuất còn mang tính tự cung tự cấp. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng,
vật nuôi vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ có thể bùng phát.
Địa bàn xã rộng, địa hình phức tạp: bị chia cắt bởi nhiều khe suối và dốc. Giao
thông đi lại khó khăn dân cư không tập trung. Thời tiết, khí hậu diễn biến phức tạp,
khó lường như rét đậm, rét hại, hạn hán kéo dài... ảnh hưởng đến phát triển KT-XH
của xã.
Trình độ năng lực của một số cán bộ còn chưa đáp ứng được yêu cầu công việc.
Tình hình an ninh, chính trị, trật tự ATXH trên địa bàn xã còn tiềm ẩn nguy cơ phức
tạp như xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc làm thuê.

3


1.3. Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Cốc Lầu, huyện
Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.
Cốc Lầu là một xã vùng 3 có tổng diện tích tự nhiên 3.688,56 ha. 621 hộ, 2.886
khẩu, trong đó nam = 1.479, nữ = 1.407, lao động trong độ tuổi lao động 1.340. Gồm
9 dân tộc anh em sống sen kẽ trên 10 thôn bản. Đảng bộ có 171 đảng viên, sinh hoạt
ở 14 chi bộ trực thuộc ( 4 chi bộ cơ quan nhà trường, Y tế và 10/10 thôn bản có chi bộ
độc lập)
Tình hình cán bộ, đảng viên và nhân dân trên địa bàn xã luôn có tư tưởng vững
vàng, chấp hành tốt đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và các
quy định của địa phương, an ninh chính trị, trật tư an toàn xã hội luôn được giữ vững,
nhân dân luôn đoàn kết, thi đua lao động sản xuất, các chỉ tiêu nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội hàng năm đều đạt và vượt theo nghị quyết Đảng ủy, HĐND đó đề ra.
Đảng bộ luôn quan tâm đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các chủ trương
chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước, tuyên truyền chỉ thị, nghị quyết của
Đảng các cấp tới cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc trên địa bàn.
Thuận lợi:
Được sự chỉ đạo sát sao của TT- Huyện ủy, UBND huyện, các phòng ban
chuyên môn của huyện. Sự đoàn kết thống nhất của cán bộ, đảng viên, nhân dân các
dân tộc trên địa bàn, sự quan tâm đầu tư của nhà nước như: Đường, trường, trạm,
điện, thủy lợi và các chương trình hỗ trợ sản xuất, hỗ trợ hộ nghèo, hỗ trợ học tập cho
học sinh, Chương trình nông thôn mới … phát huy được hiệu quả, do vậy đời sống
vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng lên, đó là những điều kiện thuận lợi cho
Đảng ủy lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ trong năm mà nghị quyết đại hội đã đề
ra.
Khó khăn:
Tuy đã đạt được những thuận lợi trên, xong vẫn còn khó khăn vưỡng mắc đó
là: Địa bàn rộng, giao thông đi lại giữa các thôn vẫn còn khó khăn trong mùa mưa,
còn 7/10 thôn chưa có điện lưới, trình độ năng lực của một số đảng viên nông thôn
còn hạn chế, một số ít hộ dân chưa có ý thức vươn lên làm giàu, không muốn thoát
nghèo. Tỷ lệ Hộ nghèo 296 hộ, đạt 47,66% cận nghèo 18 hộ.
4


2. THƯC TRẠNG VỀ HÒA GIẢI CƠ SỞ Ở CỦA XÃ TÀ CHẢI, NA HỐI
VÀ XÃ CỐC LẦU
1. Tình hình hoạt động hòa giải cơ sở của xã Tà Chải, Na Hối và xã Cốc Lầu
huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai
- Cơ cấu tổ chức, hoạt động hòa giải cơ sở năm 2017 đến nay của xã Tà Chải
tổng số tổ hòa giải: 09/09 thôn bản, tổng số hòa giải viên: 45, nam: 30, nữ: 15. Dân
tộc kinh: 10, dân tộc khác: 35. Số hòa giải viên được đào tạo, bồi dưỡng: 08, chưa
đào tạo qua luật: 45. Tổng số tổ trên thôn bản chiếm 100%, tổng số nam chiếm
66,6%, nữ chiếm 33,4%, dân tộc khác chiến 77,8%, dân tộc kinh chiếm 22,2%, qua
bồi dưỡng nghiệp vụ: 1.78%, chưa qua bồi dưỡng chiếm: 84,3%.

