Tải bản đầy đủ

Vấn đề giáo dục con cái trong gia đình ở nông thôn trên địa bàn tỉnh bắc giang hiện nay

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

======

NGỌC THỊ HÀ

VẤN ĐỀ GIÁO DỤC CON CÁI
TRONG GIA ĐÌNH Ở NÔNG THÔN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG
HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Người hướng dẫn khoa học

TS. LÊ THỊ MINH THẢO

HÀ NỘI - 2018


LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài khóa luận và kết thúc khoá học, với tình cảm chân
thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới trường Đại học Sư phạm Hà Nội
2, đã tạo điều kiện cho em có môi trường học tập tốt trong suốt thời gian
nghiên cứu, học tập tại trường.
Em xin gửi lời cảm ơn tới cô Ts. Lê Thị Minh Thảo người cô đã giúp đỡ,
chỉ bảo tận tình cho em trong suốt quá trình nghiên cứu và trực tiếp hướng
dẫn em hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp này. Đồng thời, em xin bày tỏ
lòng cảm ơn tới thầy cô trong khoa Giáo dục chính trị, bạn bè đã giúp đỡ, tạo
điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khoá luận tốt
nghiệp lần này.
Trong quá trình nghiên cứu, với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như
kiến thức của bản thân nên khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót
Kính mong được sự góp ý, chỉ bảo của quý thầy cô cũng như các bạn
sinh viên.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên

Ngọc Thị Hà


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi và được sự
hướng dẫn khoa học của Ts. Lê Thị Minh Thảo. Các nội dung nghiên cứu, kết
quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới hình thức nào trước
đây. Nếu phát hiện có bất kì sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm về nội dung khóa luận của mình.
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên

Ngọc Thị Hà


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU........................................................................................................... 1
Chương 1: GIÁO DỤC CON CÁI CỦA GIA ĐÌNH Ở NÔNG THÔN – MỘT
SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN ................................................................................... 7
1.1. Các khái niệm cơ bản ................................................................................. 7
1.2. Các nguyên tắc và phương pháp giáo dục con cái trong gia đình ........... 17
1.3. Vị trí và chức năng của gia đình đối với xã hội .......................................
21
Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC CON CÁI CỦA GIA ĐÌNH Ở
NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG HIỆN NAY ............. 29
2.1. Tổng quan chung về tỉnh Bắc Giang........................................................ 29
2.2. Kết quả việc giáo dục con cái của gia đình ở nông thôn trên địa bàn tỉnh
Bắc Giang hiện nay ......................................................................................... 33
Chương 3: GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH
TRONG VIỆC GIÁO DỤC CON CÁI Ở NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH BẮC GIANG ........................................................................................ 53
3.1. Về phía gia đình ....................................................................................... 53
3.2. Về phía xã hội .......................................................................................... 63
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................ 72


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, nơi con người sinh ra và lớn lên, nơi thế hệ
trẻ được chăm lo cả về thể chất, trí tuệ, đạo đức. Là môi trường giáo dục đầu
tiên và có tầm quan trọng quyết định việc hình thành nhân cách của trẻ. Giáo
dục nhà trường, xã hội là những môi trường giáo dục rất quan trọng, song vai
trò của nó chỉ có thể được phát huy một cách có hiệu quả, khi lấy giáo dục gia
đình làm cơ sở. Đất nước đang trong thời ky đổi mới, xã hội có nhiều đổi
thay, nhưng giáo dục gia đình vẫn được các bậc cha mẹ chú ý, quan tâm,
những giá trị đạo đức truyền thống của gia đình, của dân tộc vẫn tiếp tục được
phát huy. Sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước khởi sắc, đời sống của
phần lớn các gia đình được nâng lên, việc giáo dục thế hệ trẻ có điều kiện
thuận lợi; con trẻ có cơ hội vươn lên tự khẳng định mình trong sự phát triển
lành mạnh của gia đình và xã hội. Bên cạnh đó, giáo dục gia đình cũng có
những diễn biến tiêu cực, do chịu tác động của môi trường xã hội, của các loại
văn hóa phẩm độc hại, của lối sống thực dụng phương Tây. Tất cả những điều
đó đang làm băng hoại đạo đức một bộ phận xã hội, lôi cuốn một bộ phận thế
hệ trẻ vào vòng tội lỗi. Trong khi đó, giáo dục gia đình đối với con trẻ chưa
được coi trọng và đầu tư đúng mức. Không ít cha mẹ lo nuôi con nhiều hơn
đầu tư cho việc dạy chữ, dạy người; nhiều cha mẹ rất coi trọng đến việc giáo
dục con cái phát triển toàn diện, song do kiến thức và năng lực hạn chế nên
hiệu quả của việc giáo dục còn thấp. Qua đó ta thấy được vai trò quan trọng
của gia đình trong sự nghiệp trồng người, vun đắp cho thế hệ tương lai.
Ngày nay sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hóa đất nước đã và đang
đặt ra những yêu cầu bức thiết đối với gia đình nhằm tạo ra mẫu người có đủ
năng lực, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, con người mang đậm màu sắc Việt Nam,
đưa nước ta hội nhập với văn minh nhân loại mà sắc thái dân tộc vẫn được giữ

