Tải bản đầy đủ

bai tieu luan am duong va ung dung trong quan ly nhan su

MỤC LỤC

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trời đất vạn vật nói chung là một đại vũ trụ và con người là một tiểu vũ trụ
và cũng hàm chứa Âm Dương và Ngũ Hành. Khởi đầu là Thái Cực, chưa có sự
biến hóa. Thái cực này vận động biến thành hai khí Âm và Dương. Hai khí Âm
Dương chuyển hóa làm cho vũ trụ động và vạn vật sinh tồn. Người ta thường
nói: Thái Cực thị sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh
Bát Quái. Tồn thể của Trời Đất này (Vũ Trụ) sinh tồn là do lý Thái Cực, và mọi
vật đều do Âm Dương tác tạo, nên cũng có một lý Thái Cực riêng cho mình. Âm
Dương là khí vô hình, có hai phần khác nhau là Dương và Âm để bù đắp cho
nhau mà sinh động lực.
Học thuyết ngũ hành cho rằng thế giới là do năm loại vật chất cơ bản nhất:
mộc, thổ, hoả, kim, thuỷ cấu tạo nên .Sự phát triển biến hố của các sự vật, hiện
tượng trong tự nhiên (bao gồm cả con người) đều là kết quả của năm loại vật
chất này không ngừng vận động và tác động lẫn nhau. Phát hiện này đã tìm ra
quy luật và nguyên nhân sinh diệt của vạn vật trong vũ trụ. Cho nên học thuyết
ngũ hành cũng là chủ nghĩa duy vật biện chứng phương pháp thô sơ. Họcthuyết
ngũ hành có công dụng rất rộng trên mọi lĩnh vực khoa học. Học thuyết âm
dương ngũ hành không những được nhiều trường phái triết học tìm hiểu lý giải,

khai thác mà còn được nhiều ngành khoa học khác quan tâm vận dụng. Có thể
nói, ít có học thuyết triết học nào lại thâm nhập vào nhiều lĩnh vực của tri thức

1


và được vận dụng để lý giải nhiều vấn đề của tự nhiên, xã hội như học thuyết
này.
Tuy nền tảng khoa học của học thuyết vẫn còn chưa thật sự sáng tỏ và
thuyết phục, nhưng những ứng dụng của nó thì từ lâu đã trở thành quen thuộc.
Không chỉ ứng dụng trong việc bói toán, chọn nhà cửa, xem và giải hạn ... còn
được ứng dụng trong việc thiết lập và quản lý nhân sự.
Sự tìm hiểu học thuyết Âm dương là một việc cần thiết để lý giải những
đặc trưng của triết học phương Đông nói chung và ảnh hưởng của nó đến phong
cách quản lý nhân sự nói riêng. Đó là lý do chọn đề tài “ Học thuyết Âm dương
và ứng dụng trong quản lý nhân sự” làm tiểu luận.

1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Thuyết âm dương là cốt lõi của nền triết học cổ Đông phương. Nó là động
lực của mọi hiện tượng, mọi vận động trong vũ trụ, “ âm” và “dương” được coi
là hai thế lực cơ bản của vũ trụ, tiềm ẩm trong thái cực. Theo cách nói của triết
học Tây phương thái cực chính là mâu thuẫn, nó là sự hợp nhất của hai mặt đối
lập: dương và âm. Sự đấu tranh của hai mặt dương âm này làm cho vũ trụ phát
triển không ngừng.
Học thuyết Âm – Dương là quan điểm về vũ trụ quan trọng nhất của Triết
học Trung Quốc cổ đại. Học thuyết Âm – Dương đi sâu vào lý giải nguồn gốc và
sự biến đổi của vạn vật trong thế giới. Theo học thuyết Âm – Dương, nguyên lý
tối cao và là nguồn gốc biến hóa của vạn vật trong vũ trụ chính là sự liên hệ, tác
động giữa hai thế lực “âm”, “dương”. “Dương” theo nguyên nghĩa là ánh sáng
mặt trời và những yếu tố thuộc về ánh sáng mặt trời. ”Âm” là bóng tối và những
yếu tố thuộc về bóng tối.
Học thuyết triết học Âm - Dương đã thâm nhập vào nhiều lĩnh vực của tri
thức và được vận dụng để lý giải nhiều vấn đề của tự nhiên, xã hội ví dụ như
ứng dụng trong quản lý nhân sự, đặc biệt là trong phong cách quản lý nhân sự.