Tổn

Chia theo

g số

giới tính

tổ

Tổng

hòa

số

Nam

Nữ

Hòa giải viên
Chia theo
dân tộc

Kinh

Khá

giải
1
09

2
45

3
30

4
15

5
10

c
6
35

Chuyê
n môn
luật

7
X

Chưa
qua đào

Số hòa giải

tạo

viên được

chuyên

bồi dưỡng

môn

nghiệp vụ

luật
8
45

9
8

Biểu tình hình tổ chức, cán bộ tổ hòa giải của xã Tả Chải

Tổng số vụ việc tiếp nhận hòa giải(bao gồm số vụ chưa giải hòa kỳ trước chuyển
sang) 09 vụ, hòa giải thành 08, không hòa giải thành là 01.
Tổng số vụ
1
09 vụ

Hòa giải thành
2
08 vụ(tranh chấp
đất đai)

Hòa giải không thành
3
01 vụ(hôn nhân- gia đình)

Kết quả hoạt động của các tổ hòa giả của xã Tà Chải

- Cơ cấu tổ chức, hoạt động hòa giải cơ sở năm 2017 đến nay của xã Na Hối,
tổng số tổ: 15/15 thôn bản, tổng số hòa giải viên: 88, nam: 53, nữ: 35. Dân tộc kinh:
19, dân tộc khác: 69. Số hòa giải viên được đào tạo, bồi dưỡng: 37, chưa đào tạo qua
luật: 88. Tổng số tổ trên thôn bản chiếm 100%, tổng số nam chiếm 60.0%, nữ chiếm
5


40,0%, dân tộc khác chiến 78,0%, dân tộc kinh chiếm 22,0%, qua bồi dưỡng nghiệp
vụ: 42,0%, chưa qua bồi dưỡng chiếm: 58,0%.

Tổn

Chia theo

g số

giới tính

tổ

Tổng

hòa

số

Nam

Nữ

Hòa giải viên
Chia theo
dân tộc

Kinh

giải
1
15

2
88

3
53

4
35

5
19

Khá
c
6
69

Chưa

Chuyê
n môn
luật

7
X

qua đào

Số hòa giải

tạo

viên được

chuyên

bồi dưỡng

môn

nghiệp vụ

luật
8
88

9
37

Biểu tình hình tổ chức, cán bộ tổ hòa giải của xã Na Hối

Tổng số vụ việc tiếp nhận hòa giải(bao gồm số vụ chưa giải hòa kỳ trước chuyển
sang) 19 vụ, hòa giải thành16 vụ , không hòa giải thành là 03 vụ.
Tổng số vụ
1

19 vụ

Hòa giải thành
2
16 vụ(11 vụ tranh

Hòa giải không thành
3

chấp đất đai, 3 vụ

03 vụ(1 vụ hôn nhân- gia đình, 02

xích mích nhỏ, 2vụ

tranh chấp đất đai)

hôn nhân- gia đình)
Kết quả hoạt động của các tổ hòa giả của xã Na Hối

- Cơ cấu tổ chức, hoạt động hòa giải cơ sở năm 2017 đến nay của xã Cốc Lầu,
tổng số tổ: 10/10 thôn bản chiếm 100%, tổng số hòa giải viên: 58, nam: 42 chiếm
72,0%, nữ: 16 chiếm 28,0%,. Dân tộc kinh: 13 chiếm 22,5%, dân tộc khác: 45 chiến
77,5%. Số hòa giải viên được đào tạo, bồi dưỡng: 18 chiếm 31,0%, chưa đào tạo qua
luật: 58. Chưa qua bồi dưỡng chiếm: 69,0%.
Tổn
Tổng

Chia theo

Hòa giải viên
Chia theo
Chuyê

Chưa

Số hòa giải
6


giới tính
số

g số

Nam

Nữ

dân tộc

Kinh

Khá
c

tổ
hòa
1
10

2
58

3
42

4
16

5
11

6
47

qua đào
n môn
luật

7
X

tạo

viên được

chuyên

bồi dưỡng

môn

nghiệp vụ

luật
8
58

9
23

Biểu tình hình tổ chức, cán bộ tổ hòa giải của xã Cốc Lầu

Tổng số vụ việc tiếp nhận hòa giải(bao gồm số vụ chưa giải hòa kỳ trước chuyển
sang) 12 vụ, hòa giải thành16 vụ , không hòa giải thành là 02 vụ.
Tổng số
vụ
1
12 vụ

Hòa giải thành

Hòa giải không thành

2
10 vụ(7 vụ tranh chấp đất đai, 2 vụ

3
02 vụ(1 vụ hôn nhân- gia

xích mích nhỏ, 1vụ hôn nhân- gia

đình, 01 tranh chấp đất

đình)

đai)

Kết quả hoạt động của các tổ hòa giả của xã Cố Lầu

Tổ chức, hoạt động hòa giải cơ sở của Tà Chải, Na Hối và xã Côc Lầu trong
việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ quền hạn theo quy định của Luật hòa giải cơ sở
từ năm 2017 đến nay:
- Tôn trọng sự tự nguyện của các bên; không bắt buộc, áp đặt các bên trong hòa
giải ở cơ sở.
- Bảo đảm phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội,
phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân; phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp
đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ và cộng đồng dân cư; quan
tâm đến quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật và người cao
tuổi.
- Khách quan, công bằng, kịp thời, có lý, có tình; giữ bí mật thông tin đời tư của
các bên, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 10 của Luật hòa giải ở
cơ sở.
7


