Tải bản đầy đủ

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận tại các doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

TRẦN THU THẢO

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
CHẤT LƯỢNG LỢI NHUẬN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
THUỘC NGÀNH XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Đà Nẵng - Năm 2018


ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

TRẦN THU THẢO

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN

CHẤT LƯỢNG LỢI NHUẬN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
THUỘC NGÀNH XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01

Người hướng dẫn khoa ho ̣c: PGS.TS TRẦN ĐÌNH KHÔI NGUYÊN

Đà Nẵng - Năm 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn

TRẦN THU THẢO


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ............................................................. 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu......................................................... 3
4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 4
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài .............................................. 4
6. Kết cấu của đề tài nghiên cứu ............................................................... 4
7. Tổng quan nghiên cứu........................................................................... 5
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG LỢI NHUẬN
VÀ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ..................................................................... 11
1.1. KHÁI NIỆM CHẤT LƯỢNG LỢI NHUẬN .......................................... 11
1.1.1. Khái niệm ...................................................................................... 11
1.1.2. Đo lường chất lượng lợi nhuận ..................................................... 12
1.1.3. Vai trò của chất lượng lợi nhuận đối với người sử dụng thông tin
BCTC .............................................................................................................. 25
1.2. CÁC LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG LỢI
NHUẬN .......................................................................................................... 26
1.2.1. Lý thuyết đại diện (Agency theory) .............................................. 27
1.2.2. Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource dependency theory) ... 29
1.2.3. Lý thuyết tín hiệu (Signalling theory)........................................... 29
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG LỢI NHUẬN . 31
1.3.1. Các nhân tố liên quan đến đặc điểm doanh nghiệp ...................... 31
1.3.2. Các nhân tố liên quan đến quản trị và kiểm soát .......................... 34
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1................................................................................ 37


CHƯƠNG 2. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ................................................... 38
2.1. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ............ 38
2.1.1. Giả thuyết nghiên cứu ................................................................... 38
2.1.2. Mô hình nghiên cứu ...................................................................... 43
2.2. ĐO LƯỜNG BIẾN TRONG MÔ HÌNH ................................................. 44
2.2.1. Đo lường biến phụ thuộc – chất lượng lợi nhuận ......................... 44
2.2.2. Đo lường biến độc lập ................................................................... 46
2.3. THIẾT KẾ THU THẬP VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU ....................................... 49
2.3.1. Chọn mẫu nghiên cứu ................................................................... 49
2.3.2. Quy trình phân tích dữ liệu ........................................................... 49
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2................................................................................ 51
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................... 52
3.1. THỐNG KÊ MÔ TẢ CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH........................... 52
3.1.1. Thống kê mô tả các biến độc lập .................................................. 52
3.1.2. Thống kê mô tả biến phụ thuộc..................................................... 54
3.2. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN VÀ HỒI QUY ..................... 55
3.2.1. Phân tích tương quan .................................................................... 55
3.2.2. Kiểm định đa cộng tuyến .............................................................. 56
3.2.3. Kết quả phân tích hồi quy ............................................................. 57
3.2.4. Phân tích kết quả nghiên cứu ........................................................ 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3................................................................................ 68
CHƯƠNG 4. HÀM Ý CHÍNH SÁCH TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ... 69
4.1. NHẬN XÉT CHUNG .............................................................................. 69
4.2. NHỮNG HÀM Ý CHÍNH SÁCH ........................................................... 71
4.2.1. Đối với cơ quan quản lý ................................................................ 71
4.2.2. Đối với công ty niêm yết............................................................... 72
4.2.3. Đối với các đối tượng khác sử dụng thông tin lợi nhuận ............. 75


4.3. HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP
THEO .............................................................................................................. 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4................................................................................ 79
KẾT LUẬN .................................................................................................... 80
PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)
GIẤY ĐỀ NGHỊ BẢO VỆ LUẬN VĂN (bản sao)


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCKQHĐKD : Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
BCLCTT

: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

BCQT

: Báo cáo quản trị

BCTC

: Báo cáo tài chính



BGĐ

: Ban Giám đốc

CBTT

: Công bố thông tin

CLLN

: Chất lượng lợi nhuận

CTCP

: Công ty cổ phần

DN

: Doanh nghiệp

HĐKD

: Hoạt động kinh doanh

HĐQT

: Hội đồng quản trị

HNX

: Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hà Nội

HOSE

: Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

QTLN

: Quản trị lợi nhuận

TTCK

: Thị trường chứng khoán

TNDN

: Thu nhập doanh nghiệp

TTKT

: Thông tin kế toán


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

Tên bảng

bảng
1.1.

2.1.
2.2.
2.3.

Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng
lợi nhuận từ các nghiên cứu trước
Các giả thuyết nghiên cứu và mối quan hệ với các
lý thuyết nền tảng có liên quan
Danh sách biến độc lập và phương pháp đo lường
Mã chứng khoán của 58 doanh nghiệp ngành xây
dựng niêm yết

Trang

36

42
48
49

3.1.

Thống kê mô tả các biến trong mô hình

52

3.2.

Ma trận tương quan

55

3.3.

Giá trị VIF của mô hình

56

3.4.

