Tải bản đầy đủ

Ảnh hưởng trong việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đến thu nhập của người dân trên địa bàn xã phong an, huyện phong điền, tỉnh thừa thiên huế

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ

ẢNH HƯỞNG TRONG VIỆC THU HỒI ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG
NGHIỆP ĐẾN THU NHẬP CỦA NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN
XÃ PHONG AN, HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Mã số: SV2017-01-10

Chủ nhiệm đề tài: Hoàng Thị Tú Uyên

Huế, 12/2017


ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

BÁO CÁO TÓM TẮT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ

ẢNH HƯỞNG TRONG VIỆC THU HỒI ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG
NGHIỆP ĐẾN THU NHẬP CỦA NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN XÃ
PHONG AN, HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Mã số: SV2017-01-10

Xác nhận của giáo viên hướng dẫn

Huế, 12/2017

Chủ nhiệm đềtài


DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA VÀ
DANH SÁCH ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH
1. Danh sách thành viên tham gia
Hoàng Thị Tú Uyên
Nguyễn Thị Ngọc Hoàng
Nguyễn Tiến Thảo
2. Đơn vị phối hợp:
UBND xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

i


MỤC LỤC
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................1
1.Tính cấp thiết của đề tài: ..............................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu ....................................................................................................2
2.1 Mục tiêu chung: .........................................................................................................2
2.2. Mục tiêu cụ thể: ........................................................................................................2
3. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu......................................................................2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...............................................................................3
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..............................................4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ THU HỒI ĐẤT
SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP CỦA NGƯỜI DÂN.
.........................................................................................................................................4
1.1. Cơ sở lí luận về vấn đề thu hồi đất sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng đến thu nhập
của người dân ..................................................................................................................4
1.1.1 Khái quát đất nông nghiệp......................................................................................4
1.1.1.1Khái niệm về đất nông nghiệp..............................................................................4
1.1.1.2 Phân loại đất nông nghiệp ...................................................................................5
1.1.1.3. Vai trò đất nông nghiệp ......................................................................................6
1.1.2 Khái quát về thu nhập và tác động của việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp ảnh
hưởng đến thu nhập của người dân .................................................................................7
1.1.2.1 Khái niệm và vai trò của thu nhập:......................................................................7
1.1.1.5. Vai trò của đất sản xuất nông nghiệp đối với thu nhập:.....................................7
1.1.2.2 Sự cần thiết và vấn đề đăt ra của việc thu hồi đất: ..............................................8
1.2. Cơ sở thực tiễn vấn đề thu hồi đất sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng đến thu nhập
của người dân ................................................................................................................14
1.2.1. Thực tiễn thu hồi đất nông nghiệp ở nước ta.......................................................14
1.2.1.2 Một số hoạt động thực tiễn về thu hồi đất nông ngiệp ở Việt Nam ..................15
1.2.2. Thực trạng của hoạt động thu hồi đất sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng đến thu
nhập của người dân ở Việt Nam:...................................................................................19
1.2.3. Thực trạng của hoạt động thu hồi đất sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng đến thu
nhập của người dân tỉnh Thừa Thiên Huế:....................................................................21
CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG
NGHIỆP ĐẾN THU NHẬP CỦA NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN XÃPHONG
AN, HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ. ....................................23
2.1. Tổng quan về xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa thiên Huế ..................23
2.1.1. Điều kiện tự nhiên ...............................................................................................23
2.1.1.1. Vị trí địa lý........................................................................................................23
2.1.1.2.Diện tích tự nhiên và địa hình ...........................................................................24
2.1.1.3.Về khí hậu..........................................................................................................24
2.1.2. Tài nguyên ...........................................................................................................24

ii


2.1.2.1.Đất đai................................................................................................................24
2.1.2.2. Rừng .................................................................................................................25
2.1.2.3. Nguồn nước ......................................................................................................26
2.1.2.4. Khoáng sản .......................................................................................................26
2.1.3. Điều kiện kinh tế - xã hội ....................................................................................26
2.1.3.1. Nhân lực – Lao động ........................................................................................26
2.1.4. Đánh giá chung về điều kiện, kinh tế - xã hội:....................................................31
2.2. Thực trạng thu hồiđất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Phong An, huyện
Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế: ...............................................................................32
2.3. Nguồn thu nhập từ đền bù đất của các hộ: .............................................................32
2.4. Ảnh hưởng của thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đến thu nhập của người dân trên
địa bàn xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh TT.Huế ................................................33
2.4.1. Thông tin cơ bản của các hộ điều tra...................................................................33
2.4.2. Lao động và việc làm của những hộ điều tra sau khi bị thu hồi..........................35
2.4.3 Thu nhập bình quân của các hộ trước và sau khi bị thu hồi đất sản xuất nông
nghiệp: ...........................................................................................................................37
2.5. Đánh giá về tác động thu hồi đất để phát triển đô thị với sự phát triển của xã
Phong An: ......................................................................................................................40
2.5.1. Tác động tích cực: ...............................................................................................40
2.5.2. Tác động tiêu cực: ...............................................................................................40
2.6. Ý kiến của các hộ bị thu hồi ...................................................................................41
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
THU NHẬP CỦA NGUỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN XÃ PHONG AN,HUYỆN
PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ.............................................................42
3.1. Định hướng nhằm nâng cao thu nhập của người dân trên địa bàn xã Phong An,
huyện Phong Điền, Tỉnh TT.Huế ..................................................................................42
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập của nguời dân trên địa bàn xã Phong
An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế...............................................................42
3.2.1. Phát triển kinh tế trên địa bàn xã:........................................................................43
3.2.2. Giải pháp cho các nhóm hộ bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp:.......................44
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................45
1. Kết luận: ....................................................................................................................45
2. Kiến nghị: ..................................................................................................................45
2.1. Đối với nhà nước ....................................................................................................46
2.2. Đối với chính quyền cơ sở......................................................................................46
2.3. Đối với hộ nông dân ...............................................................................................46
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................47

iii


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH – HĐH
KHHGĐ
KKT,CN
VSATTP
NTTS
HTX
HĐND
UBND
THCS
THPT
UBNDMTTQ
ĐVT

: Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
: Kế hoạch hóa gia đình
: Khu kinh tế, công nghiệp
: Vệ sinh an toàn thực phẩm
: Nuôi trồng thủy sản
: Hợp tác xã
: Hội đồng nhân dân
: Ủy ban nhân dân
: Trung học cơ sở
: Trung học phổ thông
: Ủy ban nhân dân mặt trận tổ quốc
: Đơn vị tính

iv


DANH MỤC BẢNG
Bảng I.1: Thu hồi đất ở Thừa Thiên Huế giai đoạn 2015-2017 ....................................22
Bảng II.1: Diện tích các loại đất xã Phong An năm 2016 .............................................25
Bảng II. 2: Tình hình thu hồi đất ở xã Phong An giai đoạn 2008 – 2017 .....................32
Bảng II.3: Phân tổ các hộ điều tra theo diện tích đất bị thu hồi ....................................33
Bảng II.4: Tình hình cơ bản của các hộ điều tra sau thu hồi đất tại xã Phong An, huyện
Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. ...............................................................................34
Bảng II.5: Diện tích đất nông nghiệp bình quân của các nhóm hộ. ..............................35
Bảng II.6: Mức độ tăng giảm nguồn của các nhóm hộ. ................................................37
Bảng II.7: Thu nhập bình quân từ hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp trước và
sau khi thu hồi đất..........................................................................................................38
Biểu đồ II.1: Bình quân diện tích đất nông nghiệp củahộ dân trước và sau khi thu hồi.
.......................................................................................................................................36
Biểu đồ II.2: Thu nhập bình quân của các nhóm hộ trước và sau thu hồi.....................39

v


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Bảng I.1: Thu hồi đất ở Thừa Thiên Huế giai đoạn 2015-2017 ....................................22
Bảng II.1: Diện tích các loại đất xã Phong An năm 2016 .............................................25
Bảng II. 2: Tình hình thu hồi đất ở xã Phong An giai đoạn 2008 – 2017 .....................32
Bảng II.3: Phân tổ các hộ điều tra theo diện tích đất bị thu hồi ....................................33
Bảng II.4: Tình hình cơ bản của các hộ điều tra sau thu hồi đất tại xã Phong An, huyện
Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. ...............................................................................34
Bảng II.5: Diện tích đất nông nghiệp bình quân của các nhóm hộ. ..............................35
Biểu đồ II.1: Bình quân diện tích đất nông nghiệp của .................................................36
hộ dân trước và sau khi thu hồi. ....................................................................................36
Bảng II.6: Mức độ tăng giảm nguồn của các nhóm hộ. ................................................37
Bảng II.7: Thu nhập bình quân từ hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp trước và
sau khi thu hồi đất..........................................................................................................38
Biểu đồ II.2: Thu nhập bình quân của các nhóm hộ trước và sau thu hồi.....................39

vi


ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ

1. Thông tin chung
1.1. Tên đề tài:Ảnh hưởng trong việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đến thu
nhập của người dân trên địa bàn xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên
Huế
1.2. Mã số đề tài: SV2017-01-10
1.3. Chủ nhiệm đề tài: Hoàng Thị Tú Uyên
1.4. Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế
1.5. Thời gian thực hiện:
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu thu nhập của người dân sau khi bị thu hồi đất sản xuất nong nghiệp để
xây dựng bệnh viên Trung Ương cơ sở 2, đề ra một số giải pháp nhằm đảm bảo thu
nhập co các hộ nông dân tại xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
3. Tính mới và sáng tạo (nêu điểm mới, sáng tạo trong đề tài; trong khoảng 100 từ)
Nhóm đánh giá về việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng đến thu nhập
của người dân trước và sau khi bị thu hồi. Sau quá trình nghiên cứu nhóm sẽ đưa ra
những định hướng, giải pháp và kiến nghị có thể giúp thực hiện tốt hơn trong công tác
thu hồi và hỗ trợ việc làm.
4. Các kết quả nghiên cứu thu được:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động thu hồi đất ảnh
hưởng đến thu nhập của người dân.
- Nghiên cứu và đánh giá về hoạt động thu hồi đất sản xuất nông nghiệp ảnh
hưởng đến thu nhập của người dân trên địa bàn xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh
Thừa Thiên Huế.
vii


- Từ đó có định hướng và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho
người dân sau khi đất sản xuất nông nghiệp bị thu hồi ở xã Phong An, huyện Phong
Điền, TT.Huế.
5. Các sản phẩm của đề tài (nếu có):
- 5 bài báo cáo
- 5 bản tóm tắt
6. Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và
khả năng áp dụng của đề tài:
Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội
Ngày ……. tháng ….. năm 20….

Ngày ……. tháng ….. năm 20….

