Tải bản đầy đủ

de tai minh

Chuyên đê: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công
ty TNHH Xây dựng tổng hợp Hoàng Phong
A. LỜI MỞ ĐẦU
s
1. Lý do chọn đề tài:
Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế sẵn sàng hợp tác kinh doanh
bình đẳng, hữu nghị cùng có lợi với các quốc gia trên thế giới, các doanh nghiệp Việt
Nam ngày càng nâng cao được vị thế, uy tín của mình trên trường quốc tế. Một trong
những nhân tố góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của đất nước ta trong thời kỳ
công nghiệp hoá - hiện đại hoá là cơ sở vật chất kỹ thuật. Với chức năng, nhiệm vụ tạo ra
cơ sở hạ tầng và tài sản cố định cho các ngành kinh tế cũng như cho toàn xã hội, ngành
xây dựng đã và đang khẳng định được vị trí hàng đầu trong nền kinh tế quốc dân. Trong
lĩnh vực xây dựng cơ bản, các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh
cũng nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận và công tác kế toán, tài chính nói chung, kế toán
tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng giữ vai trò trung tâm giúp
các doanh nghiệp nhanh chóng đạt được mục tiêu của mình.
Qua thời gian học tập và nghiên cứu tại trường Đại Học Dân lập Phú Xuân với
chuyên ngành là Kế toán Doanh nghiệp em đã có những kiến thức cơ bản về chuyên
ngành của mình, em nhận thấy được tầm quan trọng của công tác kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm, được sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn, giảng viên
Trường Đại học Phú Xuân, Khoa Kế Toán – Tài Chính. Do đó em quyết định lựa chọn đề

tài: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH
Xây dựng tổng hợp Hoàng Phong làm đề tài nghiên cứu cho chuyên đề tốt nghiệp của
mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu về mặt lý luận kế toán chi phí sản xuất và các phương pháp tính giá
thành sản phẩm là những chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh, chi
phí sản xuất là cơ sở để tạo nên giá thành sản phẩm vì vậy tính đúng, tính đủ chi phí là
một trong những điều kiện cơ bản để doanh nghiệp xác định đúng đắn kết quả sản xuất
kinh doanh. Tài liệu về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là căn cứ quan trọng để
phân tích, đánh giá tình hình thực hiện các định mức chi phí và dự toán chi phí, tình hình
sử dụng tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn, tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản
phẩm của công ty.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

SV thực tập: Nguyễn Thị Tuyết Minh

-1-


Chuyên đê: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công
ty TNHH Xây dựng tổng hợp Hoàng Phong
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu của đề tài, đối tượng nghiên cứu của đề tài là Kế
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp, trong đó đi sâu
nghiên cứu quy trình tập hợp chi phí sản xuất , phương pháp phân bổ chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm tại công ty.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
Tập trung vào nghiên cứu tình hình thực tế công tác kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm tại công ty và đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện
công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là tính giá thành sản phẩm: Bao gồm các phương
pháp tính giá thành trực tiếp, phương pháp tổng cộng chi phí, phương pháp tính giá thành
theo định mức, Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng.
5. Giới thiệu kết cấu chuyên đề:
Ngoài lời mở đầu và kết luận thì kết cấu của chuyên đề gồm 4 chương :
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp.
Chương 2: Thực trạng công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm xây dựng tại Công ty TNHH Xây dựng tổng hợp Hoàng Phong.
Chương 3: Nhận xét và Kiến nghị nhằm hoàn thiện phương pháp kế toán tập
hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây dựng tại Công ty TNHH Xây
dựng tổng hợp Hoàng Phong.

SV thực tập: Nguyễn Thị Tuyết Minh

-2-


Chuyên đê: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công
ty TNHH Xây dựng tổng hợp Hoàng Phong
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN
XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP XẤY LẮP
1.1. Những vấn đề chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm:
1.1.1. Khái niệm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
1.1.1.1. Khái niệm và bản chất chi phí sản xuất.
Quá trình sản xuất kinh doanh của Công ty trách nhiệm hữu hạn và đầu tư xây
dựng là quá trình biến đổi một cách có ý thức, có mục đích các yếu tố đầu vào để xây
dựng một tài sản đơn lẻ, như: Xây dựng công trình dân dụng, công trình công nghiệp,
công trình đường giao thông, kinh doanh nhà, vật kiến trúc....
Mọi hao phí cuối cùng đều được thể hiện bằng thước đo tiền tệ gọi là chi phí sản
xuất kinh doanh. Như vậy, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí lao động
sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp đã bỏ ra để tiến
hành hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định.
1.1.1.2. Khái niệm và bản chất giá thành sản phẩm:
Giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động
sống và lao động vật hoá để hoàn thành khối lượng sản phẩm xây lắp theo quy định. Sản
phẩm xây lắp có thể là công trình, hạng mục công trình, giai đoạn thi công xây lắp có
thiết kế và tính dự toán riêng. Khác với các doanh nghiệp sản xuất khác, giá thành sản
phẩm xây lắp mang tính chất cá biệt, mỗi hạng mục công trình, công trình hay khối lượng
xây lắp khi đã hoàn thành đều có giá thành riêng. Giá thành hạng mục công trình, công
trình hoàn thành toàn bộ là giá thành sản phẩm cuối cùng của sản xuất xây lắp.
Giá thành sản phẩm xây lắp là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng hoạt
động sản xuất, kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn trong quá trình
sản xuất, cũng như các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đã sử dụng nhằm tiết
kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm.
1.1.2. Đối tượng chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ mật thiết với nhau. Chi
phí sản xuất là căn cứ, cơ sở để tính giá thành sản phẩm đã hoàn thành. Việc tính đúng,
tính đủ chi phí sản xuất quyết định đến tính chính xác của giá thành sản phẩm. Chi phí sản
xuất trước hết thể hiện theo các yếu tố chi phí, sau đó đến giai đoạn tính giá thành, chi phí