Bảng kết quả hồi quy mô hình Pooled OLS

57

3.5.

Bảng kết quả hồi quy mô hình FEM

59

3.6.

Bảng kết quả hồi quy mô hình REM

60

3.7.

Bảng kết quả so sánh giữa FEM với REM

61

3.8.

Bảng tổng hợp các kiểm định

62

3.9.

Tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết

64


DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Số hiệu
hình

Tên hình

Trang

Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lợi
2.1.

nhuận của các doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng
niêm yết trên TTCK VN

44


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, thị trường chứng khoán ở nước ta ngày càng phát
triển và đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển vững chắc thị
trường vốn Việt Nam. Thông tin thị trường chứng khoán rất đa dạng và phong
phú. Thông tin là yếu tố then chốt, nhạy cảm và ảnh hưởng mạnh mẽ đến
hành vi của tất cả các đối tượng tham gia thị trường. Cùng với sự phát triển
của thị trường chứng khoán thì sự xuấ t hiện những biế n cố , những thăng trầ m
của thi ̣ trường chứng khoán Viêṭ Nam đã tác đô ̣ng đế n tâm lý nhà đầ u tư, sự
thâ ̣n tro ̣ng hơn của nhà đầ u tư về sử du ̣ng thông tin tài chính trên báo cáo tài
chính. Thông tin lơ ̣i nhuâ ̣n trên báo cáo kế t quả hoa ̣t đô ̣ng kinh doanh của các
doanh nghiêp̣ niêm yết trên thi ̣ trường chứng khoán Viêṭ Nam được rất nhiều
đối tượng quan tâm, sử dụng; là mô ̣t trong những cơ sở dữ liêụ cần thiết cho
quyế t đinh
̣ đầ u tư, là mô ̣t chỉ tiêu tài chính quan tro ̣ng, thể hiê ̣n kế t quả, hiêụ
quả hoa ̣t đô ̣ng sản xuấ t kinh doanh của doanh nghiê ̣p và cũng là chỉ tiêu tài
chiń h cơ sở để đánh giá, dự báo khả năng, tiề m năng sinh lời của doanh
nghiê ̣p nhưng cũng chin
́ h thông tin lơ ̣i nhuâ ̣n trên báo cáo kế t quả hoa ̣t đô ̣ng
kinh doanh của doanh nghiê ̣p Viêṭ Nam cũng đang chứa đựng những ca ̣m bẫy
với các quyế t đinh
̣ đầ u tư.
Có thể nói rằng chất lượng lợi nhuận của các doanh nghiê ̣p niêm yết
không chỉ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên trong công ty như nhà quản lý, hội
đồng quản trị, ban kiểm soát, ban điều hành và kiểm toán nội bộ mà còn chịu
ảnh hưởng bởi sự kiểm soát từ các yếu tố bên ngoài công ty như Ủy ban
Chứng khoán Nhà nước, Hội Nghề nghiệp, Bộ Tài chính, cơ quan thuế, kiểm
toán độc lập và kiểm toán Nhà nước. Chính vì vậy, trong thời gian vừa qua
Việt Nam đã ban hành và chỉnh sửa bổ sung nhiều quy định nhằm tăng cường


2
kiểm soát chất lượng thông tin lợi nhuận của các công ty.
Tuy nhiên, hiện nay chất lượng lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm
yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam chưa hoàn toàn tin cậy. Xuất phát
từ việc có sự chênh lệch lợi nhuận lên hàng trăm tỷ đồng giữa báo cáo tài
chính trước và sau kiểm toán. Có thể lấy ví dụ rất điển hình về sự sai lệch này
ở 1 số doanh nghiệp niêm yết như: CTCP Than Núi Béo (Mã chứng khoán
NBC) có lợi nhuận sau thuế lệch tăng 26%, CTCP Than Hà Lầm (HLC) lệch
giảm 80%, CTCP Than Cọc Sáu (TC6) lệch tăng 242%... Nhiều doanh nghiệp
tăng lãi gấp 2, gấp 4 lần trong khi có doanh nghiệp lại giảm lợi nhuận còn một
nửa, một phần năm. Sự sai lệch có hệ thống đến mức vô lý này khiến nhiều
người quan ngại về những điều bất bình thường sẽ trở thành bình thường nếu
không sớm được chấn chỉnh. Tình trạng này qua các năm không những không
giảm mà chỉ thấy tăng lên. Lợi nhuận chuyển từ lãi thành lỗ, lỗ nhiều thành lỗ
ít. Ngay cả những công ty vốn hóa lớn trên sàn, số liệu BCTC sau kiểm toán
cũng có sự chênh lệch. Cũng có không ít trường hợp, lợi nhuận sau kiểm toán
tăng lên gấp đôi, gấp ba. Hoặc như trường hợp Ủy ban Chứng khoán Nhà
nước đã đình chỉ đợt chào bán cổ phiếu ra công chúng là của Công ty Cổ phần
Dược phẩm Viễn Đông. Công ty này đã đưa vào bản cáo bạch chào bán cổ
phiếu một số thông tin sai lệch và bỏ sót các thông tin quan trọng, gây hiểu
nhầm và ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư. Chính điều này đã ảnh
hưởng không nhỏ đến những người tham gia thị trường dẫn đến thị trường
chứng khoán đi lệch khỏi giá trị lúc ban đầu. Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra
các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm
yết trên TTCK Việt Nam hiện nay là rất cần thiết đối với thực tiễn hiện nay.
Hiện nay, khi quy mô và yêu cầu của thị trường thay đổi, nhà đầu tư luôn
hướng tới việc tìm kiếm, lựa chọn cơ cấu đầu tư danh mục theo các ngành
nghề trọng điểm, các doanh nghiệp đầu ngành, có lịch sử phát triển ổn định và


