Tải bản đầy đủ

tình huống quản lý nhà nước

I. LỜI NÓI ĐẦU

Khai sinh là sự kiện hộ tịch có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi người. Đó
không chỉ là quyền cơ bản của con người khi sinh ra mà còn là căn cứ pháp lý để
xác lập mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân. Với ý nghĩa đó, pháp luật đã sớm
có sự điều chỉnh đối với vấn đề này. Tuy nhiên, thực tế, sự phát sinh đa dạng của
các quan hệ trong xã hội đã khiến cho các hoạt động xoay quanh nội dung đăng ký
khai sinh còn nhiều vướng mắc. Thực trạng này diễn ra có thể ảnh hưởng nghiêm
trọng đến quyền, lợi ích chính đáng của công dân, bởi khai sinh được coi là sự kiện
hộ tịch gốc mà các quan hệ xã hội, các tài liệu, giấy tờ liên quan đến công dân phát
sinh sau đó đều dựa trên cơ sở những thông tin định danh của công dân đã được
ghi nhận trong quá trình đăng ký khai sinh.
Trên địa bàn huyện Chư Prông, thực tiễn thực thi pháp luật về hộ tịch liên
quan đến khai sinh tại Phòng Tư pháp cũng đã gặp phải nhiều trường hợp vướng
mắc. Trong phạm vi bài tiểu luận, tôi xin được đưa ra một tình huống điển hình xảy
ra trên địa bàn huyện liên quan đến vấn đề này, nhằm làm rõ một phần những
vướng mắc trong hoạt động khai sinh. Từ đó, đưa ra những kiến nghị để hạn chế
phần nào những khó khăn trong quá trình giải quyết vấn đề khai sinh trên thực tế.
Bài viết được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên
cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, những nguyên
lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và quan điểm, đường lối của Đảng trong quá

trình xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong bài viết
có sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học như: Phương pháp
phân tích, diễn giải, bình luận, so sánh luật học, lôgic, hệ thống, kết hợp lý luận với
thực tiễn để đưa ra những kết luận, đánh giá nhằm giải quyết những vấn đề được
đặt ra.
Tôi hi vọng với sự đầu tư tâm huyết, trên cơ sở những kinh nghiệm thực tiễn
và kiến thức có được sau quá trình học tập khóa học Quản lý Nhà nước, bài viết sẽ
đem lại những đóng góp có giá trị về mặt khoa học cũng như thực tiễn. Rất mong
nhận được sự đóng góp của thầy, cô giáo để bài viết được thêm hoàn thiện. Tôi xin
chân thành cảm ơn!
II. NỘI DUNG


1. Tinh huống:
- Tình huống xảy ra giữa:

Anh: Hoàng Ngọc Minh, sinh năm 1989,
Địa chỉ: Thôn Yên Hưng, xã Ia Piơr, thị Chư Prông, tỉnh Gia Lai;
Và Chị: Nguyễn Thị Thảo, sinh năm 1991,
Địa chỉ: Thôn Kỳ Phong, xã Ia Piơr, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.
- Diễn biến tình huống cụ thể như sau:

Tháng 2 năn 2015, anh Minh và chị Thảo đăng ký kết hôn tại UBND xã Ia
Piơr, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Trong thời kỳ hôn nhân, chị Thảo sinh được
hai người con là Hoàng Thị Thu Hiền (sinh năm 2015) và Hoàng Gia Khang (Năm
2017). Trên cơ sở các giấy tờ cần thiết do chị Thảo xuất trình (gồm: Chứng minh
nhân dân, Sổ hộ khẩu, Giấy chứng sinh, Giấy chứng nhận kết hôn của anh Minh và
chị Thảo), UBND xã Ia Piơr đã đăng ký khai sinh cho hai cháu với thông tin về họ
tên người cha là: Hoàng Ngọc Minh và họ tên người mẹ là: Nguyễn Thị Thảo.
Tuy nhiên, anh Minh nghi ngờ cháu Hiền và cháu Khang không phải là con
của anh. Bởi, theo anh Minh: do yêu cầu công việc, anh thường xuyên phải đi công
tác. Đặc biệt từ tháng 3 năm 2016 đến tháng 4 năm 2017, anh bị điều động đến làm
việc tại đơn vị mới và khoảng thời gian đó anh chưa có thời gian về nhà thăm vợ
(tức, chị Nguyễn Thị Thảo). Anh Minh nghi ngờ chị Thảo có quan hệ “ngoại tình”
trong thời gian mình đi công tác, nên đến khoảng tháng 2 năm 2018 anh Minh đã
đưa hai con đi xét nghiệm ADN tại Trung tâm giám định AND – Viện Công nghệ
sinh học thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả xét nghiệm cho thấy: cháu Hiền là con
của anh Minh, cháu Khang không phải là con của anh Minh.
Kết quả này làm cho cuộc hôn nhân của anh Minh và chị Thảo ngày một rạn
nứt. Đến tháng 10 năm 2018, anh Minh và chị Thảo đã có đơn yêu cầu Tòa án
nhân dân huyện Chư Prông công nhận thuận tình ly hôn và giải quyết thỏa thuận
về nghĩa vụ nuôi dưỡng các con. Ngày 10/11/2018, trên cơ sở đơn yêu cầu và tài
liệu có liên quan (trong đó có phiếu kết quả xét nghiệm ADN), Tòa án nhân dân
huyện Chư Prông đã ra Quyết định số 20/2018/QĐST-HN&GĐ công nhận việc
thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận giữa anh Minh và chị Thảo. Trong Quyết định


