Tải bản đầy đủ

CHUYÊN ĐỀ Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng Tư vấn, phòng ngừa, phát hiện sớm bệnh lí đau lưng

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ
KHOA PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
----------

CHUYÊN ĐỀ
Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
Tư vấn, phòng ngừa, phát hiện sớm
bệnh lí đau lưng.

GVHD: Trần Thị Quỳnh Trang
Nhóm thực hiện: Nhóm 2 – Lớp YHDP4B

Huế, tháng 5 năm 2019
1


DANH SÁCH NHÓM
1.
2.
3.
4.

5.
6.
7.

Trần Bá Hải Đăng............................0792696338
Đặng Viết Hãn..................................0961018496
Lê Thị Mỹ Hiền...............................0379938841
Nguyễn Trung Hiếu..........................0963151145
Lại Thế Hòa.....................................0362338842
Nguyễn Thị Dương Huyền...............0389789739
Phạm Công Hưng.............................0342414788

2


MỤC LỤC
Lời cảm ơn 4
Định nghĩa 5
Phân loại

6

Nguyên nhân

6

Đau lưng không đặc hiệu 7
Nguyên nhân liên quan đến cấu trúc

11

Nguyên nhân toàn thân 12
Các yếu tố nguy cơ

13

Tỷ lệ 17
Trên thế giới
Hậu quả

17

20

Biến chứng20
Hậu quả về tinh thần, cảm xúc, vận động
Kinh tế, gia đình, việc làm

20

21

Di chứng 21
Dự phòng

22

Dự phòng tai nạn thương tích gây chấn thương
Tư thế đúng

23

Luyện tập thể dục thể thao

25

Các hoạt động thường ngày

27

Mang thai 28
Tận hưởng cuộc sống
Người lớn tuổi

29

29

Béo phì và thừa cân

29

Giáo dục bệnh nhân

31

Tài liệu tham khảo 32

3

22


Lời cảm ơn
Trên thực tế không có thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp
đỡ dù ít hay nhiều dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác. Trong quá trình từ khi bắt
đầu học tập ở giảng đường Đại học đến nay, chúng em đã nhận được rất nhiều sự quan
tâm của quý thầy cô, gia đình và bạn bè.
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, chúng em xin gửi đến quý thầy cô trong Khoa Phục
hồi chức năng, những người đã dùng tri thức và tâm huyết của mình để hướng dẫn và
truyền đạy những kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho chúng em trong suốt thời gian
chúng em thực hành lâm sàng, để tạo đà cho một bước tiến mới, một niềm cảm hứng mới
cho chúng em. Chúng em xin chân thành cám ơn quý thầy cô của bộ môn Phục hồi chức
năng đã tận tâm hướng dẫn chúng em trong từng buổi học trên lớp cũng như những buổi
thực hành lâm sàng, cũng như những buổi đi thực tế đầy bổ ích. Đặc biệt, nhóm chúng em
xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến cô Trần Thị Quỳnh Trang đã hết sức
nhiệt tình, hỗ trợ và chỉ dạy chúng em trong suốt quá trình làm chuyên đề này.
Trong suốt quá trình thực hiện bài báo cáo này, những kiến thức của chúng em còn
nhiều hạn chế và nhiều bỡ ngỡ, do vậy những thiếu sót là điều chắc chắn không thể tránh
khỏi. Chúng em mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô để kiến
thức của chúng em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn.
Sau cùng chúng em chúc quý thầy cô trong Khoa thật dồi dào sức khỏe, niềm tin
để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai
sau.

Nhóm 2 – Lớp YHDP4B.

4


I.

Định nghĩa

Đau lưng là đau được cảm nhận ở lưng. Lưng được chia thành đau lưng giữa (ngực), đau
lưng dưới (thắt lưng) hoặc coccydynia (đau xương sống hoặc đau xương chậu ) dựa trên
phân đoạn bị ảnh hưởng. Đau cổ được coi là một thực thể độc lập, có thể liên quan đến
các quá trình tương tự. Vùng thắt lưng là khu vực phổ biến nhất, vì nó hỗ trợ hầu hết
trọng lượng ở phần trên cơ thể. Các cơn đau lưng có thể là cấp tính , bán cấp tính
hoặc mãn tính tùy theo thời gian.[1]

Cơn đau cảm thấy trong hoặc dọc theo cột sống hoặc cơ bắp của ngực sau. Nó
thường được đặc trưng bởi đau âm ỉ, liên tục và đau ở các cơ hoặc các phần đính
kèm của chúng ở vùng thắt lưng dưới, thắt lưng xương cùng hay khu vực xương
5


cùng chậu. Đau lưng thường lan đến một chân hoặc cả hai chân, theo sự phân bố
của dây thần kinh tọa.[2]

II. Phân loại:
1. Theo vị trí: [3]

- Đau lưng giữa (ngực): đau nhức vùng xương sống ngực, đau tức ngực, có khi bệnh lây
lan sang vùng bả vai, cánh tay … bệnh nhẹ thì gây khó chịu cho người bệnh, nặng có thể
làm mất khả năng vận động cánh tay, khó cử động kiểm soát.
- Đau lưng dưới (đau thắt lưng): là các cơn đau xuất hiện ở vùng ngang thắt lưng.
+ Đau lưng dưới gần mông: là vị trí của các tạng thận, niệu quản, đau lưng bên phải
gần mông có thể do đau ruột thừa, còn nếu đau lưng bên trái gần mông thì có thể do
viêm đại tràng sigma.
+ Đau thắt lưng dưới lan xuống chân: là một trong những chứng bệnh thường gặp.
Người bệnh sẽ có triệu chứng là những cơn đau dọc theo đường dây thần kinh hông.
Nguyên nhân phổ biến là do bị chèn ép, viêm nhiễm.
+ Đau lưng dưới bên trái: có nhiều nguyên nhân gây ra, cảm giác nhức nhối hay tê
đau, khó chịu khi dùng hơi thở sâu, nằm yên hoặc khi tập thể dục, ơn đau có thể không
liên tục mà nặng lên vào những thời điểm nhất định trong ngày.
+ Đau lưng dưới bên phải: Xảy ra thình lình, dần dần hoặc dữ dội sau khi khiêng, nhấc
vật nặng trong tư thế cúi lưng hay trong các tư thế sai khác khiến ngay sau khi khiêng
người bệnh không đứng thẳng người lên được, phải đi đứng lom khom, hoặc do một số
bệnh lý gây nên.
2. Theo thời gian: [4]

+ Đau cấp tính: tình trạng bệnh ở giai đoạn đầu, kéo dài dưới 6 tuần.
+ Đau bán cấp: kéo dài từ 6 – 12 tuần.
+ Đau mãn tính: kéo dài trên 12 tuần. Là tình trạng bệnh đau lưng tái phát nhiều lần
không được điều trị.
III. Nguyên nhân

Lưng của con người bao gồm nhiều cấu trúc phức tạp gồm cơ bắp, dây chằng, gân, đĩa
đệm, xương, ...hoạt động cùng nhau hỗ trợ cho cơ thể và cho phép chúng ta có thể di
chuyển được. Bất kì thành phần nào có vấn đề hay sự phối hợp không hoàn hảo có thể
gây ra đau lưng. Khoảng 90% đau lưng được chẩn đoán là đau lưng cấp tính và không rõ
nguyên nhân.