1


vững. Yêu cầu đó đặt ra cho gia đình phải không ngừng phát huy vai trò của
mình trong giáo dục thế hệ trẻ. Chúng ta phải có cách nhìn nhận đầy đủ, đúng
đắn và khách quan hơn về vai trò của gia đình trong quá trình xây dựng con
người có đức, tài để từ đó có chiến lược và kế hoạch đầu tư thoả đáng cho gia
đình - xứng đáng là trường học đầu tiên, gần gũi nhất và quan trọng nhất đối
với sự hình thành và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ cho đất nước. Giáo
dục của gia đình là cội nguồn của giáo dục. Cha mẹ, ông bà sẽ mãi mãi là
những người thầy đầu tiên trong cuộc đời của trẻ.
Song do đặc trưng là một tỉnh trung du miền núi còn nhiều khó khăn về
kinh tế. Dân số sống ở vùng nông thôn chiếm hơn 90% (năm 2014), lại là một
tỉnh tập trung nhiều thành phần đồng bào dân tộc thiểu số (06 thành phần dân
tộc) nên việc giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ của các gia đình tỉnh Bắc
Giang còn có nhiều hạn chế, bất cập, cần được khắc phục. Đó là một nguyên
nhân dẫn đến tình trạng các tệ nạn xã hội ngày càng thâm nhập vào thế hệ trẻ
ở đây, ảnh hưởng không nhỏ tới tương lai của chính các em, gia đình và của
đất nước.
Gia đình có vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục con cái ở nông
thôn hiện nay, trên phạm vi cả nước nói chung và địa bàn tỉnh Bắc Giang nói
riêng. Vậy tôi chọn đề tài “Vấn đề giáo dục con cái trong gia đình ở nông
thôn trên địa bàn tỉnh Bắc Giang hiện nay” làm đề tài khóa luận của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm gần đây vấn đề giáo dục của gia đình được nhiều nhà
khoa học quan tâm nghiên cứu. Có nhiều công trình, bài viết, các cuộc hội
thảo nghiên cứu về vai trò của gia đình đối với sự hình thành, phát triển nhân
cách thế hệ trẻ và đã đạt được một số kết quả nhất định.
Ở Việt Nam, trong những năm qua đã có nhiều công trình, bài viết của
nhiều nhà giáo dục học, tâm lý học được công bố, đề cập khá sâu sắc đến


công tác giáo dục của gia đình đối với thế hệ trẻ với nhiều góc độ, cấp độ
khác nhau.
Về vai trò của các thành viên trong gia đình với giáo dục con cái, có các
công trình tiêu biểu:
- Nghiêm Sĩ Liêm, “Vai trò người phụ nữ trong giáo dục gia đình ở nước
ta hiện nay”, Báo chí và Tuyên truyền [6, tr.34-36]
- Đỗ Thị Bình (chủ biên), “Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia
đình thời ky công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Nhà xuất bản Khoa học
xã hội, 2002 [1]
Trong những công trình trên, các tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu về
vai trò của từng thành viên, ưu điểm nổi trội của họ đối với việc giáo dục thế
hệ trẻ, chứ chưa đi sâu nghiên cứu vai trò của gia đình đối với sự hình thành
và phát triển nhân cách thế hệ trẻ.
Về gia đình và vai trò của gia đình đối với thế hệ trẻ, có thể kể đến các
công trình tiêu biểu sau:
- Đức Minh (chủ biên), "Khoa học giáo dục con em trong gia đình" của
Ủy ban Thiếu niên nhi đồng Trung ương, xuất bản năm 1979. Cuốn sách này
đã giới thiệu một số quan điểm về giáo dục xã hội chủ nghĩa, nhấn mạnh vai
trò, đặc điểm của giáo dục gia đình, cung cấp những cơ sở lý luận, những nội
dung và yêu cầu của giáo dục gia đình đối với thế hệ trẻ [11].
- "Dạy con nên người" của Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Hà Nội, xuất
bản năm 1991[3]. Tập thể tác giả đã cung cấp cho các bậc cha mẹ những hiểu
biết cần thiết về gia đình, về trách nhiệm làm cha, làm mẹ trong việc giáo dục
con cái nên người, trên những mặt cơ bản của nội dung giáo dục: Đức, trí, thể,
mỹ và lao động, mà các thế hệ làm cha mẹ luôn luôn hướng tới.
Công trình “Gia đình và vấn đề giáo dục gia đình” của Trung tâm nghiên
cứu về gia đình và phụ nữ, xuất bản năm 1994 [21]. Cuốn sách nghiên cứu về


gia đình Việt Nam và việc thực hiện các chức năng của gia đình, một số vấn
đề chủ yếu trong nghiên cứu gia đình Việt Nam. Những vấn đề lý luận,
phương pháp luận; quá trình biến đổi của gia đình Việt Nam từ truyền thống
sang hiện đại; việc thực hiện các chức năng của gia đình Việt Nam hiện nay,
những vấn đề kiến nghị về chính sách đối với gia đình và người phụ nữ, vai
trò của giáo dục gia đình trong sự hình thành và phát triển nhân cách con
người Việt Nam.
Ngoài các công trình trên cũng có một số luận văn, luận án nghiên cứu
các vấn đề Gia đình, Phụ nữ:
- Gia đình - Giáo dục gia đình như: Luận văn Thạc sĩ của Phan Thanh
Hùng, “Sự biến đổi chức năng gia đình trong kinh tế thị trường hiện nay” Hà
Nội, 1996 [4]. Công trình này bàn xoay quanh vấn đề những biến đổi về chức
năng của gia đình trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện nay. Đồng thời đưa ra
những giải pháp để phát huy chức năng kinh tế của gia đình.
- Luận án Tiến sĩ của Đặng Thị Linh, “Vấn đề phụ nữ trong gia đình Việt
Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp” Hà Nội, 1997 [7]. Tác giả đã đưa ra
được vai trò của người phụ nữ trong gia đình Việt Nam hiện nay.
Các công trình trên đây đều đề cập ở những mức độ khác nhau đến vai
trò của giáo dục gia đình đối với sự hình thành nhân cách thế hệ trẻ ở Việt
Nam nói chung. Song, cho đến nay hầu hết các tác giả đều thừa nhận, việc
làm đó mới chỉ là kết quả bước đầu, mới chỉ là phát hiện những vấn đề, còn
trên những khía cạnh cụ thể cũng cần có sự đầu tư hơn nữa để nghiên cứu một
cách tổng thể, khoa học. Mặt khác, cũng chưa có công trình độc lập nào
nghiên cứu về vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở nông thôn
trên địa bàn tỉnh Bắc Giang hiện nay. Vì vậy khóa luận “Vấn đề giáo dục con
cái trong gia đình ở nông thôn trên địa bàn tỉnh Bắc Giang hiện nay” của
tôi hi vọng sẽ góp một phần nhỏ vào sự nỗ lực chung của toàn xã hội.