3
có sức cạnh tranh cao. Trong khi đó, ngành xây dựng là một trong những
ngành có sự phát triển nhanh, thu hút rất nhiều sự quan tâm và chiến lược dài
hạn của các nhà đầu tư. Tuy nhiên chính sự phát triển quá nhanh của ngành
xây dựng trên TTCK lại đặt ra một câu hỏi các đối tượng quan tâm là những
gì ngành xây dựng đang thể hiện có thực sự chính xác hay không?
Với những lý do nêu trên, tác giả chọn nghiên cứu đề tài luận văn “Phân
tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận tại các doanh nghiệp
thuộc ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”.
Đây là vấn đề mang tính thời sự, chỉ ra được những nhân tố tác động chất
lượng lợi nhuận, từ đó nâng cao chất lượng lợi nhuận của các doanh nghiệp
trên thị trường chứng khoán Việt Nam, góp phần lành mạnh hóa thị trường và
thúc đẩy nền kinh tế phát triển .
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá chất lượng lợi nhuận của các doanh nghiệp ngành xây dựng
niêm yết trên TTCK Việt Nam trên cơ sở biến kế toán dồn tích.
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận tại các
doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thông tin kế toán phản ánh qua báo cáo tài
chính đã được kiểm toán và công bố, báo cáo thường niên của các công ty
niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2014-2016. Các doanh nghiệp được
niêm yết là các doanh nghiệp ngành xây dựng.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về không gian: Các doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng niêm
yết trên TTCK Việt Nam niêm yết trên cả 2 sàn giao dịch HOSE và HNX.
+ Phạm vi về thời gian: Dữ liệu nghiên cứu trong giai đoạn 3 năm 20142016.


4
4. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp phân tích hồi quy dữ liệu bảng để xem xét sự ảnh
hưởng của các nhân tố đến chất lượng lợi nhuận của các doanh nghiệp thuộc
ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Dữ liệu thu
thập thông qua báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của các công ty niêm
yết ngành xây dựng, công bố trên sở giao dịch chứng khoán ở Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Về mặt lý luận:
+ Hệ thống hóa và trình bày các kết quả nghiên cứu trước đây về vấn đề
này tại Việt Nam cũng như trên thế giới.
+ Xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận của
các doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng niêm yết trên TTCK Việt Nam từ đó
đề xuất một số biện pháp có thể sử dụng để nâng cao chất lượng lợi nhuận của
doanh nghiệp.
- Về mặt thực tiễn:
Thông qua kết quả nghiên cứu, nhằm đưa ra những bằng chứng ảnh
hưởng của các nhân tố đến chất lượng lợi nhuận của các doanh nghiệp thuộc
ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam để làm cơ sở
kiến nghị cho những đối tượng liên quan.
6. Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ
lục, nội dung chính của luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về chất lượng lợi nhuận và nhân tố ảnh hưởng
Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Hàm ý chính sách từ kết quả nghiên cứu


5
7. Tổng quan nghiên cứu
7.1. Đề tài nghiên cứu ngoài nước
Có khá nhiều các nghiên cứu trên thế giới về các nhân tố ảnh hưởng đến
chất lượng lợi nhuận, các nhân tố này bao gồm cả các nhân tố bên trong và
bên ngoài công ty.
Nghiên cứu của Niu (2006) về quản trị doanh nghiệp và chất lượng của
lợi nhuận kế toán. Mẫu dữ liệu nghiên cứu là công ty ở Canada trong giai
đoạn từ năm 2001 đến năm 2004. Thông qua phương pháp hồi quy tuyến tính,
tác giả đã chứng minh được: chất lượng quản trị toàn diện (bao gồm thành
phần hội đồng quản trị, tỷ lệ sở hữu ban quản lý, quyền cổ đông) thì có mối
tương quan ngược chiều đến mức độ của dồn tích bất thường và ảnh hưởng
thuận chiều với lợi nhuận giữ lại. Ngoài ra độ lớn của khoản dồn tích bất
thường có mối quan hệ ngược chiều với mức độc lập của thành viên hội đồng
quản trị.
Một nghiên cứu khá hữu ích của Dechow và các cộng sự (2010) nghiên
cứu về đo lường chất lượng lợi nhuận, các nhân tố ảnh hưởng và kết quả của
chất lượng lợi nhuận tổng hợp từ trên 300 nghiên cứu trên thế giới, điều đáng
quan tâm trong kết quả của nghiên cứu này đã tổng hợp và phân loại các nhân
tố ảnh hưởng chất lượng lợi nhuận ra 6 nhóm nhân tố: (1) đặc điểm công ty
bao gồm hiệu quả công ty, tình trạng nợ, sự tăng trưởng và đầu tư, quy mô
công ty, (2) thực tiễn BCTC bao gồm phương pháp kế toán, phương pháp trên
cơ sở nguyên tắc với trên cơ sở quy định và thực tiễn BCTC khác, (3) quản trị
công ty và kiểm soát nội bộ bao gồm hội đồng quản trị, tỷ lệ sở hữu vốn, chế
độ đãi ngộ, cơ chế kiểm soát nội bộ..., (4) Kiểm toán bao gồm rủi ro kinh
doanh, loại công ty kiểm toán, tính độc lập của kiểm toán..., (5) động lực của
thị trường vốn bao gồm động lực khi công ty tăng vốn, mục tiêu lợi nhuận đạt
được và (6) các nhân tố bên ngoài khác như yêu cầu của thị trường vốn, quá