SV thực tập: Nguyễn Thị Tuyết Minh

-3-


Chuyên đê: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công
ty TNHH Xây dựng tổng hợp Hoàng Phong
sản xuất được thể hiện theo các khoản mục tính giá thành. Như vậy, tính giá thành sản
phẩm xây dựng phải dựa vào hạch toán chi phí sản xuất xây dựng, tổ chức quản lý tốt giá
thành chỉ có thể thực hiện trên cơ sở tổ chức quản lý tốt chi phí sản xuất.
Tuy nhiên chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cũng có sự khác nhau. Chi phí sản
xuất là biểu hiện bằng tiền tổng hợp những hao phí về lao động sống và lao động vật hoá
trong một kỳ nhất định. Còn giá thành sản phẩm lại là tổng hợp các hao phí đó gắn liền
với một khối lượng sản phẩm (sản phẩm xây dựng), khối lượng dịch vụ được hoàn thành
bàn giao.
1.1.3. Phân loại chi phí sản xuất:
Việc phân loại chi phí sản xuất một cách khoa học và hợp lý có ý nghĩa rất quan
trọng khi hạch toán. Mặt khác, nó là tiền đề của việc kiểm tra, phân tích chi phí, thúc đẩy
việc quản lý chặt chẽ chi phí để hướng tới tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm.
Tuỳ theo yêu cầu của công tác quản lý và hạch toán mà mỗi doanh nghiệp tiến hành
phân loại chi phí sản xuất theo các tiêu thức khác nhau:
1.1.3.1 Phân loại chi phí sản xuất theo tính chất kinh tế
Theo tính chất kinh tế, các chi phí sản xuất được phân loại theo các yếu tố chi phí.
Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố chi phí là sắp xếp những chi phí có chung tính chất
kinh tế vào một yếu tố, không kể chi phí đó phát sinh ở đâu, dùng vào mục đích gì trong
sản xuất sản phẩm.
Theo cách phân loại này thì toàn bộ các chi phí sản xuất của doanh nghiệp xây
dựng được chia ra 7 yếu tố chi phí sau:
- Yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ các chi phí về các loại
nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu phụ tùng thay thế, vật liệu thiết bị xây
dựng cơ bản mà doanh nghiệp đã sử dụng cho các hoạt động sản xuất trong kỳ.
- Yếu tố chi phí nhiên liệu, động lực: Bao gồm toàn bộ các chi phí về nhiên liệu,
động lực mà doanh nghiệp đã sử dụng cho hoạt động sản xuất trong kỳ.
- Yếu tố chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp: Gồm toàn bộ số tiền công phải
trả cho công nhân và nhân viên hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp.
- Yếu tố chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí
công đoàn: Bao gồm toàn bộ số tiền trích bảo xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp, kinh phí công đoàn của công nhân và nhân viên hoạt động sản xuất trong doanh
nghiệp.

SV thực tập: Nguyễn Thị Tuyết Minh

-4-


Chuyên đê: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công
ty TNHH Xây dựng tổng hợp Hoàng Phong
- Yếu tố chi phí khấu hao tài sản cố định: Bao gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao
tài sản cố định sử dụng cho sản xuất của doanh nghiệp.
- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm toàn bộ số tiền doanh nghiệp đã chi
trả về các loại dịch vụ mua từ bên ngoài như: tiền điện, tiền nước phục vụ cho hoạt động
sản xuất của doanh nghiệp.
- Yếu tố chi phí bằng tiền khác: Bao gồm toàn bộ chi phí khác dùng cho hoạt động
sản xuất ngoài các yếu tố chi phí ở trên.
Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố giúp ta biết được những chi phí gì đã dùng vào
sản xuất và tỷ trọng của từng chi phí đó là bao nhiêu để phân tích, đánh giá tình hình thực
hiện dự toán chi phí sản xuất từ đó cung cấp tài liệu để tổng hợp thu nhập quốc dân.
1.1.3.2. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng của chi phí.
Theo cách phân loại này, căn cứ vào mục đích và công dụng của chi phí trong sản
xuất để chia ra các khoản mục chi phí khác nhau, mỗi khoản mục chi phí chỉ bao gồm
những chi phí có cùng mục đích và công dụng, không phân biệt chi phí đó có nội dung
kinh tế như thế nào. Do vậy cách phân loại này còn gọi là phân loại chi phí sản xuất theo
khoản mục, trong doanh nghiệp xây lắp toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ được
chia ra làm các khoản mục chi phí sau:
- Chi phí vật liệu trực tiếp: Là chi phí của các vật liệu chính, vật kết cấu, vật liệu
phụ, vật liệu luân chuyển (ván khuôn, đà giáo), bán thành phẩm cần thiết để tạo nên sản
phẩm xây lắp.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm chi phí về tiền công, tiền lương và các
khoản phải trả công nhân trực tiếp xây lắp, không tính vào khoản mục này số tiền công và
trích BHXH, BHYT, BHTN và KPCĐ của công nhân trực tiếp sản xuất, công nhân sử
dụng máy thi công, nhân viên quản lý tổ đội thi công.
- Chi phí sử dụng máy thi công: Là chi phí sử dụng máy thi công để hoàn thành
sản phẩm xây lắp.
- Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí dùng cho hoạt động sản xuất chung ở
các đội xây dựng ngoài 3 khoản mục đã nêu trên.
Phân loại chi phí theo đúng mục đích và công dụng kinh tế có tác dụng phục vụ
cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định mức, cung cấp số liệu cho việc tính giá
thành sản phẩm xây lắp, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành.
1.1.3.3. Phân loại chi phí theo mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí.

SV thực tập: Nguyễn Thị Tuyết Minh

-5-


Chuyên đê: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công
ty TNHH Xây dựng tổng hợp Hoàng Phong
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất xây lắp được chia thành chi phí trực tiếp và
chi phí gián tiếp.
- Chi phí trực tiếp là chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng chịu chi phí, chi
phí này được tính trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí căn cứ vào chứng từ gốc.
- Chi phí gián tiếp là chi phí liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí mà không
thể dựa vào chứng từ để tính trực tiếp cho từng đối tượng, phải tập hợp đến cuối kỳ khoá
sổ và lựa chọn tiêu thức phân bổ cho các đối tượng theo tiêu chuẩn thích hợp.
Cách phân loại chi phí sản xuất này có ý nghĩa đối với việc xác định phương pháp kế
toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất cho các đối tượng một cách hợp lý.
1.1.3.4. Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức hoạt động.
Theo mối quan hệ này, chi phí sản xuất của doanh nghiệp được chia ra như sau: Chi
phí cố định (chi phí bất biến), chi phí biến đổi (chi phí khả biến), chi phí hỗn hợp.
- Chi phí bất biến (còn gọi là định phí) là các chi phí mà tổng số không thay đổi khi
có sự thay đổi về khối lượng hoạt động của sản xuất hoặc khối lượng sản phẩm sản xuất
ra trong kỳ như chi phí khấu hao TSCĐ tính theo phương pháp đường thẳng, chi phí bảo
dưỡng máy móc, thiết bị.
- Chi phí khả biến (còn gọi là biến phí) là các chi phí mà tổng số thay đổi với sự thay
đổi của mức độ hoạt động, khối lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ như chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp.
- Chi phí hỗn hợp là chi phí mà bản thân nó gồm các yếu tố của định phí và biến phí
như chi phí của nhân viên quản lý tổ đội thi công, chi phí nguyên vật liệu gián tiếp, chi
phí nhân công gián tiếp...
1.1.4. Phân loại giá thành sản phẩm:
1.1.4.1. Phân loại giá thành theo cơ sở số liệu và thời điểm tính toán
- Giá thành dự toán: là tổng chi phí dự toán để hoàn thành khối
lượng xây dựng công trình, hạng mục công trình. Giá thành dự toán được xác định trên cơ
sở các định mức kinh tế, kỹ thuật và đơn giá của Nhà nước. Giá thành dự toán là chênh
lệch giữa giá trị dự toán và phần lãi định mức.
Giá thành dự toán của
Giá trị dự toán của công
= công trình, hạng mục
- Lãi định mức
trình, hạng mục công trình
công trình