- Tôn trọng ý chí, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, quyền và lợi ích hợp
pháp của người khác; không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng.
- Bảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở.
- Không lợi dụng hòa giải ở cơ sở để ngăn cản các bên liên quan bảo vệ quyền
lợi của mình theo quy định của pháp luật hoặc trốn tránh việc xử lý vi phạm hành
chính, xử lý về hình sự.
Chính sách của Nhà nước về hòa giải ở cơ sở:
Khuyến khích các bên giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp bằng hình thức hòa giải
ở cơ sở và các hình thức hòa giải thích hợp khác. Khuyến khích những người có uy
tín trong gia đình, dòng họ, cộng đồng dân cư tham gia hòa giải ở cơ sở và tham gia
các hình thức hòa giải thích hợp khác. Phát huy vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong công tác hòa giải ở cơ sở. Tạo
điều kiện, hỗ trợ cho hoạt động hòa giải ở cơ sở; khuyến khích tổ chức, cá nhân đóng
góp, hỗ trợ cho hoạt động hòa giải ở cơ sở (Điều 5).
Nhà nước hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở để biên soạn, phát hành tài
liệu; tổ chức bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ, kỹ năng về hòa giải ở cơ sở; sơ kết, tổng
kết, khen thưởng đối với công tác hòa giải ở cơ sở; chi thù lao cho hòa giải viên theo vụ,
việc và hỗ trợ các chi phí cần thiết khác cho hoạt động hòa giải ở cơ sở. Ngân sách
trung ương chi bổ sung cho các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách để hỗ trợ
kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở (Điều 6).
Hòa giải viên:
- Tiêu chuẩn hòa giải viên
Người được bầu làm hòa giải viên phải là công dân Việt Nam thường trú tại cơ
sở, tự nguyện tham gia hoạt động hòa giải và có các tiêu chuẩn: i) Có phẩm chất đạo
đức tốt; có uy tín trong cộng đồng dân cư; ii) Có khả năng thuyết phục, vận động
nhân dân; có hiểu biết pháp luật (Điều 7).
- Bầu, công nhận hòa giải viên:

8


Người có đủ tiêu chuẩn hòa giải viên có quyền ứng cử hoặc được Ban công tác
Mặt trận phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận giới thiệu vào danh sách
bầu hòa giải viên. Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì, phối hợp với trưởng thôn, tổ
trưởng tổ dân phố tổ chức bầu hòa giải viên ở thôn, tổ dân phố bằng một trong các
hình thức: i) Biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín tại cuộc họp đại diện các hộ gia
đình; ii) Phát phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình.
Người được đề nghị công nhận là hòa giải viên phải đạt trên 50% đại diện hộ
gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý. Trường hợp số người đạt trên 50% đại diện hộ
gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý nhiều hơn số lượng hòa giải viên được Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định thì danh sách người được đề nghị công nhận
lấy theo kết quả bỏ phiếu từ cao xuống thấp. Trường hợp số người được bầu không
đủ để thành lập tổ hòa giải thì tổ chức bầu bổ sung cho đủ số lượng. Trưởng ban công
tác Mặt trận lập danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên gửi Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công
nhận hòa giải viên. Quyết định công nhận hòa giải viên được gửi cho Ban thường
trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Trưởng ban công tác Mặt trận,
trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, hòa giải viên và thông báo công khai ở thôn, tổ dân
phố (Điều 8).
- Quyền và nghĩa vụ của hòa giải viên
Hòa giải viên có các quyền: i) Thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở; ii) Đề nghị
các bên có liên quan cung cấp tài liệu, thông tin liên quan đến vụ, việc hòa giải; iii)
Tham gia sinh hoạt, thảo luận và quyết định nội dung, phương thức hoạt động của tổ
hòa giải; iv) Được bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ và kỹ năng hòa giải;
được cung cấp tài liệu liên quan đến hoạt động hòa giải; v) Hưởng thù lao theo vụ,
việc khi thực hiện hòa giải; vi) Được khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi
đua, khen thưởng; vii) Được hỗ trợ, tạo điều kiện để khắc phục hậu quả nếu gặp tai
nạn hoặc rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng trong khi thực hiện hoạt động hòa
giải; viii) Kiến nghị, đề xuất về các vấn đề liên quan đến hoạt động hòa giải (Điều 9).