3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Làm rõ vấn đề giáo dục con cái trong gia đình ở nông thôn trên địa bàn
tỉnh Bắc Giang hiện nay trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp nhằm phát huy
vai trò của gia đình với giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ ở tỉnh Bắc Giang
hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, khóa luận thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Giáo dục con cái của gia đình ở nông thôn – Một số vấn đề lý luận
- Thực trạng giáo dục con cái của gia đình ở nông thôn trên địa bàn tỉnh
Bắc Giang hiện nay
- Giải pháp để nâng cao vai trò của gia đình trong việc giáo dục con cái ở
nông thôn trên địa bàn tỉnh Bắc Giang hiện nay
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Vấn đề giáo dục con cái trong gia đình ở nông thôn trên địa bàn tỉnh Bắc
Giang hiện nay
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Gia đình ở nông thôn trên địa bàn tỉnh Bắc Giang từ 2010 đến nay
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của
Đảng và pháp luật của Nhà nước về gia đình, về giáo dục gia đình.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phối hợp các phương pháp như: Phương pháp duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, phương pháp logic - lịch sử, phương pháp so sánh,
phương pháp thống kê, phương pháp diễn dịch và quy nạp,…
6. Đóng góp của đề tài


Khóa luận góp phần làm sáng tỏ thêm về mặt lý luận về giáo dục con cái
của gia đình ở nông thôn trên địa bàn tình Bắc Giang. Đồng thời, khóa luận có
đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của gia đình trong việc giáo
dục con cái của gia đình ở nông thôn, từ đó làm tốt hơn công tác chăm sóc,
giáo dục thế hệ trẻ của tỉnh Bắc Giang.
7. Bố cục
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo khóa luận
gồm có 03 chương và 07 tiết.


Chương 1 GIÁO DỤC CON CÁI CỦA GIA ĐÌNH Ở NÔNG THÔN –
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm gia đình
Ngay từ thời nguyên thủy cho tới hiện nay, không phụ thuộc vào cách
kiếm sống, gia đình luôn tồn tại và là nơi để đáp ứng những nhu cầu cơ bản
cho các thành viên trong gia đình. Song để đưa ra được một cách xác định
phù hợp với khái niệm gia đình, một số nhà nghiên cứu xã hội học đã đưa ra
sự so sánh giữa gia đình loài người với cuộc sống lứa đôi của động vật, gia
đình loài người luôn luôn bị ràng buộc theo các điều kiện văn hóa xã hội của
đời sống gia đình ở con người. Gia đình ở loài người luôn bị ràng buộc bởi
các quy định, các chuẩn mực giá trị, sự kiểm tra và sự tác động của xã hội; vì
thế theo các nhà xã hội học, thuật ngữ gia đình chỉ nên dùng để nói về gia
đình loài người.
Thực tế, gia đình là một khái niệm phức hợp bao gồm các yếu tố sinh
học, tâm lý, văn hóa, kinh tế,... khiến cho nó không giống với bất ky một
nhóm xã hội nào. Từ mỗi một góc độ nghiên cứu hay mỗi một khoa học khi
xem xét về gia đình đều có thể đưa ra một khái niệm gia đình cụ thể, phù hợp
với nội dung nghiên cứu phù hợp và chỉ có như vậy mới có cách tiếp cận phù
hợp đến với gia đình.
Đối với xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội. Vì vậy,
có thể xem xét gia đình như một nhóm xã hội nhỏ, đồng thời như một thiết
chế xã hội mà có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hóa con
người. Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các
thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết
thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm


đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên
cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người.
Theo giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, Nhà xuất bản chính trị Quốc
gia: Gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt, được hình thành,
duy trì và củng cố chủ yếu trên quan hệ hôn nhân và huyết thống. Đúng như
C.Mác đã nói: “…hàng ngày tái tạo ra dời sống của bản thân mình, con người
bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi nảy nở, đó là quan hệ giữa chồng và
vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình” [9, tr.41]. Cho nên yếu tố huyết thống
và tình cảm là nét bản chất nhất của gia đình. Nhưng xét đầy đủ hơn và rộng
hơn, gia đình không chỉ là một đơn vị tình cảm - tâm lý mà còn là một tổ chức
kinh tế - tiêu dùng, một môi trường giáo dục - văn hóa, một cơ cấu - thiết chế
xã hội,…
Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi sinh ra và lớn lên của con người. Gia
đình được hình thành gắn liền với con người. Ngay từ buổi đầu của lịch sử,
khi con người tách khỏi giới loài động vật và tự tổ chức cuộc sống với tư cách
là một cộng đồng độc lập, thì cũng là lúc con người tự tổ chức cuộc sống theo
các mô hình cộng đồng nhỏ - hình thức sơ khai của gia đình. Đã có nhiều nhà
khoa học quan tâm nghiên cứu về gia đình. Đến nay, có nhiều định nghĩa
khác nhau về gia đình và các quan điểm cơ bản về gia đình dường như chưa
có sự thống nhất, thậm chí trái ngược nhau: Nói về gia đình C.Mác và
Ph.Ăngghen trong tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức" (1845), khi luận chứng về
những tiền đề, điều kiện cho sự tồn tại của con người, C.Mác và Ph.Ăngghen
đã viết: “Hằng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người còn tạo
ra những người khác sinh sôi nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ
và con cái, đó là gia đình”. Với quan điểm này, khái niệm gia đình được nhìn
nhận với một số nội dung sau:


Thứ nhất, gia đình ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của xã
hội loài người; con người cùng với quá trình tái tạo ra chính bản thân mình thì
đồng thời cũng tạo ra gia đình.
Thứ hai, chức năng chính của gia đình là tái tạo ra, sinh sôi nảy nở con
người.
Thứ ba, gia đình được tạo bởi hai mối quan hệ chủ yếu: quan hệ hôn
nhân (chồng - vợ), quan hệ huyết thống (cha mẹ - con cái).
1.1.2. Khái niệm giáo dục
Giáo dục theo nghĩa rộng là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân
cách được tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch, thông qua các hoạt
động và các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm
truyền đạt và chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội của loài người.
Giáo dục theo nghĩa hẹp là bộ phận của quá trình sư phạm (quá trình
giáo dục), là quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái
độ, những nét tính cách, những hành vi và thói quen cư sử đúng đắn trong xã
hội thuộc các lĩnh vực tư tưởng chính trị, đạo đức, lao động và học tập, thẩm
mĩ, vệ sinh,....
Về cơ bản, các giáo trình về giáo dục học ở Việt Nam đều trình bày
“Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và
lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người”. Định nghĩa
này nhấn mạnh về sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnh đến
yếu tố dạy học, nhưng không đề cập đến mục đích sâu xa hơn, mục đích cuối
cùng của việc đó.
Như vậy, có thể kết luận rằng, “giáo dục” là sự hoàn thiện của mỗi cá
nhân, đây cũng là mục tiêu sâu xa của giáo dục; người giáo dục, hay có thể
gọi là thế hệ trước, có nghĩa vụ phải dẫn dắt, chỉ hướng, phải truyền tải lại cho
thế hệ sau tất cả những gì có thể để làm cho thế hệ sau trở nên phát triển hơn,


hoàn thiện hơn.Với ý nghĩa đó, giáo dục đã ra đời từ khi xã hội loài người
mới hình thành, do nhu cầu của xã hội và trở thành một yếu tố cơ bản để làm
phát triển loài người, phát triển xã hội. Giáo dục là một hoạt động có ý thức
của con người nhằm vào mục đích phát triển con người và phát triển xã hội.
Giáo dục ban đầu được thực hiện một cách đơn giản, trực tiếp ngay trong
lao động và trong cuộc sống, ở mọi lúc, mọi nơi. Khi xã hội ngày càng phát
triển lên, kinh nghiệm xã hội được đúc kết nhiều hơn, yêu cầu của xã hội đối
với con người ngày càng cao hơn, các loại hình hoạt động xã hội ngày càng
mở rộng hơn thì giáo dục theo phương hướng trực tiếp không còn phù hợp mà
đòi hỏi phải có một phương thức giáo dục khác có hiệu quả hơn. Giáo dục
gián tiếp theo phương thức nhà trường, được thực hiện một cách chuyên biệt
ra đời và ngày càng phát triển đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu của xã hội. Do
đó, xã hội ngày càng phát triển, giáo dục ngày càng trở nên phức tạp hơn và
mang tính chuyên biệt hơn. Sự phát triển đó là do yêu cầu tất yếu của xã hội
và do những sức mạnh to lớn của giáo dục tạo ra sự phát triển của xã hội. Vai
trò của giáo dục đối với sự phát triển về mọi mặt của xã hội thì không ai có
thể phủ nhận về nó.
Từ khi ra đời, giáo dục đã trở thành một yếu tố cơ bản thúc đẩy sự phát
triển thông qua việc thực hiện các chức năng xã hội của nó. Đó chính là
những tác động tích cực của giáo dục đến các mặt hay các quá trình xã hội và
tạo ra sự phát triển cho xã hội. Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm
“giáo dục”:
Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách dưới
ảnh hưởng của tất cả các hoạt động từ bên ngoài, được thực hiện một cách có
ý thức của con người trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội. Ví dụ: Ảnh
hưởng của các hoạt động đa dạng nội khóa, ngoại khóa của nhà trường; ảnh


hưởng của lối dạy bảo, nếp sống trong gia đình; ảnh hưởng của sách vở, tạp
chí; ảnh hưởng của những tấm lòng nhân từ của người khác,…
Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách người
giáo dục dưới quan hệ của những tác động sư phạm của nhà trường, chỉ liên
quan đến các mặt giáo dục như: trí học, đức học, mĩ dục, thể dục, giáo dục lao
động.
1.1.3. Khái niệm giáo dục gia đình
Giáo dục gia đình ở đây được hiểu là toàn bộ những tác động của gia
đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách con người, trước hết của
lớp trẻ.
Giáo dục gia đình là sự giáo dục được thực hiện trong phạm vi gia đình,
do các thế hệ trước thực hiện, nhằm tác động tới thế hệ sau với mục đích hình
thành và củng cố trong thế hệ sau những phẩm chất, năng lực phù hợp với
quan điểm của thế hệ trước cũng như phù hợp với hệ chuẩn mực của xã hội.
Đây là một hoạt động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có sự
chuẩn bị,...) của những người giáo dục (thế hệ trước), tác động một cách
thường xuyên, liên tục tới đối tượng được giáo dục (hế hệ sau), nhằm đạt tới
mục đích mà người giáo dục đã định.
Dù ở xã hội nào, trong thời đại nào, những người làm cha mẹ bao giờ
cũng mong muốn có những người con khoẻ mạnh, thông minh, có đạo đức, có
những phẩm chất tốt đẹp (theo quan niệm của họ và phù hợp với hệ giá trị của
xã hội); thành thạo những kỹ năng sống và có một tâm hồn trong sáng, lối
sống lành mạnh; là những người có ích đối với gia đình và xã hội. Vì thế, mục
đích giáo dục trong gia đình, về cơ bản, thường bao gồm toàn diện các khía
cạnh: trí, đức, thể, mỹ.