có nêu: “Giao cho anh Hoàng Ngọc Minh nuôi con chung là Hoàng Thị Thu Hiền”,
“Chị Nguyễn Thị Thảo có một con riêng. Giao chị Thảo nuôi con riêng là Hoàng
Gia Khang”.
Do cháu Hoàng Gia Khang không phải là con của anh Hoàng Ngọc Minh
(theo kết quả xét nghiệm ADN và Quyết định công nhận thuận tình ly hôn của Tòa
án nhân dân huyện Chư Prông), nên ngày 15/11/2018 anh Minh đã đến UBND xã
Ia Piơr trình bày nguyện vọng: muốn bỏ phần thông tin của người cha trong Giấy
khai sinh của cháu Hoàng Gia Khang và không đồng ý cho cháu Khang mang họ
Hoàng.
Tuy nhiên, UBND xã Ia Piơr gặp phải vướng mắc về căn cứ pháp lý khi giải
quyết nghiệp vụ hộ tịch liên quan đến việc bỏ thông tin người cha trong Giấy khai
sinh của cháu Hoàng Gia Khang, do hiện nay pháp luật chưa có quy định cụ thể về
vấn đề này. Vì thế, ngày 15/11/2018, UBND xã Ia Piơr đã có công văn xin ý kiến
Phòng Tư pháp huyện Chư Prông về hướng giải quyết vụ việc trên để bảo đảm
quyền, lợi ích chính đáng của công dân.
2. Nguyên nhân dẫn đến tình huống:

Thứ nhất, tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường cùng với xu hướng
hội nhập đã gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức, lối sống, đạo đức
xã hội của một bộ phận người dân và gia đình Việt Nam. Văn hóa gia đình truyền
thống đề cao “gia phong”, “gia đạo”, “gia lễ” dần bị mai một bởi phong cách sống
nhanh, sống thoáng, trọng vật chất, bỏ qua phẩm giá và nhân cách con người.
Những yếu tố đó ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống hôn nhân - gia đình, tha hóa
dần những quan niệm về “thủy chung tình nghĩa”, coi trọng gia đình. Ngoại tình, ly
hôn, ly thân, quan hệ tình dục trước hôn nhân và việc nạo phá thai là một phần
những biểu hiện tiêu cực, hệ quả kéo theo từ những tác động đó.
Thứ hai, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và
pháp luật về hôn nhân - gia đình những năm gần đây đã được Đảng, Nhà nước ta
chú trọng. Tuy nhiên, vai trò của công tác này chưa được nhận thức đúng mức.
Công tác tuyên truyền pháp luật chưa phát huy được sức mạnh của đoàn thể trong


xã hội. Bên cạnh đó, do sự hạn chế về mặt kinh phí hoạt động cũng đã làm cho
hiệu quả của việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật tại cơ sở chưa thật sự tốt.
Thứ ba, hiểu biết và ý thức tuân thủ pháp luật của người dân còn hạn chế.
Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật (trong đó có pháp luật hôn nhân & gia
đình) chưa hiệu quả đã kéo theo việc hạn chế cơ hội tiếp cận, nắm bắt và hiểu biết
pháp luật của người dân. Tuy nhiên, hiểu biết pháp luật chưa cao còn là hệ quả của
sự thiếu chủ động, thái độ thờ ơ, bàng quan của chính những người dân. Thậm chí,
dù đã hiểu quy định của pháp luật, nhưng họ vẫn “vượt rào” để đạt được ý muốn
của mình. Chế độ hôn nhân một vợ - một chồng đã được ghi nhận như một nguyên
tắc của pháp luật hôn nhân và các chính sách về hôn nhân, gia đình. Song thực tế,
tình trạng “ngoại tình”, chung sống như vợ chồng với người thứ ba không phải là
hiếm ở Việt Nam hiện nay. Điều này để lại hậu quả lớn không chỉ đối với các cặp
vợ chồng, mà sẽ lớn hơn khi con sinh ra không phải con chung của các cặp vợ
chồng đó.
Thứ tư, hệ thống văn bản pháp luật nói chung và pháp luật về hộ tịch hiện nay
còn tồn tại một số hạn chế, bất cập. Liên quan đến nội dung về xóa bỏ phần thông
tin của người cha trong Giấy khai sinh của con và thay đổi họ cho con do thông tin
của người cha trong Giấy khai sinh bị xóa bỏ, pháp luật hiện hành chưa có quy
định cụ thể. Điều đó đã dẫn đến những vướng mắc cho cán bộ, công chức khi giải
quyết vụ việc trên thực tế và khó có thể bảo đảm được quyền, lợi ích chính đáng
của công dân có yêu cầu.
3. Hậu quả của tình huống:
Tình huống xảy ra nếu không được giải quyết sẽ để lại những hậu quả không
hề nhỏ đối với những chủ thể liên quan cũng như đối với xã hội. Cụ thể:
Thứ nhất, tình huống không được giải quyết sẽ tác động, ảnh hưởng xấu đến
xã hội. Đó là việc để lại nguy cơ lây truyền những biểu hiện tiêu cực về mặt đạo
đức, ý thức pháp luật trong quan hệ hôn nhân - gia đình như vấn đề quan hệ, chung
sống như vợ chồng với người đang có quan hệ hôn nhân; có con chung với người
đang có quan hệ hôn nhân với người khác,... Đồng thời, người có hành vi trái đạo
đức (người vợ trong tình huống) cũng không có cơ hội để nhận thức được hậu quả