SV thực tập: Nguyễn Thị Tuyết Minh

-6-


Chuyên đê: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công
ty TNHH Xây dựng tổng hợp Hoàng Phong
- Giá thành kế hoạch: Là giá thành được xác định xuất phát từ những điều kiện cụ
thể ở một doanh nghiệp xây dựng nhất định trên cơ sở biện pháp thi công, các định mức
và đơn giá áp dụng trong doanh nghiệp:
Giá thành kế hoạch
Giá thành dự toán của
Mức hạ giá thành
của công trình, hạng
=
công trình, hạng mục dự toán
mục công trình
công trình
- Giá thành thực tế: Phản ánh toàn bộ các chi phí thực tế để hoàn thành bàn giao
khối lượng xây dựng mà doanh nghiệp đã nhận thầu. Giá thành thực tế bao gồm các chi
phí theo định mức, vượt định mức và không định mức như các khoản thiệt hại trong sản
xuất, các khoản bội chi, lãng phí về vật tư, lao động, tiền vốn trong quá trình sản xuất và
quản lý của doanh nghiệp được phép tính vào giá thành. Giá thành thực tế được xác định
theo số liệu của kế toán.
1.1.4.2. Phân loại giá thành theo phạm vi tính toán.
Giá thành sản phẩm xây lắp được chia làm 2 loại:
- Giá thành sản xuất của sản phẩm xây dựng: Bao gồm các chi phí sản xuất, chi
phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy và chi
phí sản xuất chung tính cho công trình, hạng mục công trình hoặc lao vụ đã hoàn thành.
- Giá thành toàn bộ của sản phẩm xây dựng: Bao gồm giá thành sản xuất của sản
phẩm xây dựng cộng thêm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho sản
phẩm đó. Giá thành toàn bộ của sản phẩm xây dựng chỉ được tính toán xác định khi sản
phẩm xây dựng hoặc lao vụ được tiêu thụ.
1.1.5. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm
xây dựng:
1.1.5.1. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi giới hạn mà các chi phí sản
xuất phát sinh được tập hợp, nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm tra, giám sát chi phí và yêu cầu
tính giá thành.
Để xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phải căn cứ vào đặc điểm tổ
chức sản xuất, yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp, đơn vị tính giá thành áp
dụng trong doanh nghiệp. Trên cơ sở đó đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là từng
tổ đội xây dựng, từng công trình, hạng mục công trình hoặc từng khối lượng xây dựng có
thiết kế riêng.
1.1.5.2. Đối tượng tính giá thành sản phẩm xây dựng:

SV thực tập: Nguyễn Thị Tuyết Minh

-7-


Chuyên đê: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công
ty TNHH Xây dựng tổng hợp Hoàng Phong
Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc do doanh nghiệp sản xuất ra
và cần phải tính được tổng giá thành và giá thành đơn vị.
Khác với tập hợp chi phí sản xuất, tính giá thành là việc xác định được giá thực tế
từng loại sản phẩm đã được hoàn thành. Xác định đối tượng tính giá thành là công việc
đầu tiên trong toàn bộ công tác tính giá thành sản phẩm.
1.1.5.3. Kỳ tính giá thành trong xây dựng:
Trong doanh nghiệp, đồng thời với việc xác định đối tượng tính giá thành, kế toán
phải xác định kỳ tính giá thành. Kỳ tính giá thành là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành cần
phải tiến hành công việc tính giá thành cho các đối tượng tính giá thành. Việc xác định kỳ
tính giá thành phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, chu kỳ sản xuất sản phẩm để
xác định. Trong các doanh nghiệp xây dựng kỳ tính giá thành được xác định như sau:
- Nếu đối tượng tính giá thành là công trình, hạng mục công trình hoàn thành hoặc
theo đơn đặt hàng thì thời điểm tính giá thành là khi công trình, hạng mục công trình hoặc
đơn đặt hàng hoàn thành.
- Nếu đối tượng tính giá thành là các hạng mục công trình được quy định thanh toán
theo chi phí thực tế thì kỳ tính giá thành là theo giai đoạn xây dựng hoàn thành.
- Nếu đối tượng tính giá thành là những hạng mục công trình được quy định thanh
toán định kỳ theo khối lượng từng loại công việc trên cơ sở giá dự toán thì kỳ tính giá
thành là theo tháng (quý).
1.1.6. Phân biệt đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành:
Qua hai khái niệm về đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành,
ta thấy giữa chúng có những điểm khác nhau: Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là căn
cứ để mở các tài khoản, các sổ chi tiết, tổ chức ghi chép ban đầu, tập hợp số liệu chi phí
sản xuất chi tiết theo từng đối tượng. Còn việc xác định đối tượng tính giá thành lại là căn
cứ để kế toán lập các biểu chi tiết tính giá thành và tổ chức công tác tính giá thành theo
từng đối tượng.
Tuy nhiên, giữa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành lại có
mối quan hệ mật thiết với nhau: Về bản chất, chúng là những phạm vi, giới hạn để tập
hợp chi phí. Số liệu về chi phí sản xuất đã được tập hợp trong kỳ là cơ sở và căn cứ để
tính giá thành.
1.2. Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
1.2.1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
1.2.1.1 Khái niệm:

SV thực tập: Nguyễn Thị Tuyết Minh

-8-


Chuyên đê: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công
ty TNHH Xây dựng tổng hợp Hoàng Phong
Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp trong doanh nghiệp xây dựng là những chi phí
về nguyên vật liệu chính, vật kết cấu, nửa thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ, vật liệu
khác sử dụng để cấu tạo công trình hoặc giúp cấu tạo công trình. Chi phí nguyên liệu, vật
liệu trực tiếp thường được xây dựng định mức chi phí hoặc dự toán chi phí và tổ chức
quản lý chúng theo định mức hoặc dự toán.
Trong trường hợp vật liệu sử dụng có liên quan đến nhiều đối tượng không thể tập hợp
trực tiếp cho từng đối tượng được thì phải áp dụng phương pháp phân bổ theo khối lượng
hoặc số lượng. Việc lựa chọn tiêu chuẩn để tiến hành phân bổ chi phí vật liệu cho các đối
tượng có liên quan theo công thức sau:
Trước hết tính hệ số phân bổ:
H=