Như vậy, có thể hiểu:
Giáo dục gia đình là những hoạt động tự giác (có hệ thống, có mục đích,
có kế hoạch, có sự chuẩn bị,...) của thế hệ trước, tác động đến thế hệ sau,
nhằm hình thành ở thế hệ sau những phẩm chất, những giá trị và kỹ năng,…
theo mong muốn của thế hệ trước và theo yêu cầu của xã hội.
Trong quá trình xã hội hoá cá nhân, sự giáo dục của gia đình đóng vai trò
cơ bản và quyết định.
Gia đình là môi trường xã hội hoá quan trọng bậc nhất của cá nhân - đặc
biệt là khi còn nhỏ, bởi đây là nhóm xã hội đầu tiên và gắn bó suốt đời của
mỗi người, là môi trường chính yếu hình thành nên nhân cách của cá nhân.
Tại gia đình, trẻ được nuôi dưỡng, chăm sóc và được dạy bảo những điều đầu
tiên, sơ đẳng để sống làm người. Ở tuổi ấu thơ, gia đình là cả thế giới, bố mẹ
là những thần tượng của trẻ.
Chính vì gia đình là cả thế giới, cha mẹ là những thần tượng, nên trẻ em
nhanh chóng lĩnh hội những điều được dạy dỗ trong gia đình. Bằng sự giáo
dục, gia đình tạo nên “sản phẩm” của mình, đưa nó hoà nhập vào với xã hội.
Tất nhiên sẽ có những em bé thiếu sự quan tâm giáo dục của người cha hoặc
người mẹ nhưng vẫn có thể hình thành được nhân cách tốt, hoặc có những em
bé tuy được giáo dục chu đáo mà vẫn xuất hiện những tính xấu. Nhưng quy
luật chung là giáo dục gia đình như thế nào sẽ có được những con người như
thế ấy.
Hơn thế, con người bình thường không thể sống ngoài gia đình (trừ một
số trường hợp đặc biệt). Họ được sinh ra trong một gia đình, sống với gia đình
suốt thời thơ ấu. Lớn lên họ lập gia đình, có một gia đình nhỏ của riêng
mình... Mối quan hệ trong gia đình là quan hệ tình cảm, dựa trên sự yêu
thương, chia sẻ, chăm sóc lẫn nhau. Không có ở đâu khác, con người được


nhận nhiều tình cảm và nhiều sự chăm sóc như ở gia đình. Đây là môi trường
lý tưởng cho sự hình thành và hoàn thiện nhân cách.
Giáo dục gia đình có vai trò quyết định đối với việc hình thành nhân
cách cá nhân còn bởi lẽ, ngoài những yếu tố sinh học và di tuyền, thì tri thức,
kỹ năng chuyên môn, niềm tin, hệ giá trị- chuẩn mực,... chỉ có thể hình thành
thông qua giáo dục. Đây là những tài sản mà các thế hệ trước đã thu lượm,
đúc kết, sáng tạo và truyền lại cho các thế hệ sau, được các thế hệ sau lĩnh
hội, biến đổi và chuyển hoá thành kinh nghiệm của bản thân và tạo nên nhân
cách của mình. Cũng chính giáo dục vạch ra kế hoạch và phương pháp bù đắp
những thiếu hụt, hạn chế do các yếu tố bẩm sinh- di truyền hoặc hoàn cảnh
gây nên, nhằm xây dựng những nhân cách hoàn thiện nhất có thể. Giáo dục
còn có thể phát huy tối đa các mặt mạnh của các yếu tố chi phối sự hình thành
và phát triển nhân cách và uốn nắn những sai lệch theo đúng hướng mong
muốn của xã hội. Hơn thế, giáo dục có thể đi trước, đón đầu sự phát triển để
“hoạch định nhân cách trong tương lai” phù hợp với sự phát triển của xã hội.
Mỗi cá nhân là một sản phẩm của sự giáo dục trong gia đình. Những
điều trẻ em lĩnh hội được ở gia đình trong những năm đầu đời sẽ hình thành
những nét nền tảng của nhân cách. Ngay cả những điều mà cha mẹ không chủ
ý truyền dạy cho con, nhưng trẻ quan sát được hàng ngày thì cũng sẽ rất tự
nhiên ngấm vào trẻ và được chúng lặp lại, học theo. Dấu ấn gia đình, vì thế,
rất đậm nét và khó xoá bỏ trong nhân cách mỗi cá nhân, vì những gì được xây
dựng ban đầu thường rất bền vững, tuy sau đó có thể được điều chỉnh, nhưng
rất khó bị xoá bỏ hoàn toàn.
Đặc điểm của giáo dục gia đình
Là một quá trình liên tục và lâu dài: từ khi con người được sinh ra đến
tận tuổi già. Một khi còn sống trong gia đình, thì quá trình này vẫn còn diễn ra
và tác động tới mỗi người. Tuy nhiên, mức độ và tính chất tác động của giáo


dục trong gia đình đối với cá nhân trong mỗi giai đoạn cuộc sống đều có
những khác biệt. Khi càng nhỏ, nhận thức càng non nớt, thì tác động của giáo
dục gia đình tới cá nhân càng mạnh mẽ, và sự tiếp nhận càng đầy đủ và thụ
động. Dần dần, khi trẻ lớn lên, nhận thức phát triển hơn, thì tác động này
giảm dần và sự tiếp nhận cũng có chọn lọc hơn, thông qua “bộ lọc” của cá
nhân.
Được thực hiện chủ yếu trên cơ sở tình cảm: Vì thành viên trong gia
đình là những người ruột thịt và yêu thương nhau, nên sự giáo dục trong gia
đình được thực hiện trên nền tảng của tình yêu thương. Những gì cha mẹ
mong muốn và giáo dục con cái đạt tới, đều là những điều tốt đẹp, hàm chứa
sự mong chờ một tương lai tốt đẹp cho con. Trong sự giáo dục đó có ấp ủ
những dự định, những ước muốn, những ky vọng,... mà cha mẹ muốn dành
cho con, muốn thấy con đạt được. Có những bậc cha mẹ sẵn sàng hy sinh
nhiều quyền lợi riêng của mình, dành cho con những điều kiện tốt nhất để con
đạt được những cái đích mong muốn.
Được thực hiện bằng phương pháp đặc biệt là giảng giải, thuyết phục và
làm gương: Sự giáo dục trong gia đình thường không sử dụng những bài
giảng được soạn thảo bài bản với những khái niệm trừu tượng cao siêu, mà
thường bình dị, bằng những phương tiện sẵn có, với những cách thể hiện tự
nhiên, đơn giản: giải thích, thuyết phục. Và để không bị mâu thuẫn với những
gì mình dạy dỗ con cái, bố mẹ thường phải chú ý làm gương, tỏ ra mẫu mực
để các con noi theo.
Được thực hiện thông qua cách thức tổ chức đời sống gia đình, bởi lẽ
gia đình không thể xây dựng cho mình một cơ sở vật chất riêng, với những
thể chế riêng và những cách thức riêng để giáo dục con cái, mà sự giáo dục ấy
được thực hiện trên cơ sở những gì sẵn có của gia đình: trong khuôn viên gia
đình, với cách thức tổ chức cuộc sống và sinh hoạt của gia đình. Không có