9


Hòa giải viên có các nghĩa vụ: i) Thực hiện hòa giải khi có căn cứ hòa giải; ii)
Tuân thủ các nguyên tắc tổ chức, hoạt động hòa giải ở cơ sở; iii) Từ chối tiến hành
hòa giải nếu bản thân có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ, việc hòa giải hoặc vì
lý do khác dẫn đến không thể bảo đảm khách quan, công bằng trong hòa giải; iv)
Thông báo kịp thời cho tổ trưởng tổ hòa giải để báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp xã có biện pháp phòng ngừa khi thấy mâu thuẫn, tranh chấp nghiêm trọng có thể
dẫn đến hành vi bạo lực gây ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính mạng của các bên hoặc
gây mất trật tự công cộng; v) Thông báo kịp thời cho tổ trưởng tổ hòa giải để báo cáo
cơ quan có thẩm quyền xử lý trong trường hợp phát hiện mâu thuẫn, tranh chấp có
dấu hiệu vi phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc pháp luật về hình sự
(Điều 10).
- Thôi làm hòa giải viên
Các trường hợp được thôi làm hòa giải viên: i) Theo nguyện vọng của hòa giải
viên; ii) Hòa giải viên không còn đáp ứng một trong các tiêu chuẩn hòa giải viên; iii)
Vi phạm nguyên tắc tổ chức, hoạt động hòa giải ở cơ sở hoặc không có điều kiện tiếp
tục làm hòa giải viên do bị xử lý vi phạm pháp luật.
Trường hợp thôi làm hòa giải viên, tổ trưởng tổ hòa giải đề nghị Trưởng ban
công tác Mặt trận phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố làm văn bản đề nghị
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định thôi làm hòa giải viên. Trường hợp
thôi làm hòa giải viên đối với tổ trưởng tổ hòa giải thì Trưởng ban công tác Mặt trận
phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố làm văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp xã ra quyết định thôi làm hòa giải viên. Quyết định thôi làm hòa giải
viên được gửi Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Trưởng
ban công tác Mặt trận, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, hòa giải viên và thông báo
công khai ở thôn, tổ dân phố.
Tổ hòa giải:
- Về cơ cấu: Tổ hòa giải có tổ trưởng và các hòa giải viên. Mỗi tổ hòa giải có từ
03 hòa giải viên trở lên, trong đó có hòa giải viên nữ. Đối với vùng có nhiều đồng
bào dân tộc thiểu số, tổ hòa giải phải có hòa giải viên là người dân tộc thiểu số. Chủ
10


tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định số lượng tổ hòa giải, hòa giải viên trong một
tổ hòa giải căn cứ vào đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội, dân số của địa phương và
đề nghị của Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã.
Hằng năm, Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì phối hợp với tổ trưởng tổ hòa
giải tiến hành rà soát, đánh giá về tổ chức, hoạt động của tổ hòa giải và kiến nghị Ban
thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã để đề nghị Ủy ban nhân dân
cấp xã kiện toàn tổ hòa giải (Điều 12).
- Về trách nhiệm của tổ hòa giải: Tổ hòa giải có trách nhiệm: i) Tổ chức thực
hiện hòa giải; ii) Tổ chức trao đổi kinh nghiệm, thảo luận các giải pháp để tiến hành
hòa giải vụ, việc phức tạp; iii) Phối hợp với Ban công tác Mặt trận, Chi hội phụ nữ,
Chi đoàn thanh niên, Chi hội cựu chiến binh, Chi hội nông dân, Chi hội người cao
tuổi, các tổ hòa giải và tổ chức, cá nhân khác trong hoạt động hòa giải ở cơ sở; iv)
Kiến nghị với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Uỷ ban nhân dân cấp xã về
hoạt động hòa giải ở cơ sở, các điều kiện cần thiết cho hoạt động hòa giải ở cơ sở; v)
Đề nghị khen thưởng tổ hòa giải, hòa giải viên có thành tích xuất sắc trong công tác
hòa giải (Điều 13).
- Về tổ trưởng tổ hòa giải: Tổ trưởng tổ hòa giải do hòa giải viên bầu trong số
các hòa giải viên để phụ trách tổ hòa giải. Việc bầu tổ trưởng tổ hòa giải được thực
hiện dưới sự chủ trì của Trưởng ban công tác Mặt trận bằng hình thức biểu quyết
công khai hoặc bỏ phiếu kín. Kết quả bầu tổ trưởng tổ hòa giải được lập thành văn
bản và gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã để ra quyết định công nhận (Điều 14).
- Quyền và nghĩa vụ của tổ trưởng tổ hòa giải: i) Phân công, phối hợp hoạt
động của các hòa giải viên; ii) Đại diện cho tổ hòa giải trong quan hệ với Trưởng ban
công tác Mặt trận, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố và cơ quan, tổ chức, cá nhân
khác trong thực hiện trách nhiệm của tổ hòa giải; iii) Đề nghị cho thôi làm hòa giải
viên theo quy định; iv) Báo cáo kịp thời với Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã; cơ
quan có thẩm quyền về các vụ, việc mâu thuẫn, tranh chấp nghiêm trọng có thể dẫn
đến hành vi bạo lực gây ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính mạng của các bên hoặc gây
mất trật tự công cộng hoặc phát hiện mâu thuẫn, tranh chấp có dấu hiệu vi phạm pháp
11


luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc pháp luật về hình sự; v) Báo cáo hằng năm và
báo cáo đột xuất về tổ chức và hoạt động của tổ hòa giải với Ủy ban nhân dân, Ban
thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã; vi) Phối hợp với tổ trưởng tổ
hòa giải khác để trao đổi kinh nghiệm hoặc tiến hành hòa giải vụ, việc liên quan đến
các thôn, tổ dân phố khác nhau; vii) Có các quyền, nghĩa vụ của hòa giải viên (Điều
15).
Hoạt động hòa giải ở cơ sở:
- Căn cứ tiến hành hòa giải: Hòa giải ở cơ sở được tiến hành khi có một trong các
căn cứ: i) Một bên hoặc các bên yêu cầu hòa giải; ii) Hòa giải viên chứng kiến hoặc biết
vụ, việc thuộc phạm vi hòa giải; iii) Theo phân công của tổ trưởng tổ hòa giải hoặc đề
nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan (Điều 16).
- Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hòa giải: i) Lựa chọn, đề xuất hòa giải
viên, địa điểm, thời gian để tiến hành hòa giải; ii) Đồng ý hoặc từ chối hòa giải; yêu
cầu tạm dừng hoặc chấm dứt hòa giải; iii) Yêu cầu việc hòa giải được tiến hành công
khai hoặc không công khai; iv) Được bày tỏ ý chí và quyết định về nội dung giải
quyết hòa giải; v) Trình bày đúng sự thật các tình tiết của vụ, việc; cung cấp tài liệu,
chứng cứ có liên quan; vi) Tôn trọng hòa giải viên, quyền của các bên có liên quan;
vii) Không gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa điểm hòa giải (Điều 17).
- Phân công hòa giải viên: Tổ trưởng tổ hòa giải phân công hòa giải viên tiến
hành hòa giải trong trường hợp các bên không lựa chọn hòa giải viên. Tổ trưởng tổ
hòa giải không phân công hòa giải viên tiến hành hòa giải nếu có căn cứ cho rằng hòa
giải viên có quyền, lợi ích, nghĩa vụ liên quan đến vụ, việc hòa giải hoặc có lý do
khác dẫn đến không thể bảo đảm khách quan, công bằng trong hòa giải. Trong quá
trình hòa giải, nếu hòa giải viên vi phạm nguyên tắc hoạt động hòa giải hoặc nghĩa vụ
khác của hòa giải viên thì tổ trưởng tổ hòa giải phân công hòa giải viên khác thực
hiện việc hòa giải (Điều 18).
- Người được mời tham gia hòa giải: Trong quá trình hòa giải, nếu thấy cần
thiết, hòa giải viên và một trong các bên khi được sự đồng ý của bên kia có thể mời
người có uy tín trong dòng họ, ở nơi sinh sống, nơi làm việc; người có trình độ pháp
12


lý, có kiến thức xã hội; già làng, chức sắc tôn giáo, người biết rõ vụ, việc; đại diện
của cơ quan, tổ chức hoặc người có uy tín khác tham gia hòa giải. Người được mời
tham gia hòa giải phải tuân thủ các nguyên tắc hoạt động hòa giải ở cơ sở. Cơ quan,
tổ chức có người được mời tham gia hòa giải có trách nhiệm tạo điều kiện để họ tham
gia hòa giải (Điều 19).
- Địa điểm, thời gian hòa giải: Địa điểm hòa giải là nơi xảy ra vụ, việc hoặc nơi
do các bên hoặc hòa giải viên lựa chọn, bảo đảm thuận lợi cho các bên. Trong thời
hạn 03 ngày, kể từ ngày được phân công, hòa giải viên bắt đầu tiến hành hòa giải, trừ
trường hợp cần thiết phải hòa giải ngay khi chứng kiến vụ, việc hoặc các bên có thỏa
thuận khác về thời gian hòa giải (Điều 20).
- Tiến hành hòa giải: Hòa giải được tiến hành trực tiếp, bằng lời nói với sự có
mặt của các bên. Trường hợp các bên có người khuyết tật thì có sự hỗ trợ phù hợp để
có thể tham gia hòa giải. Hòa giải được tiến hành công khai hoặc không công khai
theo ý kiến thống nhất của các bên.
Tùy thuộc vào vụ, việc cụ thể, trên cơ sở quy định của pháp luật, đạo đức xã
hội, phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân, hòa giải viên áp dụng các biện pháp
thích hợp nhằm giúp các bên hiểu rõ về quyền lợi, trách nhiệm của mỗi bên trong vụ,
việc để các bên thỏa thuận việc giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp và tự nguyện
thực hiện thỏa thuận đó. Trường hợp không đạt được thỏa thuận, hòa giải viên hướng
dẫn các bên đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp
luật. Hòa giải viên có trách nhiệm ghi nội dung vụ, việc hòa giải vào Sổ theo dõi hoạt
động hòa giải ở cơ sở. Trường hợp các bên đồng ý thì lập văn bản hòa giải thành
(Điều 21).
- Kết thúc hòa giải: i) Các bên đạt được thỏa thuận; ii) Một bên hoặc các bên
yêu cầu chấm dứt hòa giải; iii) Hòa giải viên quyết định kết thúc hòa giải khi các bên
không thể đạt được thỏa thuận và việc tiếp tục hòa giải cũng không thể đạt được kết
quả (Điều 23).
- Hòa giải thành: Hòa giải thành là trường hợp các bên đạt được thỏa thuận.
Các bên có thể thỏa thuận lập văn bản hòa giải thành theo quy định
13