6
trình chính trị, các quy định liên quan đến thuế... và mỗi nghiên cứu thường
tập trung vào một trong các nhóm nhân tố trên.
Một nghiên cứu của Qinghua và các cộng sự (2007) về mối quan hệ giữa
ủy ban kiểm toán, đặc điểm của HĐQT với chất lượng BCTC, nghiên cứu
thực nghiệm tại thị trường chứng khoán Trung Quốc, các tác giả này đã đo
lường chất lượng BCTC của các công ty niêm yết thông qua mức quản trị lợi
nhuận bằng mô hình Jones đã điều chỉnh và theo dữ liệu chéo với mẫu được
chọn là 1192 công ty trong năm 2002. Các nhân tố ảnh hưởng chất lượng
BCTC được Qinghua và các cộng sự (2007) chia thành 3 nhóm: Thứ nhất, đặc
điểm thành phần HĐQT bao gồm (1) tỷ lệ % giám đốc độc lập trong HĐQT,
(2) kiêm nhiệm TGĐ và chủ tịch HĐQT, (3) tỷ lệ % giám đốc độc lập trong
HĐQT bằng và cao hơn 1/3 và (4) tỷ lệ % giám đốc độc lập trong HĐQT cao
hơn 1/3. Thứ hai, đặc điểm chuyên gia của HĐQT bao gồm (1) thành viên
HĐQT có chuyên môn tài chính và (2) có tồn tại UBKT. Thứ ba, đặc điểm
hành vi của HĐQT bao gồm (1) tính thường xuyên cuộc họp của HĐQT, (2)
tỷ lệ sở hữu của HĐQT, (3) tỷ lệ % giám đốc đồng thời giữ vị trí kiểm soát
công ty của cổ đông. Ngoài ra, nghiên cứu còn phân tích ảnh hưởng của các
nhân tố khác (biến kiểm soát) đến chất lượng BCTC như quy mô công ty, đòn
bẩy tài chính, chủ sở hữu của nhà quản lý, lỗ trong năm trước, biến động bất
thường của hiệu quả công ty, động cơ cho quyền chào bán ngay, sự tập trung
quyền sở hữu.
Một nghiên cứu gần đây tại Bồ Đào Nha do Alves (2014) thực hiện về
ảnh hưởng của tính độc lập của HĐQT đến chất lượng lợi nhuận, ngoài ra tác
giả này cũng đã phân tích thêm mối quan hệ của các nhân tố khác đó là đòn
bẩy tài chính, dòng lưu chuyển tiền thuần, cơ hội đầu tư (cơ hội phát triển),
loại công ty kiểm toán và quy mô công ty. Mô hình Jones điều chỉnh được tác
giả này sử dụng để đo lường chất lượng lợi nhuận. 33 công ty phi tài chính


7
trong giai đoạn 2003-2010 trên thị trường vốn của Bồ Đào Nha được tác giả
lựa chọn trong mẫu nghiên cứu. Kết quả nhất quán cho cả 2 phương pháp sử
dụng chỉ có nhân tố loại công ty kiểm toán không ảnh hưởng đến chất lượng
lợi nhuận, các nhân tố còn lại đều có ảnh hưởng.
Một số nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận
tại một số quốc gia trên thế giới, tuy nhiên, họ sử dụng mô hình của Dechow
và Dichev (2002) để đo lường.
Một mô hình đo lường khác cũng đã được sử dụng để đo lường chất
lượng lợi nhuận là mô hình EBO của Ohlson (1995), mô hình này thuộc nhóm
mô hình giá trị thích hợp của TTKT, khác với các mô hình trên đo lường chất
lượng lợi nhuận dựa trên cơ sở kế toán, mô hình EBO này đo lường chất
lượng lợi nhuận dựa trên cơ sở thị trường.
Một số nghiên cứu xem xét nhân tố kế hoạch thưởng đối với hành vi
QTLN cũng như các quyết định về kế toán của nhà quản lý được thực hiện
bởi Holthausen và các cộng sự (1995), kết quả nghiên cứu của các nghiên cứu
cho thấy các nhà quản lý có nhiều khả năng sẽ thực hiện QTLN để tối đa hóa
tiền thưởng của họ.
Như vậy, trên thế giới cũng đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu
về các nhân tố ảnh hưởng chất lượng lợi nhuận, trong đó, chất lượng lợi
nhuận cũng đã được đo lường bằng nhiều cách khác nhau, mỗi nghiên cứu
thường tập trung vào một hoặc vài nhóm nhân tố như đặc điểm công ty, quản
trị kiểm soát, kiểm toán…
7.2. Đề tài nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, chủ đề liên quan đến chất lượng lợi nhuận cũng được một
số nhà nghiên cứu quan tâm, các công trình nghiên cứu này cụ thể như sau:
Một số nghiên cứu lý thuyết về hành vi điều chỉnh lợi nhuận của Nguyễn
Công Phương (2009) đã cung cấp các cơ sở lý thuyết hữu ích cho các nghiên