những buổi học riêng để thuyết giảng, phân tích, dạy dỗ con cái, mà tất cả
được lồng ghép trong các hoạt động sống của gia đình: Khi làm việc nhà, bố
mẹ đồng thời hướng dẫn cho trẻ làm công việc nội trợ, dạy chúng về đức tính
đảm đang, chu đáo; khi chăm sóc con, bố mẹ đồng thời dạy trẻ về tình cảm
gia đình, cách thể hiện sự quan tâm, chia sẻ lẫn nhau giữa các thành viên; Khi
hướng dẫn con chơi, bố mẹ rèn luyện cho con những kỹ năng như sự khéo
léo, óc phán đoán, khả năng phản xạ,... Đồng thời dạy chúng tính nhường
nhịn, sự phối hợp và tôn trọng luật chơi,...
Vừa toàn diện, vừa cụ thể. Con người là một thực thể thống nhất của cả
thể chất và tinh thần. Một con người phát triển phải có thể chất khoẻ mạnh,
tinh thần sáng suốt, trí tuệ minh mẫn, tâm hồn phong phú, tư duy lành mạnh...
Tất cả những phẩm chất đó đều được hình thành, định hình và vun đắp từ
trong gia đình. Chúng là một hệ thống phức hợp những giá trị mà giáo dục gia
đình phải hướng tới. Chúng vừa toàn diện, bao gồm đầy đủ mọi khía cạnh của
cuộc sống con người, lại vừa chi tiết tỉ mỉ, nhằm tới từng tri thức và kỹ năng
cụ thể để hiện thực hoá sự giáo dục đó.
Tuân thủ nguyên tắc: tôn trọng nhân cách, cá tính và phẩm chất riêng
của trẻ. Sở dĩ như vậy là bởi sự giáo dục gia đình hướng tới từng con người
cụ thể, là những cá nhân riêng biệt, không giống nhau. Mỗi con người là một
cá thể riêng, không lặp lại, kể cả anh chị em sinh đôi cũng không bao giờ
giống nhau hoàn toàn. Vậy nên, cho dù sự giáo dục của cha mẹ là chung đối
với các con, nhưng vẫn phải lựa theo cá tính, sở thích và thể chất của mỗi trẻ
để đạt được hiệu quả. Có thể nói, giáo dục gia đình mang tính cá biệt cao, bởi
nó tôn trọng nhân cách, cá tính và phẩm chất riêng của trẻ.
1.1.4. Khái niệm nông thôn
Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông
nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Nông thôn có thể được xem xét trên nhiều góc độ:


kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội,.. Kinh tế nông thôn là một khu vực của nền
kinh tế gắn liền với địa bàn nông thôn. Kinh tế nông thôn vừa mang những
đặc trưng chung của nền kinh tế về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, về
cơ chế kinh tế,... vừa có những đặc điểm riêng gắn liền với nông nghiệp, nông
thôn.
Vùng nông thôn được quan niệm khác nhau ở mỗi nước vì điều kiện
kinh tế - xã hội, điều kiện tự nhiên ở mỗi nước khác nhau. Cho đến nay chưa
có một khái niệm nào được chấp nhận một cách rộng rãi về nông thôn. Để có
được định nghĩa nông thôn, người ta so sánh nông thôn và thành thị. Trong
khi so sánh có ý kiến dùng chỉ tiêu mật độ dân số và số lượng dân cư. Có ý
kiến dùng chỉ tiêu trình độ phát triển kết cấu hạ tầng để phân biệt thành thị và
nông thôn. Có ý kiến dùng chỉ tiêu phát triển sản xuất hàng hoá, tiếp cận thị
trường để phân biệt thành thị và nông thôn (điều này còn phụ thuộc vào cơ
chế kinh tế của mỗi nước). Có ý kiến cho rằng vùng nông thôn là vùng mà
dân cư ở đó làm nông nghiệp là chủ yếu (nó phụ thuộc vào cơ cấu kinh tế của
vùng). Qua một số ý kiến trên nếu dùng chỉ tiêu riêng lẻ thì chỉ thể hiện từng
mặt của vùng nông thôn mà chưa thể hiện vùng nông thôn một cách đầy đủ.
Theo ý kiến phân tích của các nhà kinh tế và xã hội học có thể đưa ra khái
niệm tổng quát về vùng nông thôn như sau: Nông thôn là vùng khác với thành
thị, ở đó một cộng đồng chủ yếu là nông dân sống và làm việc, có mật độ dân
cư thấp, có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ dân trí, trình độ
tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa kém hơn. Tuy nhiên khái niệm trên
cần được đặt trong điều kiện thời gian và không gian nhất định của nông thôn
mỗi nước, mỗi vùng và cần phải tiếp tục nghiên cứu để có khái niệm chính
xác và hoàn chỉnh hơn.