Trường hợp tổ trưởng tổ hòa giải báo cáo có vấn đề phát sinh khi thực hiện thỏa
thuận hòa giải thành, thì Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì, phối hợp với trưởng
thôn, tổ trưởng tổ dân phố, gia đình, dòng họ, người có uy tín vận động, thuyết phục,
có biện pháp giải quyết kịp thời vấn đề phát sinh đó (Điều 9, Nghị định số
15/2014/NĐ-CP).
- Hòa giải không thành:
Trường hợp các bên không đạt được thỏa thuận và cả hai bên yêu cầu tiếp tục
hòa giải, thì hòa giải viên tiếp tục tiến hành hòa giải. Trường hợp các bên không đạt
được thỏa thuận và một bên yêu cầu tiếp tục hòa giải, nhưng có căn cứ cho rằng việc
tiếp tục hòa giải không thể đạt kết quả thì hòa giải viên quyết định kết thúc hòa giải
và hướng dẫn các bên đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo quy
định. Trường hợp các bên yêu cầu lập văn bản hòa giải không thành, thì hòa giải viên
lập văn bản, ghi rõ thông tin cơ bản về các bên; nội dung chủ yếu của vụ, việc; yêu
cầu của các bên; lý do hòa giải không thành; chữ ký của hòa giải viên (Điều 10, Nghị
định số 15/2014/NĐ-CP).
Trách nhiệm quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở
Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm: i) Chủ trì, phối hợp với Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về hòa giải
ở cơ sở; xây dựng dự toán kinh phí hỗ trợ cho hoạt động hòa giải; thành lập, kiện toàn
tổ hòa giải và công nhận tổ trưởng tổ hòa giải, hòa giải viên tại địa phương; ii) Chủ trì
phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức kiểm tra, sơ kết,
tổng kết và khen thưởng về hòa giải ở cơ sở; iii) Báo cáo Hội đồng nhân dân cùng
cấp, Ủy ban nhân dân cấp huyện kết quả thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở.
Chất lượng đội ngũ hòa giải viên được bảo đảm, hầu hết đều có phẩm chất đạo
đức tốt, sống gương mẫu, có uy tín, có khả năng vận động, thuyết phục nhân dân tuân
thủ, chấp hành pháp luật, có tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình tham gia công tác hòa
giải ở cơ sở,
Đánh giá chung trong tổ chức, hoạt động của công tác hoa giải :

14


Nhìn chung thực hiện công tác hòa giải cơ sơ tại xã Tà Chải, Na Hối và xã Cốc
Lầu đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Cụ thể: Đã tổ chúc
hòa giải thành các vụ việc đúng theo quy định của pháp luật. Đồng thời thực hiện
đúng nguyên tắc hòa giải, khách quan, tiêu chuẩn hòa giải viên, bầu, công nhận hòa
giải viên, quyền và nghĩa vụ hòa giải viên, cho thôi hòa giải viên, quyền và nghãi vụ
tổ hòa giải, quyền và nghĩa vụ của các bên trong tổ hòa giải thực hiện theo luật hòa
giải. Công tác hòa giải cơ sở đã thực sự trở thành hoạt động gắn liền với đời sống
sinh hoạt của cộng đồng dân cư ở các thôn, bản, làng, góp phần đem lại đời sống ấm
no, hạnh phúc cho người dân.
Hạn chế trong tổ chức, hoạt đông của công tác hòa giải ở cở:
Thực tế cho thấy, hòa giải viên cơ sở có năng lực, trình độ, kinh nghiệm công
tác...còn hạn chế, tỷ lệ hòa giải viên được đào tạo, bồi dưỡng còn thấp , đặc biệt đào
tạo chuyên môm luật chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế, kinh phí cho hoạt động cho
tổ hòa giải còn chưa đáp ứng được, có tổ không có kinh phí để hoạt động, các chế độ
chính sách, khen thưởng còn chậm chưa mang tính động viên kịp thời. Cơ sở vật
chất, tài liệu phục vụ cho công tác hòa giải vừa thiếu vừa yếu.
Thiếu sự quan tâm của các cấp, ủy chính quyền. sự phối hợp giữa Mặt trận và
các ban ngành đoàn thể còn chưa cao.

2. Nguyên nhân của kết quả và hạn chế
2.1 Nguyên nhân của kết quả
Luôn được sự quan tâm lãnh chỉ đạo thường xuyên của Huyện uỷ - HĐND UBND huyện Bắc Hà và sự chỉ đạo trực tiếp của BTV - BCH Đảng uỷ sự giám sát
chặt chẽ của HĐND thông qua các Nghị quyết, chương trình hành động và sự điều
hành trực tiếp có hiệu quả của UBND xã. Bên cạnh đó còn có sự đoàn kết thống nhất
của tập thể TT Đảng ủy, HĐND, UBND, sự đồng tình ủng hộ của nhân dân các dân
tộc trên địa bàn, đã tạo động lực thúc đẩy phát triển toàn diện các chỉ tiêu kế hoạch
nhà nước giao trong năm 2017 đến nay từ đó góp phần không nhỏ công tác hòa giải
cơ sở.
15


