Tải bản đầy đủ

curcumin nghiên cứu ứng dụng của curcumin trên gia cầm

Chương 1 MỞ ĐẦU
1.1

Đặt vấn đề

1.2

Mục tiêu

Đánh giá được mức độ ảnh hưởng, tỉ lệ pha trộn của Curcumin trong khẩu phần thức ăn
để tăng năng suất và đáp ứng khả năng miễn dịch ở gà thịt.
1.3

Yêu cầu

Tiến hành thí nghiệm bổ sung Curcumin vào thức ăn cho gà thịt thương phẩm. Theo dõi
ghi nhận khối lượng cơ thể gà, lượng thức ăn tiêu thụ, chỉ số túi Bursa, tỷ lệ nuôi sống, độ
đồng đều của đàn.
Lấy máu theo dõi kháng thể. Từ đó đánh giá hiệu quả của Curcumin đối với khả năng
miễn dịch của gà thịt.


Chương 2 TỔNG QUAN
2.1

Giới thiệu về gà thịt thương phẩm

Gà thịt thương phẩm hay gà lấy thịt hay gà hướng thịt hay gà thịt là các giống gà được lai
tạo, chọn lọc để chăn nuôi nhằm mục đích chuyên về việc sản xuất thịt gà. Gà hướng thịt
có đặc điểm chung là tầm vóc lớn, tốc độ sinh trưởng nhanh, cơ thể có dạng hình khối
vuông, bộ lông phát triển không ép sát vào thân, đầu to, cổ to ngắn, mỏ to chắc, ngực sâu
rộng, lưng dài, rộng, phẳng, đùi lườn phát triển, xương thô, thành thục muộn, bản năng ấp
bóng cao nên sản lượng trứng thấp (150-170 trứng/năm), khối lượng trứng lớn (5860g/quả), thường có bản năng ấp trứng cao. Tỷ lệ thụ tinh và ấp nở thấp. Tính tình hiền
lành, chậm chạp. Đại diện tiêu biểu cho hướng thịt là giống gà Cornish . Gà hướng thịt
thường có hình dạng cân đối, ngực sâu, chõn chắc, tiết diện hình vuông hay hình chữ
nhật. Là những giống có tầm vóc lớn, trước đây đã nổi tiếng về khả năng cho thịt cao.
Được sử dụng nhiều để tạo ra các giống gà chuyên thịt cao sản hiện nay. Màu lông đa
dạng, tuổi thành thục muộn, sản lượng trứng thấp, trọng lượng trứng lớn. Gà sống khoảng
sáu năm hay hơn, tuy nhiên gà nuôi lấy thịt thông thường chỉ mất sáu tuần là đạt được
kích cỡ giết thịt. Gà nuôi thả vườn hay gà nuôi bằng thực phẩm hữu cơ thường bị giết mổ


khi đạt 14 tuần tuổi. Các giống gà thịt hiện nay là gà công nghiệp lông trắng, giống gà
chuyên thịt nổi tiếng thế giới hiện nay và là gà Ross, AA, Cobb, Hubbard, ISA, Lohmann,
Hybro...

Hình 1.1 Gà Cornish
Nguồn: www.purelypoultry.com

2.2

Giới thiệu về Curcumin

Curcumin có nguồn gốc từ Curcuma longa, là hoạt chất curcuminoids chính trong củ
nghệ, chiếm khoảng 2% trọng lượng của củ nghệ.
2.2.1 Lịch sử nghiên cứu Curcumin
Từ xa xưa nhiều nước ở cả phương Đông và phương Tây đều sử dụng nó như một loại gia
vị và dược liệu trị bách bệnh. Tuy nhiên, mãi đến tận bây giờ, khoa học hiện đại mới nhận
ra nhiều giá trị của siêu thực phẩm chức năng tự nhiên này. Củ nghệ bắt đầu được sử
dụng trong y học Ayurveda tại Ấn Độ từ khoảng năm 1900 TCN để chữa trị một loạt các
loại bệnh tật (Aggarwal B.B và cs.,2007). Nghiên cứu của các nhà khoa học vào cuối thế
kỷ XX đã xác định curcumin đóng vai trò quan trọng trong các hoạt tính sinh học của củ
nghệ (Aggarwal B.B và cs.,2007). Sau đó, nó được du nhập sang một số nước châu Á,
châu Phi và vùng Caribe. Từ đó, con người bắt đầu khám phá những lợi ích bất ngờ của
Curcumin đối với sức khỏe và củ nghệ lại càng được sử dụng phổ biến hơn nữa. Người
Ấn Độ dùng củ nghệ làm gia vị phổ biến trong món cà ri và dùng như một thảo dược
trong thuốc Ayurvedic, có thể chữa nhiều bệnh từ viêm khớp và hiếm muộn.