6


Nguyên nhân phổ biến của đau lưng [1]
Nguyên nhân

% bệnh nhân bị đau lưng

Không đặc hiệu

90%

Gãy nén đốt sống

4%

Ung thư di căn

0,7%

Nhiễm trùng

0,01%

Cauda Equina
1. Đau lưng không đặc hiệu

0,04%

Trong 90% trường hợp, không tìm thấy nguyên nhân hoặc bất thường về sinh lý trong các
xét nghiệm chẩn đoán. Đau lưng không đặc hiệu có thể do căng giãn quá mức / bong gân.
Nguyên nhân là chấn thương ngoại biên với cơ hoặc dây chằng. Bệnh nhân có thể hoặc
không thể nhớ lại nguyên nhân. Cơn đau có thể biểu hiện cấp tính nhưng trong một số
trường hợp có thể kéo dài, dẫn đến đau mãn tính.
Đau lưng mãn tính ở những người có ở một số trường hợp có thể xuất phát từ sự nhạy
cảm trung tâm, trong đó một chấn thương ban đầu gây ra tình trạng nhạy cảm kéo dài với
đau. Trạng thái dai dẳng này duy trì cơn đau ngay cả sau khi vết thương ban đầu đã lành.
1.1 Đau lưng bắt nguồn từ căng giãn, hoặc chấn thương.
- Căng cơ hoặc dây chằng
- Co thắt cơ bắp
- Chấn thương hoặc ngã

1.2 Các hoạt động bao gồm:
1.2.1. Nâng vác một vật không đúng cách:
7


- Trường hợp chung
+ Trong khi nâng không ôm sát vật nặng vào người, dùng cử động của lưng, hông
trong khi nâng nhiều trong khi đó ít dùng cơ bắp ở vùng tay, chân, đùi. Lưng không thẳng
ngửa ra phía trước hoặc phía sau.
+ Chân không rộng bằng vai, khối lượng lệch so với vị trí trọng tâm cơ thể giữa hai
chân. Khuỷu tay không kẹp sát vật mà khuỳnh ra 2 bên.
+ Di chuyển về phía trước trong khi không quan sát kĩ các chướng ngại vật phía
trước.
+ Khi chuyển hướng, xoay lưng, hông trước xoay chân để xoay người
+ Khi đặt vật nậng xuống, sử dụng lực từ các nhóm cơ vùng thắt lưng, hông là chủ
yếu mà không dùng lực thuộc các nhóm cơ vùng tay, chân, đùi, lưng không thẳng hướng
về phía trước.
+ Trong khi mang vật nặng, áo quần không gọn gàng, nhiều túi, nhiều nút, ... dễ
vướn vào vật và không kiểm soát được vật
+ Không chuẩn bị dày dép phù hợp như các loại không có tính ma sát cao nên dễ
trơn trượt, dây giầy không buộc chặt nên dễ vướn phải dây giầy.
+ Nữ giới mang vác vật nặng khi mang giầy cao gót, váy túm.
+ Mang vác vật nặng lên xuống cầu thang
- Trường hợp mang vác với 2 người:
+ Chiều cao 2 người không tương đồng
+ Không có sự phối hợp nhịp nhàng giữa 2 người, vai trò chỉ huy, hiệu lệnh khi
nâng vật lên, di chuyển và hạ vật xuống.
- Trường hợp mang vác nhiều người: không có sự phối hợp nhịp nhàng giữa mọi người,
vai trò chỉ huy, hiệu lệnh khi nâng vật lên, di chuyển và hạ vật xuống.
- Mang một bên: động tác phối hợp giữa chân, tay, lưng, hông khi nhấc lên, di chuyển và
hạ xuống không phù hợp.

- Nhấc các tấm:
+ Nhấc các tấm to hơn sải tay
8


+ Nhấc các tầm có cạnh sắc nhọn, điều đó làm chúng ta luôn đề phòng khi nâng
lên, di chuyển, hạ xuống đối phó với các tình huống bất ngờ làm phân tác, tập trung lực
không hợp lý.
- Nâng các vật dài, trụ, ống, bao tải, thùng tròn: không tìm được vị trí trọng tâm, tư thế
phù hợp với từng hình dạng vật khi nâng di chuyển và hạ vật xuống
1.2.2. Nâng một vật quá nặng, quá kích thước
Khi đi bộ với dây đeo ba lô trên cả hai vai, áp lực tiếp xúc lớn hơn đáng kể trong điều
kiện lưng thấp so với điều kiện lưng cao (P = 0,004). Ngoài ra, khi trẻ mang ba lô trong
điều kiện lưng thấp, áp lực trung bình (+/- SE) qua vai phải như sau: 98 +/- 31, 153 +/- 48
và 170 +/- 54 mm Hg ở mức 10%, 20% và 30% trọng lượng cơ thể, tương ứng cao hơn
đáng kể (P <0,001) so với những người trên vai trái (46 +/- 14, 92 +/- 29 và 90 +/- 29 mm
Hg , tương ứng). Cảm giác đau khi đeo ba lô trên 1 vai lớn hơn đáng kể (P = 0,002) so với
khi đeo cả hai vai trong điều kiện lưng thấp. Áp lực ở mức tải 10%, 20% và 30% trọng
lượng cơ thể ở vai phải hoặc trái, trong điều kiện lưng thấp hoặc lưng cao, cao hơn
ngưỡng áp suất (khoảng 30 mm Hg) để ngăn chặn lưu lượng máu trên da. Hơn nữa, áp lực
không đối xứng và áp lực cao trong thời gian dài có thể giúp giải thích đau vai và lưng do
ba lô. [6]
1.2.3. Làm một động tác đột ngột và quá sức chịu đựng cơ thể
- Chưa quen với cường độ luyện tập khi tập hay chơi thể thao:
Khi cơ thể quá lâu chưa luyện tập làm các cơ thiếu sự co giãn đàn hồi, các khớp cấu trúc
dây chằng bị cứng, các tế bào cơ phải hoạt động quá mức so với bình thường nến gây ra
đau nhức cơ bắp khởi phát chậm (DOMS). Đau nhức được cảm nhận rõ ràng từ 24h đến
72h sau khi tập thể dục. Những tổn thương gây ra ở quy mô rất nhỏ, tổn thương tại đường
Z của sarcomere cơ, khiến cho cầu nối actin và myosin tách ra trước khi thư giãn, cuối
cùng gây ra căng giãn lớn hơn cho các đơn vị cấu trúc vận động còn lại. Theo cách giải
thích khác sự liên quan giữa đau và DOMS là giả thuyết “enzyme efflux”. Sau khi gây ra
các tổn thương nhỏ, canxi thương được lưu trữ trong mạng lưới sarcoplasmic tích lũy
trong cơ bị tổn thương. Hô hấp tế bào bị ức chế và ATP cần thiết để vận động chủ động
chuyển canxi trở ại mạng lưới sarcoplasmic cũng bị chậm lại. Sự tích lũy canxi này kích
9