kéo theo sau hành vi của mình, đặc biệt đối với “số phận” của người con sinh ra
không được cha thừa nhận.
Thứ hai, việc không giải quyết tình huống sẽ dẫn đến làm suy giảm pháp chế
xã hội chủ nghĩa. Có thể thấy, pháp luật là công cụ chủ yếu giúp Nhà nước điều
chỉnh các quan hệ xã hội, nhằm hướng các quan hệ đó theo một trật tự nhất định,
đảm bảo hài hòa lợi ích chung của các chủ thể trong xã hội. Mọi chủ thể có trách
nhiệm, nghĩa vụ tuân thủ pháp luật. Do đó, nếu có những vụ việc phát sinh yêu cầu
sự can thiệp của pháp luật (như vụ việc trong tình huống) mà pháp luật không được
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng để điều chỉnh, giải quyết thì vai trò
của pháp luật trong con mắt người dân sẽ bị suy giảm. Điều này sẽ dẫn đến việc
người dân không còn tôn trọng, tuân thủ pháp luật nữa. Đặc biệt, những hành vi
trái pháp luật không kịp thời được ngăn chặn, răn đe cũng sẽ làm giảm pháp chế xã
hội chủ nghĩa.
Thứ ba, tình huống không được giải quyết sẽ không bảo đảm quyền, lợi ích
chính đáng của các chủ thể có liên quan. Cụ thể, về phía anh Minh và cháu Khang,
việc giải quyết tình huống sẽ đảm bảo cho họ những quyền, lợi ích chính đáng: (i)
về mặt tinh thần, đó là được công nhận mối quan hệ thực tế không phải là cha con, đặc biệt, cháu Khang từ đó cũng sẽ có cơ hội để tìm lại được người cha thật sự
của mình; (ii) về mặt vật chất, đó là việc xác lập các quan hệ liên quan đến thừa kế,
nghĩa vụ cấp dưỡng sau này (cụ thể, nếu được pháp luật thừa nhận không có quan
hệ cha - con thì giữa anh Minh và cháu Khang sẽ không phát sinh các quan hệ
trên).
Thứ tư, tình huống không được giải quyết sẽ làm giảm uy tín của cơ quan nhà
nước. Cơ quan nhà nước là chủ thể được Nhà nước trao quyền để giúp Nhà nước
thực hiện chức năng quản lý và giải quyết các vấn đề xã hội trong phạm vi nhất
định. Vì thế, nếu người dân có yêu cầu cơ quan nhà nước giải quyết vấn đề thuộc
phạm vi thẩm quyền của cơ quan đó, mà cơ quan nhà nước không giải quyết thì
đương nhiên cơ quan nhà nước đó chưa làm hết trách nhiệm của mình. Điều này sẽ
làm giảm sút uy tín của cơ quan nhà nước trong con mắt của người dân.
4. Mục tiêu xử lý tình huống:


Trên cơ sở xác định những nguyên nhân và hậu quả của tình huống, có thể
thấy, việc giải quyết tình huống là yêu cầu tất yếu. Mục tiêu của việc xử lý tình
huống đó là:
Thứ nhất, nhằm giải quyết các vấn đề do tình huống đặt ra, cụ thể là tìm ra
giải pháp hợp lý hướng dẫn UBND xã Ia Piơr để tư vấn cho anh Minh. Từ đó, giúp
anh Minh thực hiện được yêu cầu, nguyện vọng của mình về việc xóa phần thông
tin người cha trong Giấy khai sinh của cháu Khang, đồng thời thay đổi họ của cháu
Khang (không cho cháu mang họ của anh).
Thứ hai, giúp bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của chủ thể có liên quan. Trên
cơ sở giải quyết vấn đề do tình huống đặt ra, quyền, lợi ích chính đáng về mặt tinh
thần của các bên chủ thể sẽ được đảm bảo (anh Minh và cháu Khang sẽ được công
nhận mối quan hệ thực tế không phải là cha - con; đồng thời, cháu Khang sẽ có cơ
hội để tìm lại được người cha thật sự của mình). Về mặt vật chất, quyền, lợi ích
chính đáng liên quan đến việc xác lập các quan hệ thừa kế, nghĩa vụ cấp dưỡng sau
này sẽ được đảm bảo (cụ thể, nếu được pháp luật thừa nhận không có quan hệ cha con thì giữa anh Minh và cháu Khang sẽ không phát sinh hai quan hệ trên).
Thứ ba, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Việc giải quyết tình huống sẽ
góp phần thể hiện được vai trò của pháp luật, răn đe và giáo dục kịp thời đối với
những hành vi không tuân thủ pháp luật. Quá trình giải quyết tình huống giúp các
chủ thể nhận thức được hậu quả pháp lý có thể xảy ra, từ đó tôn trọng và tuân thủ
pháp luật.
Thứ tư, bảo đảm việc giải quyết hài hòa giữa tính pháp lý, lợi ích kinh tế, lợi
ích xã hội. Giải pháp xử lý tình huống phải đáp ứng yêu cầu đúng pháp luật; bảo vệ
được tối đa quyền, lợi ích chính đáng của các chủ thể có liên quan và ít tốn kém về
thời gian, chi phí, thuận tiện cho người dân.
5. Xây dựng, phân tích và lựa chọn phương án giải quyết tình huống:
5.1. Căn cứ pháp lý để xây dựng phương án giải quyết tình huống:
-

Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015;

-

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

-

Luật Hộ tịch năm 2014;