Giáo viên hướng dẫn

Sinh viên chịu trách nhiệm
chính của đề tài

viii


PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và nó cũng là
yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác
trên trái đất. Các Mác viết: “Đất đai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện để
sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản
trong nông, lâm nghiệp”. Và ruộng đất là một tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc bệt
không thể thay thế được. Việc sử dụng hợp lý đất đai để phục vụ cho sự phát triển kinh
tế - xã hội, an ninh, quốc phòng là một trong những vấn đề đáng quan tâm của các cấp
chính quyền.Nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của nước
ta. Trước áp lực của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa đang diễn ra
một cách mạnh mẽ như trong những năm vừa qua, một phần ruộng đất của người dân
đã và đang được sử dụng làm đất ở, đất sản xuất nông nghiệp của người dân bị thu hồi
để chuyển sang các mục đích sử dụng phi nông nghiệp như: xây dựng các khu công
nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị hoặc là các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng… Do đó,
diện tích đất sản xuất nông nghiệp nay ngày càng hạn hẹp nhằm phục vụ cho CNH –
HĐH và các công trình phúc lợi cho nhân dân.
Quá trình phát triển CNH – HĐH đã mang lại sự phát triển về kinh tế- xã hội
tạo công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập cho người dân địa phương, các công trình
phúc lợi đã đem lại điều kiện sống, đáp ứng nhu cầu về y tế giáo dục cho người dân.
Tuy nhiên cùng với sự phát triển đó thì chí ít đều có những tác động tiêu cực đến cuộc
sống của những hộ dân có đất bị thu hồi. Xã Phong An, Huyện Phong Điền, Tỉnh TTHuế là địa phương có tỷ lệ dân số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp rất lớn. Vì thế
để đảm bảo được thu nhập cho hộ nông dân là vấn đề rất được quan tâm khi mà các
công trình phúc lợi tại xã được xây dựng ngày càng nhiều và diễn ra với tốc độ chóng
mặt. Song song với quá trình phát triển đó là việc thu hồi đất sản xuất, đã có những tác
động rất lớn đến thu nhập của hàng loạt hộ gia đình. Sau khi bị thu hồi đất đã có
những hộ đã chuyển sang nghành nghề khác khi họ được một khoản tiền bồi thường và
hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và cũng có những hộ phải đối diện với tình trạng mất
việc làm. Vậy thu nhập của họ sẽ thay đổi như thế nào khi mà đất đã bị hồi, với trình
độ dân trí thì thấp, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và quen với lao động chân tay?Vì
vậy, vấn đề của việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng đến thu nhập của
người dân là vấn đề rất cấp thiết hiện nay, Làm sao để việc thu hồi đất vừa phục vụ
cho sự phát triển kinh tế - xã hội nhưng không làm ảnh hưởng quá lớn đến cuộc sống
hay quan trọng hơn là thu nhập của họ, đó là một bài toán khó.
Và đó là lý do mà nhóm đã lựa chọn đề tài: “Ả nh hư ở ng trong việ c thu hồ i đấ t
sả n xuấ t nông nghiệ p đế n thu nhậ p củ a ngư ờ i dân trên đị a bàn xã Phong An,
huyệ n Phong Điề n, tỉ nh Thừ a Thiên Huế ”.

1


2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung:
Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lí luận, thực tiễn, phân tích thu nhập của người
dân sau khi bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng bệnh viên Trung Ương cơ
sở 2, từ đólàm rõ ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của việc thu hồi đất sản xuất nông
nghiệp phục vụ cho công trình phúc lợi. Trêncơ sở đó, đề ra một số giải pháp nhằm
đảm bảo thu nhập co các hộ nông dân tại xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa
Thiên Huế.
2.2. Mục tiêu cụ thể:
Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến việc thu hồi đất sản
xuất nông nghiệp ảnh hưởng đến thu thập của người dân trên địa bàn xã Phong An,
huyện Phong Điền, Tỉnh TT-Huế.
Đánh giá được mức độ tác động của việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đến
thu nhập của người dân trên địa bàn xã Phong An, huyện Phong Điền, Tỉnh TT-Huế.
Từđó, đề xuất những giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn trong việc thu hồi đất
sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng đến thu thập của người dân trên địa bàn xã Phong An,
huyện Phong Điền, Tỉnh TT-Huế.
3. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
- Quan điểm: Vấn đề nghiên cứu được tiếp cần dựa trên quan điểm hệ thống cấu trúc, tức là xem xét vấn đề nghiên cứu trong mối quan hệ với các vấn đề khác đã
và đang tồn tại trên địa bàn nghiên cứu cũng như xem đó là một vấn đề trong tổng thể
các hoạt động kinh tế - xã hội. Ngoài ra, chúng tôi còn xem xét vấn đề nghiên cứu dựa
trên phương diện quản lý và kinh tế hơn là tiếp cận về mặt kỹ thuật.
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp thu thập số liệu:
Số liệu thứ cấp: các thông tin, các dữ liệu sẵn có về quá trình thu hồi đất, bồi
thường và hỗ trợ khi thu hồi đất.
Số liệu sơ cấp: số liệu sơ cấp được thu thập thông qua quá trình phỏng vấn hộ
có đất bị thu hồi tại xã Phong An. Tổng số hộ điều tra là 16 hộ
* Công cụ xử lý và phương pháp phân tích số liệu:
- Công cụ xử lý số liệu: số liệu thứ cấp được tổng hợp và xử lý bằng MS. Excel
2007, còn số liệu sơ cấp được tổng hợp và xử lý bằng SPSS 16.0.
- Phương pháp phân tích số liệu: phương pháp thống kê mô tả, so sánh; phương
pháp chỉ số bình quân.
2