8
cứu về việc vận dụng các chính sách kế toán nhằm điều chỉnh lợi nhuận theo
ý muốn chủ quan của nhà quản trị. Các nghiên cứu này cũng chỉ ra các ưu
điểm và nhược điểm của từng mô hình.
Nghiên cứu của Huỳnh Thị Vân (2012) sử dụng phương pháp định tính
với số liệu trên BCTC năm 2008-2010 của các DN năm đầu niêm yết trên 2
sàn chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, dựa trên 2 mô hình được
lựa chọn là mô hình DeAngelo và mô hình Friedlan. Tác giả đã đưa ra 3 nhân
tố tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận đối với những doanh nghiệp
niêm yết gồm năm đầu niêm yết trên sàn chứng khoán, ưu đãi thuế, quy mô
doanh nghiệp. Qua khảo sát kết quả cho thấy rằng phần lớn các tổ chức niêm
yết có điều chỉnh tăng lợi nhuận trong năm đầu niêm yết trên thị trường chứng
khoán, điều chỉnh tăng lợi nhuận trong năm đầu niêm yết quan hệ thuận chiều
với điều kiện ưu đãi thuế TNDN mà doanh nghiệp được hưởng. Qua đó tác
giả cũng đưa ra các kiến nghị về tính trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận trên
BCTC trong đó nhấn mạnh vấn đề CBTT.
Bài báo của Trần Hùng Sơn (2012) đề cập các yếu tố đặc thù của doanh
nghiệp như: Lợi nhuận, tốc độ tăng trưởng, qui mô và cách đo lường đại diện
cho các nhân tố trên.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Trang (2012) đã sử dụng mô hình
điều chỉnh lợi nhuận của DeAngelo và Friedlan nghiên cứu với mẫu là 20
doanh nghiệp thuộc 4 loại hình doanh nghiệp là doanh nghiệp nhà nước,
công ty cổ phần, tư nhân, trách nhiệm hữu hạn. Kết quả nghiên cứu cho thấy
như sau: các công ty cổ phần có xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận nhằm
thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài. Các loại hình doanh nghiệp còn lại có xu
hướng điều chỉnh giảm lợi nhuận nhằm tiết kiệm chi phí thuế thu nhập
doanh nghiệp phải nộp.
Kết quả nghiên cứu của Phan Thị Thùy Dương (2015) cho thấy có 75%


9
công ty điều chỉnh tăng lợi nhuận và 25% công ty điều chỉnh giảm lợi nhuận.
Tuy nhiên, trong nghiên cứu này chỉ mới đưa ra được một nhân tố ảnh hưởng
đến điều chỉnh lợi nhuận là việc phát hành thêm cổ phiếu, chưa đi sâu vào
phân tích các nhân tố khác ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của
doanh như quy mô công ty, chất lượng kiểm toán, ROA…
Qua các công trình nghiên cứu được thực hiện trên thế giới có liên quan
đến luận văn, có thể nói rằng, chất lượng lợi nhuận và các nhân tố ảnh hưởng
là một chủ đề được rất nhiều nhà nghiên cứu của nhiều quốc gia trên thế giới
khai thác. Vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Mặt khác,
cùng trong một quốc gia cũng đã có nhiều nghiên cứu cùng về chất lượng lợi
nhuận nhưng họ đã tiếp cận nhiều cách khác nhau để đo lường nó. Tuy nhiên,
các nghiên cứu thường chỉ tập trung vào một nhóm nhân tố nào đó, có những
công trình chỉ nghiên cứu khá ít nhân tố.
Đối với thực trạng Việt Nam trong việc thực hiện các công trình nghiên
cứu liên quan đến chủ đề các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận,
như tác giả đã tổng hợp ở phần trên, tác giả có nhận xét chung như sau:
- Mặc dù chủ đề này đã được các quốc gia khác nghiên cứu từ sớm
nhưng trong thời gian gần đây, các nhà nghiên cứu tại Việt Nam mới bắt đầu
quan tâm và có những công trình nghiên cứu liên quan.
- Tuy rằng các nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc làm rõ các khái niệm,
nội dung liên quan đến đặc điểm QTLN, tìm hiểu về việc phát hiện QTLN tại
các công ty niêm yết, giới thiệu cơ bản về một số phương pháp đo lường...
nhưng nó cũng là cơ sở, định hướng cho các nghiên cứu ảnh hưởng đến chất
lượng lợi nhuận trong tương lai.
- Các nhà nghiên cứu cũng đã bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng
của việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận. Tuy
nhiên, các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào hành vi điều chỉnh lợi nhuận chứ