-

Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 quy định chi tiết một số

điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch (gọi tắt là Nghị định 123/2015/NĐ-CP);
- Thông tư 15/2015/TT-BTP ngày 16 tháng 11 năm 2015 Quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng
11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành
Luật hộ tịch (gọi tắt là Thông tư 15/2015/TT-BTP).
5.2. Xây dựng, phân tích phương án giải quyết tình huống:
Hiện nay, pháp luật chưa có quy định về việc xóa thông tin của cha (hoặc
mẹ) trong Giấy khai sinh của con. Do đó, trên cơ sở những căn cứ pháp lý đã liệt
kê ở trên, có thể đưa ra ba phương án giải quyết tình huống như sau:
Phương án 1:
Trong Quyết định số 20/2018/QĐST-HN&GĐ ngày 10/11/2018 của Tòa án
nhân dân huyện Chư Prông về việc công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Hoàng
Ngọc Minh và chị Nguyễn Thị Thảo đã ghi nhận nội dung: “Chị Nguyễn Thị Thảo
có một con riêng. Giao chị Thảo nuôi con riêng là Hoàng Gia Khang”. Như vậy,
Quyết định trên của Tòa án đã gián tiếp xác định việc cháu Khang là không phải là
con của anh Minh. Vì vậy, với đề nghị của anh Minh, UBND xã Ia Piơr có thể coi
Quyết định này là một căn cứ để giải quyết vụ việc hộ tịch của cháu Khang. Theo
đó, UBND Ia Piơr lập tờ trình đề nghị UBND huyện thu hồi, hủy bỏ Giấy khai sinh
đã cấp cho Hoàng Gia Khang theo thẩm quyền quy định tại điểm h khoản 1 Điều
70 Luật Hộ tịch 2014. UBND huyện sẽ xác minh, xem xét và ra quyết định thu hồi,
hủy bỏ Giấy khai sinh theo quy định pháp luật.
Trên cơ sở quyết định thu hồi và hủy bỏ Giấy khai sinh của UBND huyện,
công chức Tư pháp - Hộ tịch xã phải thực hiện việc xóa thông tin đăng ký khai
sinh của cháu Hoàng Gia Khang trong sổ đăng ký khai sinh trước đây (Sổ đăng ký
khai sinh năm 2017). Mặt khác, do sổ đăng ký khai sinh của năm 2017 đã chuyển
lưu 01 quyển tại UBND huyện, nên UBND xã Ia Piơr phải có văn bản thông báo
cho Phòng Tư pháp huyện về việc xóa thông tin đăng ký khai sinh đối với trường


hợp của cháu Hoàng Gia Khang để Phòng Tư pháp xóa bỏ thông tin tương ứng
trong sổ đăng ký khai sinh, làm cơ sở quản lý hộ tịch sau này.
Sau khi cơ quan có thẩm quyền xóa thông tin đăng ký khai sinh của cháu
Khang, anh Minh hoặc chị Thảo (hoặc bố/mẹ của chị Thảo) phải đến UBND xã Ia
Piơr thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu Khang theo quy định tại Điều 36
Luật Hộ tịch 2014. Trong đó, phần họ của cháu Khang sẽ được đăng ký theo họ
của mẹ; phần thông tin về người cha được bỏ trống, nếu có người nhận là cha của
cháu Khang tại thời điểm đăng ký khai sinh thì giải quyết việc khai sinh kết hợp
cha nhận con theo quy định tại Điều 12 Thông tư 15/2015/TT – BTP. Nếu sau này
có người nhận là cha thì giải quyết việc cha nhận con theo quy định tại Điều 25
Luật Hộ tịch 2014 và bổ sung hộ tịch theo quy định tại Điều 29 Luật Hộ tịch 2014.
- Ưu điểm :
Bên cạnh việc đáp ứng các mục tiêu giải quyết tình huống đã nêu, phương án
này có ưu điểm đó là tạo sự thuận lợi, nhanh chóng, bảo đảm kịp thời quyền, lợi
ích chính đáng của các chủ thể có liên quan trong tình huống. Cụ thể, anh Minh
không cần phải thực hiện nhiều thủ tục pháp lý. Bởi thủ tục xem xét, quyết định
thu hồi và hủy bỏ Giấy khai sinh là thủ tục giữa các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ở huyện Chư Prông và xã Ia Piơr. Anh Minh chỉ cần thể hiện yêu cầu của
mình, nộp các giấy tờ làm căn cứ cho yêu cầu đó (gồm: bản chính Giấy khai sinh
của cháu Hoàng Gia Khang; bản sao hoặc bản photo có đối chiếu Quyết định công
nhận thuận tình ly hôn số 20/2018/QĐST-HN&GĐ ngày 10/11/2018 của Tòa án
nhân dân huyện Chư Prông, cùng các giấy tờ hợp pháp khác chứng minh quan hệ
giữa anh và cháu Khang không phải là cha, con) và phối hợp với các cơ quan nhà
nước trong quá trình xác minh sự thật vụ việc.
Ngoài ra, sau khi có quyết định thu hồi và hủy bỏ Giấy khai sinh, việc đăng
ký khai sinh cho cháu Khang cũng yêu cầu thủ tục hết sức đơn giản, nếu có người
nhận con thì sẽ kết hợp giải quyết việc nhận con. Điều này cũng sẽ giúp cháu
Khang có cơ hội được biết rõ nguồn gốc của mình và “tìm lại” được người cha
đích thực của cháu.
- Hạn chế:


Bên cạnh ưu điểm trên, phương án này còn một số hạn chế:
Một là, áp dụng giải pháp thu hồi, hủy bỏ Giấy khai sinh trong trường hợp
này chưa phản ánh đúng bản chất vấn đề của vụ việc. Cụ thể, việc thực hiện thủ tục
thu hồi, hủy bỏ Giấy khai sinh tức là đã mặc nhiên coi việc đăng ký khai sinh trước
đây của UBND xã Ia Piơr đối với cháu Hoàng Gia Khang là trái pháp luật. Bởi,
theo quy định tại điểm điểm h khoản 1 Điều 70 Luật Hộ tịch 2014: UBND huyện
Thu hồi, hủy bỏ giấy tờ hộ tịch do Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trái quy định của
Luật này, trừ trường hợp kết hôn trái pháp luật. Tuy nhiên, thực tế, UBND xã
không hề có sai sót hay sự trái pháp luật nào trong quá trình đăng ký khai sinh cho
cháu Khang. Việc có thông tin người cha: Hoàng Ngọc Minh trong Giấy khai sinh
của cháu Hoàng Gia Khang là dựa trên Giấy chứng nhận kết hôn hợp pháp giữa
anh Minh và chị Thảo do chị Thảo xuất trình khi đi đăng ký cho cháu Khang. Vì
thế, biện pháp này chưa phản ánh đúng bản chất của vụ việc, và chưa phù hợp với
nội hàm quy định của pháp luật về thu hồi, hủy bỏ các giấy tờ hộ tịch (trong đó có
Giấy khai sinh).
Hai là, thủ tục thu hồi, hủy giấy tờ hộ tịch mặc dù không đặt ra những yêu
cầu phức tạp về thủ tục pháp lý đối với người dân, nhưng lại khá phức tạp và đòi
hỏi không ít thời gian đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan
như: xác minh, lập biên bản, xây dựng dự thảo và ban hành quyết định thu hồi, hủy
bỏ Giấy khai sinh. Thậm chí, việc giải quyết tình huống theo phương án này có thể
làm giảm uy tín của cơ quan nhà nước nói chung và UBND xã Ia Piơr nói riêng, do
thủ tục thu hồi, hủy giấy tờ hộ tịch chỉ được áp dụng khi việc cấp giấy tờ hộ tịch
trước đó là trái quy định pháp luật.
Ba là, chưa giúp Tòa án có cơ hội để nhận thức và điều chỉnh lại tính không
đúng đắn trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự.
Theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án chỉ thụ lý giải
quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải
quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó (khoản 1 Điều 5 Bộ Luật Tố
tụng dân sự 2015). Trong tình huống, theo đơn yêu cầu ly hôn gửi đến Tòa án vào
tháng 10 năm 2018, anh Minh và chị Thảo chỉ có yêu cầu Tòa án về việc công


nhận thuận tình ly hôn giữa anh, chị và xác định nghĩa vụ nuôi dưỡng hai con mà
không có yêu cầu xác định mối quan hệ cha - con giữa anh Minh và cháu Khang.
Tuy nhiên, Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 20/2018/QĐST-HN&GĐ
ngày 10/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Chư Prông lại xác định luôn “chị
Nguyễn Thị Thảo có một con riêng” và “giao chị Thảo nuôi con riêng là Hoàng
Gia Khang”. Như vậy, phạm vi giải quyết của Tòa án đã vượt ra khỏi yêu cầu của
đương sự. Tòa án đã nhập hai vụ việc dân sự (gồm: việc công nhận thuận tình ly
hôn giữa anh Minh và chị Thảo; việc xác định mối quan hệ cha - con giữa anh
Minh và cháu Khang) để giải quyết.
Tuy nhiên, cần thấy rằng, hiện pháp luật mới quy định cho phép việc nhập,
tách giải quyết các vụ án dân sự (tức là, các tranh chấp dân sự) (Điều 42 Bộ Luật tố
tụng dân sự 2015), mà chưa quy định về việc nhập, tách giải quyết các việc dân sự
(tức là, các yêu cầu dân sự). Do đó, Tòa án không thể tùy tiện giải quyết việc xác
định cha - con trong quá trình công nhận yêu cầu thuận tình ly hôn đối với trường
hợp của anh Minh và chị Thảo (trừ khi các bên đương sự đồng ý và thể hiện rõ
trong đơn yêu cầu). Nói cách khác, Quyết định số 20/2018/QĐST-HN&GĐ ngày
10/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Chư Prông đối với phần nội dung xác định
cha - con giữa anh Minh và cháu Khang là chưa đúng pháp luật.
Phương án 2:
Để thực hiện yêu cầu về việc xóa thông tin người cha và thay đổi họ trong
Giấy khai sinh của cháu Khang, anh Minh phải cung cấp được đầy đủ tài liệu, căn
cứ hợp pháp chứng minh mối quan hệ giữa anh và cháu Khang cho cơ quan có
thẩm quyền giải quyết việc hộ tịch.
Theo khoản 2 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Trong trường
hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác
định”. Nói cách khác, việc xác định mối quan hệ cha, mẹ - con phải được ghi nhận
bằng một bản án hay quyết định có hiệu lực của Tòa án.
Trong trường hợp này, Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số
20/2018/QĐST-HN&GĐ ngày 10/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Chư Prông,
mặc dù có nêu: “Giao cho anh Hoàng Ngọc Minh nuôi con chung là Hoàng Thị