hoạt protease và phospholipase từ đó phá vỡ và hủy hoại protein cơ. Điều này gây ra viêm
và lần lượt gây đau do tích tụ Histamin, Prostaglandin và Kali. [7]
- Tập thể dục thể thao sai cách:
+ Nguyên tắc khi tập luyện thể thao là tập những động tác từ cơ bản đến phức tạp,
làm cho cơ bắp từ từ nóng lên ( bằng các động tác thể dục tay không như : tay, lườn,
bụng, vặn mình…); làm cho các khớp được dẻo ra và linh hoạt hơn ( bằng cách xoay các
khớp: cổ tay, cổ chân, gối, hông, vai, khuỷa, và khớp cổ ); tiếp theo là các động tác căng
các cơ. Điều này giúp cho tăng độ tưới máu cung cấp đầy đủ oxy cho tế bào khi luyện tập
kéo dài, làm các mô liên, cấu trúc dây chằng dẻo dai hơn trước khi bước vào luyện tập,
các khớp được nới lỏng. Do vậy, nếu không khởi động mà trực tiếp bước vào quá trình
luyện tập hay chơi thể thao sẽ dẫn đến tổn thương tế bào, chần thương cơ, dây chằng, ...
+ Không có động tác hồi phục, hồi tĩnh sau khi luyện tập kéo dài. Ngay sau buổi
tập, người tập phải tiến hành những bài tập thả lỏng để hồi phục như : chạy chậm , đi bộ
kết hợp với hít thở sâu…Thời gian thả lỏng hồi phục phải tỷ lệ tương ứng với ( tính chất
của buổi tập ) thời gian – khối lượng – cường độ khi tập luyện.
+ Thực hiện các thao tác kĩ thuật khi tập hay chơi thể thao không đúng. Tùy thuộc
vào những môn thể thao khác nhau hay những bài tập vận động khác nhau sẽ có những
yêu cầu kĩ thuật, những bài tập bổ trợ tránh những tai nạn, chấn thương có thể xảy ra.
- Thực hiện các động tác đột ngột
Các động tác cúi, ngửa, nghiêng, xoay khi thực hiện đột ngột có thể dẫn đến đau lưng.
Điều này được giải thích là khi chưa có sự chuẩn bị, các cấu trúc cơ, dây chằng, khớp vẫn
đang còn cứng, thiếu sự mềm dẻo. Do vậy nếu làm các động tác đột ngột sẽ dễ dẫn đến
chấn thương.
1.2.4. Đau lưng cũng có thể là kết quả của một số hoạt động hàng ngày hoặc tư thế
xấu:
+Ho hoặc hắt hơi
+Ngồi trong thời gian dài: Ngồi trong khoảng 30 phút mà không đứng dậy, không
có động tác duỗi và di chuyển cơ ở vùng cổ và vùng thắt lưng.
+Căng cổ về phía trước, chẳng hạn như khi lái xe hoặc sử dụng máy tính
10


+Phiên lái xe dài mà không nghỉ: không thực hiện động tác duỗi kéo dài từng chân
một sau mỗi 30 phút.
+Ngủ trên nệm không nâng đỡ cơ thể và giữ thẳng cột sống...
2. Nguyên nhân liên quan đến các cấu trúc
2.1 Thoát vị đĩa đệm
Thoát vị đĩa đệm là tình trạng nhân nhầy đĩa đệm cột sống thoát ra khỏi vị trí bình thường
trong vòng sợi chèn ép vào ống sống hay các rễ thần kinh sống và có sự đứt rách vòng sợi
gây nên hội chứng thắt lưng hông điển hình. Thoát vị đĩa đệm cột sống xảy ra khi nhân
keo của đĩa đệm thoát ra ngoài và chèn ép vào rễ thần kinh, tủy sống, hay nói cách khác
nó là tình trạng đĩa đệm bị ép lồi ra khỏi vị trí bình thường, giữa các đốt sống. Thoát vị
đĩa đệm thường tập trung ở các dạng chính là thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ và thoát vị đĩa
đệm đốt sống thắt lưng.
Thoát vị đĩa đệm gây nên các cơn đau thắt lưng với các triệu chứng nhức, tê lan dọc từ
thắt lưng xuống mông và chân, hay đau từ vùng cổ - gáy lan ra hai vai và xuống các cánh
tay, bàn tay… khiến người bệnh rất khó chịu, đau đớn. Ngoài ra, đau cột sống và đau rễ
thần kinh là các triệu chứng nổi bật nhất của bệnh. Đau thường tái phát nhiều lần, mỗi đợt
kéo dài khoảng 1-2 tuần, sau đó lại khỏi bệnh. Có khi đau âm ỉ nhưng thường đau dữ dội,
đau tăng khi ho, hắt hơi, cúi. Ngoài ra còn có cảm giác kiến bò, tê cóng, kim châm tương
ứng với vùng đau. Dần dần, đau trở nên thường xuyên, kéo dài hàng tháng nếu không
được điều trị.
2.2 Thoái hóa cột sống
Thoái hóa cột sống là thuật ngữ y khoa bao gồm gai cột sống và thoái hóa đĩa đệm. Thoái
hóa cột sống gây đau nhức, viêm khớp, mọc gai nơi những đốt sống, giảm khả năng vận
động của bệnh nhân. Những vị trí thường hay bị thoái hóa gồm có: vùng lưng (trên và
giữa lưng), cổ và vùng thắt lưng (phần dưới lưng trở lại). Thoái hóa cột sống thắt lưng và
thoái hóa cột sống cổ là tình trạng phổ biến nhất. Bệnh gai cột sống: xuất hiện các phần
xương mọc ra (gai xương) phía ngoài và hai bên của cột sống. Đó chính là sự phát triển
thêm ra của xương trên thân đốt sống, đĩa sụn, dây chằng quanh khớp do viêm khớp cột
sống mạn tính, chấn thương hay sự lắng đọng can-xi ở các dây chằng, gân tiếp xúc với đốt
sống.
11