2


2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử luận
văn dùng các phương pháp sau:
+ Phương pháp phân tích và tổng hợp
+ Phương pháp thống kê
+ Phương pháp lịch sử và logic

3. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
3.1. Thuyết Âm dương

Bắt nguồn từ nhận thức về xã hội, học thuyết Âm dương, Ngũ hành là sự
khái quát về vũ trụ để giải thích những hiện tượng xung quanh của người Á
Đông. Nguồn gốc của học thuyết này được đặt trên ba giả thiết khác nhau, gồm
được sáng tạo bởi Phục Hy, bởi phái Âm dương gia và từ triết lý dân gian ở khu
vực phương Nam. Nếu như sự vận động không ngừng của vũ trụ đã hướng con
người tới những nhận thức sơ khai trong việc cắt nghĩa quá trình phát sinh của
vũ trụ và hình thành học thuyết Âm dương, thì ý tưởng tìm hiểu bản thể thế giới,
bản thể các hiện tượng trong vũ trụ đã giúp cho họ hình thành học thuyết Ngũ
hành. Học thuyết Ngũ hành có thể hiểu đó là thuyết biểu thị quy luật vận động
của thế giới, của vũ trụ, nó cụ thể hóa và bổ sung cho thuyết Âm dương thêm
hoàn bị.
Việc sử dụng phạm trù âm dương ngũ hành đánh dấu bước phát triển đầu
tiên của tư duy khoa học phương Đông nhằm đưa con người thoát khỏi sự khống
chế về tư tưởng của các khái niệm thượng đế , quỷ thần truyền thống. Chính vì
thế, sự tìm hiểu học thuyết âm dương ngũ hành là một việc cần thiết để lý giải
những đặc trưng của triết học phương Đông.
Lý luận về âm dương được viết thành văn lần đầu tiên xuất hiện trong sách
"Quốc ngữ". Tài liệu này mô tả âm dương đại biểu cho hai dạng vật chất tồn tại
phổ biến trong vũ trụ, một dạng có dương tính, tích cực, nhiệt liệt, cứng cỏi và
một dạng có âm tính, tiêu cực, lạnh nhạt, nhu nhược... Hai thế lực âm và dương
tác động lẫn nhau tạo nên tất cả vũ trụ. Sách "Quốc ngữ" nói rằng "khí của trời
3


đất thì không sai thứ tự, nếu mà sai thứ tự thì dân sẽ loạn, dương mà bị đè bên
dưới không lên được, âm mà bị bức bách không bốc lên được thì có động đất".
Lão Tử (khoảng thế kỷ V-VI trước CN) cũng đề cập đến khái niệm âm
dương. Ông nói: “Trong vạn vật, không có vật nào mà không cõng âm và bồng
dương”, ông không những chỉ tìm hiểu quy luật biến hoá âm dương của trời đất
mà còn muốn khẳng định trong mỗi sự vật đều chứa đựng thuộc tính mâu thuẫn,
đó là âm dương.
Học thuyết âm dương được thể hiện sâu sắc nhất trong "Kinh Dịch". Tương
truyền, Phục Hy (2852 trước CN) nhìn thấy bức đồ bình trên lưng con long mã
trên sông Hoàng Hà mà hiểu được lẽ biến hóa của vũ trụ, mới đem lẽ đó vạch
thành nét. Đầu tiên vạch một nét liền (-) tức "vạch lề" để làm phù hiệu cho khí
dương và một nét đứt (--) là vạch chẵn để làm phù hiệu cho khí âm. Hai vạch (-),
(--) là hai phù hiệu cổ xưa nhất của người Trung Quốc, nó bao trùm mọi nguyên
lý của vũ trụ, không vật gì không được tạo thành bởi âm dương, không vật gì
không được chuyển hóa bởi âm dương biến đổi cho nhau. Các học giả từ thời
thượng cổ đã nhận thấy những quy luật vận động của tự nhiên bằng trực quan,
cảm tính của mình và ký thác những nhận thức vào hai vạch (-) (--) và tạo nên
sức sống cho hai vạch đó. Dịch quan niệm vũ trụ, vạn vật luôn vận động và biến
hóa không ngừng, do sự giao cảm của âm dương mà ra, đồng thời coi âm dương
là hai mặt đối lập với nhau nhưng cùng tồn tại trong một thể thống nhất trong
mọi sự vật từ vi mô đến vĩ mô, từ một sự vật cụ thể đến toàn thể vũ trụ.
Âm dương là hai khái niệm được hình thành cách đây rất lâu. Về nguồn
gốc của âm dương và triết lý âm dương, rất nhiều người theo Khổng An Quốc và
Lưu Hâm (nhà Hán) mà cho rằng Phục Hy là người có công sáng tạo và được
ghi chép trong kinh dịch (2800 TCN). Một số người khác thì cho rằng đó là
công lao của "âm dương gia", một giáo phái của Trung Quốc. Cả hai giả thuyết
trên đều không có cơ sở khoa học vì Phục Hy là một nhân vật thần thoại, không
có thực,còn âm dương gia chỉ có công áp dụng âm dương để giải thích địa lý-

4


lịch sử mà thôi. Phái này hình thành vào thế kỷ thứ 3 nên không thể sáng tạo âm
dương được.
Học thuyết Âm Dương Gia coi âm dương là hai khí, là hai nguyên lý tác
động qua lại lẫn nhau sản sinh ra mọi sự vật, hiện tượng trong trời đất. Kinh dịch
sau này bổ sung thêm nguồn gốc của vũ trụ là Thái cực, thái cự là khí thiên
nhiên, trong đó tiềm phục hai nguyên tố ngược nhau về tính chất là âm – dương.
Từ đây lịch trình tiến hóa trong vũ trụ theo logic : Thái cực sinh lưỡng nghi,
lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái sinh vạn vật.