Thu Hiền”, “Chị Nguyễn Thị Thảo có một con riêng. Giao chị Thảo nuôi con riêng
là Hoàng Gia Khang”. Nhưng về mặt pháp lý, như đã phân tích (ở phần hạn chế
của phương án 1), nội dung về xác định mối quan hệ cha - con giữa anh Minh và
cháu Khang là vấn đề vượt ra khỏi phạm vi giải quyết của Tòa án. Bởi, Tòa án chỉ
thụ lý giải quyết vụ việc dân sự trong phạm vi đơn yêu cầu của đương sự (khoản 1
Điều 5 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015). Trong khi đó, khi có đơn yêu cầu gửi Tòa án
giải quyết việc ly hôn (vào tháng 10 năm 2018), anh Minh và chị Thảo chỉ trình
bày yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn và giải quyết sự thỏa thuận về
nghĩa vụ nuôi dưỡng các con, mà không có yêu cầu xác định mối quan hệ cha - con
giữa anh Minh và cháu Khang. Tòa án “tự” quyết định nhập hai việc dân sự để giải
quyết trong trường hợp này là chưa thỏa đáng với yêu cầu của đương sự và thực tế
pháp luật tố tụng cũng chưa có quy định cho phép Tòa án được gộp các việc dân sự
khác nhau để giải quyết. Do đó, phần nội dung xác định cha - con trong Quyết định
này của Tòa án là không đúng pháp luật.
Vì vậy, để giải quyết yêu cầu về việc hộ tịch của mình, trước hết, trong thời
hạn kháng cáo quy định tại Điều 372 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015, anh Minh phải
làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đối với Quyết định số
20/2018/QĐST-HN&GĐ ngày 10/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Chư Prông
(Điều 371 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015), do nội dung giải quyết vấn đề xác định
mối quan hệ cha - con trong Quyết định này không đúng quy định pháp luật.
Sau khi có Quyết định phúc thẩm có hiệu lực về việc sửa Quyết định số
20/2018/QĐST-HN&GĐ ngày 10/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Chư Prông
bỏ nội dung xác định mối quan hệ cha - con, anh Minh phải tiếp tục làm đơn lên
Tòa án nhân dân huyện Chư Prông giải quyết yêu cầu xác định mối quan hệ cha con giữa anh và cháu Khang (điểm b khoản 2 Điều 35 Bộ Luật tố tụng dân sự
2015). Quyết định có hiệu lực của Tòa án về việc không công nhận quan hệ cha con giữa anh Minh và cháu Khang là căn cứ để tiếp tục thực hiện thủ tục về hộ
tịch.
Cụ thể, anh Minh sẽ phải thực hiện thủ tục thay đổi thông tin trong Giấy khai
sinh của cháu Khang tại UBND xã Ia Piơr theo quy định tại Điều 30, Điều 31 Luật


Hộ tịch 2014. UBND xã Ia Piơr thực hiện việc thay đổi hộ tịch trên cơ sở Quyết
định của Tòa án về việc không công nhận quan hệ cha, con giữa anh Minh và cháu
Khang. Nội dung thay đổi phải được ghi chú rõ việc: bỏ thông tin về anh Minh
trong cột thông tin của người cha trong Giấy khai sinh; đồng thời thay đổi họ của
cháu Khang từ họ “Hoàng” sang họ “Nguyễn” (theo họ của mẹ).
Do Sổ đăng ký khai sinh năm 2017 đã chuyển lưu 01 quyển tại UBND
huyện, nên sau khi thực hiện việc thay đổi hộ tịch, UBND xã có trách nhiệm gửi
thông báo cho UBND huyện để ghi chú những nội dung cải chính đó vào Sổ đăng
ký khai sinh lưu tại UBND huyện (Điều 13 Nghị định 123/2015/NĐ-CP).
-

Ưu điểm .
Phương án này đã đáp ứng được các mục tiêu đặt ra khi giải quyết tình

huống. Bên cạnh đó, phương án cũng có những ưu điểm riêng. Cụ thể:
Một là, đảm bảo quyền, lợi ích của các chủ thể có liên quan mà không đòi
hỏi sự phức tạp trong quá trình thực hiện thủ tục giải quyết việc hộ tịch (thủ tục
thay đổi thông tin trong Giấy khai sinh) đối với công dân cũng như cơ quan nhà
nước có thẩm quyền. Đồng thời, cũng tránh làm ảnh hưởng đến uy tín của các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết việc hộ tịch như phương án 1 do thủ tục
thay đổi hộ tịch được áp dụng khi có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật.
Hai là, giúp Tòa án nhận thức và điều chỉnh lại quyết định chưa đúng đắn khi
giải quyết vụ việc dân sự. Thông qua thủ tục phúc thẩm, Tòa án tỉnh Gia Lai sẽ
xem xét lại nội dung Quyết định số 20/2018/QĐST-HN&GĐ ngày 10/11/2018 của
Tòa án nhân dân huyện Chư Prông theo nội dung đơn kháng cáo. Từ đó, sẽ phát
hiện những nội dung chưa đúng quy định của pháp luật và ra quyết định phúc thẩm
để điều chỉnh lại những nội dung trái pháp luật bằng cách sửa Quyết định số
20/2018/QĐST-HN&GĐ ngày 10/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Chư Prông
bỏ nội dung xác định mối quan hệ cha – con giữa anh Minh và cháu Khang. Đây
cũng sẽ là cơ sở để Tòa án nhân dân huyện Chư Prông tránh được tình trạng nhận
thức chưa chính xác khi ban hành những quyết định, bản án tương tự sau này.
-

Hạn chế:
Bên cạnh ưu điểm trên, phương án này còn một số hạn chế:


Một là, việc áp dụng thủ tục thay đổi hộ tịch trong trường hợp này đã phản
ánh đúng bản chất vấn đề của vụ việc. Tuy nhiên, Pháp luật hộ tịch hiện nay không
cho phép cấp lại bản chính giấy khai sinh nên mặc dù trong phần ghi chú về thay
đổi hộ tịch cho cháu Khang từ có cha thành không có cha nhưng về mặt thực tế tên
của anh Minh vẫn thể hiện trên giấy khai sinh của cháu Khang. Điều này sẽ ảnh
hưởng không nhỏ tới tâm lý và tình cảm của cháu Khang cũng như việc giải quyết
và bổ sung hộ tịch sau này.
Hai là, phương án này yêu cầu khá nhiều thời gian và tiền bạc của công dân
và đòi hỏi phải thực hiện quy trình tố tụng khá phức tạp (gồm 02 thủ tục: thủ tục
kháng cáo Quyết định số 20/2018/QĐST-HN&GĐ ngày 10/11/2018 của Tòa án
nhân dân huyện Chư Prông; thủ tục yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chư Prông xác
định mối quan hệ cha - con giữa anh Minh và cháu Khang). Tổng thời gian giải
quyết 02 thủ tục tố tụng trên có thể kéo dài đến hơn 03 tháng (Điều
363,365,366,372,373 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015), chưa kể thời gian thực hiện
việc thủ tục thay đổi hộ tịch. Về mặt chi phí, công dân sẽ phải chịu án phí phúc
thẩm, án phí để giải quyết yêu cầu dân sự, lệ phí hộ tịch.
5.3. Lựa chọn phương án giải quyết tình huống:
Trên cơ sở phân tích hai phương án trên, tôi quyết định lựa chọn phương án
2 bởi những lý do sau:
Thứ nhất, phương án này đã đáp ứng được đầy đủ các mục tiêu đặt ra khi
giải quyết tình huống. Đặc biệt, đảm bảo tối đa sự thuận tiện nhất cho công dân
trong việc tiếp cận và giải quyết các thủ tục hành chính về hộ tịch, đảm bảo giải
quyết nhanh chóng, triệt để, phù hợp với bản chất vụ việc và đúng pháp luật.
Thứ hai, phương án này hạn chế được những nhược điểm của phương án 1
trước đó. Điển hình như:
(i) Phương án 2 đưa ra cách giải quyết hiệu quả, phản ánh đúng bản chất vấn