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng trong việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp
đến thu nhập của người dân trên địa bàn xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh T.T
Huế.
- Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Về nội dung: tập trung phân tích số liệu thứ cấp về việc thu hồi đất sản xuất
nông nghiệp ảnh hưởng đến thu nhập của người dân theo một số tiêu chí, bên cạnh đó
phân tích ảnh hưởng của việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đến thu nhập của người
dân dưới góc độ người dân/hộ gia đình (thông qua điều tra hộ) ở xã Phong An, huyện
Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

3


PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ THU HỒI ĐẤT
SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP CỦA NGƯỜI DÂN.
1.1. Cơ sở lí luận về vấn đề thu hồi đất sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng đến thu
nhập của người dân
1.1.1 Khái quát đấ t nông nghiệ p

1.1.1.1Khái niệm về đất nông nghiệp
Theo quan niệm truyền thống của người Việt Nam thì đất nông nghiệp thường
được hiểu là đất trồng lúa, trồng cây hoa màu như: ngô, khoai, sắn và những loại cây
được coi là lương thực. Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng đất nông nghiệp tương đối
phong phú, không chỉ đơn thuần là để trồng lúa, hoa màu mà còn dùng vào mục đích
chăn nuôi gia súc, nuôi trồng thủy sản hay để trồng các cây lâu năm…
Trước đây, Luật đất đai năm 1993 quy định về đất nông nghiệp tại Điều 42 như
sau: “Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông
nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về
nông nghiệp.”
Với quy định của Luật đất đai năm 1993, đất đai của Việt Nam được chia thành
sáu loại: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất khu dân cư nông thôn,
đất đô thị, đất chưa sử dụng. Theo sự phân loại này đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp
được tách riêng thành hai loại đất nằm trong sáu loại đất thuộc vốn đất quốc gia và
được định nghĩa theo Điều 42 và Điều 43 của Luật đất đai năm 1993. Tuy nhiên, sự
phân loại này dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau, vừa căn cứ vào mục đích sử dụng chủ
yếu, vừa căn cứ vào địa bàn sử dụng đất đã dẫn đến sự đan xen, chồng chéo giữa các
loại đất, không có sự tách bạch về mặt pháp lý gây khó khăn cho công tác quản lý đất
đai.[1]
Để khắc phục những hạn chế đó, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho người sử
dụng đất thực hiện các quyền của mình trong việc sử dụng đất. Luật đất đai năm 2003
đã chia đất đai thành ba loại với tiêu chí phân loại duy nhất là căn cứ vào mục đích sử
dụng chủ yếu: nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử
dụng
Như vậy, chúng ta đã mở rộng khái niệm đất nông nghiệp với tên gọi “nhóm đất
nông nghiệp” thay cho “đất nông nghiệp” trước đây. Theo quy định Luật đất đai năm
2003 có thể hiểu nhóm đất nông nghiệp là tổng thể các loại đất có đặc tính sử dụng
giống nhau, với tư cách là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho mục đích nông nghiệp,
lâm nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, khoanh nuôi tu
bổ bảo vệ rừng, nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp. - Khái niệm và
phân loại đất sản xuất nông nghiệp:

4


Đất nông nghiệp hay còn gọi là đất canh tác, đất trồng trọt là những vùng đất,
khu vực thích hợp cho sản xuất, canh tác nông nghiệp, bao gồm cả trồng trọt và chăn
nuôi. Đây là một trong những nguồn lực chính trong nông nghiệp.[1]
1.1.1.2 Phân loại đất nông nghiệp
Theo quy định tại khoản 1 Điều Luật đất đai năm 2003 nhóm đất nông
nghiệp bao gồm các loại đất sau:
Đất sản xuất nông nghiệp: Là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản xuất
nông nghiệp. Bao gồm đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm.
Đất lâm nghiệp: Là đất có rừng tự nhiên hoặc có rừng trồng, đất khoanh nuôi
phục hồi rừng (đất đã giao, cho thuê để khoanh nuôi, bảo vệ nhằm phục hồi rừng
bằng hình thức tự nhiên là chính), đất để trồng rừng mới (đất đã giao, cho thuê để
trồng rừng và đất có cây rừng mới trồng chưa đạt tiêu chuẩn rừng). Theo loại rừng
lâm nghiệp bao gồm: đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng.
Đất nuôi trồng thuỷ sản: Là đất được sử dụng chuyên vào mục đích nuôi,
trồng thuỷ sản, bao gồm đất nuôi trồng nước lợ, mặn và đất chuyên nuôi trồng nước
ngọt.
Đất làm muối: Là đất các ruộng để sử dụng vào mục đích sản xuất muối.
Đất nông nghiệp khác: Là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính
(vườn ươm) và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức
trồng trọt không trực tiếp trên đất, xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và
các loại động vật khác được pháp luật cho phép, đất để xây dựng trạm, trại nghiên
cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, xây dựng cơ sở ươm
tạo cây giống, con giống, xây dựng nhà kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa
nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp.
Như vậy.có thể thấy nhóm đất nông nghiệp bao gồm những loại đất được sử dụng chủ
yếu vào mục đích sản xuất đất nông nghiệp, lâm nghiệp đó là diện tích trồng các cây
lương thực như lúa, ngô, khoai, sắn,đất trồng các cây lâu năm có giá trị kinh tế cao
như dừa, cam, chanh, bưởi…[1]
Diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản; đất rừng sản xuất, đất rừng phòng
hộ, đất rừng đặc dụng trong đó có đất rừng tự nhiên và đất rừng trồng.
Ngoài ra có những loại đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ.
Theo Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai thì
đất nông nghiệp khác là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại
nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt kể cả hình thức trồng trọt không trực tiếp trên
đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được
pháp luật cho phép; xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm
nghiệm, làm muối, thủy sản, xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống; xây dựng