Hình 1:Vô cực đồ là hình ảnh sáng tạo vào thời nhà Tống, mô tả sự vận động của vũ trụ

Cuộc nghiên cứu khoa học liên ngành của Việt Nam và Trung Quốc đã kết
luận rằng "khái niệm âm dương có nguồn gốc phương Nam". ("Phương Nam" ở
đây bao gồm vùng nam Trung Hoa, từ sông Dương Tử trở xuống và vùng Việt
Nam. Trong quá trình phát triển, nước Trung Hoa trải qua hai thời kỳ:
- "Đông tiến" là thời kỳ Trung Hoa mở rộng từ thượng lưu (phía tây) xuống
hạ lưu (phía đông) của sông Hoàng Hà.
- "Nam tiến" là thời kỳ mở rộng từ lưu vực sông Hoàng Hà (phía bắc)
xuống phía nam sông Dương Tử.
Trong quá trình nam tiến, người Hán đã tiếp thu triết lý âm dương của các
cư dân phương nam, rồi phát triển, hệ thống hóa triết lý đó bằng khả năng phân
tích của người du mục làm cho triết lý âm dương đạt đến hoàn thiện và mang
ảnh hưởng của nó tác động trở lại cư dân phương nam.
Cư dân phương nam sinh sống bằng nông nghiệp nên quan tâm số một của
họ là sự sinh sôi nảy nở của hoa màu và con người. Sinh sản của con người thì
do hai yếu tố: cha và mẹ, nữ và nam; còn sự sinh sôi nảy nở của hoa màu thì do
đất và trời - "đất sinh, trời dưỡng". Chính vì thế mà hai cặp "mẹ-cha", "đất-trời"
5


là sự khái quát đầu tiên trên con đường dẫn đến triết lý âm dương. Về mặt ngôn
ngữ học, "âm dương" là phát âm của yin yang trong tiếng Hán, nhưng chính
tiếng Hán để chỉ khái niệm âm dương lại vay mượn từ các ngôn ngữ phương
Nam trước đây. Ví dụ, so sánh yang với giàng (trong tiếng Mường), yang sri
(thần lúa), yang Dak (thần nước), yang Lon (thần đất) (trong tiếng của nhiều dân
tộc Tây Nguyên); so sánh yin với yana (tiếng Chàm cổ, ví dụ Thiên Yana = mẹ
trời), ina (tiếng Chàm hiện đại), inang (tiếng Indonesia), nạ (tiếng Việt cổ, ví dụ:
nạ ròng = người đàn bà có con, hay tục ngữ Việt Nam: "Con thì na, cá thì
nước"),... thì thấy rõ điều đó. Chính từ quan niệm âm dương với hai cặp "mẹcha" và "đất-trời" này, người ta đã mở rộng ra nhiều cặp đối lập phổ biến khác.
Đến lượt mình, các cặp này lại là cơ sở để suy ra vô số các cặp mới.
Đồng thời, có giả thiết khác cho rằng lý luận về âm dương được viết thành
văn lần đầu tiên xuất hiện trong sách "Quốc ngữ". Tài liệu này mô tả âm dương
đại biểu cho hai dạng vật chất tồn tại phổ biến trong vũ trụ, một dạng có dương
tính, tích cực, nhiệt liệt, cứng cỏi và một dạng có âm tính, tiêu cực, lạnh nhạt,
nhu nhược... Hai thế lực âm và dương tác động lẫn nhau tạo nên tất cả vũ trụ.
Sách "Quốc ngữ" nói rằng "khí của trời đất thì không sai thứ tự, nếu mà sai thứ
tự thì dân sẽ loạn, dương mà bị đè bên dưới không lên được, âm mà bị bức bách
không bốc lên được thì có động đất".
Theo lý thuyết trong "Kinh Dịch" thì bản nguyên của vũ trụ là thái cực, thái
cực là nguyên nhân đầu tiên, là lý của muôn vật: "Dịch có thái cực sinh ra hai
nghi, hai nghi sinh ra bốn tượng, bốn tượng sinh ra tám quẻ". Như vậy, tác giả
của “Kinh Dịch" đã quan niệm vũ trụ, vạn vật đều có bản thể động. Trong thái
cực, thiếu dương vận động đến thái dương thì trong lòng thái dương lại nảy sinh
thiếu âm, thiếu âm vận động đến thái âm thì trong lòng thái âm lại nảy sinh thiếu
dương. Cứ như thế, âm dương biến hoá liên tục, tạo thành vòng biến hóa không
bao giờ ngừng nghỉ. Vì thế, các nhà làm Dịch mới gọi tác phẩm của mình là
"Kinh Dịch”. Ở "Kinh Dịch", âm dương được quan nệm là những mặt, những
hiện tượng đối lập. Như trong tự nhiên: sáng - tối, trời - đất, đông - tây, trong xã
6