Hẹp cột sống có thể xảy ra trong các trường hợp thoái hóa cột sống nghiêm trọng, thoái
hóa cột sống và tuổi liên quan đến dày lên của ligamentum flavum. Hẹp cột sống liên
quan đến hẹp ống sống và thường biểu hiện ở những bệnh nhân lớn hơn 60 tuổi. Nhiễm
trùng thần kinh có thể xảy ra trong trường hợp hẹp ống sống thắt lưng nghiêm trọng và có
triệu chứng đau ở lưng dưới, mông hoặc chân bị xấu đi khi đứng và giảm khi ngồi.
Gãy nén đốt sống xảy ra ở 4 % bệnh nhân được chăm sóc chính với đau thắt lưng. Các
yếu tố nguy cơ bao gồm tuổi, giới tính nữ, tiền sử loãng xương và sử dụng glucocorticoid
kéo dài. Gãy xương có thể xảy ra do chấn thương nhưng trong nhiều trường hợp có thể
không có triệu chứng.
Trượt đốt sống: là sự thay đổi vị trí bất thường của một đốt sống so với đốt sống lân cận.
Nó có liên quan đến những thay đổi thoái hóa liên quan đến tuổi tác cũng như chấn
thương và dị tật bẩm sinh.
3. Nguyên nhân toàn thân
3.1. Nhiễm trùng
Các nguyên nhân nhiễm trùng phổ biến của đau lưng bao gồm viêm tủy xương, viêm đĩa
đệm, áp xe cột sống và áp xe ngoài màng cứng. Nguyên nhân truyền nhiễm dẫn đến đau
lưng liên quan đến các cấu trúc khác nhau xung quanh cột sống.
Viêm xương tủy là bệnh nhiễm trùng xương. Viêm xương tủy sống thường gặp nhất do tụ
cầu khuẩn. Các yếu tố nguy cơ bao gồm nhiễm trùng da, nhiễm trùng đường tiết niệu, sử
dụng catheter IV, viêm nội tâm mạc trước đó và bệnh phổi.
Áp xe màng cứng cột sống cũng thường được gây ra bởi nhiễm trùng nặng do nhiễm
khuẩn huyết. Các yếu tố nguy cơ bao gồm gây tê ngoài màng cứng hoặc nhiễm trùng gần
đây.
Bệnh zona: Nhiễm trùng có thể ảnh hưởng đến dây thần kinh có thể dẫn đến đau lưng.
Điều này phụ thuộc vào dây thần kinh nào bị ảnh hưởng.
3.2.U
Khối u nguyên phát hoặc thứ phá trên xương hay tủy sống có thể dẫn đến đau lưng.
Xương là một trong những vị trí phổ biến nhất của tổn thương di căn. Bệnh nhân thường
có tiền sử bệnh ác tính. Các loại ung thư phổ biến xuất hiện với đau lưng bao gồm đa u
tủy, ung thư hạch, bệnh bạch cầu, khối u tủy sống, khối u đốt sống nguyên phát và ung
12


thư tuyến tiền liệt. Đau lưng có ở 29% bệnh nhân ung thư. Không giống như các nguyên
nhân gây đau lưng khác thường ảnh hưởng đến cột sống thắt lưng, cột sống ngực thường
bị ảnh hưởng nhất. Cơn đau có thể liên quan đến các triệu chứng toàn thân như sụt cân,
ớn lạnh, sốt, buồn nôn và nôn. Đau lưng liên quan đến tân sinh là liên tục, âm ỉ, khu trú
kém và tồi tệ nhất khi nghỉ ngơi. Di căn vào xương cũng làm tăng nguy cơ chèn ép tủy
sống hoặc gãy xương đốt sống cần điều trị phẫu thuật khẩn cấp
3.3. Bệnh tự miễn
Các bệnh lý tự miễn, viêm cột sống dính khớp có liên quan chặt chẽ nhất với đau lưng do
sự phá hủy viêm của các thành phần xương của cột sống.
3.4. Đau dị nguyên
Đau lưng cũng có thể là do cơn đau từ một nguồn khác. Cơn đau này xảy ra khi cảm giác
đau ở một vị trí khác với nguồn gốc của cơn đau. Các quá trình bệnh có thể xuất hiện với
đau lưng bao gồm viêm tụy, sỏi thận, nhiễm trùng đường tiết niệu nặng và phình động
mạch chủ bụng.
4. Các yếu tố nguy cơ
4.1. Hoạt động nghề nghiệp
Các yếu tố có thể gây ra đau thắt lưng khi làm việc bao gồm tư thế xấu khi ngồi hoặc
đứng, ngồi hoặc đứng trong thời gian dài, lái xe đường dài, kỹ thuật nâng không đúng
cách, nâng thường xuyên, nâng vật nặng quá mức hoặc lặp đi lặp lại quá cao - hoạt động
chính xác. Đau thắt lưng là phổ biến ở những người làm việc văn thư, những người ngồi
trong thời gian dài như ở những người có công việc đòi hỏi phải nâng vật nặng.
4.2. Mang thai
Các yếu tố cơ học của thai kỳ cho thấy có liên quan đến đau lưng bao gồm tăng độ cong
của lưng dưới, hoặc thắt lưng, để hỗ trợ thêm trọng lượng trên bụng. Ngoài ra, một loại
hormone gọi là relaxin được giải phóng trong thai kỳ làm mềm các mô cấu trúc ở xương
chậu và lưng dưới để chuẩn bị cho việc sinh nở âm đạo. Điều này làm mềm và tăng tính
linh hoạt của dây chằng và khớp ở lưng dưới có thể dẫn đến đau.[8]
Các yếu tố điển hình làm nặng thêm cơn đau lưng của thai kỳ bao gồm đứng, ngồi, gập
người về phía trước, nâng và đi bộ.
13


4.3. Tâm lý
Yếu tố tâm lý có thể góp phần gây đau thắt lưng. Chúng bao gồm trầm cảm, lo lắng, căng
thẳng, không hài lòng trong công việc, buồn chán, căng thẳng, cũng như cách cơ thể đáp
ứng với nhu cầu thể chất hàng ngày.
4.4. Tuổi lớn
Khi chúng ta già đi, các đĩa giữa các đốt sống bị mòn và co lại, điều này gây ra đau và
cứng khi xương bắt đầu cọ sát vào nhau. Ngoài ra, không gian xung quanh tủy sống của
chúng ta thu hẹp theo thời gian. Tình trạng này, được gọi là hẹp ống sống, cũng gây áp lực
lên dây thần kinh và dây thần kinh cột sống, gây đau. Giảm khối lượng xương, hoặc loãng
xương, cũng có thể làm cho các đốt sống dễ bị gãy xương. Các khớp mặt nơi mỗi đốt
sống gặp các đốt sống bên trên và bên dưới, cũng có thể bắt đầu thoái hóa, được gọi là
viêm khớp cột sống.
- Ba lý do phổ biến nhất để phát triển đau lưng sau 50 tuổi là:
+ Thay đổi thoái hóa ở đĩa và khớp - Mất độ ẩm và khả năng phục hồi có thể làm
cho đĩa giảm hiệu quả như giảm xóc.
+ Hẹp cột sống - Kênh mà tủy sống của bạn đi qua có thể bị hẹp do thoái hóa đĩa
đệm, dây chằng dày hoặc khớp mặt khớp (thường ở lưng dưới).
+ Sự thoái hóa cột sống - Một đốt sống có thể trượt về phía trước lên đốt sống bên
dưới.
4.5. Béo phì và thừa cân
Trong một nghiên cứu, tỷ lệ vòng bụng/mông cao hơn có liên quan đến đau thắt lưng sau
khi điều chỉnh các yếu tố gây nhiễu như tuổi tác, rối loạn cảm xúc, giáo dục và khả năng
vận động. Hơn nữa, mối liên quan giữa các yếu tố béo phì chuyển hóa (tỷ lệ hông eo và
chỉ số khối mỡ) và đau lưng mạnh hơn ở những người bị rối loạn cảm xúc so với những
người không bị rối loạn cảm xúc.
Thừa cân béo phì không những tạo ra các yếu tố cơ học liên quan đến tải trọng cột sống
mà còn có một quá trình trao đổi chất toàn thân liên quan đến mô mỡ dư thừa cũng có thể
đóng vai trò trong đau lưng. Béo phì trước đây đã được chứng minh là yếu tố nguy cơ gây
đau lưng. Một số nghiên cứu trước đây chỉ sử dụng tỷ lệ cân nặng, BMI và vòng
bụng/mông để đánh giá tình trạng béo phì. Tuy nhiên những biện pháp này không cung
14