10
chưa đưa ra được kết luận sau cùng là chất lượng lợi nhuận của 1 DN cũng
như nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận của các DN hiện nay.
Như vậy, có thể thấy, bên cạnh những mặt đã đạt được, tại Việt Nam các
công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề này còn rất ít, các công trình
nghiên cứu đã thực hiện chỉ dừng lại ở việc phân tích các nội dung cơ bản liên
quan như nghiên cứu về phát hiện hành vi QTLN tại các công ty niêm yết tại
HOSE/ HNX, về xu hướng QTLN của các công ty niêm yết trên TTCK Việt
Nam, về các nhân tố ảnh hưởng đến QTLN. Các nghiên cứu chưa đi sâu vào
chất lượng lợi nhuận, bên cạnh đó, phần lớn các nghiên cứu này kết quả đánh
giá và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đều thực hiện theo phương pháp khảo
sát quan điểm nên chưa phản ảnh đúng thực trạng tại Việt Nam hiện nay, chỉ
có một vài nghiên cứu trực tiếp trên BCTC và BCTN của các công ty nhưng
các nhân tố này chưa được phân tích, kiểm định nhiều.
Từ tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam, tác
giả nhận thấy cần có một công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến
chất lượng lợi nhuận của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay.
Qua các nghiên cứu trước, luận văn kế thừa mô hình Dechow và các cộng sự.
Trong đó, chất lượng lợi nhuận được đo lường dựa trên dữ liệu công bố trên
BCTC (dữ liệu thứ cấp) do chính mỗi công ty lập và trình bày, và số nhân tố
xem xét phân tích với số lượng nhiều hơn, là cơ sở để đưa ra kiến nghị nhằm
nâng cao chất lượng lợi nhuận của các công ty niêm yết trong tương lai.


11

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG LỢI NHUẬN VÀ
NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
1.1. KHÁI NIỆM CHẤT LƯỢNG LỢI NHUẬN
1.1.1. Khái niệm
Theo các nghiên cứu trước đây, chất lượng lợi nhuận có cấu trúc đa
chiều và có nhiều định nghĩa về nó.
- Theo Pratt (2000), chất lượng lợi nhuận là mức độ thu nhập thuần được
trình bày trên BCKQHĐKD khác so với thu nhập thực sự (thu nhập đúng).
- Theo Schipper and Vincent (2003), chất lượng lợi nhuận phản ánh mức
độ trung thực của lợi nhuận báo cáo so với lợi nhuận thực tế.
- Quan điểm của Ecker và các cộng sự (2006) cho rằng chất lượng lợi
nhuận “Là sự đo lường rủi ro thông tin và định nghĩa chất lượng lợi nhuận là
độ chính xác, cụ thể là vạch ra được khoản dồn tích hiện hành dòng tiền trong
năm nay, năm ngoái và năm kế tiếp”.
- Còn theo Dechow, Ge và Schrand (2010) định nghĩa chất lượng lợi
nhuận là “Thông tin lợi nhuận có chất lượng cao giúp cung cấp nhiều thông
tin hơn về đặc điểm tình hình tài chính của một công ty liên quan liên quan
đến một quyết định cụ thể được quyết định bởi một cá nhân cụ thể”.
Cũng theo Dechow, Ge và Schrand trong khái niệm chất lượng lợi nhuận
có ba tính năng cần lưu ý là:
+ Thứ nhất, chất lượng lợi nhuận tùy thuộc vào mức độ liên quan đến
quyết định của thông tin. Do đó, thuật ngữ "chất lượng lợi nhuận " đứng một
mình không có ý nghĩa. Chất lượng lợi nhuận chỉ được xác định trong bối
cảnh của một mô hình quyết định cụ thể.
+ Thứ hai, chất lượng lợi nhuận được báo cáo phụ thuộc vào thông tin về


12
hoạt động tài chính của công ty, hoặc là những khía cạnh khác của công ty đó
có minh bạch không.
+ Thứ ba, chất lượng lợi nhuận được xác định bởi sự liên quan của hoạt
động tài chính minh bạch đến các quyết định và khả năng của hệ thống kế
toán để đo lường hiệu quả hoạt động.
Tóm lại, khái niệm về chất lượng lợi nhuận là một khái niệm trừu tượng,
được đánh giá theo nhiều khía cạnh và quyết định tùy thuộc vào sự thể hiện
tài chính thông tin.
1.1.2. Đo lường chất lượng lợi nhuận
Mặc dù có sự thống nhất nhất định trong việc đưa ra định nghĩa về chất
lượng lợi nhuận nhưng việc đo lường không hề đơn giản, bởi khía cạnh đánh
giá chất lượng lợi nhuận rất trừu tượng và không thể đo lường trực tiếp. Thật
vậy, để xác định mức độ hữu ích hay phù hợp cho việc ra quyết định của
thông tin kế toán, ta cần căn cứ cơ sở vào loại quyết định được đưa ra là gì và
cá nhân ra quyết định là ai. Chất lượng lợi nhuận cũng phụ thuộc vào mức độ
mà nó phản ánh về tình hình tài chính và kết quả hoạt động của công ty. Tuy
nhiên, ngoài các con số kế toán chúng ta không có thước đo thay thế nào đáng
tin cậy về kết quả hoạt động của một công ty. Do đó, các nhà nghiên cứu chỉ
có thể đo lường chất lượng lợi nhuận một cách gián tiếp ở một số khía cạnh
nhất định.
Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã phát triển rất nhiều tiêu chí khác
nhau cũng như các biến và thang đo cụ thể gắn liền với từng tiêu chí để đo
lường chất lượng lợi nhuận. Việc đo lường cũng phụ thuộc vào bối cảnh,
mục đích nghiên cứu để từ đó có sự lựa chọn tiêu chí sao cho phù hợp nhất.
Với mỗi tiêu chí, biến và thang đo cụ thể và mô hình áp dụng cũng có sự
khác nhau. Vì vậy, để có cách nhìn bao quát hơn, luận văn giới thiệu về các