hội: quân tử - tiểu nhân, chồng - vợ, vua - tôi... Qua các hiện tượng tự nhiên, xã
hội, các tác giả trong "Kinh Dịch" đã bước đầu phát hiện được những mặt đối
lập tồn tại trong các hiện tượng đó và khẳng định vật nào cũng ôm chứa âm
dương trong nó: "vật vật hữu nhất thái cực" (vạn vật, vật nào cũng có một thái
cực, thái cực là âm dương). Nhìn chung, toàn bộ “Kinh dịch” đều lấy âm dương
làm nền tảng cho học thuyết của mình.
Vấn đề âm dương trong trời đất, trong vạn vật liên quan tới sự sống con
người được bàn nhiều nhất trong nội dung trao đổi y học, y thuật giữa Hoàng đế
và Kỳ Bá qua tác phẩm "Hoàng đế Nội kinh". Tác phẩm này lấy âm dương để
xem xét nguồn gốc của các tật bệnh. "Âm dương, đó là cái đạo của trời đất, kỷ
cương của vạn vật, cha mẹ của sự biến hóa, gốc ngọn của sự sinh sát, phủ tạng
của thần minh, trị bệnh phải cần ở gốc, cho nên tích luỹ dương làm trời, tích lũy
âm làm đất, âm tĩnh đương động, dương sinh âm trưởng, dương sát âm tàng,
dương hóa khí, âm tàng hình".
Tác phẩm này còn bàn đến tính phổ biến của khái niệm âm dương. Theo tác
phẩm thì trời thuộc dương, đất thuộc âm, mặt trời thuộc dương, mặt trăng thuộc
âm. Âm dương là khái niệm phổ biến của trời đất. Mọi sự vật, hiện tượng trong
vũ trụ đều có thể lấy âm dương làm đại biểu. Thông qua quy luật biến đổi âm
dương trong tự nhiên mà cố thể suy diễn, phân tích luật âm dương trong cơ thể
con người.
Từ những quan niệm trên về âm dương, người xưa đã khái quát thành quy
luật để khẳng định tính phổ biến của học thuyết này: Trước hết, âm dương là hai
mặt đối lập với nhau nhưng lại thống nhất với nhau, cùng tồn tại phổ biến trong
các sự vật, hiện tượng của giới tự nhiên. Âm dương đối lập, mâu thuẫn nhau trên
nhiều phương diện. Về tính chất: dương thì cứng, nóng, âm thì mềm, lạnh. Về
đường đi lối về: dương là thăng (đi lên), âm là giáng (đi xuống), "cái này đi ra
thì cái kia đi vào, cái này dịch sang bên trái, thì cái kia dịch sang bên phải".

7


Hình 2: Sự đối lập âm dương về tính chất.

Âm dương còn đối lập nhau cả ở phương vị nữa. Theo "Nội kinh", khí
dương lấy phía Nam làm phương vị, lấy phía Bắc làm nơi tàng thế. Khí âm lấy
phía Bắc làm phương vị, lấy phía Nam làm nơi tiềm phục. Nếu suy rộng hơn
nữa thì phàm những thuộc tính tương đối như : hoạt động với trầm tĩnh, sáng sủa
với đen tối, đông - tây, trong xã hội : quân tử - tiểu nhân, hưng phấn với ức chế,
vô hình với hữu hình... chồng - vợ, vua - tôi... Qua các hiện tượng tự không một
cái gì không phải là quan hệ đối nhiên, xã hội, các tác giả trong "Kinh Dịch" đã
phát hiện những mặt đối lập của âm dương. Do đó, âm dương tuy là bước đầu
phát hiện được những mặt đối lập khái niệm trừu tượng nhưng nó có sẵn cơ sở
tồn tại trong các hiện tượng đó và khẳng định vật chất, nó có thể bao quát và phổ
cập tất cả vật nào cũng ôm chứa âm dương trong nó: các thuộc tính đối lập của
mọi sự vật, âm "vật vật hữu nhất thái cực" (vạn vật, vật nào dương tuỳ đối lập,
mâu thuẫn nhau, song cũng có một thái cực, thái cực là âm dương), không tách
biệt nhau mà xâm nhập vào nhau, không phải là tuyệt đối mà là tương đối,
không phải là đại biểu cố định cho một số sự vật nào đó mà là đại biểu cho sự
chuyển biến, đối lập của tất cả các sự vật. Song âm dương không phải là hai mặt
tách rời nhau và chỉ có đấu tranh với nhau mà còn thống nhất với nhau, nương
tựa vào nhau để tồn tại, "âm là cái dương vẫn tìm, mềm là cái dương vẫn lấn".
Trong vũ trụ, cái gì cũng thế, "cô dương thì bất sinh, cô âm thì bất trường".
Nếu chỉ một mình dương hay một mình âm thì không thể sinh thành, biến hóa
được. Nếu một mặt mất đi thì mặt kia cũng mất theo, "dương cô thì âm tuyệt",
âm dương phải lấy nhau để làm tiền đề tồn tại cho mình. Ngay cả cái gọi là âm
dương cũng chỉ có ý nghĩa tương đối, vì trong dương bao giờ cũng có âm, trong
âm bao giờ cũng có dương. Khi dương phát triển đến thái dương thì trong lòng
8