cấp thông tin về thành phần tỷ trọng cơ thể. Điều quan trọng là phải xem xét vai trò của
thành phần tỷ trọng cơ thể, vì bằng chứng mới cho thấy rằng chất béo và khối lượng cơ có
vai trò khác nhau trong sinh bệnh học của đau cơ xương khớp. Ví dụ, một người có chỉ số
BMI trên 25 được đánh giá là thừa cân nhưng nếu đó là sự tăng khối cơ không phải tăng
của khối lượng mỡ thì không gây ra triệu chứng gì liên quan đến đau chân và đau cơ
xương khớp. Tuy nhiên, có một nghiên cứu hiện tại đánh giá mối liên quan giữa béo phì
bao gồm thành phần tỷ trọng mỡ cơ thể và đau thắt lưng ở một mẫu nam giới lớn. Điều
này có thể liên quan đến sự khác biệt trong phân phối chất béo, với nam giới thường có
phân phối chất béo android, tập trung quanh bụng và phần trên cơ thể, so với phân phối
gynoid thường gặp ở phụ nữ khi mỡ tăng lên quanh hông và đùi. Sự phân phối chất béo
android có thể dẫn đến tác động mạnh mẽ hơn tạo ra các yếu tố cơ học tác động đến tải
trọng cột sống gây ra lực nén cao hơn trên các cấu trúc cột sống thắt lưng dẫn đến sự phát
triển của đau thắt lưng.
Béo phì, trầm cảm và lo lắng hiện được ghi nhận có thể gây ra tình trạng viêm. Mô mỡ,
đặc biệt khi lắng đọng trong phân bố androgen quanh thận chứ không phải phân bố đều
khắp cơ thể, được coi là một cơ quan hoạt động trao đổi chất. Mô mỡ hoạt động trao đổi
chất này, sản xuất các hoocmon, chẳng hạn như leptin, estrogen, và resistin và các
cytokine tiền viêm, chẳng hạn như yếu tố hoại tử khối u và interleukin-6. Các adipokine
này có liên quan độc lập với sự khởi phát của đau cột sống và đầu gối. Mức cytokine tiền
viêm cao hơn cũng đã được chứng minh là có mối quan hệ với tiến triển thành đau mãn
tính và tăng mức độ protein phản ứng C lưu hành, một dấu hiệu của viêm hệ thống, được
xác định là một yếu tố nguy cơ cho trầm cảm. Hơn nữa, sự điều hòa của sản xuất cytokine
gây viêm trong trầm cảm và lo lắng cũng có khả năng gây đau. Những người bị rối loạn
cảm xúc có thể bị nhạy cảm với cảm giác đau, có thể bị nặng thêm do viêm siêu vi do
tăng adiposity, được đo bằng tỷ lệ vòng eo tăng và chỉ số khối mỡ. Do đó, sự kết hợp của
việc bị rối loạn cảm xúc và béo phì hỗ trợ vai trò sinh thiết của mô mỡ trong sinh lý bệnh
của đau thắt lưng.[9]
4.6. Hút thuốc lá
Trong các nghiên cứu cắt ngang, hút thuốc hiện tại có liên quan đến sự gia tăng tỷ lệ đau
thắt lưng trong tháng qua ([OR] = 1,30, 95% [CI], 1,16-1,45), đau thắt lưng trong 12
15


tháng qua(OR =1.33, 95% CI, 1.26-1.41), đau thắt lưng mãn tính (OR =1.79, 95% CI,
1.27-2.50). Những người hút thuốc trước đây có tỷ lệ đau thắt lưng cao hơn so với những
người không bao giờ hút thuốc, nhưng tỷ lệ đau thắt lưng thấp hơn so với những người
hút thuốc hiện tại. Trong các nghiên cứu đoàn hệ, cả những người hút thuốc trước đây
(OR= 1.32, 95% CI, 0.99-1.77) và hiện tại (OR =1.31, 95% CI, 1.11-1.55) đều có tỷ lệ
đau thắt lưng tăng so với những người không bao giờ hút thuốc. [10]
4.7. Yếu tố di truyền
3 locus - tại SOX5, CCDC26 / GSDMC và DCC - có liên quan đến chứng đau lưng mãn
tính (CBP). CBP được liên kết mạnh mẽ nhất với rs12310519 trong một khu vực phức tạp
của gen SOX5. Những phát hiện tiếp theo liên quan đến locus CCDC26 / GSDMC: "Các
biến thể giữa các gen tại CCDC26 / GSDMC liên quan đến CBP trong nghiên cứu hiện tại
cũng được kết hợp với phẫu thuật cắt bỏ vi phẫu thắt lưng cho bệnh đau thần kinh tọa
trong một nghiên cứu kết hợp genome trước đây: rằng thoát vị đĩa đệm thắt lưng từ lâu đã
được coi là nguyên nhân của một số dạng đau lưng. " Biến thể quan trọng thứ ba liên quan
đến CBP là rs2116378, một biến thể trong gen DCC. Phân tích tổng hợp toàn bộ bộ gen
hiện tại được thực hiện trên mẫu khám phá 158 025 người trưởng thành châu Âu từ châu
Âu và Bắc Mỹ. Trong số những người trưởng thành, những người từ 53 đến 76 tuổi, 29
531 bị CBP. Điều này sau đó đã được nhân rộng trong một mẫu độc lập gồm 283 752 đối
tượng, bao gồm 50 915 trường hợp CBP. Các trường hợp CBP được xác định là bị đau
lưng tối thiểu 3 hoặc 6 tháng, hoặc ít nhất 1 tháng bị đau lưng trong những năm liên tiếp.
Các phát hiện của nghiên cứu cho thấy các cơ chế có thể liên quan đến cột sống và / hoặc
các con đường sinh học được chia sẻ liên quan đến CBP, sụn, thoát vị đĩa đệm cột sống
thắt lưng, chiều cao và / hoặc phát triển đốt sống.[11]