đề của vụ việc thay vì áp dụng giải pháp thu hồi, hủy bỏ Giấy khai sinh như
phương án 1. Bởi, thủ tục thu hồi, hủy bỏ Giấy khai sinh (phương án 1) chỉ được
áp dụng khi việc cấp giấy tờ hộ tịch đó là trái quy định pháp luật. Ngược lại, thực


tế việc đăng ký và cấp Giấy khai sinh đối với trường hợp của cháu Khang tại
UBND xã Ia Piơr là đúng pháp luật.
(ii) Thủ tục hành chính giải quyết yêu cầu hộ tịch theo phương án 2 rất đơn

giản, nhanh chóng đối với cả công dân và cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong
khi, phương án 1 đặt ra yêu cầu khá phức tạp về thủ tục pháp lý và đòi hỏi không ít
thời gian đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan như: xác minh,
lập biên bản, xây dựng dự thảo và ban hành quyết định thu hồi, hủy bỏ Giấy khai
sinh. Ngược lại, ở phương án 2, thủ tục ghi vào sổ khai sinh thay đổi liên quan đến
phần thông tin người cha và thay đổi họ tên đơn giản đối với cả công dân và cơ
quan nhà nước có thẩm quyền chỉ cần căn cứ vào quyết định của Tòa án để tiến
hành thay đổi hộ tịch cho công dân.
(iii) Việc giải quyết tình huống theo phương án 2 không làm ảnh hưởng đến

uy tín của cơ quan nhà nước nói chung và UBND xã Ia Piơr nói riêng như phương
án 1.
(iv) Phương án 2 đưa ra cách thức để giúp Tòa án có cơ hội để nhận thức và

điều chỉnh lại tính không đúng đắn trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự thông
qua thủ tục kháng cáo. Điều này khắc phục hạn chế của phương án 1.
5.4. Lập kế hoạch tổ chức thực hiện phương án:
Trên cơ sở phương án đã lựa chọn, kế hoạch tổ chức thực hiện phương án
được xây dựng như sau:
Bước 1: Phòng Tư pháp huyện Chư Prông xây dựng và gửi công văn hướng
dẫn UBND Ia Piơr. Công văn phải đáp ứng đúng thể thức theo quy định của pháp
luật về thể thức văn bản hành chính. Nội dung công văn ngắn gọn dễ hiểu, trong đó
có ghi nhận cụ thể trình tự và nội dung các bước để giải quyết vụ việc.
Bước 2: Trên cơ sở hướng dẫn của Phòng Tư pháp, UBND xã Ia Piơr tổ chức
01 buổi làm việc để trao đổi, phân tích, giải thích và hướng dẫn công dân (anh
Minh) một cách khái quát về quy trình các công việc phải thực hiện để giải quyết
được yêu cầu hộ tịch của công dân.
Bước 3: Dựa vào hướng dẫn của UBND xã Ia Piơr, anh Minh thực hiện thủ
tục kháng cáo tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đối với phần nội dung liên quan


đến xác định cha, mẹ, con trong Quyết định số 20/2018/QĐST-HN&GĐ ngày
10/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Chư Prông. Trên cơ sở đơn kháng cáo, Tòa
án nhân dân tỉnh Gia Lai xem xét thụ lý và giải quyết yêu cầu kháng cáo theo trình
tự luật định.
Bước 4: Sau khi có Quyết định phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai
về việc sửa nội dung Quyết định số 20/2018/QĐST-HN&GĐ ngày 10/11/2018 của
Tòa án nhân dân huyện Chư Prông, bỏ nội dung xác định cha - con, anh Minh tiếp
tục làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chư Prông giải quyết việc xác định
cha - con. Tòa án nhân dân huyện Chư Prông xem xét thụ lý và giải quyết yêu cầu
trên.
Bước 5: Sau khi có quyết định giải quyết yêu cầu xác định cha - con của Tòa
án nhân dân huyện Chư Prông, anh Minh cung cấp đầy đủ thành phần hồ sơ cần
thiết (trong đó quyết định giải quyết yêu cầu xác định cha - con của Tòa án nhân
huyện Chư Prông) để làm căn cứ thực hiện thủ tục thay đổi hộ tịch về mối quan hệ
cha - con và việc thay đổi họ của con (từ họ cha sang họ mẹ). Trên cơ sở nội dung
hồ sơ được cung cấp, UBND xã Ia Piơr tiến hành thay đổi hộ tịch về mối quan hệ
cha - con và việc thay đổi họ của con theo quy định.
Bước 6: Sau khi thực hiện xong việc thay đổi hộ tịch trên, UBND xã Ia Piơr
phải làm văn bản thông báo cho Phòng Tư pháp huyện Chư Prông những nội dung
đã thay đổi để phục vụ việc quản lý hộ tịch.
III.

