Tải bản đầy đủ

Phát huy vai trò nguồn lực con người trên địa bàn tỉnh thái nguyên trong giai đoạn hiện nay

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====o0o=====

DƯƠNG THỊ THANH

PHÁT HUY VAI TRÒ NGUỒN LỰC CON
NGƯỜI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Người hướng dẫn khoa học
ThS. Chu Thị Diệp

HÀ NỘI, 2018


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Phát huy vai trò nguồn lực con

người trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay” em đã nhận
được rất nhiều sự giúp đỡ.
Trước tiên cho phép em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới ThS.
Chu Thị Diệp - người đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức, kinh
nghiệm cho em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban Lãnh đạo Trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2, quý thầy cô khoa Giáo dục Chính trị đã tạo mọi điều kiện cho em hoàn
thành đề tài nghiên cứu.
Sau cùng em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn động viên,
giúp đỡ em trong quá trình làm khóa luận.
Em rất mong nhận được những ý kiến nhận xét của quý thầy, cô để khóa
luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2018
Sinh viên

Dương Thị Thanh


LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học với đề tài
“Phát huy vai trò nguồn lực con người trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
trong giai đoạn hiện nay” là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa được công bố trong các công
trình khác. Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2018
Sinh viên

Dương Thị Thanh


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
C
N
C
N
N
L
K
T
G
D
U
B

C
n
C
n
N
l
K
G
d

n


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU......................................................................................................... 1
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CON NGƯỜI VÀ
NGUỒN LỰC CON NGƯỜI.......................................................................... 8
1.1. Quan niệm về con người ....................................................................... 8
1.2. Nguồn lực con người và vai trò của nguồn lực con người ................. 15
Chương 2. THỰC TRẠNG VIỆC PHÁT HUY VAI TRÒ NGUỒN LỰC
CON NGƯỜI Ở THÁI NGUYÊN HIỆN NAY ........................................... 27
2.1. Một vài nét khái quát về Thái Nguyên ............................................... 27
2.2. Thực trạng việc phát huy vai trò nguồn nhân lực ở Thái Nguyên
hiện nay...................................................................................................... 33
Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ
NGUỒN LỰC CON NGƯỜI Ở THÁI NGUYÊN HIỆN NAY................... 47
3.1. Một số phương hướng nhằm phát huy vai trò nguồn lực con người ở
Thái Nguyên hiện nay ................................................................................ 47
3.2. Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò nguồn lực con người ở Thái
Nguyên hiện nay ........................................................................................ 56
KẾT LUẬN ................................................................................................... 62
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................... 64
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

1


Hiện nay, phát triển bền vững được xác định là chiến lược ưu tiên hàng
đầu của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Một trong những cơ sở, nền tảng
quan trọng nhất để thực hiện chiến lược phát triển đó là nguồn lực con
người. Lịch sử phát triển xã hội đã chứng minh rằng, trong mọi giai đoạn,
con người là yếu tố đóng vai trò quyết định sự phát triển theo chiều hướng
tiến bộ của xã hội. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã hoàn toàn đúng
khi khẳng định rằng, sự phát triển của xã hội không phải do bất kỳ một lực
lượng siêu nhiên nào, mà chính con người đã sáng tạo nên lịch sử của mình lịch sử xã hội loài người.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn coi
con người là vốn quý nhất, là mục tiêu, động lực của cách mạng, là yếu tố
quyết định sự thành bại của cách mạng. Đặc biệt, từ Đại hội VI (năm 1986)
của Đảng, với sự đổi mới toàn diện và sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn trên
mọi lĩnh vực, nhận thức về vị trí, vai trò của con người cũng ngày càng đầy
đủ và sâu sắc hơn. Đảng ta luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của quá
trình phát triển, là đối tượng, mục tiêu và động lực của mọi hoạt động kinh tếxã hội.
Quan điểm này được thể hiện xuyên suốt trong các kỳ đại hội, cũng như
trong mọi chủ trương, chính sách của Đảng. Đặc biệt, tại Đại hội XII, Đảng
đã bổ sung và phát triển nhiều quan điểm mới về xây dựng, phát triển con
người. Những quan điểm này không chỉ là sự bổ sung về mặt lý luận, mà còn
được cụ thể hóa thành các nhiệm vụ, giải pháp, định hướng cụ thể trong chỉ
đạo hoạt động thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Thái Nguyên là tỉnh có nhiều lợi thế so sánh về vị trí địa lý, con người,
tài nguyên và các tiềm năng phát triển khác. Để khai thác có hiệu quả các lợi