Đặc trưng cơ bản của nông thôn:
Nông thôn là vùng sinh sống và làm việc của một cộng đồng chủ yếu là
nông dân. là vùng sản xuất nông nghiệp là cơ bản, ngoài ra còn có các hoạt
động sản xuất và phi sản xuất khác phục vụ chủ yếu cho nông nghiệp và cho
nông dân.
So với thành thị thì nông thôn là vùng có kết cấu hạ tầng kém phát triển
hơn, trình độ sản xuất hàng hoá và tiếp cận thị trường thấp hơn. Vì vậy nông
thôn chịu sức hút của thành thị về nhiều mặt. Dân cư nông thôn thường hay
đổ xô về thành thị để kém việc làm và tìm cơ hội sống tốt hơn.
Nông thôn có thu nhập và đời sống thấp hơn, trình độ văn hoá, khoa học
công nghệ thấp hơn thành thị và ngay cả trình độ dân chủ, tự do, công bằng xã
hội trong một chừng mực nào đó cũng thấp hơn thành thị.
Nông thôn giàu tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên như đất đai, nguồn
nước, khí hậu,... nhưng rất đa dạng về kinh tế, xã hội, đa dạng về các hình
thức tổ chức quản lý, đa dạng về quy mô và trình độ phát triển. Tính đa dạng
đó không chỉ diễn ra giữa các nước khác nhau mà ngay giữa các vùng nông
thôn khác nhau của mỗi nước. Điều đó có ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng
khai thác tài nguyên và các nguồn lực để đáp ứng yêu cầu phát triển bền
vững.
1.2. Các nguyên tắc và phương pháp giáo dục con cái trong gia đình
1.2.1. Một số nguyên tắc giáo dục con cái trong gia đình
Giáo dục con trong gia đình là quá trình tác động của cha mẹ đến nhận
thức, tình cảm, ý chí của con để hình thành cho con những hành vi, thói quen
phù hợp với mong muốn của cha mẹ và yêu cầu của xã hội. Để giáo dục con
tốt cha mẹ cần tuân thủ theo nguyên tắc sau:
Cha mẹ cần nắm vững đặc điểm tâm lý lứa tuổi và đặc điểm cá nhân
từng đứa trẻ: Trẻ em ở mỗi lứa tuổi, mỗi cá nhân có đặc điểm riêng về sinh lý


và tâm lý. Cha mẹ phải nắm vững những đặc điểm đó ở từng lứa tuổi, từng
đứa trẻ để giáo dục con, tạo điều kiện cho nhân cách trẻ phát triển triển thuận
lợi, hướng tới cái tốt đẹp.
Cha mẹ và những người lớn trong gia đình phải gương mẫu: Đặc điểm
trẻ em, nhất là ở lứa tuổi mẫu giáo và nhi đồng rất hay bắt chước. Mọi cử chỉ,
lời nói của cha mẹ đều ảnh hưởng lớn đối với trẻ. Vì vậy, để dạy con, cha mẹ
cần phải làm tấm gương sáng, là khuôn mẫu để trẻ noi theo. Cha mẹ cần giữ
đúng lời hứa, giải thích rõ khi không thực hiện được lời hứa với trẻ.
Cha mẹ cần phải thống nhất phương pháp giáo dục trẻ: Cha mẹ và các
thành viên trong gia đình cần thống nhất ý kiến trong việc giáo dục trẻ. Ngoài
ra, cũng cần thống nhất về nội dung, phương pháp giáo dục giữa gia đình, nhà
trường và xã hội.
Cha mẹ cần biết phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm của con: Về
tâm lý, trẻ em muốn bố mẹ, bạn bè, mọi người thừa nhận những hành vi tích
cực của mình. Vì vậy, cha mẹ cần biểu dương những việc tốt của con trên cơ
sở đó khắc phục mặt chưa tốt, nhưng phải chú ý đúng mức, đừng tán dương
quá đáng và cũng không nên định kiến với thiếu sót, sai lầm của trẻ.
Cha mẹ nên kiên trì, thường xuyên và giữ đúng mực thước. Cha mẹ phải
kiên trì và thường xuyên giáo dục con mới giúp con tạo nên những thói quen
tốt. Cha mẹ cần yêu thương con hết mực nhưng không nên quá nuông chiều
con. Cần phải nghiêm khắc đúng mực, tôn trọng con nhưng yêu cầu cao với
con. Thuyết phục con là chính nhưng khi cần thiết vẫn phải trách phạt.
1.2.2. Một số phương pháp giáo dục con cái trong gia đình
Để giáo dục con trở thành những người con hiếu thảo, những công dân
có ích cho xã hội, các bậc cha mẹ có nhiều phương pháp giáo dục khác nhau.
Sau đây là một số phương pháp giáo dục con theo khoa học.


Phương pháp thuyết phục: Thuyết phục bằng lý lẽ là hình thức cha mẹ
dùng lời nói phân tích, giảng giải cho con điều hơn lẽ thiệt, cái đúng cái sai để
con hiểu và làm theo. Thuyết phục bằng nêu gương là hình thức cha mẹ
hướng con học, làm theo những tấm gương điển hình, cụ thể. Khi thuyết
phục, cha mẹ cần dùng lời lẽ truyền cảm, dễ hiểu, phù hợp với đối tượng lứa
tuổi, nhẹ hàng khuyên bảo, hướng dẫn; không áp đặt, ra mệnh lệnh. Dành thời
gian chuyện trò, tâm sự với con, là người bạn lớn của con. Điềm tĩnh, kiên trì,
suy nghĩ tìm lời lẽ thích hợp để thuyết phục. Khi nêu gương phải khôn khéo,
tế nhị, không làm trẻ tự ái, hoặc xúc phạm trẻ. Cha mẹ phải có niềm tin vững
chắc vào điều mình thuyết phục, biết kiên trì chờ đợi những chuyển biến, tiến
bộ ở trẻ. Tránh lối thuyết phục giáo huấn dài dòng, mệnh lệnh gia trưởng.
Phương pháp tổ chức hoạt động rèn luyện thói quen: Trong sự hình
thành và phát triển nhân cách, hoạt động giữ vai trò chủ đạo, mang tính quyết
định. Để rèn luyện cho con những thói quen tốt, cha mẹ cần tổ chức các hoạt
động khác nhau như hoạt động học tập, hoạt động lao động, hoạt động vui
chơi, giải trí, hoạt động thể dục thể thao,... để con tham gia. Tùy theo điều
kiện cụ thể của gia đình, đặc điểm thể chất và năng lực của con mà tổ chức
hoạt động học tập phù hợp. Tạo điều kiện về sách vở, đồ dùng, góc học tập,
thời gian cho con học ở nhà. Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện thời gian
biểu, kiểm tra kết quả học tập của con, hướng dẫn con học toàn diện.
Cha mẹ nên tổ chức hoạt động lao động: Có kế hoạch cho con làm các
công việc nhà hoặc lao động xã hội. Khi giao việc, giao trách nhiệm, yêu cầu
của cha mẹ phải cụ thể, rõ ràng. Trong khi con thực hiện các công việc, cha
mẹ phải kiểm tra, giám sát chặt chẽ. Tùy theo lứa tuổi và đặc điểm sức khỏe,
năng lực của con mà giao việc. Cần xây dựng định mức lao động để trẻ phấn
đấu; rèn luyện tinh thần khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ, tinh thần
đoàn kết trong lao động cho trẻ.