C
T

Trong đó:

H là hệ số phân bổ
C là tổng chi phí vật liệu đã tập hợp cần phân bổ
T là tổng tiêu chuẩn dùng để phân bổ
Tiếp theo tính phân bổ chi phí vật liệu cho từng đối tượng có liên quan:
Cn = T n x H
Trong đó:
Cn là chi phí vật liệu phân bổ cho đối tượng n
Tn là tiêu chuẩn phân bổ của đối tượng n
Cuối kỳ hạch toán và khi hoàn thành hạng mục công trình, kế toán phải kiểm kê số
vật liệu còn lại tại nơi sản xuất để ghi giảm trừ chi phí vật liệu đã tính cho từng đối tượng
hạch toán chi phí:
Chi phí thực tế
nguyên liệu, vật
liệu trực tiếp
trong kỳ

Trị giá nguyên
liệu, vật liệu
=
xuất đưa vào sử
dụng

-

Trị giá nguyên
liệu, vật liệu còn
lại cuối kỳ chưa
sử dụng

-

Trị giá phế
liệu thu hồi

1.2.1.2.Chứng từ kế toán:
Để tập hợp chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp kế toán căn cứ vào các chứng từ kế
toán như: Phiếu xuất kho, hóa đơn GTGT, phiếu thu, phiếu chi, phiếu xuất kho vật tư theo
hạn mức, bảng phân bổ đà giáo, cốp pha.

SV thực tập: Nguyễn Thị Tuyết Minh

-9-


Chuyên đê: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công
ty TNHH Xây dựng tổng hợp Hoàng Phong
VD: Phiếu thu MS 02-TT, Phiếu chi MS 02-TT, Phiếu xuất kho PX/12, Bảng kê xuất
vật tư BK/12, ......
1.2.1.3. Tài khoản sử dụng (621):
Để tập hợp chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp kế toán sử dụng tài khoản 621 “Chi
phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp”. Tài khoản này dùng để phản ánh chi phí nguyên liệu,
vật liệu sử dụng trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ của ngành
xây dựng.
* Nguyên tắc hạch toán TK 621 – Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp
- Chỉ hạch toán vào TK 621 những chi phí nguyên liệu, vật liệu được sử dụng trực
tiếp để sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ trong kỳ sản xuất, kinh doanh. Chi phí
nguyên liệu, vật liệu phải tính theo giá thực tế khi xuất sử dụng.
- Trong kỳ kế toán thực hiện việc ghi chép, tập hợp chi phí nguyên liệu, vật liệu trực
tiếp vào bên Nợ TK 621 “Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp” theo từng đối tượng sử
dụng trực tiếp các nguyên liệu, vật liệu này (nếu khi xuất nguyên liệu, vật liệu cho quá
trình sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ, xác định được cụ thể, rõ ràng cho từng đối
tượng sử dụng) hoặc tập hợp chung cho quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm, thực hiện
dịch vụ (nếu khi xuất sử dụng nguyên liệu, vật liệu cho quá trình sản xuất sản phẩm, dịch
vụ không thể xác định cụ thể, rõ ràng cho từng đối tượng sử dụng).
- Cuối kỳ kế toán, thực hiện kết chuyển (nếu nguyên liệu, vật liệu đã được tập hợp
riêng biệt cho từng đối tượng sử dụng) hoặc tiến hành tính phân bổ và kết chuyển chi phí
nguyên liệu, vật liệu (nếu không tập hợp riêng biệt cho từng đối tượng sử dụng) vào TK
154 phục vụ cho việc tính giá thành thực tế của sản phẩm, dịch vụ trong kỳ kế toán.
* Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 621 – Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp
Bên Nợ:
Trị giá thực tế nguyên liệu, vật liệu xuất dùng trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản
phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trong kỳ hạch toán.
Bên Có:
- Kết chuyển trị giá nguyên liệu, vật liệu thực tế sử dụng cho sản xuất, kinh doanh
trong kỳ vào TK 154 “Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang” hoặc TK 631 “Giá thành sản
xuất” và chi tiết cho các đối tượng để tính giá thành sản phẩm, dịch vụ.
- Kết chuyển chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp vượt trên mức bình thường vào
TK 632.
- Trị giá nguyên liệu, vật liệu trực tiếp sử dụng không hết được nhập lại kho.

SV thực tập: Nguyễn Thị Tuyết Minh

- 10 -


Chuyên đê: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công
ty TNHH Xây dựng tổng hợp Hoàng Phong
Tài khoản 621 không có số dư cuối kỳ.

1.2.1.4. Trình tự hạch toán:
Sơ đồ 1: Sơ đồ hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

TK 152
TK 621
Xkho NLVL đưa vào sản xuất

TK 154

Kết chuyển chi phí NVL trực
tiếp được tính vào giá thành
TK 111,112,331
Mua NL,VL đưa thẳng vào sản

xuất

TK 133

TK 632
TK 153

TK 142, 242

XK đà giáo

P.bổ giá trị

cốp pha

vào c.trình

Kết chuyển chi phí NVL trực
tiếp vượt trên mức bình thường

1.2.2. Kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp:
1.2.2.1 Khái niệm:
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm các khoản phải trả cho người lao động trực tiếp
sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ thuộc danh sách quản lý của doanh nghiệp và cho
lao động thuê ngoài theo từng loại công việc như: tiền lương, tiền công, các khoản phụ
cấp.
1.2.2.2. Chứng từ kế toán:

SV thực tập: Nguyễn Thị Tuyết Minh

- 11 -


Chuyên đê: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công
ty TNHH Xây dựng tổng hợp Hoàng Phong
Các chứng từ kế toán thường sử dụng để tập hợp chi phí nhân công trực tiếp là: Bảng
chấm công, bảng thanh toán lương, phiếu báo làm thêm giờ, hợp đồng giao khoán.
1.2.2.3. Tài khoản sử dụng:
Để tập hợp chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản 622 - Chi phí nhân
công trực tiếp. Tài khoản này dùng để phản ánh chi phí nhân công trực tiếp tham gia vào
hoạt động sản xuất, kinh doanh trong ngành xây dựng.
* Nguyên tắc hạch toán TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp
- Tài khoản 622 phải mở chi tiết theo đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, kinh doanh.
Phần chi phí nhân công trực tiếp vượt trên mức bình thường không được tính vào giá
thành sản phẩm, dịch vụ mà phải kết chuyển ngay vào TK 632 “Giá vốn hàng bán”.
* Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp
Bên Nợ:
Chi phí nhân công trực tiếp tham gia quá trình sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ
bao gồm: tiền lương, tiền công lao động phát sinh trong kỳ.
Bên Có:
- Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào bên Nợ TK 154 “Chi phí sản xuất, kinh
doanh dở dang” hoặc vào bên Nợ TK 631 “Giá thành sản xuất”;
- Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vượt trên mức bình thường vào TK 632.
Tài khoản 622 không có số dư cuối kỳ.
1.2.2.4. Trình tự hạch toán:
Sơ đồ 2: Sơ đồ hạch toán chi phí nhân công trực tiếp
TK 334