13
tiêu chí dùng để đo lường chất lượng lợi nhuận đã được sử dụng từ các
nghiên cứu trước.
a. Quan điểm của Schipper và Vincent (2003)
Theo Schipper và Vincent (2003) cấu trúc của chất lượng lợi nhuận có 4
cách phân loại: Xây dựng từ đặc điểm chuỗi thời gian của lợi nhuận; thông
qua mối quan hệ giữa lợi nhuận, các khoản dồn tích và luồng tiền; phát triển
từ đặc điểm của thông tin kế toán theo khuôn mẫu FASB (Financial
Accounting Standards Board); phát triển từ phân tích các quyết định thực
hành nghề nghiệp.
- Các tiêu chí được xây dựng từ đặc điểm chuỗi thời gian của lợi
nhuận (time-series properties of earnings): Nhóm này gồm 3 tiêu chí là
tính ổn định/ bền vững của lợi nhuận, khả năng dự báo và sự biến thiên của
lợi nhuận.
+ Tính ổn định được hiểu là sự tương quan trong chuỗi giá trị lợi nhuận
hay mức độ mà lợi nhuận hiện tại trở thành một phần cố định trong chuỗi giá
trị lợi nhuận tương lai. Schipper và Vincent (2003) cũng chỉ ra rằng tính ổn
định là một đặc điểm chứng minh cho tính hữu ích của lợi nhuận trong việc ra
quyết định đầu tư. Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng nhấn mạnh sự ổn
định của lợi nhuận không chỉ bị chi phối bởi hệ thống kế toán mà còn phụ
thuộc vào đặc điểm hoạt động, tài sản và công nợ của công ty.
+ Khả năng dự báo của lợi nhuận hiểu theo nghĩa hẹp là khả năng dự
báo về lợi nhuận tương lai của lợi nhuận kỳ hiện tại, theo nghĩa rộng là mức
độ hữu ích của thông tin tài chính (bao gồm lợi nhuận) trong việc đưa ra các
dự báo khác nhau. Với cách hiểu này khả năng dự báo của lợi nhuận có thể
đánh giá thông qua mối quan hệ với lợi nhuận tương lai, luồng tiền tương lai
hoặc một số chỉ tiêu khác đo lường kết quả hoạt động.


14
+ Sự biến thiên của lợi nhuận: Các nhà nghiên cứu thừa nhận một quan
điểm chung là nhà quản trị mong muốn một lợi nhuận ổn định và tăng dần.
Do đó, trong một số trường hợp nhà quản trị sẽ điều chỉnh số liệu để đạt được
mục tiêu. Nếu sự biến thiên của lợi nhuận là rất ít và ít hơn sự biến thiên của
luồng tiền thì đó có thể là bằng chứng của sự điều chỉnh lợi nhuận.
- Các tiêu chí thông qua mối quan hệ giữa lợi nhuận, các khoản dồn
tích và luồng tiền.
Các tiêu chí này dựa trên quan điểm các khoản dồn tích sẽ làm giảm chất
lượng lợi nhuận. Chất lượng lợi nhuận được đo bằng tỷ lệ giữa luồng tiền từ
hoạt động kinh doanh và lợi nhuận. Đây là một tiêu chí khá đơn giản, nó phủ
nhận vai trò của kế toán dồn tích. Các nhà nghiên cứu phát triển thêm các tiêu
chí khác bằng cách phân tích tổng giá trị các khoản dồn tích và xác định phần
bị điều chỉnh hay thao túng. Cụ thể khoản dồn tích bị điều chỉnh được xác
định bằng:
+ Tăng/ giảm trong tổng các khoản dồn tích. Nếu các khoản dồn tích
không bị điều chỉnh bởi các nhà quản lý thì sẽ ổn định theo thời gian. Sự biến
động của các khoản này là kết quả của việc điều chỉnh số liệu kế toán.
+ Khoản dồn tích bất thường ước tính từ các thông số kế toán cơ bản:
Tổng dồn tích được hồi quy với các biến số cơ bản (ví dụ như doanh thu, các
khoản phải thu, tài sản cố định…). Phần dư của hồi quy sẽ được coi là thước
đo cho giá trị dồn tích.
+ Mối quan hệ giữa tổng dồn tích và luồng tiền. Tiêu biểu cho hướng
nghiên cứu này là công trình của P. M. Dechow and Dichev (2002) về chất
lượng của các khoản dồn tích và lợi nhuận. Các nhà nghiên cứu đã phân tích
và chỉ ra rằng các khoản dồn tích ngắn hạn (được xác định thông qua vốn lưu
động) sẽ có mối quan hệ chặt chẽ với luồng tiền của kỳ hiện tại, kỳ liền kề