2


thế và nguồn lực sẵn có cũng như tận dụng được những cơ hội và điều kiện
thuận lợi trong hoàn cảnh mới, nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng tỉnh Thái
Nguyên cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp trước năm 2020 theo tinh thần
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII đã đề ra. Trải qua quá trình
xây dựng và phát triển, nền kinh tế của tỉnh luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao,
quy mô không ngừng được nâng lên, vị thế của tỉnh từng bước được khẳng
định. Đạt được những thành tựu quan trọng trên, đó là Thái Nguyên đã tập
trung phát triển nguồn nhân lực, coi đây là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa có
tính chiến lược lâu dài. Phát triển nhân lực của tỉnh luôn gắn kết chặt chẽ với
phát triển kinh tế - xã hội. Trong những năm gần đây Thái Nguyên đã có
nguồn nhân lực tương đối dồi dào, tốc độ phát triển nguồn nhân lực ngày càng
tăng về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, chất lượng nhân lực của Thái
Nguyên vẫn còn thấp, nhất là nhân lực chất lượng cao, chưa đáp ứng được
yêu cầu phát triển của tỉnh; thiếu đội ngũ có trình độ chuyên môn giỏi trong
các lĩnh vực, thiếu cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề; khả năng tự tìm
kiếm việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp của người lao động còn hạn chế. Tốc
độ phát triển còn chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh. Một trong những
nguyên nhân chủ yếu là việc nguồn lực con người của Thái Nguyên chưa
được phát huy và sử dụng có hiệu quả như: tình trạng thất nghiệp, việc làm
không thường xuyên, việc làm không đúng chuyên ngành và không hiệu
quả... còn khá phổ biến, hơn nữa nhiều tiềm năng quan trọng của nhân tố con
người như trí tuệ, nền văn hóa truyền thống... vẫn chưa được phát huy tốt
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Vì những lí do trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài Phát huy vai trò
nguồn lực con người trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện
nay làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình. Qua đó cũng xin góp một phần
nhỏ vào việc tìm hiều nguồn lực con người và đề xuất một số giải pháp nhằm
phát huy nguồn lực con người trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.

3


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây vấn đề con người được rất nhiều các nhà khoa
học quan tâm nghiên cứu. Nhiều công trình đã được xuất bản và phổ biến tiêu
biểu như:
Một số công trình nghiên cứu về con người và nguồn lược con người
được xuất bản thành sách:
* “Hiện tượng con người” (2014, Nxb Tri thức) của nhà văn Pierre
Teilhard De Chardin, được dịch giả Đặng Xuân Thảo dịch, tác giả viết về quá
trình tiến hóa trong quá khứ, cho đến tận những cội nguồn của sự sống trên
trái đất. Cũng chính từ cách nhìn này, tác giả nhận ra sự cần thiết của việc đưa
vào quá trình đó một biến số mới nhằm diễn giải hợp lẽ hiện tượng con người.
Theo những nấc thang tiến hóa, cấp độ tâm thần ngày càng tăng lên và bắt
đầu từ con người, tác động của nó trở nên nổi trội sau khi đã trở thành ý thức
có phản tư. Từ đó, tinh thần trở thành động lực chủ chốt của sự tiến hóa, một
tuệ quyển ra đời bên trên sinh quyển. Tiếp nối bước chuyển vượt qua ngưỡng
phản tư trong mỗi cá thể con người là sự đi lên của ý thức hướng đến bước
chuyển tập thể của sự phản tư, biểu lộ qua những hiện tượng xã hội.
* Hồ Sĩ Quý “Con người và phát triển con người”, ông chia cuốn sách
ra thành 3 phần: Phần 1. Một số vấn đề lý luận về con người và phát triển con
người; Phần 2. Một số vấn đề phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
con người; Phần 3. Xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá cùng với những nghiên cứu mang tính triết học
chuyên sâu, vừa trải dài theo chiều lịch sử, vừa cập nhật những tri thức mới
nhất của thế giới về vấn đề con người và phát triển con người.
* GS. TS Phạm Minh Hạc (1995), “Vấn đề con người trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Dựa trên cơ
sở đề cấp đến vấn đề con người, từ đó tác giả đã đưa ra các quan niệm của
mình về nguồn lực con người và vai trò của nguồn lực con người đối với sự
phát triển của đất nước.