TK 335

TK 622

TK 154

Tiền lương nghỉ phép

Trích trước tiền lương K/c CP nhân công TT

của công nhân SX

nghỉ phép của CNSX được tính vào giá thành

Tiền lương và các khoản phải trả công
nhân trực tiếp sản xuất

TK 632
K/c CP nhân công TT
vượt trên mức b.thường

1.2.3. Kế toán tập hợp chi phí sử dụng máy thi công:

SV thực tập: Nguyễn Thị Tuyết Minh

- 12 -


Chuyên đê: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công
ty TNHH Xây dựng tổng hợp Hoàng Phong
1.2.3.1. Khái niệm
Máy thi công trong doanh nghiệp xây dựng là các loại máy phục vụ trực tiếp cho sản
xuất xây lắp như: máy trộn bêtông, trộn vữa, cần trục.
Trong công tác hạch toán chi phí sử dụng máy thi công, doanh nghiệp phải xuất phát
từ đặc điểm riêng biệt về tình hình sử dụng máy trong thi công, về nội dung chi phí và các
hình thức tổ chức sử dụng máy của đơn vị để tổ chức hạch toán cho phù hợp với thực tế
phát sinh.
1.2.3.2. Chứng từ kế toán:
Số liệu tổng hợp từ các phiếu này phục vụ cho việc kiểm tra, phân tích chi phí cho
máy và làm căn cứ tính, xác định chi phí sử dụng máy thi công cho các đối tượng xây lắp
có liên quan. Và tuỳ thuộc các chi phí phát sinh thuộc loại chi phí nguyên vật liêu, chi phí
nhân công, chi phí dịch vụ mua ngoài mà sử dụng các chứng từ tương tự như trong kế
toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán chi phí nhân công trực tiếp.
1.2.3.3. Tài khoản sử dụng:
Để tập hợp chi phí sử dụng máy thi công, kế toán sử dụng tài khoản 623 “Chi phí sử
dụng máy thi công”. Tài khoản này dùng để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng xe, máy thi
công phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây lắp công trình theo phương thức thi công hỗn hợp
vừa thủ công vừa kết hợp bằng máy.
* Nguyên tắc hạch toán TK 623 – Chi phí sử dụng máy thi công
- Trong trường hợp doanh nghiệp thực hiện xây lắp công trình hoàn toàn theo phương
thức bằng máy thì không sử dụng TK 623 “Chi phí sử dụng máy thi công” mà hạch toán toàn
bộ chi phí xây lắp trực tiếp vào các TK 621, 622, 627.
- Không hạch toán vào TK 623 khoản trích về BHXH, BHYT,BHTN, KPCĐ tính
trên tiền lương phải trả công nhân sử dụng xe, máy thi công. Phần chi phí sử dụng máy thi
công vượt trên mức bình thường không tính vào giá thành công trình xây lắp mà được kết
chuyển ngay vào TK 632
* Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 623 – Chi phí sử dụng máy thi công
Bên Nợ:
Các chi phí liên quan đến hoạt động của máy thi công (chi phí vật liệu cho máy hoạt
động, chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp tiền lương, tiền công của công nhân trực tiếp
điều khiển máy, chi phí bảo dưỡng, sửa chữa xe, máy thi công ). Chi phí vật liệu, chi phí dịch
vụ khác phục vụ cho xe, máy thi công.
Bên Có:

SV thực tập: Nguyễn Thị Tuyết Minh

- 13 -


Chuyên đê: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công
ty TNHH Xây dựng tổng hợp Hoàng Phong
- Kết chuyển chi phí sử dụng xe, máy thi công vào bên Nợ TK 154 “Chi phí sản
xuất, kinh doanh dở dang”.
- Kết chuyển chi phí sử dụng máy thi công vượt trên mức bình thường vàoTK 632.
Tài khoản 623 không có số dư cuối kỳ.
1.2.3.4. Trình tự hạch toán:
Sơ đồ 3: Sơ đồ hạch toán chi phí sử dụng máy thi công
(Trường hợp không tổ chức đội máy thi công riêng biệt, thi công hỗn hợp)
TK 334

TK 623

Tiền lương, t.công, các khoản
phải trả CN điều khiển phục
vụ xe, máy
TK 152,153

TK 154

K/c CP sử dụng máy thi công
được tính vào giá thành

Xuất kho VL, CC, dụng cụ
TK 632
K/c CP sử dụng máy thi công

TK 214

vượt trên mức bình thư ờng

Trích khấu hao xe, máy thi công
TK111,112,331
CPDV mua ngoài, CP bằng tiền khác

TK133

1.2.4. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung:
1.2.4.1. Chứng từ kế toán:
Tuỳ theo các chi phí phát sinh thuộc loại chi phí vật liệu, chi phí dịch vụ mua ngoài,
chi phí nhân công, khấu hao mà kế toán sử dụng các chứng từ khác nhau.
1.2.4.2. Tài khoản sử dụng:

SV thực tập: Nguyễn Thị Tuyết Minh

- 14 -


Chuyên đê: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công
ty TNHH Xây dựng tổng hợp Hoàng Phong
Để tập hợp chi phí sản xuất chung, kế toán sử dụng tài khoản 627 “Chi phí sản xuất
chung”. Tài khoản này dùng để phản ánh chi phí phục vụ sản xuất, kinh doanh chung phát
sinh ở tổ, đội, công trường phục vụ sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ. * Nguyên tắc
hạch toán TK 627 – Chi phí sản xuất chung
- Tài khoản 627 được hạch toán chi tiết cho từng tổ, đội thi công.
- Chi phí sản xuất chung phản ánh trên tài khoản 627 phải được hạch toán chi tiết
theo 2 loại: Chi phí sản xuất chung cố định và chi phí sản xuất chung biến đổi.
- Cuối kỳ, kế toán tiến hành tính toán, phân bổ kết chuyển chi phí sản xuất chung
vào bên Nợ TK 154 “Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang” hoặc vào bên Nợ TK 631
“Giá thành sản xuất”.
- Tài khoản 627 không sử dụng cho hoạt động kinh doanh thương mại.
* Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 627“Chi phí sản xuất chung”
Bên Nợ:
- Các chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ.
Bên Có:
- Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung.
- Chi phí sản xuất chung cố định không phân bổ được ghi nhận vào giá vốn hàng
bán trong kỳ.
- Kết chuyển chi phí sản xuất chung vào bên Nợ TK 154 “Chi phí sản xuất, kinh
doanh dở dang” hoặc vào bên Nợ TK 631 “Giá thành sản xuất”.
Tài khoản 627 không có số dư cuối kỳ.
1.2.4.3. Trình tự hạch toán