IV. Tỷ lệ
1. Trên thế giới
16


Đau lưng là phổ biến, với khoảng chín trong số mười người trưởng thành trải qua
điều đó tại một số thời điểm trong cuộc sống của họ, và năm trong số mười người
trưởng thành đang làm việc có nó mỗi năm. [1]
Một số ước tính có tới 95% người Mỹ sẽ bị đau lưng tại một số thời điểm trong
cuộc đời của họ. Ở Hoa Kỳ, đau thắt lưng cấp tính là lý do phổ biến thứ năm cho
các lần khám bác sĩ và gây ra 40% số ngày nghỉ làm. [1]
Học viện phẫu thuật chỉnh hình Hoa Kỳ báo cáo khoảng 12 triệu lượt đến văn
phòng bác sĩ mỗi năm là do đau lưng. Công việc bị bỏ lỡ và khuyết tật liên quan
đến đau thắt lưng có chi phí hơn 50 tỷ đô la mỗi năm tại Hoa Kỳ. Tại Vương quốc
Anh vào năm 1998, khoảng 1,6 tỷ bảng mỗi năm đã được chi cho các chi phí liên
quan đến khuyết tật do đau lưng.[1]
Khoảng 50% phụ nữ bị đau thắt lưng khi mang thai. Một số nghiên cứu cho thấy
những phụ nữ bị đau lưng trước khi mang thai có nguy cơ bị đau lưng khi mang
thai cao hơn. Nó có thể đủ nghiêm trọng để gây ra đau đớn và tàn tật đáng kể ở một
phần ba phụ nữ mang thai. Đau lưng thường bắt đầu vào khoảng 18 tuần tuổi thai,
và đỉnh điểm là từ 24 đến 36 tuần tuổi thai. Khoảng 16% phụ nữ bị đau lưng khi
mang thai báo cáo tiếp tục đau lưng nhiều năm sau khi mang thai, cho thấy những
người bị đau lưng đáng kể có nguy cơ bị đau lưng sau khi mang thai.[1]
Năm 1990, một nghiên cứu xếp hạng các điều kiện nặng nề nhất ở Hoa Kỳ về tỷ lệ
tử vong hoặc sức khỏe kém do bệnh gây ra đau thắt lưng ở vị trí thứ sáu; Năm
2010, đau thắt lưng đã nhảy lên vị trí thứ ba, chỉ có bệnh tim thiếu máu cục bộ và
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính xếp hạng cao hơn. [12]
-Những Phát hiện và thống kê về đau lưng [13]
+ Ước tính 10% dân số thế giới bị đau lưng
+ Các vấn đề về lưng thường gặp ở phụ nữ trưởng thành hơn nam giới.
+ Hơn một phần ba người lớn nói rằng đau lưng ảnh hưởng đến các hoạt động
hàng ngày bao gồm cả ngủ.
+ 29% người Mỹ tin rằng căng thẳng là nguyên nhân đau lưng của họ.
+ 90% các vấn đề liên quan về đau thắt lưng cấp tính được giải quyết trong sáu
tuần.
+ Người Mỹ chi ra ít nhất 50 tỷ đô hằng năm cho việc điều trị đau lưng.
17


- Khoảng 80% người Mỹ sẽ gặp vấn đề về đau lưng tại một số thời điểm trong
cuộc sống của họ. Có thể là do chưa có các biện pháp ngăn ngừa kịp thời cúng với
lối sống, sở thích công việc khiến tỷ lệ bệnh cao.
- Trong khoảng 15 năm từ 1997- 2013 tỷ lệ bệnh đau lưng dưới tăng lên đáng kể.

- 30,2 % nữ giới trưởng thành bị đau lưng dưới so với 26,4 % nam giới. Có thể do các quá
trình như sinh đẻ,di chứng sau khi mang thai, kì kinh, mang giày cao gót,.. nên tỷ lệ nữ
giới cao hơn
18


- 31% nam giới thừa nhận việc đau lưng ảnh hưởng tới công việc của họ so với 20% ở
nữ. Có thể do nam giới tiếp xúc làm việc nặng như xây nhà, làm đường..... làm ảnh hương
tới phần lưng nhiều hơn. Điều này cho thấy cầm nắm các vật nặng không đúng tư thế là
nguy cơ rất lớn đối với bệnh này.

- 54% người trải qua cơn đau thấp dành phần lớn thời gian trong ngày của họ. Cho thấy
nguy cơ làm việc dẫn đến cơn đau thắt lưng rất cao, đa số mọi người đều chọn cách sống
chung với cơn đâu
- Khoảng 1/2 số phụ nữ mang thai kể về chứng đau lưng tăng lên trong thai kì đói với
những người bị đau thắt lưng. Do khi phụ nữ mang thai sẽ mất một lượng canxi cho con
nên dễ loãng xương hơn nên có thể liên quan tới đau lưng.

19


- 40% Người dân ban đầu tìm sử dụng vật lý trị liệu
- 40% Người dân ban đầu dùng phương pháp nắn khớp xương
- 20% Người dân ban đầu Tìm đến chuyên gia trong lĩnh vực
- Tùy thuộc vào kinh nghiệm và mức độ đau đớn người dân sẽ tìm những phương pháp
phù hợp.
- Chỉ một trong mười người có thể tìm ra nguyên nhân chính gây bệnh của chính họ. Từ
đó cảnh báo lớn về bệnh đau lưng có thể do nhiều nguyên nhân phối hợp mà một người
bệnh khó thể lường trước hết được.
V. Hậu quả
1. Biến chứng [14]