4


* Mai Quốc Chánh (1999), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội. Đã đề cập đến đặc điểm, vai trò của nguồn lực con người; khảo sát
thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng
yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
* GS.TS Phạm Minh Hạc (2001), Nghiên cứu con người và nguồn nhân
lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Trong cuốn sách này người viết đã trình bày khái quát lịch sử hình thành và
phát triển của các ngành khoa học xã hội nghiên cứu con người trên thế giới
và Việt Nam, đồng thời đề xuất và kiến nghị về chiến lược và chính sách
nhằm phát triển con người và nguồn lực con người nước ta hiện nay.
* TS. Phạm Thống Nhất (2007), Phát huy nhân tố con người trong quá
trình phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội. Tác giả đã khái quát quá trình xây dựng và phát triển nguồn nhân
lực ở Việt Nam sau 20 năm đổi mới từ đó rút ra những thành tựu, hạn chế và
những vấn đề đặt ra.
Các công trình nghiên cứu đăng trên bài tạp chí khoa học:
* Đặng Đăng Kiên (1/2005), “Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao
trong đội ngũ cán bộ công chức tỉnh Bình Dương”, Tạp chí khoa học xã hội.
Bài viết đã đề cập thực trạng nguồn nhân lực cán bộ, công nhân viên chức
tỉnh Bình Dương hiện nay, qua đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển
nguồn nhân lực của tỉnh.
* Nguyễn Thành Trung (7/2008), “Vai trò của con người và vấn đề phát
huy nguồn lực con người trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay”, Tạp
chí triết học. Bài viết góp phần làm rõ thêm vai trò của con người đối với sự
phát triển của xã hội. Trên cơ sở chỉ ra một số hạn chế về mặt chất lượng cũng
như những bất cập trong việc khai thác nguồn lực con người, tác giả đã phân

5


tích một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực con người và phát
huy nó trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam.
* Phạm Thị Oanh (8/2009), “Vai trò của con người trong sự phát triển
xã hội theo định hướng bền vững”, Tạp chí triết học. Bài viết khẳng định con
người luôn giữ vị trí trung tâm trong các quá trình kinh tế - xã hội, nhân tố
con người chiếm vị trí hàng đầu trong tổng thể các nhân tố tác động đến sự
phát triển của đất nước.
Các công trình nghiên cứu luận văn, luận án:
* Lê Quang Hùng (2006), “Nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát
triển kinh tế - xã hội ở thành phố Đã Nẵng”, luận văn thạc sĩ kinh tế, Hà Nội.
Tác giả đã đề cập đến các quan niệm, các tiêu chí xác định và vai trò của
nguồn lực chất lượng cao đối với phát triển kinh tế - xã hội và các nhân tố ảnh
hưởng đến nguồn lực chất lượng cao. Qua đó, tác giả chỉ ra thực trạng nguồn
nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Đã
Nẵng trong những năm qua, tìm ra những giải pháp nhằm tạo cho nguồn nhân
lực chất lượng cao cho phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Đà Nẵng.
* Quách Hữu Ngạn (2006), “Phát huy vai trò của nguồn lực con người
trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay”, luận
văn thạc sĩ triết học chuyên ngành triết học, Hà Nội. Tác giả đã phân tích vai
trò của nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội, đánh giá thực
trạng nguồn lực con người và việc sử dụng nguồn lực con người ở tỉnh Vĩnh
Phúc hiện nay. Đồng thời, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của
nguồn lực con người tỉnh Vĩnh Phúc.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên
cứu
Trên cơ sở phân tích thực trạng phát huy vai trò nguồn lực con người,
khóa luận đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nguồn lực con
người để đáp ứng những nhu cầu phát triển địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay.
6


3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích của khóa luận phải thực hiện những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, khóa luận đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về nguồn lực
con người và vai trò của nguồn lực con người.
Thứ hai, đánh giá thực trạng phát huy vai trò của nguồn lực con người
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay.
Thứ ba, đề xuất những phương hướng và những giải pháp chủ yếu mang
tính định hướng cho việc phát huy nguồn lực con người ở tỉnh Thái Nguyên
hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Vấn đề phát huy vai trò nguồn lực con người trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung đi vào nghiên cứu việc phát huy vai trò nguồn lực con
người ở tỉnh Thái Nguyên từ năm 2000 đến năm 2015.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của khóa luận
* Cơ sở lý luận
Khóa luận được triển khai trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử); tư
tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nguồn
lực con người.
* Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận biện
chứng duy vật và duy vật lịch sử và các phương pháp cụ thể khác như: phân
tích - tổng hợp; thống kê xã hội học, logic - lịch sử…
6. Đóng góp của khóa luận
* Đóng góp mới của khóa luận
Khóa luận góp phần làm rõ vai trò của việc phát triển nguồn lực con
người của đất nước nói chung, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói riêng.

7


Đề xuất quan điểm định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát
triển nguồn lực con người ở Thái Nguyên hiện nay.
* Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của khóa luận
Khóa luận có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho
những người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy bô môn Mác - Lênin,
những ai quan tâm đến vấn đề phát triển nguồn lực con người của đất nước
nói chung, ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng. Bên cạnh đó, những kết quả của bài
khóa luận cũng trở thành những cơ sở thực tiễn đáng tin cậy để các cấp, ban
ngành lãnh đạo tỉnh Thái Nguyên tham khảo trong quá trình hoạch định các
đường lối, chủ trương chính sách phát huy vai trò của nguồn lực con người ở
tỉnh Thái Nguyên trong những giai đoạn tiếp theo.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phục lục,
khóa luận được kết cấu gồm 3 chương, 6 tiết.