2.2.2 Lịch sử nghiên cứu Curcumin trong y học
Curcumin đã được báo cáo để thực hiện một số hoạt động sinh học, như kháng khuẩn
(Araujo và Leon, 2001), thuốc chống đông máu, thuốc trị đái tháo đường và thuốc chống
loét (Lokova et al., 2001) , chống viêm, chống oxy hóa (Gandhi et al., 2011). Nó cũng đã
được báo cáo để cải thiện khả năng tiêu hóa chất dinh dưỡng, trao đổi chất và ngăn ngừa
rối loạn đường mật và chán ăn ở người và động vật trang trại (Al-Sultan và Gameel, 2004;
Hayopadhyay et al., 2004). Bổ sung curcumin kích thích sự tiết ra axit mật và các hoạt
động của lipase, amylase và protease, chịu trách nhiệm cho các vai trò quan trọng trong
quá trình trao đổi chất và tăng tốc tiêu hóa (Platel và Srinivasan, 1996, 2000). Curcumin
cũng cải thiện các chức năng gan và làm giảm triglyceride huyết thanh, cholesterol LDL
và đường huyết (Emadi và Kermanshahi, 2007; Seo et al., 2008; Gandhi et al., 2011). Cấu
trúc của ruột non đóng một vai trò quan trọng trong việc tiêu hóa và hấp thu chất dinh
dưỡng (Lenhardt và Mozes, 2003); tuy nhiên, thao tác trong thức ăn có thể thay đổi tỷ lệ
chiều cao của lông nhung thành tỷ lệ chiều sâu mật mã và diện tích hấp thụ của ruột
(Fasina et al., 2006). Hơn nữa, việc bổ sung các hợp chất phenolic, như curcumin, có thể
làm giảm viêm ruột, tăng khả năng tiêu hóa chất dinh dưỡng và hoạt động trao đổi chất
(de Bia et al., 2008; Buchanan et al., 2008; Giannenas et al., 2010). Các hợp chất này
cũng có thể có khả năng thay đổi cấu trúc và chức năng của đường tiêu hóa (Viveros et
al., 2011).
2.2.3 Công thức hóa học
Danh pháp: (1E, 6E)-1,7-bis (4-hydroxy-3-metoxyphenyl)-1,6-heptadiene-3,5-dione. Với
công thức hóa học: C21H20O6, có khối lượng phân tử là 368,38. Cấu trúc của Curcumin
gồm 3 phần: hai vòng thơm có chứa nhóm phenol o-methoxy, nối với nhau bằng một mối
liên kết 7 Cacbon bao gồm một α, β-không no β-diketone. Hai nhóm cacbonyl tạo
thành diketon. Diketon tạo thành các enol ổn định hay dễ dàng khử proton và tạo thành
các enolat, trong khi cacbonyl α,β- không no có phản ứng cộng ái lực hạt nhân..Cấu trúc
của curcumin được xác định lần đầu tiên vào năm 1910 (Kazimierz Kostanecki, J.
Miłobędzka and Wiktor Lampe).


Hình 2.1: Cấu trúc của Curcumin
Nguồn: Soheil Zorofchian Moghadamtousi và cs., (2014)

Hình 2.1a: Curcumin dạng keto
2.3

Hình 2.1b: curcumin dạng enol

Ảnh hưởng của Curcumin lên gà thương phẩm

2.3.1 Ảnh hưởng của Curcumin lên sự sinh trưởng của gà thương phẩm

2.3.2 Ảnh hưởng của Curcumin đến khả năng đáp ứng miễn dịch của gà thương phẩm

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1

R

3.2

FF

3.3

F



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×