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

Có thể thấy, những tình huống phức tạp liên quan đến vấn đề khai sinh như
trong vụ việc trên không hiếm gặp trên thực tế. Đối mặt với những trường hợp như
vậy, điều quan trọng là chủ thể có thẩm quyền giải quyết phải phân tích được
nguyên nhân, hậu quả của tình huống để xác định mục tiêu rõ ràng trước khi đi vào
giải quyết vấn đề. Trên cơ sở các quy định của pháp luật và đối chiếu với tình
huống, chủ thể có thẩm quyền giải quyết vụ việc phải xây dựng, phân tích và lựa
chọn được phương án giải quyết vừa đúng pháp luật, vừa giải quyết thỏa đáng yêu
cầu, bảo đảm quyền, lợi ích đáng của công dân; sau đó lập kế hoạch chi tiết để tổ


chức thực hiện phương án đã lựa chọn. Những thao tác này có ý nghĩa quan trọng
tạo nên hiệu quả trong quá trình giải quyết tình huống.
Tuy nhiên, cần thấy rằng, bên cạnh việc chủ động tìm phương án giải quyết,
để giảm thiểu tình trạng tiếp tục có những vướng mắc trong quá trình giải quyết
các vụ việc tương tự, thì một trong những vấn đề không kém quan trọng của nhà
quản lý đó là có những biện pháp để hạn chế nguyên nhân dẫn đến tình huống đó.
Từ thực tiễn nghiên cứu, tôi xin mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đảm bảo tính khả
thi và có tính dự báo. Hiện nay, Luật Hộ tịch đã được Quốc hội thông qua ngày
20/11/2014 có hiệu lực từ 01/01/2016, song trong nội dung của Luật cũng chưa có
quy định nào điều chỉnh đối với vấn đề xóa thông tin của cha/mẹ trong Sổ đăng ký
khai sinh và Giấy khai sinh. Vì thế, trong thời gian tới cần phải nhanh chóng ban
hành Nghị định, Thông tư hướng dẫn trong đó ghi nhận cụ thể những nội dung
điều chỉnh đối với vấn đề này. Điều này sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để kịp thời
bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của công dân; đồng thời, giúp các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền có cơ sở để áp dụng thống nhất, giải quyết nhanh chóng vụ
việc. Mặt khác, giấy khai sinh là văn bản quan trọng và đầu tiên khẳng định sự tồn
tại của công dân và đi theo công dân suốt cuộc đời. Tuy nhiên, pháp luật về hộ tịch
hiện tại không cho phép cấp lại bản chính giấy khai sinh trong mọi trường hợp.
Thiết nghĩ, quy định này là phù hợp nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm về bảo vệ
và giữ gìn loại giấy tờ quan trọng này, nhưng pháp luật cũng nên quy định những
trường hợp ngoại lệ cụ thể như trong tình huống trên để tránh những hệ lụy về tâm
lý, tình cảm của trẻ em khi bị rơi vào hoàn cảnh không mong muốn như trong tình
huống.
Bên cạnh đó, về pháp luật tố tụng dân sự, cũng cần có quy định rõ ràng: cho
phép Tòa án được nhập, tách các việc dân sự để giải quyết nếu Tòa án xét thấy việc
nhập, tách các việc dân sự là hợp lý, thuận tiện cho đương sự, không trái quy định
pháp luật và được các đương sự đồng ý. Điều này sẽ góp phần giúp cho đương sự
tránh phải thực hiện nhiều thủ tục tố tụng tại tòa án để giải quyết các yêu cầu dân
sự của mình mặc dù các việc dân sự đó có liên quan đến nhau.


Thứ hai, thực hiện các biện pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật:
Một là, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hộ tịch và hôn nhân - gia đình đến
rộng rãi quần chúng nhân dân. Đây là cơ sở để nâng cao nhận thức của người dân,
giúp họ nắm bắt được những quyền, nghĩa vụ của mình và tránh được những sai
phạm không đáng có. Đồng thời, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát của người
dân đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước.
Hai là, thường xuyên tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và có đánh giá đối với đội
ngũ cán bộ, công chức làm công tác hộ tịch. Đội ngũ cán bộ, công chức là những
người trực tiếp giải quyết các vụ việc hộ tịch của công dân. Vì thế, hiệu quả giải
quyết đến đâu phụ thuộc một phần vào yếu tố chủ quan liên quan đến các chủ thể
này. Đội ngũ cán bộ, công chức cần được thường xuyên bồi dưỡng, đào tạo để
nâng cao trình độ chuyên môn của mình. Bên cạnh đó, phải có đánh giá để kịp thời
nắm bắt tình hình đội ngũ cán bộ, công chức, đặc biệt liên quan đến vấn đề đạo đức
công vụ và phòng, chống tham nhũng.
Ba là, phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của các đoàn, thể. Các
đoàn, thể là những tổ chức gắn bó trực tiếp với đời sống của nhân dân, vì thế họ có
cơ hội nắm bắt được những tâm tư, vướng mắc của người dân và thực tiễn tác động
của pháp luật để kịp thời có những phản hồi, góp ý, đặc biệt đối với quá trình xây
dựng, hoàn thiện pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay vai trò của các đoàn, thể còn mờ
nhạt. Do đó, cần phải có cơ chế để phát huy nguồn lực xã hội này như một kênh
trung gian nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật.


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu Bồi dưỡng ngạch chuyên viên.
Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Luật Hộ tịch 2014.
Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 quy định chi tiết một số điều
và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch
6. Thông tư 15/2015/TT-BTP ngày 16 tháng 11 năm 2015 Quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày
15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện
pháp thi hành Luật hộ tịch
1.
2.
3.
4.
5.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×