15
trước và liền kề sau.
- Các tiêu chí phát triển từ đặc điểm của thông tin kế toán theo
khuôn mẫu FASB.
Khung khái niệm của IASB (International accounting standard Board) và
FASB (Financial Accounting Standards Board) đưa ra các đặc điểm định tính
của thông tin kế toán nói chung và lợi nhuận nói riêng như tính thích hợp,
đáng tin cậy, có thể có thể so sánh. Schipper cho rằng khả năng giải thích cho
các thông số thị trường (như giá cổ phiếu hay lợi tức của nhà đầu tư chứng
khoán) của lợi nhuận đo lường giá trị gộp của cá tính thích hợp và đáng tin
cậy của thông tin. Tuy vậy, các nghiên cứu này không bóc tách được hai nhân
tố này, không đánh giá được sự đánh đổi giữa hai tính chất này hoặc với các
tiêu chuẩn định tính khác.
- Các tiêu chí đo lường chất lượng lợi nhuận phát triển từ phân tích
các quyết định thực hành nghề nghiệp.
Nhóm các tiêu chí này tập trung vào động cơ và kiến thức chuyên môn
của các kiểm toán viên và những người lập báo cáo. Để đánh giá vai trò của
người lập báo cáo đối với chất lượng lợi nhuận có 2 cách tiếp cận chính.
Thứ nhất, chất lượng lợi nhuận có mối tương quan nghịch với mức độ
xét đoán, ước tính và dự báo mà người lập BCTC cần phải thực hiện do khả
năng sai sót tiềm tàng là rất cao. Tuy nhiên, ở khía cạnh khác xét đoán và ước
tính là cần thiết để đảm bảo tính thích hợp của thông tin. Vì vậy cách tiếp cận
này đôi khi tạo ra những tiêu chí và thước đo đánh giá mâu thuẫn về chất
lượng lợi nhuận.
Thứ hai, chất lượng lợi nhuận chỉ giảm đi khi các nhà quản trị và kế
toán lợi dụng những ước tính và xét đoán để điều chỉnh số liệu báo cáo. Do
đó, nhà nghiên cứu phải tìm kiếm các biểu hiện bất thường để chứng minh


16
cho khả năng số liệu bị thao túng.
Tóm lại, Schipper và Vincent (2003) đã tổng hợp và phân loại khá đầy
đủ về tiêu chí đánh giá đo lường chất lượng lợi nhuận. Tuy nhiên, việc đưa
tiêu chí đánh giá dựa trên đặc điểm của thông tin kế toán theo khuôn mẫu
FASB ảnh hưởng đến tính phổ biến trong nghiên cứu do quy định của FASB
chỉ áp dụng cho các công ty Mỹ. Mặt khác, thực chất tiêu chí đánh giá này là
việc đánh giá khả năng của lợi nhuận kế toán trong việc giải thích cho sự biến
động của giá cổ phiếu và lợi tức từ đầu tư chứng khoán, hay nghiên cứu về
giá trị thích hợp. Cách thức phân loại của Schipper và Vincent (2003) cũng
khá phức tạp và khó theo dõi só với cách phân loại của Francis và Dechow
dưới đây.
b. Quan điểm của J. Francis và các cộng sự (2004)
Francis và các cộng sự (2004) đã phân loại chỉ tiêu sử dụng dùng để đo
lường chất lượng lợi nhuận thành 2 loại: Dựa trên cơ sở thị trường và dựa trên
cơ sở các nguyên tắc kế toán.
- Các tiêu chí dựa trên cơ sở thị trường (Market – based attributes):
Các tiêu chí này được xác định trên cơ sở mối quan hệ giữa lợi nhuận kế toán
và sự phản ứng lại của thị trường hoặc giá thị trường. Loại này bao gồm 2 tiêu
chí là: (1) Giá trị thích hợp giải thích cho sự biến động của giá thị trường và
lợi nhuận mà nhà đầu tư thu được từ cổ phiếu của công ty và (2) Tính thận
trọng và kịp thời tập trung vào việc đánh giá xem các khoản lỗ có được ghi
nhận một cách kịp thời và đúng kỳ phát sinh không.
- Các tiêu chí dựa trên cơ sở các nguyên tắc kế toán (accounting –
based measures): Các tiêu chí này được xây dựng trên cơ sở giả định cho
rằng lợi nhuận là kết quả của việc phân bổ một cách có hiệu quả luồng tiền
vào các kỳ báo cáo thông qua kế toán dồn tích. Do đó, khi lợi nhuận phản ánh


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×