8


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CON NGƯỜI
VÀ NGUỒN LỰC CON NGƯỜI
1.1. Quan niệm về con người
1.1.1. Quan niệm trước Mác về con người
Những vấn đề triết học về con người là một nội dung lớn trong lịch sử
triết học nhân loại. Đó là những vấn đề: Con người là gì? Bản tính, bản chất
con người? Mối quan hệ giữa con người và thế giới? Con người có thể làm gì
để giải phóng mình, đạt tới tự do?.... Đây cũng chính là nội dung cơ bản của
nhân sinh quan - một nội dung cấu thành thế giới quan triết học.
Tuỳ theo điều kiện lịch sử của mỗi thời đại mà nổi trội lên vấn đề này
hay vấn đề kia. Đồng thời, tuỳ theo góc độ tiếp cận khác nhau mà các trường
phái triết học, các nhà triết học trong lịch sử có những phát hiện, đóng góp
khác nhau trong việc lý giải về con người. Mặt khác trong khi giải quyết
những vấn đề trên, mỗi nhà triết học, mỗi trường phái triết học có thể lại đứng
trên lập trường thế giới quan, phương pháp luận khác nhau: duy vật hoặc duy
tâm, biện chứng hoặc siêu hình...
Trong nền triết học Trung Hoa suốt chiều dài lịch sử trên hai ngàn năm
cổ - trung đại, vấn đề bản tính con người là vấn đề được quan tâm hàng đầu.
Giải quyết vấn đề này, các nhà tư tưởng của Nho gia và Pháp gia đã tiếp cận
từ giác độ hoạt động thực tiễn chính trị, đạo đức của xã hội và đi đến kết luận
bản tính người là Thiện (Nho gia) và bản tính người là Bất Thiện (Pháp gia).
Các nhà tư tưởng của Đạo gia, ngay từ Lão Tử thời Xuân Thu, lại tiếp cận
giải quyết vấn đề bản tính người từ giác độ khác và đi tới kết luận bản tính tự
nhiên của con người. Sự khác nhau về giác độ tiếp cận và với những kết luận
khác nhau về bản tính con người đã là tiền đề xuất phát cho những quan điểm
khác nhau của các trường phái triết học này trong việc giải quyết các vấn đề
về quan điểm chính trị, đạo đức và nhân sinh của họ.

9


Khác với nền triết học phương Đông, trong suốt chiều dài lịch sử triết
học phương Tây từ Cổ đại Hy Lạp trải qua giai đoạn Trung cổ, Phục hưng và
Cận đại đến nay, những vấn đề triết học về con người vẫn là một đề tài tranh
luận chưa chấm dứt.
Thực tế lịch sử đã cho thấy giác độ tiếp cận giải quyết các vấn đề triết
học về con nngười trong nền triết học phương Tây có nhiều điểm khác với
nền triết học phương Đông. Nhìn chung, các nhà triết học theo lập trường triết
học duy vật đã lựa chọn giác độ khoa học tự nhiên để lý giải về bản chất con
người và các vấn đề khác có liên quan. Ngay từ thời Cổ đại, các nhà triết học
duy vật đã từng đưa ra quan niệm về bản chất vật chất tự nhiên của con người,
coi con người cũng như vạn vật trong giới tự nhiên không có gì thần bí, đều
được cấu tạo nên từ vật chất. Tiêu biểu là quan niệm của Đêmôcrit về bản tính
vật chất nguyên tử cấu tạo nên thể xác và linh hồn của con người. Đây cũng là
tiền đề phương pháp luận của quan điểm nhân sinh theo đường lối Êpiquya...
Những quan niệm duy vật như vậy đã được tiếp tục phát triển trong nền triết
học thời Phục hưng và Cận đại mà tiêu biểu là các nhà duy vật nước Anh và
Pháp thế kỷ XVIII; nó cũng là một trong những tiền đề lý luận cho chủ nghĩa
duy vật nhân bản của Phoiơbắc. Trong một phạm vi nhất định, đó cũng là một
trong những tiền đề lý luận của quan niệm duy vật về con người trong triết
học Mác.
Đối lập với các nhà triết học duy vật, các nhà triết học duy tâm trong lịch
sử triết học phương Tây lại chú trọng giác độ hoạt động lý tính của con người.
Tiêu biểu cho giác độ tiếp cận này là quan điểm của Platôn thời Cổ đại Hy
Lạp, Đêcáctơ trong nền triết học Pháp thời Cận đại và Hêghen trong nền triết
học Cổ điển Đức. Do không đứng trên lập trường duy vật, các nhà triết học
này đã lý giải bản chất lý tính của con người từ giác độ siêu tự nhiên. Với
Platôn, đó là bản chất bất tử của linh hồn thuộc thế giới ý niệm tuyệt đối, với