nó đã xuất hiện thiếu dương rồi, khi âm phát triển đến thái âm thì trong lòng nó
đã xuất hiện thiếu âm rồi. Sở dĩ gọi là âm vì trong nó phần âm lấn phần dương,
sở dĩ gọi là dương vì trong nó phần dương lấn phần âm. Âm dương bao giờ cũng
nương tựa vào nhau. Sách Lão Tử viết: "phúc là chỗ núp của họa, họa là chỗ dựa
của phúc”.
Bên cạnh quy luật âm dương đối lập, thống nhất còn có quy luật tiêu trưởng
và thăng bằng của âm dương nhằm nói lên sự vận động không ngừng, sự chuyển
hóa lẫn nhau giữa hai mặt âm dương để duy trì tình trạng thăng bằng tương đối
của sự vật. Nếu mặt này phát triển thái quá sẽ làm cho mặt khác suy kém và
ngược lại. Từ đó làm cho hai mặt âm dương của sự vật biến động không ngừng.
Sự thắng phục, tiêu trưởng của âm dương theo quy luật "vật cùng tắc biến, vật
cực tắc phản". Sự vận động của hai mặt âm dương đến mức độ nào đó sẽ chuyển
hóa sang nhau gọi là "dương cực sinh âm, âm cực sinh dương". Sự tác động lẫn
nhau giữa âm đương luôn nảy sinh hiện tượng bên này kém, bên kia hơn, bên
này tiến, bên kia lùi. Đó chính là quá trình vãn động, biến hóa và phát triển của
sự vật, đồng thời cũng là quá trình đấu tranh tiêu trưởng của âm dương.
Những quy luật cơ bản của âm dương nói lên sự mâu thuẫn, thống nhất,
vận động và phát triển của một dạng vật chất, âm dương tương tác với nhau gây
nên mọi sự biến hóa của vũ trụ. Cốt lõi của sự tương tác đó là sự giao cảm âm
dương. Điều kiện của sự giao cảm đó là sự vật phải trung và "hòa" với nhau. Âm
dương giao hòa cảm ứng là vĩnh viễn, âm dương là hai mặt đối lập trong mọi sự
vật, hiện tượng. Vì vậy, quy luật âm dương cũng là quy luật phổ biến của sự vận
động và phát triển không ngừng của mọi sự vật khách quan.
Hai học thuyết âm dương ngũ hành được hết hợp làm một từ rất sớm. Nhân
vật nổi tiếng nhất trong việc kết hợp hai học thuyết trên là Trâu Diễn. Ông đã
dùng hệ thống lý luận âm dương ngũ hành "tương khắc, tương sinh" để giải
thích mọi vật trong trời đất và giữa nhân gian. Trâu Diễn là người đầu tiên vận
dụng thuyết âm dương ngũ hành vào giải thích các hiện tượng xã hội nói chung.

9


3.2. Kết luận

Học thuyết âm dương đã nói rõ sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới
khách quan với hai mặt đối lập thống nhất đó là âm dương. Âm dương là quy
luật chung của vũ trụ, là kỉ cương của vạn vật, là khởi đầu của sự sinh trưởng,
biến hóa. Nhưng nó sẽ gặp khó khăn khi lý giải sự biến hóa, phức tạp của vật
chất. Khi đó nó phải dùng thuyết ngũ hành để giải thích. Vì vậy có kết hợp học
thuyết âm dương với học thuyết ngũ hành mới có thể giải thích mọi hiện tượng
tự nhiên và xã hội một cách hợp lý.
Hai học thuyết này luôn luôn phối hợp với nhau, hỗ trợ cho nhau, không
thể tách rời. Muốn nhìn nhận con người một cách chỉnh thể, đòi hỏi phải vận
dụng kết hợp cả hai học thuyết âm dương và ngũ hành. Vì học thuyết âm dương
mang tính tổng hợp có thể nói lên được tính đối lập thống nhất, tính thiên lệch
và cân bằng của các bộ phận trong cơ thể con người, còn học thuyết ngũ hành
nói lên mối quan hệ phức tạp, nhiều vẻ giữa các yếu tố, các bộ phận của cơ thể
con người và giữa con người với tự nhiên. Có thể khẳng định, trên cơ bản, âm
dương ngũ hành là một khâu hoàn chỉnh, giữa âm dương và ngũ hành có mối
quan hệ không thể tách rời.
Âm dương ngũ hành là những phạm trù cơ bản trong tư tưởng của người
Trung Quốc cổ đại. Đó cũng là những khái niệm trừu tượng đầu tiên của người
xưa để giải thích sụ sinh thành, biến hóa của vũ trụ. Đến thời Chiến quốc, học
thuyết âm dương ngũ hành đã phát triển đến một trình độ khá cao và trở thành
phổ biến trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên. Song học thuyết âm dương ngũ
hành cũng như các học thuyết triết học Trung Quốc cổ đại là thế giới quan của
người Trung Hoa ở vào một thời kỳ lịch sử đã lùi vào dĩ vãng, lúc đó lực lượng
sản xuất và khoa học còn ở trình độ thấp, cho nên không khỏi có những hạn chế
do những điều kiện lịch sử đương thời quy định Đặc biệt, sự phát triển của nó
chưa gắn với những thành tựu của khoa học tự nhiên cận hiện đại, nó còn mang
dấu ấn của tính trực giác và tính kinh nghiệm. Song học thuyết đó đã trang bị