Đau lưng nếu không được điều trị kịp thời sẽ gây ra các biến chứng nguy hiểm, tuy không
gây ảnh hưởng đến tính mạng người bệnh nhưng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe
cũng như khả năng lao động. Các biến chứng của đau lưng:
- Đau,hạn chế khả năng vận động.
- Biến dạng cột sống, gù, vẹo, còng lưng.
- Thoái hóa cột sống thắt lưng có thể gây ảnh hưởng đến dây thần kinh tọa, gây ra đau
nhức dọc theo đường của dây thần kinh tọa, khiến người bệnh phải chịu đựng cơn đau
nhức từ thắt lưng xuống đến tận chân.
- Thoái hóa cột sống thắt lưng cũng sẽ gây thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, nhất là khi
có một tác động như chấn thương, vận động mạnh và sai tư thế,…
- Hậu quả nghiêm trọng mà bệnh gây ra sẽ làm hạn chế khả năng vận động của bệnh
nhân, đi lại khó khăn, để lâu gây teo cơ, bại liệt, làm mất khả năng vận động tự chủ, sống
phụ thuộc.
2. Hậu quả về tinh thần, cảm xúc, vận động [15]
2.1.Tinh thần
- Tinh thần mệt mỏi
Các cơn đau dữ dội, kéo dài khiến người bệnh luôn trong trạng thái tinh thần mệt mỏi, lo
âu, căng thẳng. Tình trạng này kéo dài có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinh thần,
dẫn đến bệnh trầm cảm.
- Sự cô đơn
Người bệnh sống chung với các cơn đau lưng thường có suy nghĩ nên nghỉ ngơi, ít vận
động, hạn chế vận động, hạn chế ra ngoài, và chính những suy nghĩ sai lầm đó là lý do
khiến tình trạng bệnh thêm nặng hơn. Họ dành nhiều thời gian ở nhà, bỏ lỡ các hoạt động
giải trí cùng bạn bè, người thân và bắt đầu cảm thấy bị cô lập, rơi vào trạng thái cô đơn.
- Giảm sự tập trung
Tình trạng đau đớn khiến người bệnh luôn chú ý vào các cơn đau khiến tinh thần mất tập
trung, sự tập trung vào một việc gì đó trở nên khó khăn hơn bởi não bộ luôn nhắc nhở bạn
về những cơn đau nhức đang phải chịu đựng.
- Giảm khả năng ham muốn tình dục
20


Gây ảnh hưởng đến đến đời sống sinh hoạt hàng ngày, ảnh hưởng đến đời sống tình dục
bởi, khi bị đau người bệnh sẽ có tâm lý ngại “yêu”, nếu “yêu” không đúng cách còn khiến
bệnh thêm nghiêm trọng hơn. Vì vậy khả năng ham muốn tình dục của người bệnh đau
lưng càng ngày càng giảm.
2.2. Sự tham gia
Trên toàn thế giới, đau lưng là nguyên nhân hàng đầu gây ra khuyết tật, ngăn cản
nhiều người tham gia vào công việc cũng như các hoạt động hàng ngày khác.

Nó khiến bệnh nhân di chuyển ít hơn và cẩn thận hơn. Bệnh nhân có thể trở nên thận
trọng hơn và miễn cưỡng tham gia cùng một cách trong các hoạt động hàng ngày và
ưa thích của bệnh nhân
2.3. Cảm xúc và tâm trạng của bệnh nhân
Bất cứ ai bị đau thắt lưng mãn tính có khả năng chịu đựng rất thấp đối với căng thẳng và
rất nhạy cảm với bất cứ điều gì có thể làm nó tồi tệ hơn. Bởi vì nó có thể khiến bệnh nhân
mất nhiều thời gian để có được bất kỳ sự giảm đau hoặc cải thiện các triệu chứng , nó có
thể rất khó để bệnh nhân cải thiện tâm trạng và nhiều cảm xúc khác.
3. Kinh tế gia đinh và việc làm[16]

- Đau lưng là một trong những lý do phổ biến nhất cho việc bỏ lỡ công việc. Một nửa số
người Mỹ đang làm việc thừa nhận có triệu chứng đau lưng mỗi năm.
Đau lưng chiếm hơn 264 triệu ngày làm việc bị mất trong một năm, đó là hai ngày làm
việc cho mỗi người lao động toàn thời gian ở nước này.
- Đau lưng khiến bệnh nhân khó có thể tham gia làm việc, hoạt động như người bình
thường, đó là rào cản to lớn trong công việc của họ từ đó làm cho năng suất bị giảm sút ,
khó tập trung trong công việc dẫn đến kinh tế gia đình ít nhiều bị ảnh hưởng
- Đau thắt lưng khiến người Mỹ phải trả ít nhất 50 tỷ đô la chi phí chăm sóc sức khỏe mỗi
năm. Vì mất tiền lương và giảm năng suất và con số đó dễ dàng tăng lên hơn 100 tỷ đô la.
4. Di chứng [5]
Bảng: Di chứng đau thắt lưng ở GBD 2010 (The Global Burden of Disease Study)
Sequela
Lay description
Disability weight
0.269 (0.184–0.373)

Cấp tính nặng
đau lưng mà không có
đau chân

Người bị đau thắt lưng nghiêm trọng,
đau, gây khó khăn khi mặc quần áo,
ngồi, đứng, đi bộ và nâng vật. Người
ngủ kém và cảm thấy lo lắng.

Cấp tính nặng
đau lưng với chân
đau đớn

Người bị đau thắt lưng nghiêm trọng và 0.322 (0.219–0.447)
đau chân, nguyên nhân: khó mặc quần
áo, ngồi, đứng, đi và nâng
nhiều thứ. Người ngủ kém
và cảm thấy lo lắng
21


Thấp mãn tính thấp
đau lưng mà không có
Đau chân

Người có lưng thấp liên tục, đau, khó
khăn khi mặc quần áo, ngồi, đứng,
đi bộ và nâng vật. Người ngủ không
ngon, lo lắng và đã mất một số niềm
vui trong đời sống.

0.366 (0.248–0.499)

Đau lưng thấp mãn
tính và chân đau
đớn

Người có lưng thấp liên tục và đau
chân, nguyên nhân: Khó mặc quần
áo, ngồi, đứng, đi và nâng nhiều
thứ. Người ngủ kém, lo lắng và đã
mất một số tận hưởng cuộc sống.

0.374 (0.252–0.506)

VI.

Dự phòng
1. Dự phòng tai nạn thương tích gây chấn thương.

- Cần dự phòng chấn thương cột sống thắt lưng khi lao động nặng nhọc bằng các biện
pháp hỗ trợ lao động như: quần áo bảo hộ, nón bảo hộ, xe đẩy kéo và máy móc hỗ trợ....
Có giờ nghỉ ngơi để tránh mệt mỏi, không tập trung, ngủ gật trong giờ làm việc, ...
- Khi tham gia giao thông cần có ý thức trách nhiệm, tham gia đúng luật giao thông để
không gây tai nạn cho bản thân, gánh nặng cho gia đình và xã hội.
- Các ngành nghề dễ gây chấn thương cột sống âm thầm: lái xe, nhân viên văn phòng,
công nhân xây dựng, nhân viên công xưởng nên chú ý tư thế làm việc đúng, có những
động tác thư giản thay đổi tư thế, v.v…
- Trường học, cơ sở làm việc, công ty nên khám định kì 1 năm 2 lần để phát hiện sớm các
bất thường về cột sống để kịp thời điều trị. Cần tập huấn hàng quý, hàng năm về sự cố bất
ngờ gây thương tích cho người lao động, học sinh...
-Trường hợp xảy ra chấn thương cột sống cần phải:
+ Bất động: nằm nền cứng.
+Giảm đau.
+ Hồi sức: chủ yếu kiển soát hoàn toàn, đảm bảo tưới máu tuỷ.
+ Phát hiện các thương tổn hay kèm theo: ngực, bụng.
+ Đặt ống thông niệu đạo.
22


+ Vận chuyển ngay tới cơ sở chuyên khoa.