10


Đêcáctơ, đó là bản tính phi kinh nghiệm của lý tính, còn đối với Hêghen, thì
đó chính là bản chất lý tính tuyệt đối...
Trong nền triết học phương Tây hiện đại, nhiều trào lưu triết học vẫn coi
những vấn đề triết học về con người là vấn đề trung tâm của những suy tư
triết học mà tiêu biểu là chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa Phơrớt.
Nhìn chung, các quan điểm triết học trước Mác và ngoài mácxít còn có
một hạn chế cơ bản là phiến diện trong phương pháp tiếp cận lý giải các vấn
đề triết học về con người, cũng do vậy trong thực tế lịch sử đã tồn tại lâu dài
quan niệm trừu tượng về bản chất con người và những quan niệm phi thực
tiễn trong lý giải nhân sinh, xã hội cũng như những phương pháp hiện thực
nhằm giải phóng con người. Những hạn chế đó đã được khắc phục và vượt
qua bởi quan niệm duy vật biện chứng của triết học Mác-Lênin về con người.
1.1.2. Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênnin về con người
Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học,
đồng thời khẳng định con người là một thực thể tự nhiên có sự thống nhất
giữa hai mặt tự nhiên và hội; con người là chủ thể đồng thời là sản phẩm của
lịch sử.
Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã
hội
Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự tồn tại của con người là giới tự
nhiên. Cũng do đó, bản tính tự nhiên của con người bao hàm trong nó tất cả
bản tính sinh học, tính loài của nó. Yếu tố sinh học trong con người là điều
kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người. Vì vậy, có thể nói, giới tự
nhiên là "thân thể vô cơ của con người"; con người là một bộ phận của tự
nhiên; là kết quả của quá trình phát triển và tiến hoá lâu dài của môi trường tự
nhiên.
Tuy nhiên, điều cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải là yếu tố
duy nhất quy định bản chất con người. Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa
con người với thế giới loài vật là phương diện xã hội của nó. Trong lịch sử đã
11


có những quan niệm khác nhau phân biệt con người với loài vật, như con
người là động vật sử dụng công cụ lao động, là "một động vật có tính xã hội",
hoặc con người động vật có tư duy... Những quan niệm trên đều phiến diện
chỉ vì nhấn mạnh một khía cạnh nào đó trong bản chất xã hội của con người
mà chưa nêu lên được nguồn gốc của bản chất xã hội ấy.
Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đề
con người một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của
nó, mà trước hết là lao động sản xuất ra của cải vật chất. "Có thể phân biệt
con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái
gì cũng được. Bản thân con người bắt đầu bằng sự tự phân biệt với súc vật
ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình - đó
là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định. Sản xuất ra những
tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính
đời sống vật chất của mình" [21, tr.29].
Thông qua hoạt động sản xuất vật chất; con người đã làm thay đổi, cải
biến giới tự nhiên: "Con vật chỉ sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái
sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên" [21, tr.41].
Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất;
hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của con
người. Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải
vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển
ngôn ngữ và tư duy; xác lập quan hệ xã hội. Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết
định hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân
cách cá nhân trong cộng đồng xã hội.
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát
triển của con người luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác
nhau, nhưng thống nhất với nhau. Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật

12


về sự phù hợp cơ thể với môi trường, quy luật về sự trao đổi chất, về di
truyền, biến dị, tiến hóa... quy định phương diện sinh học của con người. Hệ
thống các quy luật tâm lý ý thức hình thành và vận động trên nền tảng sinh
học của con người như hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí. Hệ
thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người.
Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn
chỉnh trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội. Mối
quan hệ sinh học và xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinh
học và nhu cầu xã hội trong đời sống con người như nhu cầu ăn, mặc, ở; nhu
cầu tái sản xuất xã hội; nhu cầu tình cảm; nhu cầu thẩm mỹ và hưởng thụ các
giá trị tinh thần.
Với phương pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ
giữa mặt sinh học và mặt xã hội, cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội
trong mỗi con người là thống nhất. Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của
con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với
loài vật. Nhu cầu sinh học phải được "nhân hóa" để mang giá trị văn minh con
người, và đến lượt nó, nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu
cầu sinh học. Hai mặt trên thống nhất với nhau, hoà quyện vào nhau để tạo
thành con người viết hoa, con người tự nhiên - xã hội.
Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan
hệ xã hội
Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, con người
vượt lên thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự
nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người. Cả ba mối
quan hệ đó, suy đến cùng, đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữa
người với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác và
mọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người.