Qua hoạt động hòa giải ở cơ sở đã giúp người dân nhận thức được đầy đủ về các
quy định của pháp luật, nắm vững các quyền, nghĩa vụ pháp lý của mình và của các
chủ thể khác; nắm bắt được quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như của các
chủ thể khác trước những vụ việc, sự kiện pháp lý cụ thể, từ đó giúp các chủ thể có
được lựa chọn giải pháp xử sự phù hợp với pháp luật; không đẩy mâu thuẫn, tranh
chấp, xung đột nên cao; củng cố, duy trì được các quan hệ tốt đẹp có nguy cơ bị rạn
nứt; biết đặt lợi ích của cá nhân trong mối quan hệ với lợi ích của cộng đồng, lợi ích
chung và lợi ích của các chủ thể khác.
- Qua hoạt động hòa giải ở cơ sở giúp các chủ thể bảo vệ được các quyền, lợi
ích hợp pháp của mình; tự đề xuất, tìm kiếm và lựa chọn các giải pháp tháo gỡ mâu
thuẫn, tranh chấp, xung đột với chủ thể khác trên cơ sở sự giải thích, hướng dẫn,
thuyết phục từ các hòa giải viên; từ đó khôi phục lại các giá trị, các lợi ích, các quan
hệ tốt đẹp đã bị mất đi; giảm chi phí khi phải nhờ các cơ quan, tổ chức can thiệp, giải
quyết các mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột.
- Thực hiện tốt công tác hòa giải ở cơ sở sẽ thúc đẩy người dân tích cực, chủ
động sử dụng pháp luật, biết thụ hưởng các quyền, thực hiện các nghĩa vụ pháp lý
một cách hữu hiệu trong quá trình giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột
ngay tại địa bàn cơ sở.

2.2 Nguyên nhân của hạn chế:
Do nhận thức, ý thức của tổ hòa giải và hòa giải viên chưa cao, làm ảnh hưởng
đấy chất lượng cuộc hòa giải.
Do năng lực, trình độ chuyên môn, chưa đáp ứng được nhu cầu(chưa đực qua
đào tạo bài bản, không có kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm trong lĩnh vực chuyên
môn...)
Điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu và yếu, kinh phí hoạt động còn hạn hẹp.
Cấp ủy đảng coi việc hòa giải cơ sở là việc của công chức Tư pháp- hộ tịch, nêu
gương người tốt việc tốt, thi đua khen thưởng chưa kịp thời...
16


3. GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
3.1. Một số giải pháp:
Trong thời gian tới trước tình hình phát triển kinh tế hội nhập của cả nước
của tỉnh cũng như trên địa bàn huyện Bắc Hà. Cấp ủy, Chính quyền xã..... cần tập
trung nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng sự vào cuộc quyết liệt của
Chính quyền xã đoàn kết thống nhất trong nội bộ đảm bảo vững chắc củng cố quốc
phòng - an ninh giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Bên cạnh sự phát
triển kinh tế xã hội của địa phương cần làm tốt công tác tuyên truyền vận động nhân
dân chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật để người dân thực sự hiểu
biết pháp luật nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất tình trạng Mâu thuẫn nhỏ xảy ra
trên địa bàn trong thời gian tiếp theo.
Cấp ủy, Chính quyền xã cần quan tâm hơn nữa công tác Hòa giải ở cơ sở.
Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật tới người dân cần phải được làm tốt
thường xuyên liên tục trú trọng về chất lượng của các buổi tuyên truyền đạt hiệu quả
cao. Vận động nhân dân xóa bỏ các hủ tục lạc hậu tại địa phương chấp hành nghiêm
các quy định của pháp luật.
Nâng cao năng lực, đào tạo bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ công chức, các hòa
giải viên để nâng cao trình độ, kinh nghiệm công tác trong quá trình hòa giải tuyền
truyền giáo dục pháp luật tới người dân, nắm chắc các quy định của pháp luật trong
quá trình Hòa giải cơ sở.
3.2. Kiến nghị đề xuất:
1. Nghiên cứu, nhận diện đầy đủ về các mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột tại địa
bàn cơ sở trên cơ sở nghiên cứu, phân tích dự báo để xác định đúng đắn, đầy đủ nhu
cầu giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột trong nhân dân ở cơ sở bằng biện
pháp hòa giải ở cơ sở. Từ đó có giải pháp tiếp tục triển khai có hiệu quả Luật hòa giải
ở cơ sở và các văn bản hướng dẫn thi hành phù hợp với tình hình, điều kiện thực tiễn
từng địa phương; gắn kết công tác hòa giải ở cơ sở với hoạt động tư vấn pháp luật, trợ
giúp pháp lý, phổ biến, giáo dục pháp luật, với hoạt động tiếp công dân, giải quyết
khiếu nại, tố cáo để giải tỏa kịp thời các vướng mắc, tranh chấp, mâu thuẫn, xung đột
tại địa bàn dân cư.
17