10


cho con người tư tưởng duy vật khá sâu sắc và độc đáo nên đã trở thành lý luận
cho một số ngành khoa học cụ thể.

4. NỘI DUNG ĐỀ TÀI:Thuyết Âm dương
4.1. Định nghĩa

Cách đây gần 3000 năm, người xưa đã nhận thấy sự vật luôn có mâu thuẫn,
nhưng thống nhất với nhau, không ngừng vận động, biến hoá để phát sinh, phát
triển và tiêu vong, gọi là học thuyết âm dương.
4.2. Các quy luật cơ bản trong học thuyết Âm dương

 Âm dương đối lập với nhau
Đối lập là sự mâu thuẫn, chế ước và đấu tranh giữa hai mặt âm dương. Thí
dụ: ngày và đêm, sáng và tối, nước và lửa, hút và đẩy, trong và đục, nặng và nhẹ
ức chế và hưng phấn.
 Âm dương hỗ căn
Hỗ căn là sự nương tựa lẫn nhau. Hai mặt âm dương tuy đối lập với nhau
nhưng phải nương tựa vào nhau mới tồn tại được, mới có ý nghĩa. Cả hai mặt
đều là quá trình phát triển tích cực của sự vật, không thể đơn độc phát sinh, phát
triển được.
Thí dụ: có đồng hóa mới có dị hoá, hay ngược lại nếu không có dị hóa thì
qúa trình đồng hoá không tiếp tục được. Có số âm mới có số dương. Hưng phấn
và ức chế đều là quá trình tích cực của hoạt động vỏ não.
 Âm dương tiêu trưởng
Tiêu là sự mất đi, trưởng là sự phát triển, nói lên sự vận động không ngừng,
sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai mặt âm dương.
Như khí hậu bốn mùa trong năm luôn thay đổi từ lạnh sang nóng, từ nóng
sang lạnh. Từ lạnh sang nóng là quá trình "âm tiêu dương trưởng", từ nóng sang
lạnh là quá trình "dương tiêu âm " do đó có khí hậu mát, lạnh ấm và nóng.

11


Vận động của hai mặt âm dương có tính chất giai đoạn, tới mức độ nào đó
sẽ chuyển hoá sang nhau gọi là "dương cực sinh âm, âm cực sinh dương, hàn
cực sinh nhiệt, nhiệt cực sinh hàn" như trong quá trình phát triển của bệnh tật,
bệnh thuộc phần dương (như sốt cao) có khi ảnh hưởng đến phần âm (như mất
nước) hoặc bệnh ở phần âm (mất nước, mất điện giải), tới mức độ nào đó sẽ ảnh
hưởng đến phần dương (như choáng, trụy mạch gọi là thoát dương).
 Âm dương bình hành
Hai mặt âm dương tuy đối lập, vận động không ngừng, nhưng luôn luôn lập
lại được thế cân bằng, thế quân bình giữa hai mặt.
Sự mất thăng bằng giữa hai mặt âm dương biểu hiện cho sự phát sinh ra bệnh tật
trong cơ thể.
Tóm lại, 4 qui luật cơ bản của âm dương nói lên sự mâu thuẫn thống nhất,
vận động và nương tựa lẫn nhau của vật chất.
4.3. Trừu tượng hóa âm dương

Từ việc khái niệm âm dương được dùng để chỉ những cặp đối lập cụ thể ở
trên, người xưa tiến thêm một bước là dùng nó để chỉ những cặp đối lập trừu
tượng hơn ví dụ như "lạnh-nóng", rồi cặp "lạnh-nóng" lại là cơ sở để suy tiếp
như về phương hướng: "phương bắc" lạnh nên thuộc âm, "phương nam" nóng
nên thuộc dương; về thời tiết: "mùa đông" lạnh nên thuộc âm, "mùa hè" nóng
nên thuộc dương; về thời gian: "ban đêm" lạnh nên thuộc âm, "ban ngày" nóng
nên thuộc dương. Nếu tiếp tục suy diễn nữa thì: đêm thì tối nên "tối" thuộc âm,
ngày thì sáng nên "sáng" thuộc dương; tối có màu đen nên "màu đen" thuộc âm,
ngày sáng thì nắng "đỏ" nên "màu đỏ" thuộc dương.
Từ cặp "mẹ-cha" (nữ-nam, cái-đực) có thể suy ra rằng:Giống cái có khả
năng mang thai (tuy một mà hai), nên về loại số, thì số "chẵn" thuộc âm; giống
đực không có khả năng ấy, một là một, nên số "lẻ" thuộc dương. Điều này giải
thích tại sao quẻ dương là một vạch dài (|), còn quẻ âm là hai vạch ngắn (:).
Về hình khối thì khối vuông ổn định, tĩnh, tỷ lệ giữa cạnh và chu vi là 1:4,
số 4 là số chẵn, chính vì thế mà khối vuông thuộc âm; hình cầu không ổn định,
12