13


Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên
luận đề nổi tiếng trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc: "Bản chất con
người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong
tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội"
[21, tr.11].
Luận đề trên khẳng định rằng, không có con người trừu tượng, thoát ly
mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội. Con người luôn luôn cụ thể, xác định,
sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định.
Trong điều kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo
ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư
duy trí tuệ. Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó (như quan hệ giai
cấp, dân tộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ cá nhân, gia đình, xã
hội...) con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình.
Điều cần lưu ý là luận đề trên khẳng định bản chất xã hội không có
nghĩa là phủ nhận mặt tự nhiên trong đời sống con người. Song, ở con
người, mặt tự nhiên tồn tại trong sự thống nhất với mặt xã hội; ngay cả việc
thực hiện những nhu cầu sinh vật ở con người cũng đã mang tính xã hội.
Quan niệm bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội mới giúp
cho chúng ta nhận thức đúng đắn, tránh khỏi cách hiểu thô thiển về mặt tự
nhiên, cái sinh vật ở con người.
Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử
Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con
người. Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài của
giới hữu sinh. Song, điều quan trọng hơn cả là, con người luôn luôn là chủ thể
của lịch sử - xã hội. C.Mác đã khẳng định: "Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa
cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục... cái
học thuyết ấy quên rằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và

14


bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục" [23, tr.10]. Trong tác
phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen cũng cho rằng: "Thú vật cũng có
một lịch sử, chính là lịch sử nguồn gốc của chúng và lịch sử phát triển dần
dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng. Nhưng lịch sử ấy không
phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việc làm ra
lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và không phải do ý
muốn của chúng. Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa
hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm ra lịch sử của
mình một cách có ý thức bấy nhiêu" (1, tr 367).
Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn,
tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động
phát triển của lịch sử xã hội. Thế giới loài vật dựa vào những điều kiện có sẵn
của tự nhiên. Con người thì trái lại, thông qua hoạt động thực tiễn của mình
để làm phong phú thêm thế giới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo
mục đích của mình.
Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của
mình. Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch
sử của chính bản thân con người. Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều
kiện cho sự tồn tại của con người, vừa là phương thức để làm biến đổi đời
sống và bộ mặt xã hội. Trên cơ sở nắm bắt quy luật của lịch sử xã hội, con
người thông qua hoạt động vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ
thấp đến cao, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu do con người đặt ra. Không có
hoạt động của con người thì cũng không tồn tại quy luật xã hội, và do đó,
không có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người.
Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi giai
đoạn phát triển nhất định của xã hội. Do vậy, bản chất con người, trong mối
quan hệ với điều kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận động biến đổi, cũng phải
thay đổi cho phù hợp. Bản chất con người không phải là một hệ thống đóng

15


kín, mà là hệ thống mở, tương ứng với điều kiện tồn tại của con người. Mặc
dù là "tổng hoà các quan hệ xã hội", con người có vai trò tích cực trong tiến
trình lịch sử với tư cách là chủ thể sáng tạo. Thông qua đó, bản chất con
người cũng vận động biến đổi cho phù hợp. Có thể nói rằng, mỗi sự vận động
và tiến lên của lịch sử sẽ quy định tương ứng (mặc dù không trùng khớp) với
sự vận động và biến đổi của bản chất con người.
Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải
làm cho hoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn. Hoàn cảnh đó
chính là toàn bộ môi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo
khuynh hướng phát triển nhằm đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có
ý nghĩa định hướng giáo dục. Thông qua đó, con người tiếp nhận hoàn cảnh
một cách tích cực và tác động trở lại hoàn cảnh trên nhiều phương diện khác
nhau: hoạt động thực tiễn, quan hệ ứng xử, hành vi con người, sự phát triển
của phẩm chất trí tuệ và năng lực tư duy, các quy luật nhận thức hướng con
người tới hoạt động vật chất. Đó là biện chứng của mối quan hệ giữa con
người và hoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử xã hội loài người.
1.2. Nguồn lực con người và vai trò của nguồn lực con người
1.2.1. Nguồn lực con người
* Quan niệm về nguồn lực con người
Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Quá trình này
chỉ thành công khi chúng ta huy động sức mạnh của tất cả các nguồn lực như:
đất đai, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng, vốn, khoa học và công nghệ,
nguồn lực con người; văn hóa, truyền thống dân tộc, thể chế chính trị… nhằm
tạo nên sức mạnh tổng hợp đẩy nhanh thời ký quá độ. Trong các nguồn lực,
nguồn lực con người với những tính năng riêng biệt luôn giữ vị trí trung tâm
và quyết định đến việc phát huy sức mạnh của các nguồn khác. Do đó, việc
nhận thức đúng vai trò quan trọng của nguồn lực con người có ý nghĩa vô
cùng to lớn đối với công cuộc phát triển đất nước.