Cha mẹ nên khen thưởng con khi con làm được việc tốt: Khen thưởng là
hình thức cha mẹ biểu thị sự đồng tình, sự tán dương những thành tích đạt
được của con nhằm động viên, khuyến khích con tiếp tục thực hiện những
hành vi, cử chỉ đẹp của mình. Trẻ em nào cũng muốn được bố mẹ biểu dương,
khen thưởng khi làm được việc tốt hoặc khi con tiến bộ. Hình thức khen
thưởng có tác dụng khuyến khích, giáo dục là một cử chỉ âu yếm, một lời
khen hoặc một loại đồ dùng học tập, một quyển sách truyện, vé xem phim...
tuyệt đối không thưởng tiền cho con nhỏ. Khi khen thưởng cần chú ý: hình
thức khen thưởng phải xứng đáng với thành tích của con. Khen thưởng phải
công khai và dược mọi người công nhận, không phân biệt con trai với con gái.
Cha mẹ cần thực hiện phương pháp trách phạt: Trách phạt nhằm giúp
trẻ em thấy thiếu sót của mình để quyết tâm sửa chữa, ngăn ngừa sai phạm. Vì
vậy cần trách phạt một cách tự nhiên để trẻ tự rút ra bài học, tự thấy sai lầm
của mình. Các hình thức trách phạt nên ở mức độ: nhận xét nghiêm khắc về
điều sai trái, phê bình, khiển trách hoặc yêu cầu con làm lại, dù đó là con trai
hay con gái. Bình tĩnh, chủ động khi thực hiện biện pháp trách phạt. tuyệt đối
không đánh đập, quát mắng, thóa mạ con, nhất là trước mặt bạn bè của con và
ngững người lạ. Không trách phạt trẻ một cách vội vàng mà phải tìm hiểu kỹ
nguyên nhân, phải có sự đồng tình giữa cha mẹ và con cái trong việc thực
hiện hình thức trách phạt. Phải chỉ ra cách tránh khỏi sai lầm để trẻ sửa chữa.
Giáo dục trong gia đình là bước đầu tiên và quan trọng trong việc hình
thành và phát triển nhân cách con người. Để giáo dục trong gia đình đạt hiệu
quả, đòi hỏi các bậc làm cha mẹ một sự hy sinh lớn lao, không vụ lợi, không
cần được con cái đáp đền. Khi áp dụng các nguyên tắc và phương pháp cần sử
dụng đan xen nhau. Nó là chiếc chìa khóa mở cánh cửa hạnh phúc của con
cái, gia đình, nền tảng hạnh phúc của xã hội.


1.3. Vị trí và chức năng của gia đình đối với xã hội
1.3.1. Vị trí
Gia đình là tế bào của xã hội. Điều này trước hết chỉ ra rằng, gia đình và
xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau. Quan hệ đó giống như sự tương tác
hữu cơ của sự trao đổi chất, duy trì sự sống giữa tế bào và một cơ thể sinh vật.
xã hội (cơ thể) lành mạnh tạo điều kiện cho gia đình tiến bộ, gia đình (tế bào)
hạnh phúc góp phần cho sự phát triển hài hòa của xã hội.
Trong mối quan hệ mật thiết ấy, trình độ phát triển về mọi mặt của xã
hội quyết định đến hình thức, tính chất, kết cấu và cả quy mô của cả gia đình.
C. Mác nhiều phần lưu ý rằng: Tôn giáo, gia đình, nhà nước pháp quyền, đạo
đức, khoa học, nghệ thuật,.. chỉ là những hình thức đặc thù của sản xuất và
phục tùng quy luật chung của sản xuất.
Trong hệ thống cơ cấu xã hội có nhiều bộ phận khác nhau (dân tộc, giai
cấp, giới tính,..); nhiều thiết chế lớn nhỏ (nhà nước, ngành, đoàn thể,..). Với
tính cách là tế bào của xã hội, gia đìnhlà tổ chức cơ sở, là cơ cấu và thiết chế
xã hội nhỏ nhất. Cơ cấu thiết chế nhỏ nhất này lại đa dạng và phong phú,
trong quá trình vận động, vừa tuân thủ những quy luật và cơ chế chung của xã
hội, vừa theo những quy định và tổ chức của riêng mình.
Gia đình là cầu nối giữa mọi thành viên trong gia đình và xã hội. Nhiều
thông tin về xã hội tác động đến con người thông qua gia đình. Xã hội nhận
thức đầy đủ và toàn diện hơn về một người khi nhân thức rõ hoàn cảnh gia
đình của người ấy. Nhiều nôi dung quan lý xã hội không chỉ thông qua hoạt
động của các thiết chế xã hội, mà còn thông qua hoạt động của gia đình để tác
động đến con người; nghĩa vụ và quyền lợi xã hội của mỗi người được thực
hiện với sự hợp tác chung của các thành viên trong gia đình. Qua đó ý thức
công dân của cá nhân được nâng cao và sự gắn bó giữa gia đình và xã hội có
sự sc thực.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×