SV thực tập: Nguyễn Thị Tuyết Minh

- 15 -


Chuyên đê: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công
ty TNHH Xây dựng tổng hợp Hoàng Phong
Sơ đồ 4: Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất chung
TK 334,338

TK 627

Lương n.viên qlý đội, trích BHXH,
KPC§ của c. nhân xây
BHYT, BHTN, KPCĐ
dựng, n.viên SD máy và NVQL đội
XD

TK 152

TK 154
K/c CP sản xuất chung

được tính vào giá thành

Xuất VL để sửa chữa, bảo dưỡng

TSCĐ

TK 632

TK 153
Xuất công cụ, dụng cụ có giá
trị nhỏ
TK 142, 242
Xuất công cụ, d ụng

K/c CP sản xuất chung cố định
®Þnh
không
phân bổ

Phân bổ dần

cụ có giá trị lớn
TK 214
Khấu hao TSCĐ thuộc
đội sản xuất
TK 111,112,331
Chi phí điện, nước, điện thoại
và sửa chữa TSCĐ thuê ngoài
TK 133

TK 142, 242, 335
Trích trước hoặc phân bổ CP
sửa chữa TSCĐ thuộc PX

SV thực tập: Nguyễn Thị Tuyết Minh

- 16 -


Chuyên đê: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công
ty TNHH Xây dựng tổng hợp Hoàng Phong
1.2.5. Kế toán khoán tổng hợp chi phí sản xuất:
Trong doanh nghiệp xây dựng, việc khoán sản phẩm cho các tổ đội thi công được
tiến hành theo hai phương thức đó là khoán gọn và khoán theo khoản mục chi phí.
- Kế toán khoán gọn công trình, hạng mục công trình:
Theo phương thức này đơn vị giao khoán toàn bộ giá trị công trình, hạng mục công
trình cho đơn vị nhận khoán để đơn vị nhận khoán tự tổ chức cung ứng vật tư, tổ chức lao
động tiến hành thi công. Khi công trình hoàn thành bàn giao quyết toán sẽ được thanh
toán theo giá nhận khoán toàn bộ giá trị công trình và nộp cho đơn vị giao khoán một số
khoản theo quy định. Đơn vị giao khoán chỉ là người có tư cách pháp nhân đứng ra ký kết
các hợp đồng xây dựng và chịu trách nhiệm pháp lý đối với chất lượng công trình và thời
gian thi công.
Kế toán sử dụng TK 136 - “Phải thu nội bộ” để phản ánh mối quan hệ với đơn vị
nhận khoán và TK 642 để tập hợp chi phí thuộc nội dung chi phí quản lý doanh nghiệp.
* Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 136 “Phải thu nội bộ”.
Bên Nợ:
- Số vốn kinh doanh đã giao cho đơn vị cấp dưới (bao gồm vốn cấp trực tiếp và cấp
bằng các phương thức khác);
- Các khoản đã chi hộ, trả hộ đơn vị cấp trên, cấp dưới.
- Số tiền đơn vị cấp trên phải thu về, các khoản đơn vị cấp dưới phải nộp.
- Số tiền đơn vị cấp dưới phải thu về, các khoản cấp trên phải giao xuống
- Số tiền phải thu về bán sản phẩm, hàng hoá dịch vụ cho đơn vị cấp trên, cấp dưới,
giữa các đơn vị nội bộ.
Bên Có:
- Thu hồi vốn, quỹ ở đơn vị thành viên.
- Quyết toán với đơn vị thành viên về kinh phí sự nghiệp đã cấp, sử dụng.
- Số tiền đã thu về các khoản phải thu trong nội bộ.
- Bù trừ phải thu với phải trả trong nội bộ của cùng một đối tượng.
Số dư bên Nợ:
Số Nợ còn phải thu ở các đơn vị nội bộ.
TK 136 - Phải thu nội bộ có hai tài khoản cấp hai:
- TK 1361- Vốn kinh doanh ở đơn vị trực thuộc: Tài khoản này chỉ mở ở đơn vị cấp
trên để phản ánh số vốn kinh doanh hiện có ở các đơn vị trực thuộc do đơn vị cấp trên
giao trực tiếp hoặc hình thành bằng các phương thức khác.

SV thực tập: Nguyễn Thị Tuyết Minh

- 17 -


Chuyên đê: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công
ty TNHH Xây dựng tổng hợp Hoàng Phong
- TK 1368 - Phải thu nội bộ khác: Tài khoản này phản ánh tất cả các khoản phải thu
khác giữa các đơn vị nội bộ.
- Kế toán khoán khoản mục chi phí:
Theo phương thức này đơn vị giao khoán chỉ khoán các khoản mục chi phí nhất định
(thường là tiền công) còn các khoản mục chi phí khác do đơn vị tự chi phí, hạch toán và
chịu trách nhiệm giám sát kỹ thuật, chất lượng công trình.
Để phản ánh tình hình giao tạm ứng vật tư, tiền vốn cho các đơn vị nhận khoán để
thực hiện khối lượng giao khoán xây lắp, kế toán sử dụng tài khoản 141 “ Tạm ứng”
1.2.6. Phương pháp đánh giá sản phẩm xây lắp dở dang cuối kỳ:
Sản phẩm xây lắp dở dang là khối lượng sản phẩm, công việc còn đang trong quá
trình sản xuất xây lắp chưa đạt tới điểm dừng kỹ thuật hợp lý đã quy định hoặc đã hoàn
thành nhưng chưa đạt tiêu chuẩn quy định để bàn giao.
Sản phẩm dở dang trong sản xuất xây lắp được xác định bằng phương pháp kiểm kê
hàng tháng. Việc tính và đánh giá sản phẩm dở dang trong xây lắp phụ thuộc vào phương
thức thanh toán khối lượng công tác xây lắp hoàn thành giữa người nhận thầu và người
giao thầu.
Nếu quy định thanh toán sản phẩm xây dựng sau khi hoàn thành toàn bộ thì sản
phẩm dở dang là tổng số chi phí phát sinh từ lúc khởi công đến thời điểm đánh giá. Khi
công trình hoặc hạng mục công trình hoàn thành được bàn giao thanh toán thì toàn bộ chi
phí sản xuất đã phát sinh sẽ được tính vào giá thành của thành phẩm.
Nếu quy định thanh toán sản phẩm xây dựng hoàn thành theo điểm dừng kỹ thuật
hợp lý (xác định được giá dự toán) thì sản phẩm dở dang là các khối lượng xây lắp chưa
đạt tới điểm dừng kỹ thuật hợp lý đã quy định và được đánh giá theo chi phí thực tế trên
cơ sở phân bổ chi phí thực tế của hạng mục công trình đó cho các giai đoạn, tổ hợp công
việc đã hoàn thành và giai đoạn còn dở dang theo giá dự toán của chúng.
Công thức tính như sau:
Chi phí của sản
Chi phí sản xuất
phẩm dở dang
Chi phí của
Giá dự toán
+
phát sinh trong kỳ
đầu kỳ
sản phẩm
của giai
Giá dự toán của
Giá dự toán của
dở dang
đoạn xây
=
x
các giai đoạn xây
giai đoạn xây lắp
cuối kỳ
lắp dở dang
+
lắp hoàn thành
dở dang cuối kỳ
cuối kỳ