2. Tiếp tục củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực tổ chức và hoạt động mạng
lưới Tổ hòa giải và đội ngũ hòa giải viên đủ năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ;
khuyến khích, huy động mọi nguồn lực xã hội tham gia công tác hòa giải ở cơ sở,
nhất là đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác pháp luật đã nghỉ hưu, người có uy
tín, kinh nghiệm xã hội tham gia công tác hòa giải ở cơ sở.
3. Tăng cường công tác bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ nâng cao năng lực, trình
độ đội ngũ hòa giải viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; biên soạn, phát hành tài liệu
nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở liên quan trực tiếp đến các mâu thuẫn, tranh chấp, xung
đột phổ biến tại địa bàn dân cư, nhất là các vụ việc hòa giải điển hình để hòa giải viên
tham khảo, sử dụng trong quá trình hòa giải.
4. Quán triệt, phổ biến, nâng cao nhận thức của người dân và xã hội trong việc
ưu tiên sử dụng hòa giải ở cơ sở như là một biện pháp hữu hiệu trong giải quyết tranh
chấp, mâu thuẫn, xung đột, vi phạm pháp luật tại cộng đồng.
5. Có biện pháp biểu dương, khen thưởng, tôn vinh đối với đội ngũ hòa giải viên
ở cơ sở có nhiều thành tích, đóng góp cho công tác này; phát huy đầy đủ vai trò của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận tham gia công tác
hòa giải ở cơ sở. Tiếp tục có chế độ, chính sách đãi ngộ hợp lý đối với đội ngũ hòa
giải viên có nhiều đóng góp cho công tác này./.

KẾT UẬN
Một địa phương có phát triển về mọi mặt của đời sống xã hội thì phải có được
sự ổn định về chính trị an ninh trật tự an toàn xã hội được giữ vững, quốc phòng được
củng cố, tạo được môi trường hòa bình ổn định, đoàn kết cùng phát triển người dân
không vi phạm pháp luật.
Hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa
thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật
18


theo quy định của Luật này. Cơ sở là thôn, làng, bản và cộng đồng dân cư khác; các
bên là cá nhân, nhóm cá nhân, gia đình, nhóm gia đình, tổ chức có mâu thuẫn, tranh
chấp, vi phạm pháp luật; hòa giải viên là người được công nhận để thực hiện hoạt
động hòa giải ở cơ sở; tổ hòa giải là tổ chức tự quản của nhân dân được thành lập ở
cơ sở để hoạt động hòa giải.
Để thực hiện tốt những nội dung trên đồi hỏi phải có sự vào cuộc quyết liệt
của cả hệ thống chính trị của xã trong công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật nâng
cao nhận thức của nhân dân thường xuyên chăm lo đời sống vật chất tinh thần của
nhân dân, lắng nghe những ý kiến bức xúc trong nhân dân để có biện pháp giải quyết
có hiệu quả.
Hoạt động hoà giải đã giúp cho công dân, tổ chức tiết kiệm được kinh phí, hạn
chế việc khiếu kiện lên các cơ quan có thẩm quyền. Có được kết quả như vậy là nhờ
sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ đảng, chính quyền và nhận thức đúng
đắn về vai trò của công tác hoà giải của các ban ngành đoàn thể địa phương. Đặc biệt
là sự phối kết hợp giữa Mặt trận và các tổ chức thành viên trong quá trình xây dựng,
củng cố kiện toàn tổ chức hoà giải và thuờng xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi
dưỡng kỹ năng, hướng dẫn nghiệp vụ cho đội ngũ hòa giải viên cơ sở. Bên cạnh đó,
sự nỗ lực, cố gắng của cán bộ tư pháp xã, đặc biệt là đông đảo lực lượng hoà giải viên
với tinh thần tự nguyện, không vì lợi ích cá nhân, tích cực, chủ động đã tạo nên thành
công chung cho công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn xã.

KẾT LUẬN
Luật Hòa giải ở cơ sở ngày 20/6/2013;
Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/2/2014 của Chính phủ quy định chi tiết
một số điều và biện pháp thi hành Luật hòa giải ở cơ sở;

19


Nghị quyết liên tịch số 01/2014/NQLT/CP-UBTƯMTTQVN ngày 18/11/2014
của Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn phối
hợp thực hiện một số quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở;
Quyết định số 47/2016/QĐ- UBND tỉnh Lào Cai, ngày 15 tháng 8 năm 2016
quy định về mức chi thực hiện công tác hòa giải cơ sở trên địa bàn tỉnh lào cai;
Báo cáo công tác phát triển kinh tế- xã hội năm 2017(xã Tà Chải);
Báo cáo công tác phát triển kinh tế- xã hội năm 2017(xã Na Hối);
Báo cáo công tác phát triển kinh tế- xã hội năm 2017(xã Cốc Lầu);
Báo cáo công tác tư pháp năn 2017(xã Tà Chải);
Báo cáo công tác tư pháp năn 2017(xã Na Hối);
Báo cáo công tác tư pháp năn 2017(xã Cốc Lầu).

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH LÀO CAI

20


BÀI THU HOẠCH NGHIÊN CỨU THỰC TẾ LỚP
TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊHÀNH CHÍNH A01 NĂM 2017

ĐỀ TÀI
CÔNG TÁC HÒA GIẢI CƠ SỞ

Học viên:
Chức vụ:
Đơn vị công tác:

LƯƠNG VĂN MINH
Công chức Tư- pháp hộ tịch
UBND xã Kim Sơn, huyện Bảo Yên

Lào Cai, ngày 25 tháng 5 năm 2018

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×