2. Tư thế đúng
2.1 . Nâng một vật

- Trong quá trình làm việc, kĩ thuật nâng vác rất quan trọng để phòng tránh chấn thương
cho bản thân, đảm bảo hiệu quả công việc và an toàn cho mọi người.
- Xem xét khối lượng của vật so với trọng lượng cơ thể, đường đi trong khi mang vác
thông thoáng, bằng phẳng hay gập ghềnh, có chướng ngại.
- Không được nâng các vật nặng quá khả năng nâng vác của bản thân. Không được tùy
tiện nâng các vật năng hơn nhiều so với khối lượng bản thân thường nâng vác.
- Luôn chỉ dùng cơ bắp và cử động của tay, chân, đùi chứ không dùng cử động của lưng,
hông trong khi nâng.
- Cử động vật lên xuống bằng đầu gối, không dùng lưng.
- Không được cúi người để đặt vật nặng xuống.
- Mặc quần áo gọn gàng, hạn chế các trang phục rườm rà, có nhiều nút, túi, hoặc có vạt áo
dài.
- Mang giày thể thao (chú ý dây giày), dép có quai hậu cho dễ dàng, khỏi vấp. Không nên
mang giày cao gót.
2.1.1. Mang vác một người đúng cách:
+ Khi nâng ôm sát vật nặng vào người.
+ Giữ lưng luôn thẳng, không ngửa ra phía sau.
+ Mở chân rộng bằng vai. Khối nặng phải luôn đặt giữa 2 chân.
+ Nắm thật chắc vào khối nặng.
+ Ép hai khuỷu tai vào, không được nâng vặt nặng với tư thế khuỷu tay khuỳnh ra hai
bên.
+ Luôn mang vác vật với kích thước và độ cao vừa đủ để có thể nhìn rõ đường đi.
+ Không được di chuyển về phía trước nếu không nhìn thấy được các ghềnh, gờ chướng
ngại vật phía trước.
23


+ Khi chuyển hướng, xoay chân để xoay người, không được xoay lưng, xoay hông.
+ Khi đặt vật nặng lên kệ, lên bệ xe tải, đặt vật nặng xuống đẩy vào. Luôn đẩy chứ không
kéo. Vì khi kéo khiến tay, vai, lưng làm việc ở vị trí không tự nhiên. Các cử động ở vị trí
kéo là bất lợi cho các cơ bắp tay, vai, lưng. Thực tế chứng minh rằng con người đẩy thì
hiệu quả hơn kéo các vật nặng.
+ Sử dụng hệ thỗng hỗ trợ như xe nâng, xe đẩy hàng, ...
2.1.2. Mang vác hai người:
+ Hai người tham gia vác vật phải có chiều cao tương đồng, nếu không trọng lượng vật sẽ
dồn ở bên người thấp.
+ Trước khi vác, phải nêu rõ ai là người chỉ đạo. Hiệu lệnh trong khi nâng vác là do người
chỉ đạo đưa ra.
+ Nhấc vật lên cùng lúc, bước cùng nhau, đặt vật xuống cùng với nhau.
- Nhấc một tay kiểu đánh golf:
+ Dùng một chân trụ, chân còn lại duỗi thẳng ra, giữ lưng thẳng.
+Tay không nắm lấy vật phải nắm vào một gờ cứng, để lấy thế đứng cho vững.
- Đối với các thùng tròn:
+ Dựng các thùng đứng lên.
+ Phải hết sức thận trọng với các thùng vì vật chứa trong thùng có thể gây lắc, khiến
người làm việc té ngã.
+ Lăn các thùng tròn chứ không nâng hoặc vác.
2.2. Tiêu chuẩn đối với những vật nặng có thể mang
2.2.1. Yêu cầu với người lao động khi tham gia nghề nghiệp
(Theo quyết định số 3733/2002 của Bộ Trưởng Bộ Y tế)
Loại chỉ tiêu

Giới hạn trọng lượng cho phép
Nam

Nữ

40kg

30kg

Mang vác không thường xuyên 20kg

15kg

Mang vác thường xuyên

24


2.2.2. Khi mang cặp sách
- Tốt nhất không được mang quá 10% trọng lượng cơ thể.
- Nên lựa chọn và sử dụng cặp sách có thể điều chỉnh dây đeo vai, eo và ngực phù hợp.
- Nên đeo cặp có hai dây quai. Đeo một dây quai nên đổi bên thường xuyên, dây đeo quá
đầu để dễ dàng chuyển bên.
- Đặt các vật nặng càng gần với cơ thể (cụ thể là xương sống) càng tốt. Làm sao để các đồ
vật khác ở vị trí không bị trượt hay xê dịch.
- Điều chỉnh dây đeo vai làm sao cho chiếc túi nằm ngay ngắn, gọn gàng trên eo lưng.
Đáy túi nên nằm ở phần cong của thắt lưng và không được cách thắt lưng quá 10 cm.
- Nên chọn mua một chiếc ba lô có dây đai thắt lưng. Đai lưng này sẽ mang lại cho sự ổn
định khi túi bị đầy và nặng. Nếu túi có dây thắt lưng, hãy sử dụng vì thắt lưng giúp phân
phối trọng lượng đồng đều hơn trên lưng.
- Các đồ vật nhẹ thường di chuyển, nên để xung quanh. Các đồ vật nặng nên đóng gói, đặt
gần xương sống để giảm sức ép.
- Nếu đang bị đau lưng nhẹ cần phải có ý kiến của chuyên gia để chọn cặp sách có kích
thước phù hợp.
3. Luyện tập thể dục thể thao
3.1. Khuyến nghị hoạt động thể lực (theo WHO):
- Trẻ em 1-5 tuổi: vận động ít nhất 3h/ngày.
- Trẻ em 5-17 tuổi: ít nhất 60 phút vận động cường độ trung bình và mạnh hằng ngày.
- Người trưởng thành (18-64 tuổi): ít nhất 150’phút/ tuần vận động hiếu khí, 75 phút/ tuần
vận động cường độ mạnh.
- Người trên 65 tuổi: ít nhất 150’/tuần vận động hiếu khí, 75’/tuần vận động cường độ
mạnh hoặc 75’/tuần kết hợp cường độ trung bình và mạnh.
3.2. Khởi động đúng cách và kĩ lưỡng:

- Thực hiện các bài tập khởi động từ cơ bản, nhẹ nhàng và sau đó mới nâng dần cường độ
để cơ thể làm quen với việc tập luyện.
- Thời gian thực hiện các bài tập khởi động lý tưởng nhất là từ 10-15 phút trước khi bắt
đầu bài tập chính, ít nhất cũng phải là 5 phút.
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×