16


Để hiểu được khái niệm “nguồn lực con người” và nó có vai trò như thế
nào thì trước tiên phải hiểu khái niệm nguồn lực là gì? Hiện nay, khái niệm về
nguồn lực chỉ được đưa ra dưới dạng các quan niệm tổng quát nguồn lực là
toàn bộ các yếu tố cả về vật chất và tinh thần đã, đang và sẽ tạo ra sức mạnh
góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội và chính trị của quốc gia đó.
Khi xét đến nguồn lực thì không chỉ xét về sức mạnh, năng lực đã và đang
được bộc lộ, phát huy tác dụng mà cả những sức mạnh và năng lực được tồn
tại ở dạng tiềm ẩn, sẽ được nảy sinh và khơi dậy, khai thác sử dụng trong quá
trình phát triển khi gặp điện kiện thuận lợi cụ thể.
Cách phân loại nguồn lực còn tùy thuộc vào việc xác định các tiêu chí và
xem xét chúng trong các mối quan hệ khác nhau như: nguồn lực tinh thần và
nguồn lực vật chất; nguồn lực văn hóa hay nguồn lực kinh tế; nguồn lực
khách quan và nguồn lực chủ quan… Cho đến nay, để khẳng định vai trò của
nguồn lực người ta chia nguồn lực thành các loại cơ bản như: nguồn nhân lực
(hay còn là nguồn lực con người); nguồn lực bên ngoài; nguồn lực do vị trí
địa lý thuận lợi… Phân loại nguồn lực có các tiêu chí rất đa dạng và phong
phú. Trong các yếu tố thì nguồn lực con người là quan trọng và là nhân tố chủ
động nhất, nó còn có khả năng định hướng và gắn kết các nguồn lực khác vì
một mục tiêu nhất định nào đó.
“Nguồn lực con người” hay “nguồn nhân lực” là khái niệm được hình
thành trong quá trình xem xét và nghiên cứu con người với tư cách là một
phần nguồn lực, là động lực của sự phát triển. Đã có rất nhiều các công trình
nghiên cứu cả trong nước và trên thế giới đã đề cập đến khái niệm nguồn lực
con người dưới những góc độ khác nhau như sau:
Khái niệm “nguồn lực con người” đã được nhiều nước ở Phương Tây và
một số nước ở Châu Á sử dụng từ những năm 60 của thế kỷ XX, dựa trên các
quan niệm về vai trò, vị trí của con người trong sự phát triển. Còn ở Việt

17


Nam, khái niệm này được bắt đầu sử dụng tương đối rộng rãi bắt đầu từ
những thập niên 90 của thế kỷ XX. Khi nói đến nguồn lực con người là đề cập
đến yếu tố quan trọng nhất, phát triển nhất của việc tăng trưởng kinh tế - xã
hội, vì chính các hoạt động của nguồn lực con người mang tính sáng tạo, năng
độ có tư duy đã tác động làm biến đổi giới tự nhiên từ đó hình thành nên các
quy luật và mối quan hệ xã hội khác nhau.
Trong lý luận hình thái kinh tế - xã hội đã chỉ rõ; mỗi hình thái kinh tế xã hội có một lực lượng sản xuất của nó, trong đó con người được coi là lực
lượng sản xuất chủ yếu, hàng đầu và là yếu tố quan trọng quyết định toàn bộ
quá trình sản xuất xã hội. Lênnin đã khẳng định: “lực lượng sản xuất hàng đầu
của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động” [22, tr.430]. Trải qua
lịch sử dâu dài chinh phục giới tự nhiên của con người thì sức mạnh của con
người ngày càng được thể hiện rõ hơn trong điều kiện cụ thể thông qua hoạt
động thực tiễn của mình, con người cải tạo giới tự nhiên sáng tạo ra lịch sử và
từng bước hoàn thiện bản thân của mình.
Nguồn lực con người chính là nguồn lực duy nhất để khai thác các
nguồn lực khác, trong bản thân nguồn lực con người đã là một nguồn lực để
tăng trưởng và phát triển. Đối với thời đại ngày nay, khi khoa học trở thành
lực lượng sản xuất trực tiếp thì vai trò của nguồn lực con người càng càng
được thể hiện rõ nét.
Ngân hàng thế giới cho rằng: Nguồn lực con người được hiểu như toàn
bộ “vốn” người. “Vốn” được hiểu đó là các giá trị mang lại lợi ích kinh tế - xã
hội để nói đến tầm quan trọng của việc đầu tư vào phát triển con người thông
qua giáo dục - đào tạo hay việc chăm sóc sức khỏe nhằm tạo ra những người
lao động có tri thức và có khả năng nhận thực, tiếp thu kiến thức kỹ năng
nghề nghiệp, đặc biệt có sức khỏe tốt để đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao
hiện nay.