động, tỷ lệ giữa đường kính và chu vi là 1:3, số 3 là số lẻ, chính vì vậy mà khối
cầu thuộc dương.

Hình 3: Thờ sinh thực khí nam và nữ của đồng bào dân tộc Chăm. Cột hình tròn (dương) biểu hiện cho nam,

hình bệ vuông (âm) biểu hiện cho nữ

Tuy vậy, các cặp đối lập chưa phải là nội dung chính của triết lý âm dương.
Triết lý âm dương không phải là triết lý về các cặp đối lập. Tất cả các dân tộc
trên thế giới đều có các phạm trù đối lập nhau, ngôn ngữ của tất cả các dân tộc
đều có từ trái nghĩa. Điều quan trọng của triết lý âm dương chính ở bản chất và
quan hệ của hai khái niệm âm dương. Đó chính là điều khác biệt triết lý âm
dương với các triết lý khác.
4.4. So sánh với các quy luật của logic học

Trong lô-gíc học cũng có hai quy luật tương đương với hai quy luật ở trên.
Đó là quy luật về bản chất của thành tố - luật đồng nhất, và quy luật về quan hệ
giữa các thành tố - luật lý do đầy đủ mà hệ quả của nó là luật nhân quả.
Luật đồng nhất (bản chất A = A) chỉ đúng khi sự vật và hiện tượng đứng
yên, mà điều này thì không biện chứng vì sự vật và hiện tượng luôn vận động
(đổi mới), mà nếu vận động thì nó không thể đồng nhất với chính nó được nữa.
13


Trong khi đó, quy luật về bản chất của triết lý âm dương là trong âm có dương,
trong dương có âm, tức là trong A đã có B rồi.
Luật lý do đầy đủ xác lập nên luật nhân quả cũng chỉ xem xét sự vật và
hiện tượng trong sự cô lập, không liên hệ với môi trường xung quanh, trong khi
trên thực tế, sự vật và hiện tượng tồn tại trong không gian và quan hệ với các sự
vật và hiện tượng khác. Cái này là nhân của cái kia, nhưng nó lại là quả của cái
khác. Không có nhân tuyệt đối và quả tuyệt đối rất phù hợp với luật chuyển hóa
âm dương bất tận, vô thủy (không có bắt đầu) và vô chung (không có kết thúc).
Hai quy luật của lôgíc học là sản phẩm của lối tư duy phân tích, chú trọng
đến các yếu tố biệt lập của văn hóa du mục; trong khi quy luật của triết lý âm
dương là điển hình của tư duy tổng hợp, chú trọng đến các quan hệ của văn hóa
nông nghiệp phổ biến.

5. Ý NGHĨA ĐỀ TÀI: “Thuyết âm dương ngũ hành và ứng dụng trong quản

lý nhân sự”.
5.1. Thuyết Âm Dương Ngũ Hành trong lựa chọn nhân sự.

Theo quan niệm phương Đông, mỗi con người là một tiểu vũ trụ, nên chịu
chi phối bởi các quy luật vũ trụ, trong đó hiển nhiên là bị chi phối bởi quy luật
sinh khắc của Âm Dương Ngũ hành.
Việc xét sinh khắc có thể chia nhỏ thành 2 quy tắc như sau:
 Quy tắc 1: Trong quan hệ tương sinh, hành được sinh (sinh nhập) hưởng lợi,
hành bị sinh (sinh xuất) sẽ bị hao. Trong quan hệ tương khắc, thì hành khắc
(khắc xuất) sẽ vất vả, còn hành bị khắc (khắc xuất) sẽ lao đao.
 Quy tắc 2: Quan hệ ngôi thứ bên ngoài phải phản ánh đúng quan hệ sinh
khắc. Đây cũng chính là nguyên lý "chính danh" mà ta thấy từ Nho giáo.
Theo quy tắc này, thì việc lựa chọn đối tác, vợ chồng, cấp trên, cấp dưới phải
đúng ngôi thứ.
Kết hợp 2 nguyên tắc trên trong vấn đề về quản trị nhân sự, có thể rút ra được
một số điểm cơ bản sau:
14