SV thực tập: Nguyễn Thị Tuyết Minh

- 18 -


Chuyên đê: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công
ty TNHH Xây dựng tổng hợp Hoàng Phong
1.2.7. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
Phương pháp tính giá thành là phương pháp hoặc hệ thống các phương pháp được sử
dụng để tính toán xác định giá thành đơn vị của từng loại sản phẩm, công việc hoàn thành.
Để phù hợp với phương pháp tập hợp chi phí, doanh nghiệp phải lựa chọn các
phương pháp tính giá thành phù hợp. Những phương pháp tính giá thành thường được sử
dụng trong xây dựng cơ bản là:
1.2.7.1. Phương pháp tính giá thành trực tiếp:
Phương pháp này được áp dụng trong các doanh nghiệp xây dựng có số lượng công
trình, giai đoạn công việc ít nhưng thường có khối lượng lớn, chu kỳ sản xuất tương đối
ngắn, không có hoặc chỉ có một số ít sản phẩm dở dang.
Giá thành từng công trình, giai đoạn công việc hoàn thành theo phương pháp này
được xác định bằng cách cộng tất cả các chi phí sản xuất đã tập hợp cho công trình, giai
đoạn công việc đó.
Công thức tính:
Z=C
Trong đó:
Z: là tổng giá thành sản phẩm xây dựng
C: là tổng chi phí sản xuất đã tập hợp theo đối tượng
Nếu đầu kỳ và cuối kỳ có sản phẩm dở dang thì công thức tính như sau:
Z = C + Ddk – Dck
Trong đó:
Ddk: là giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ
Dck: là giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ
1.2.7.2. Phương pháp tổng cộng chi phí:
Phương pháp này áp dụng đối với trường hợp đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là
các giai đoạn công việc còn đối tượng tính giá thành là ngôi nhà, vật kiến trúc, hạng mục
công trình hoàn thành. Giá thành của sản phẩm hoàn thành được xác định bằng cách cộng
tổng số chi phí sản xuất của các giai đoạn công việc.
Công thức tính:
Z = Ddk + C1 + C2 + …+ Cn - Dck
Trong đó:
C1, C2… Cn: là chi phí sản xuất của giai đoạn 1, giai đoạn 2, giai đoạn n
Ddk: là giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ

SV thực tập: Nguyễn Thị Tuyết Minh

- 19 -


Chuyên đê: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công
ty TNHH Xây dựng tổng hợp Hoàng Phong
Dck: là giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ
1.2.7.3. Phương pháp tính giá thành theo định mức
Phương pháp này áp dụng đối với các doanh nghiệp xây dựng thoả mãn các điều kiện
sau: Phải tính được giá thành định mức trên cơ sở các định mức và đơn giá tại thời điểm
tính giá thành, chỉ ra được một cách chính xác các thay đổi về định mức trong quá trình
thực hiện thi công công trình, xác định được các chênh lệch so với định mức và nguyên
nhân gây ra chênh lệch đó.
Theo phương pháp này, giá thành thực tế của sản phẩm xây dựng được xác định theo
công thức sau:
Giá thành
Giá thành định
Chênh lệch
Chênh lệch
thực tế của
=
mức của sản
± do thay đổi
±
do thoát ly
sản phẩm xây
phẩm xây dựng
định mức
định mức
dựng
1.2.7.4. Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng:
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp nhận thầu xây dựng theo
đơn đặt hàng. Khi đó, đối tượng tập hợp chi phí là từng đơn đặt hàng, đối tượng tính giá
thành là đơn đặt hàng đã hoàn thành. Kỳ tính giá thành không phù hợp với kỳ báo cáo mà
là khi đơn đặt hàng hoàn thành.

SV thực tập: Nguyễn Thị Tuyết Minh

- 20 -


Chuyên đê: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công
ty TNHH Xây dựng tổng hợp Hoàng Phong
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN XÂY
DỰNG TỔNG HỢP HOÀNG PHONG
2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty:
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty:
Công ty TNHH xây dựng tổng hợp Hoàng Phong là một doanh nghiệp tư
nhân .
Hiện nay trụ sở chính của công ty đóng tại Thị trấn A Lưới, huyện A Lưới, tỉnh
Thừa Thiên Huế.
Công ty được thành lập vào ngày 18/10/2007. Cơ sở ban đầu tiền thân là công
ty xây dựng Hưng Thịnh sau phát triển thành công ty TNHH xây dựng tổng hợp
Hoàng Phong.
Trải qua 9 năm trưởng thành và phát triển công ty xây TNHH xây dựng tổng
hợp Hoàng Phong đã đóng góp cho xã hội hàng trăm công trình lớn nhỏ, chất lượng
công trình luôn luôn được đảm bảo, làm tăng thêm cơ sở vật chất cho CHXH góp
phần làm thay đổi bộ mặt của đất nước.
2.1.2 Nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của Công ty:
* Thực hiện xây dựng công trình.
- Xây dựng các công trình dân dụng, công trình công cộng thuộc
nhóm dự án nhóm B
-Thi công đường (san nền, mặt đường dải đá và thấm nhựa)
Xây dựng công trình thuỷ lợi thuộc dự án nhóm C.
* Thực hiện các công việc xây dựng
- Đào đắp đất đá, nề, mốc, bê tông, sắt thép trong xây dưng, trang trí
nội và ngoại thất công trình.
* Các lĩnh vực hoạt động
kinh doanh bất động sản ;
Sản xuất vật liệu xây dựng ;

SV thực tập: Nguyễn Thị Tuyết Minh

- 21 -


Chuyên đê: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công
ty TNHH Xây dựng tổng hợp Hoàng Phong
Quảng cáo tiếp thị và tư vấn đầu tư xây dựng.
* Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của công ty:
Sơ đồ 5 : Ttổ chức bộ máy quản lý của công ty xây dựng công trình xây dựng
GIÁM ĐỐC