18


Dưới góc độ triết học, các nhà khoa học Việt Nam tham gia chương
trình khoa học - công nghệ cấp nhà nước mã số KX - 07: “Con người Việt
Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” do GS Phạm
Minh Hạc chủ trì đã quan niệm: “Nguồn lực con người được hiểu dân số và
chất lượng của con người bao gồm cả thể chất và tinh thần; sức khỏe và trí
tuệ; năng lực và phẩm chất” [19]. GS, TS Hoàng Chí Bảo cho rằng: “Nguồn
lực con người là sự kết hợp giữa trí lực, thể lực cho thấy khả năng sáng tạo chất lượng, hiểu quả hoạt động và triển vọng mới phát triển con người” [2].
GS.VS Đoàn Văn Khái cho rằng, khái niệm “nguồn lực con người” ngoài
nghĩa rộng được hiểu như “nguồn lực con người” còn được hiểu theo nghĩa
hẹp là nguồn lao động, cũng có thể được hiểu là lực lượng lao động. “Nguồn
lực con người là khái niệm chỉ số dân, cơ cấu dân số và nhất là chất lượng
con người với tất cả đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội”
[20, tr.62].
Như vậy, có rất nhiều cách tiếp cận nguồn nhân lực - nguồn lực con
người, nhưng tựu trung lại thì nguồn nhân lực của một quốc gia, một vùng
miền, một địa phương được xác định bao gồm số lượng, chất lượng con người
như tình cảm, lý tưởng và ý trí… giữa chúng có những mối quan hệ tác động
qua lại và bổ sung cho nhau để tạo nên sự phát triển toàn diện của nguồn lực
con người.
Trong các yếu tố cấu thành nguồn lực con người thì yếu tố trí tuệ được
xem là nguồn lực quan trọng nhất, nó giữa vai trò trung tâm chỉ đạo mọi hành
vi và quyết định khả năng sáng tạo của mỗi con người trong các hoạt động
thực tiễn để nhằm phát triển kinh tế - xã hội.
* Các yếu tố cấu thành nguồn lực con người
Nguồn lực con người chính là sự thống nhất và kết hợp giữa ba yếu tố cơ
bản: số lượng nguồn lực con người, chất lượng nguồn lực con người, cơ cấu

19


nguồn lực con người. Trong ba yếu tố trên thì yếu tố chất lượng nguồn lực
con người đóng vai trò là cơ bản và quyết định nhất và đặc biệt trong bối cảnh
xã hội khoa học - công nghệ như hiện nay.
Về số lượng nguồn lực con người: số lượng nguồn lực con người được
xác định trên quy mô dân số, cơ cấu độ tuổi, sự nối tiếp các thế, giới tính và sự
phân bố dân cư giữa các vùng, các miền của đất nước, giữa các ngành kinh tế,
giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội. Là tổng số lao động đã và đang được
đào tạo hay đã và sẵn sàng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội,
được quy định bởi quy mô dân số. Trong đó, số dân trong độ tuổi lao động
phản ánh rõ nhất về số lượng nguồn lực con người. Số lượng nguồn lực con
người đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Về chất lượng nguồn lực con người: Nói đến chất lượng nguồn lực con
người là muốn nói đến vai trò quyết định sức mạnh của nguồn lực con người,
bao gồm những yếu tố cơ bản đó là: sức khỏe, mức sống, trình độ giáo dục,
đào tạo về văn hóa về chuyên môn nghề nghiệp, trình độ học vấn, khả năng
thích ứng, kỹ năng lao động, phẩm chất đạo đức, văn hóa, tư tưởng và lối
sống, … song khái quát lại gồm thể lực, trí lực và những phẩm chất đạo đức tinh thần của con người.
- Về thể lực: Đầu những năm 90 của thế kỷ XX, tầm vóc và thể lực của
người Việt Nam đang được cải thiện về chiều cao, cân nặng, tỷ lệ suy dinh
dưỡng và tuổi thọ. Tuy nhiên, thể lực con người của nước ta vẫn còn kém hơn
thể lực con người của một số nước trong khu vực và so với yêu cầu của nguồn
lực con người ở nước ta. Nước ta vẫn nằm trong số các nước có mực sống
thấp nhất thế giới. Điều kiện lao động và cơ sở vật chất trong các ngành sản
xuất cũng như một số cơ quan hành chính sự nghiệp còn khắc nghiệt, môi
trường lao động còn bị ô nhiễm nghiêm trọng, các yếu tố nguy hiểm và độc
hại vượt quá ngưỡng giới hạn cho phép; tại nạn lao động và bệnh nghề nghiệp

20


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×