+ Chọn bản mệnh chủ đạo của công ty theo bản mệnh người có quyền hành
cao nhất như chủ tịch hội đồng quản trị hay tổng giám đốc.
+ Khi chọn các nhân viên cấp dưới mà có thể nắm giữ những vị trí quan
trọng trong công ty hay trong tổ chức không được xung khắc với bản
mệnh của người đứng đầu. Trong trường hợp có thể tương sinh với bản
mệnh của người đứng đầu là tốt nhất, nhưng cần phải theo chiều vượng
cho người đứng đầu.
+ Với những nhân viên có vị trí thấp, không quá ảnh hưởng trong tổ chức có
thể giảm nhẹ yếu tố xung khắc với người đứng đầu.
+ Các nhân viên dưới quyền của các cấp quản lý cũng cần phải xem xét và
so sánh với bản mệnh của người quản lý trực tiếp.
+ Khi phân chia nhóm để làm việc cũng cần xem xét bản mệnh của các
thành viên trong nhóm để việc hợp tác được diễn ra suôn sẻ, đặc biệt với
những tác vụ cần sự phối hợp các thành viên trong một thời gian dài và
kết quả của tác vụ có ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của công ty
hay tổ chức đó.

5.2. Thuyết Âm Dương Ngũ Hành trong quản trị nhân sự

Trong ngũ hành có Kim – Mộc- Thủy- Hỏa- Thổ, và 5 yếu tố này nó có sự
tương sinh và tương khắc với nhau. Trong đó:
°
°
°
°
°

Kim: Chính là Công cụ quản lý, mô hình quản lý áp dụng.
Thủy: Cách thức, phương pháp chúng ta sẽ quản lý.
Mộc: Con người (người lao động).
Hỏa: Cá tính hay tính cách của mỗi cá nhân trong tổ chức.
Thổ: Tổ chức, môi trường làm việc.

15


Hình 4: Ngũ hành trong nhân sự

Xét theo tương sinh: Kim –Thủy- Mộc—Hỏa—Thổ thì :
Mỗi doanh nghiệp, tổ chức, chúng ta cần lựa chọn một công cụ quản lý, mô
hình quản lý phù hợp (KIM-đó có thể là mô hình quản lý tập trung, hay phân
tán…), áp dụng và vận dụng phương pháp, cách thức (THỦY- một cách linh
hoạt theo đúng tính chất của nước: ở bầu thì tròn ở ống thì dài) để quản lý nhân
sự 1 cách hiệu quả. Từ việc áp dụng công cụ, mô hình và phương pháp hiệu quả
sẽ tác động đến trực tiếp người lao động (MỘC-dụng nhân như dụng Mộc).
Mỗi người lao động đều có khả năng của riêng mình, kỹ năng riêng mình
và vận dụng thật tốt kỹ năng, kiến thức của họ vào đúng công việc phù hợp. Và
tiếp theo, sau khi sử dụng các công cụ, dụng cụ, tác động đến người lao động thì
chắc chắn cá tính (tính cách) của mỗi người lao động sẽ thay đổi (tích cực, tiêu
cực, không thay đổi) (HỎA).
Và cuối cùng nó sẽ tác động đến tổ chức, môi trường lao động và làm việc.
Người lao động sống trong 1 môi trường tốt được đãi ngộ, được quan tâm, được
học hỏi, giao lưu…sẽ có những tác động tốt đến môi trường làm việc (THỔ) là
tấm gương sáng… ngược lại, nếu cá nhân bị ảnh hưởng bởi cá tính chưa tốt, có
thể gây tổn hại cho tổ chức. Với chiều ngược lại. Tương Khắc. xin lấy 1 ví dụ
đơn giản là THỦY – khắc HỎA: nếu chúng ta có công cụ quản lý hữu hiệu, mô
hình quản lý thật hay, nhưng phương pháp và cách thức áp dụng (THỦY) không
phù hợp sẽ tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến (cá tính, tính cách của mỗi cá
16


nhân-HỎA) và có thể gây nên những sự thay đổi, hoặc tác động không tốt cho
mô hình (tương khắc) hoặc tổ chức (tương sinh).
Lấy một ví dụ khác khi lựa chọn nhân sự: Lãnh đạo Công ty mạng Thổ,
như vậy trong 5 nhân sự mạng: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Như vậy, nếu áp
dụng quy luật ngũ hành thì người lãnh đạo nên lựa chọn theo thứ tự ưu tiên như
sau:
- Ưu tiên 1: Mạng Thổ vì người xưa có câu “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”,
nên việc lựa chọn không tương sinh không tương khắc và cùng mạng với
-

mình là lựa chọn tối ưu nhất.
Ưu tiên 2: Mạng Hỏa vì Hỏa sinh Thổ
Ưu tiên 3: Mạng kim vì Thổ sinh Kim
Ưu tiên 4: Mạng Thủy
Ưu tiên 5: Mạng Mộc vì mộc khắc Thổ

17


6. TÀI LIỆU THAM KHẢO

1) Giáo trình triết học, Nxb. Lý luận trính trị Hà Nội -2006.
2) Triết học chương trình sau đại học, Nxb. Đại học quốc gia Tp.HCM2015.
3) Tài liệu được đăng tải trên Internet các Website.
4) Tài liệu ghi chép trên lớp.

18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×