Phó Giám đốc
thường trực

Văn phòng
công ty

Đội thi
công số 1

Phòng kinh
tế thị trường

Đội thi
công số 2

Phó giám đốc
kinh tế

Phòng thi
công

Đội thi
công số 3

Phó giám đốc
kỹ thuật

Phòng Tài
chính kế toán

Đội thi
công số 4

Đội thi
công số 5

Phòng tổ chức
lao động

Đội thi
công số 6

Phòng dự án

Chi
nhánh
khác

Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của công ty xây dựng công trình xây
dựng
G hi chú:
XNCGSC: Xí nghiệp cơ giới sửa chữa. XNNM&XD: Xí nghiệp nền móng xây dựng
Phòng KH-KT: Phòng khoa học kỹ thuật. Phòng KTTT: Phòng kinh tế thị trường.
Phòng TC-KT: Phòng tài chính kế toán
2.1.3. Chức năng nhiệm vụ của từng phòng ban

SV thực tập: Nguyễn Thị Tuyết Minh

- 22 -


Chuyên đê: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công
ty TNHH Xây dựng tổng hợp Hoàng Phong
- Ban giám đốc: Giám đốc là người lãnh đạo chung, được phép ra quyết định
và chịu trách nhiệm pháp nhân.
- Giúp việc cho giám đốc còn có hội đồng cố vấn, hội đồng doanh nghiệp và
các phó giám đốc, phó giám đốc thường trực, phó giám đốc kỹ thuật, phó giám đốc
kinh tế.
- Văn phòng công ty: Là đơn vị giúp giám đốc công ty tiếp khách, công tác
văn thư, tiếp nhận và chuyển giao công văn.
- Phòng kinh tế thị trường: Có nhiệm vụ tìm hiểu thị trường, xây dựng và tổng
hợp kế hoạch dài trung hạn và hàng năm của công ty trên cơ sở hiện có về nhân lực,
vật tư, tiền vốn thiết bị thi công và nhu cầu thị trường. Tìm đối tác trong lĩnh vực đầu
tư trên cơ sở chủ trương của công ty
- Phòng thi công: Kiểm tra việc thi công về các lĩnh vực, chất lượng tiến độ,
biện pháp thi công, biện pháp an toàn lao động, quy phạm xây dựng đối với các công
trình của công ty. Kiểm tra thủ tục xây dựng của các đơn vị để tránh thi công tuỳ tiện
- Phòng tài chính-Kế toán: Tổ chức thực hiện chế độ hạch toán kế toán theo
đúng pháp lệnh kế toán thống kê, giúp giám đốc tổ chức hướng dẫn công tác hạch
toán kinh tế.
- Phòng kế hoạch kinh tế: Là bộ phận tham mưu cho giám đốc về hướng dẫn
KH-KT và tiếp thu công nghệ mới áp dụng tiến bộ kỹ thuật.
- Phòng dự án: Tìm hiểu thị trường, nghiên cứu hồ sơ, kiểm tra khối lượng
thiết kế, giải quyết các vướng mắc trong quá trình xem xét hồ sơ với chủ đầu
tư.hông qua ban giám đốc về giải pháp thi công, phương pháp lập giá thầu, số
lượng, chủng loại thiết bị của công trình
- Phòng tổ chức lao động: Có nhiệm vụ trong các lĩnh vực quản lý sử
dụng lao động, quản lý tiền lương
- Ngoài ra công ty còn 5 xí nghiệp xây dựng, xí nghiệp cơ giới sửa
chữa, xí nghiệp nền móng và xây dựng, chi nhánh Quảng Trị chịu trách nhiệm
thi công các công trình xây dựng.

SV thực tập: Nguyễn Thị Tuyết Minh

- 23 -


Chuyên đê: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công
ty TNHH Xây dựng tổng hợp Hoàng Phong
2.1.4. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán tại công ty.
Sơ đồ 6: Bộ máy kế toán tại công ty

Kế toán trưởng

Kế toán tổng hợp

Kế toán
thuế

Kế toán
ngân hàng

Kế toán tài
sản cố định

Kế toán
thanh toán

Thủ quỹ

Sơ đồ 2: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán
* Nhiệm vụ của từng bộ phận:
- Kế toán trưởng: là người chịu trách nhiệm chung, hướng dẫn nhiệm vụ cho
cấp dưới thuộcthẩm quyền quản lý, đôn đốc nhân viên thực hiện và chấp hành các
quy chế độ kế toán do nhà nước ban hành, chịu trách nhiệm giám đốc và cấp trên về
mọi hoạt động kinh tế.
- Kế toán thanh toán: Thanh toán các khoản phải thu, chi và thanh toán nội
bộ.
- Kế toán ngân hàng: phản ánh kịp thời đầy đủ chính xác số hiện có và tình hình
biến động, giám sát chặt chẽ thu chi, quản lý TGNH chuyển khoản séc, uỷ nhiệm chi
đối với khách hàng mua và bán.
- KTTSCĐ: Kiểm tra và sử dụng quỹ khấu hao cơ bản tính đúng chi phí sửa

SV thực tập: Nguyễn Thị Tuyết Minh

- 24 -


Chuyên đê: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công
ty TNHH Xây dựng tổng hợp Hoàng Phong
chữa và giá trị cải tiến kỹ thuật đổi mới TSCĐ và tính đúng giá TSCĐ.
- KT tổng hợp : tập hợp chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm, xây
dựng kết quả và lập báo cáo biểu kế toán.
- Thủ quỹ: Chịu trách nhiệm quản lý và nhập xuất quỹ tiền mặt, ngân phiếu.
2.1.5. Quy trình công nghệ của công ty
Sơ đồ 7: Quy trình công nghệ sản xuất của công ty TNHH Xây dựng tổng
hợp Hoàng Phong

Khởi công công trình

Vật liệu mua về nhập kho của công ty

Xuất kho cho các công trình thủ công

Hoàn thiện công trình

Bàn giao công trình

Công ty TNHH Xây dựng tổng hợp Hoàng Phong là doanh nghiệp xây dựng
sản xuất kinh doanh chủ yếu là thi công, xây mới nâng cấp và cải tạo hoàn thiện
trang trí nội thất. Các công trình dân dụng và công nghiệp, công trình công cộng. Do
đó sản phẩm của công ty có đặc điểm không nằm ngoài đặc điểm xây lắp. Đó là sản
phẩm xây lắp có quy mô vừa và lớn, mang tính đơn chiếc thời gian sản xuất kéo dài
chủng loại yếu tố đầu vào đa dạng đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn. Để đảm bảo sử
dụng hiệu quả vốn đầu tư công ty phải dựa vào các bản vẽ thiết kế dự toán xây lắp,

SV thực tập: Nguyễn Thị Tuyết Minh

- 25 -


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×