5


kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón,
máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp.[1]
Ở nước ta, nhóm đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ tương đối lớn trong vốn đất đai
của cả nước, loại đất này được phân bố rộng khắp trên phạm vi cả nước và đóng một
vai trò quan trọng trong đời sống cũng như sự phát triển kinh tế của đất nước.[1]
1.1.1.3. Vai trò đất nông nghiệp
Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên có vai trò vô cùng to lớn. Nó vừa là
sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản ph ẩm của lao động. Là tư liệu sản xuất đặc biệt
không thể thay thế được, không thể thiếu đối với các ngành sản xuất xã hội và đời
sống con người.Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và nó
cũng là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh
vật khác trên trái đất.
Trong sản xuất nông nghiệp nói chung đất đai có vị trí đặc biệt. Đất đai vừa
là tư liệu sản xuất vừa là đối tượng lao động[2]. Đất chính là một trong những yếu tố
quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn vong của loài người.Từ xa xưa, đất đã gắn chặt với
cuộc sống của người dân, của đất nước.Đất là nơi làm nhà, là nơi con người tạo ra của
cải vật chất phục vụ cho bản thân mình. Người dựa vào đất, lấy đất là điểm tựa tinh
thần .Ông cha ta đã có câu “Tấc đất tấc vàng”.Đất quý như vàng, đất quý hơn
vàng.Đất gắn liền với lòng tự trọng của dân tộc và là niềm tự hào của đất nước.Trong
cuộc sống mỗi người trong một cộng đồng đều có những nét riêng và đôi khi họ bất
đồng với nhau về mặt này mặt khác. Song khi đứng trước một cộng đồng một quốc
gia khác họ đều có chung một lòng tự trọng, một niềm tự hào dân tộc, vì họ có cùng
quê hương, đất nước. Đất là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng đối với con người
vì đất là môi trường sống trên cạn và con người. Cùng với sản xuất nông nghiệp, đất
cung cấp lương thực, thực phẩm – một nhu cầu không thể thiếu được đối với cuộc
sống con người.Bên cạnh đó đất là nguồn tài nguyên khoáng sản và năng lượng chứa
trong nó, đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của mỗi
quốc gia. Theo luật: “Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu
sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn
phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc
phòng”. Đất là một trong những nguồn lực quan trọng trong các nghành sản xuất.
Trong công nghiệp đất đai là nền móng, làm địa điểm xây dựng hạ tầng cơ sở như:
nhà xưởng, đường giao thông, làm cơ sở để tiến hành thao tác. Độ phì của đất không
có tác dụng gì đối với vấn đề sản xuất ra sản phẩm của các nghành công nghiệp và
xây dựng.Tuy nhiên, đối với nghành nông nghiệp độ phì của đất lại rất quan trọng có
tác động đến năng suất, sản lượng của cây trồng và vật nuôi. Trong nông nghiệp đất
đai đóng vai trò vô cùng quan trọng “Bản thân đất đai phát sinh như một tư liệu sản
xuất”. Đối với sinh vật, đất là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng. Năng
suất cây trồng vật nuôi phụ thuộc vào chất lượng đất đai. Quá trình lao động và sản
6


xuất ra sản phẩm có quan hệ mật thiết với những đặc tính của đất, chất lượng đất
quyết định. Vì vậy, đất đai có một vị trí quan trọng trong các nghành sản xuất đặc biệt
là sản xuất Nông nghiệp. Đất là nguồn lực quan trọng để con người tiến hành được
các hoạt động sản xuất vật chất.[3]
1.1.2 Khái quát về thu nhập và tác động của việc thu hồi đất sản xuất nông
nghiệp ảnh hưởng đến thu nhập của người dân
1.1.2.1 Khái niệm và vai trò của thu nhập:
- Khái niệm thu nhập:
+ Trong kinh tế học vĩ mô: thu nhập là thu nhập quốc dân (chỉ số kinh tế xác
định tổng thu nhập của một quốc gia trong một thời gian, thường là một năm. Đây là
chỉ tiêu đo thực lực của quốc gia)
+ Trong kinh tế học vi mô:
Trong kinh tế cá nhân/gia đình là gồm thu nhập cá nhân, từ lao động (tiền công,
tiền lương bao gồm cả lương hưu, các khoản trợ cấp bao gồm cả học bổng) và thu
nhập tài chính (lãi tiết kiệm, lãi mua bán chứng khoán, thu từ cho thuê bất động sản)
và các thu nhập khác (tiền thưởng).
Thu nhập là khoản của cải thường được tính thành tiền mà một cá nhân, doanh
nghiệp hoặc một nền kinh tế nhận được trong một khoảng thời gian nhất định từ công
việc, dịch vụ hoặc hoạt động nào đó.
Thu nhập có thể gồm các khoản như tiền lương, tiền công, tiền cho thuê tài sản,
lợi nhuận kinh doanh.
Thu nhập có thể có được từ nhiều nguồn khác nhau, có thể từ lao động, từ việc
sở hữu những giấy tờ có giá trị, từ thừa kế, được tặng cho...[4]
- Vai trò của thu nhập:
+ Đảm bảo khả năng tái sản xuất sức lao động cho xã hội. Người lao động tái
sản xuất sức lao động của mình thông qua các tư liệu sinh hoạt nhận được từ khoản
tiền lương của họ.
+ Thu nhập đóng vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định trong việc ổn định và
phát triển kinh tế gia đình.[4]
1.1.1.5. Vai trò của đất sản xuất nông nghiệp đối với thu nhập:
Trong sản xuất nông nghiệp thì đất đai có vai trò quan trọng, là công cụ lao
động không thể thay thể. Độ phì nhiêu của đất là thức ăn thiết yếu cho cây trồng, từ đó
cây trồng có thể sinh trưởng phát triển, tạo nguồn thu nhập tốt cho người nông dân. Do
đó đất sản xuất nông nghiệp có những vai trò đến thu nhập:

7


- Đất sản xuất nông nghiệp là một yếu tố đầu vào cơ bản để thực hiện hoạt động
sản xuất nông nghiệp, từ hoạt động sản xuất nông nghiệp để từ đó đem về một mức thu
nhập từ việc bán sản phẩm. Không có đất nông nghiệp thì con người sẽ không thể thực
hiện quá trình trồng trọt, hay chăn nuôi được. Vì vậy, việc xử dụng hợp lý, và khai
thác có hiệu quả đất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng đểphát triển nông nghiệp một
cách bền vững. Từ đó, người nông dân có thể tạo ra mức thu nhập ổn đinh.
- Đất sản xuất nông nghiệp cũng có thể sử dụng để cho thuê.
- Đất sản xuất nông nghiệp có thể được bán.
- Đất sản xuất nông nghiệp cũng đem lại thu nhập cho người dân khi bị thu hồi
và có đền bù.[4]
1.1.2.2 Sự cần thiết và vấn đề đăt ra của việcthu hồi đất:
+ Sự cần thiết
Quá trình ĐTH và Xấy dựng các công trình phúc lợi đã và đang diễn ra một
cách mạnh mẽ, nhanh chóng để phục vụ cho sự phát triển của cả nước, đưa nước ta từ
nước có nền nông nghiệp lạc hậu trở thành nước có nền CNH – HĐH, phát triển về
mọi mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, y tế, giáo dục, môi trường,…. Trong quá trình đó thì
việc thay đổi mục đích sử dụng của nguồn lực về đất đailà không thể tránh khỏi. Vì
vậy, sẽ có một phần đất sản xuất nông nghiệp được thu hồi để chuyển sang phục vụ
cho việc xây dựng các khu cong nghiệp, khu chế xuất, xây dựng kết cấu hạ tầng, các
công trình phúc lợi xã hội, hay mở rộng các khu đô thị cũ và xây dựng các khu đô thị
mới, xấy dựng các con đườnng đi lại, các trung tâm bệnh viện, trường học,…. Vì vậy,
quá trình xây dựng càng xuất hiện thì việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp là điều
hiển nhiên. Khi đó, chúng ta có thể thấy được sự cần thiết của việc thu hồi đất sản
xuất:
Thu hồi đất để tạo điều kiện xây dựng hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng phục
vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh – quốc phòng.
Thu hồi đất để tiến hành xấy dựng mở rộng các khu công nghiệp, khu chế xuất
các dự án nhằm thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, đưa nền kinh tế của nước ta
lên tầm cao mới.
Thu hồi đất để thực hiện các cụm công nghiệp, xây dựng các khu đô thị mới, từ
đó tạo thêm việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Thu hồi đất để thực hiện các công trình phúc lợi giúp đỡ người dân nâng cao
trình độ văn hóa, đảm bảo sức khỏe cho mội người.[5]
+Các vấn đề đặt ra
Thứ nhất, giá bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất còn thấp, chưa sát với giá thị
trường. Thực hiện Luật Đất đai năm 2013, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì

8


xây dựng trình Chính phủ ban hành Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy
định về giá đất; Nghị định số 104/2014/NĐ-CP ngày 14/11/2014 quy định về khung
giá đất. Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã ban hành Thông tư số 36/2014/TTBTNMT ngày 30/6/2014 quy định chi tiết phương pháp định giá đất, xây dựng, điều
chỉnh bảng giá đất, định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất; Thông tư số
20/2015/TT-BTNMT ngày 20/4/2015 ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật để lập dự
toán ngân sách nhà nước phục vụ công tác định giá đất. Các văn bản quy phạm pháp
luật này đã tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho công tác định giá đất tại địa phương.
Tuy nhiên, giá đất bồi thường chủ yếu thực hiện theo bảng giá nên còn thấp so với giá
đất thị trường; còn tình trạng không thống nhất về cơ chế bồi thường giữa các dự án
đầu tư có nguồn vốn trong nước và dự án từ vốn vay của các ngân hàng nước ngoài.
Mặc dù đạt được những thành tựu cơ bản nhưng chính sách tài chính đất đai còn nhiều
mặt hạn chế như: Việc quản lý nhà nước về giá đất còn bất cập, chưa theo sát thị
trường. Bảng giá công bố tại các địa phương chỉ bằng khoảng 30% - 60% so giá thị
trường”[5].
Thể chế về việc xác định giá đất còn chưa phù hợp với quy luật của nền kinh tế
thị trường. Giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Ủy ban
nhân dân tỉnh) quy định được công bố công khai vào ngày 01/01 hàng năm được sử
dụng làm căn cứ để bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; tính tiền bồi thường đối với
người có hành vi vi phạm pháp luật đất đai mà gây thiệt hại cho Nhà nước. Việc quy
định phạm vi áp dụng khung giá do Nhà nước để xác định giá bất động sản với phạm
vi rộng trong đó có các quan hệ mang bản chất của quan hệ dân sự như quan hệ giao,
cho thuê đất… đã ảnh hưởng lớn đến quyền và lợi ích của các chủ thể khi giá do Nhà
nước xác định thấp hơn giá thị trường, đặc biệt khi Nhà nước thu hồi đất. Đây là một
trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng khiếu kiện, tham nhũng trong
lĩnh vực đất đai trong thời gian vừa qua.
Khi bồi thường thiệt hại thu hồi đất, nếu giá đất sát giá chuyển nhượng thực tế
trên thị trường trong điều kiện bình thường thì rất thuận lợi. Tuy nhiên, thị trường bất
động sản vẫn đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển, tình trạng “nóng - lạnh” bất
thường, hiện tượng đầu cơ khá phổ biến, giá đất chịu tác động rất lớn từ thông tin quy
hoạch, công bố dự án... trong khi đó các công cụ quản lý nhà nước về đất đai còn hạn
chế và chưa đồng bộ dẫn đến việc định giá đất theo “sát thị trường” đang còn rất khó
khăn. Trên thực tế vẫn còn tồn tại song song hai loại giá đất: Giá đất theo quy định của
cơ quan nhà nước và giá đất theo thị trường. Hai loại giá đất này có biên độ dao động
rất lớn. Trên thực tế, giá đất do Nhà nước xác định thường thấp hơn giá đất theo thị
trường và lạc hậu hơn so với giá đất trên thị trường. Điều này gây rất nhiều khó khăn
cho quản lý nhà nước về đất đai dưới khía cạnh kinh tế, đặc biệt trong việc áp dụng giá
đất để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.

9


Việc định giá đất thị trường mới cơ bản thực hiện được đối với đất ở, còn đất
sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp thì hiện nay chưa có phương pháp định giá phù
hợp trong điều kiện của Việt Nam, nhiều địa phương căn cứ vào giá đất do Ủy ban
nhân dân quy định cho loại đất ở để tính giá đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp,
theo đó, giá đất phi nông nghiệp bằng khoảng từ 40% - 60% giá đất ở. Do sự phát triển
của thị trường bất động sản vận động liên tục và thiếu ổn định đã làm cho mức giá bị
giới hạn trong khung giá quy định trở nên lạc hậu, thấp xa so với thị trường, nhất là tại
các thành phố, khu vực có tốc độ đô thị hóa nhanh. Hiện mức giá trong bảng giá công
bố tại các địa phương chỉ bằng khoảng 40% - 60% so với giá thị trường[6].
Đây cũng là một trong những vấn đề gây ra nhiều khiếu kiện về bồi thường, hỗ
trợ khi Nhà nước thu hồi đất. Việc áp giá đất bồi thường khi Nhà nước thu hồi theo
khung giá đất mà Nhà nước công bố thấp hơn rất nhiều so với giá thị trường tại thời
điểm đó. Bảng giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành hằng năm là thấp hơn nhiều
so với thực tế giá đất thị trường. Và khi sử dụng giá đất theo bảng giá đất mà Ủy ban
nhân dân tỉnh ban hành để áp giá bồi thường là cứng nhắc, chưa hợp lý, bởi giá đất
trên thị trường có sự biến động theo từng ngày. Việc bồi thường về nhà đất khi Nhà
nước thu hồi là chưa tương xứng, không thể tính hết các chi phí mà người dân đã bỏ
ra. Giá đất bồi thường hỗ trợ thời gian qua chưa bảo đảm để người dân phục hồi lại sản
xuất, kinh doanh và tái tạo, ổn định lại cuộc sống như trước khi bị thu hồi đất. Chính vì
vậy dẫn đến việc người dân không đồng ý với phương án bồi thường, không tự nguyện
chấp hành quyết định thu hồi đất.
Thứ hai, liên quan đến trình tự, thủ tục bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất vẫn
còn tồn tại tình trạng thiếu công khai, minh bạch và ở mức độ nào đó là sự áp đặt, tùy
tiện của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thu hồi, bồi thường thiệt hại
Từ ngày 01/7/2004 đến nay, liên quan đến lĩnh vực bồi thường thiệt hại khi thu
hồi đất, đã có rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau điều chỉnh, từ các cơ
quan nhà nước ở trung ương đến các văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân
tỉnh, ngoài ra còn có một số văn bản mang tính chất đặc thù khi triển khai các dự án cụ
thể. Mặt khác, một số quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan
nhà nước ở trung ương lại cứng nhắc, không tạo cơ chế linh hoạt cho địa phương,
không phù hợp với hoàn cảnh thực tế của địa phương, thậm chí không thực hiện được.
Thứ ba, về cơ quan tổ chức thực hiện bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất không
thống nhất đầu mối
Hội đồng bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng trên địa bàn cấp tỉnh: Hội
đồng này do Ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (Ủy ban nhân dân
huyện) thành lập, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện làm Chủ tịch Hội đồng và các
thành viên Hội đồng gồm đại diện lãnh đạo:

10


- Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện;
- Chủ đầu tư;
- Phòng Tài chính huyện;
- Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện;
- Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thực hiện dự án;
- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã.
Một số thành viên khác do Chủ tịch Hội đồng giải phóng mặt bằng quyết định
cho phù hợp với thực tế tại huyện.
Hội đồng này có nhiệm vụ chỉ đạo công tác giải phóng mặt bằng, triển khai
công tác kiểm kê, áp giá bồi thường, lập phương án bồi thường, di dời, tái định cư, xử
lý các vướng mắc, tổng hợp đề xuất trình Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt, chỉ đạo
giải quyết.
Khi dự án có thu hồi đất trên địa bàn từ hai huyện trở lên (thuộc phạm vi khu
kinh tế, khu công nghiệp mở rộng, có một phần diện tích đất của huyện), có diện tích
thu hồi đất lớn thì Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định thành lập Hội đồng giải phóng mặt
bằng tỉnh do lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh làm Chủ tịch, các thành viên Hội đồng
gồm đại diện lãnh đạo:
- Các Trung tâm Phát triển quỹ đất của hai huyện;
- Chủ đầu tư hoặc Ban Quản lý dự án;
- Sở Tài chính;
- Sở Tài nguyên và Môi trường;
- Sở Xây dựng;
- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh;
- Ủy ban nhân dân hai huyện có đất bị thu hồi;
- Ủy ban nhân dân cấp xã có đất bị thu hồi.
Thứ tư, vướng mắc về phía người dân bị thu hồi đất khi được bồi thường thiệt
hại
Người dân thường có những hành vi cản trở quá trình thu hồi đất, không chịu
bàn giao mặt bằng khi đã có quyết định thu hồi đất; nhiều hộ dân cản trở tiến độ thi
công công trình, “chây ì” không chịu nhận tiền bồi thường, không chịu di dời đến nơi
ở mới.[6]

11


1.1.2.3 Tác động của việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng đến người dân
Vấn đề sinh kế của người dân sau thu hồi đất nông nghiệp đang là vấn đề quan tâm của
các địa phương trong phạm vi cả nước. Đặc biệt là trong giai đoạn gần đây ở nước ta,
diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi hàng năm khá lớn do quá trình đô thị hoá và phát
triển cơ sở hạ tầng và số người có sinh kế khó khăn sau thu hồi đất ngày càng gia tăng.
Khi thu hồi đất.
Nhà nước có chính sách bồi thường thiệt hại về đất, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và
ổn định đời sống và thực tế là có những hộ có thu nhập cao hơn so với trước khi thu
hồi đất, nhưng vẫn có một số hộ dân vẫn khó khăn trong việc tạo lập sinh kế của mình.
Họ vẫn bám víu vào diện tích đất ít ỏi còn lại do việc tìm kiếm việc làm mới và trình
độ tay nghề để chuyển đổi công việc không dễ dàng.
Thực tế cho thấy rằng đa số chủ hộ có đất nông nghiệp bị thu hồi đều lớn tuổi, trình độ
văn hóa thấp. Lao động lớn tuổi chiếm đa số và ít người được học hành nhưng đối
tượng này lại là những người phải gánh vác trách nhiệm quan trọng trong việc đảm
bảo sinh kế của hộ, là những lao động chính tạo thu nhập cho hộ.
Bình quân diện tích đất nông nghiệp sau thu hồi đất của các nhóm hộ giảm dẫn đến
bình quân diện tích đất nông nghiệp trên lao động nông nghiệp giảm đáng kể.[7]
* Thay đổi về nguồn vốn tự nhiên
Hiện tại hầu như còn rất ít quỹ đất dự trữ để bồi thường, nên khi Nhà nước thu hồi đất
để thực hiện các dự án thì phương thức bồi thường được thực hiện nhiều nhất là bồi
thường bằng tiền. Cùng với bồi thường thiệt hại, việc hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp
cũng được thực hiện bằng tiền. Mặt khác, đa số người dân đều muốn được bồi thường,
hỗ trợ theo hình thức này vì với người nông dân có một khoản tiền mặt lớn là ước mơ
của họ. Do vậy đại đa số hộ bị thu hồi đất nông nghiệp đều bồi thường và hỗ trợ bằng
tiền.
Như vậy, nguồn vốn tự nhiên (đất đai) được chuyển thành nguồn vốn tài chính. Trước
đây đất đai là phương tiện tạo sinh kế quan trọng của hộ nông dân, bây giờ chuyển
thành một khoản tiền. Để đảm bảo sinh kế lâu dài, nguồn vốn này phải được hộ dân sử
dụng vào mục đích đầu tư sản xuất tạo nguồn thu nhập hoặc học nghề để chuyển đổi
nghề nghiệp (vốn con người). Còn nếu sử dụng số tiền này vào mục đích xây dựng nhà
cửa, mua sắm tài sản (vốn vật chất) và các mục đích khác thì sinh kế của người dân về
lâu dài sẽ khó khăn. Khi sinh kế khó khăn họ sẽ bị hạn chế trong việc học hành, khám
chữa bệnh, tiếp cận thông tin…Tức là khi đất nông nghiệp của người nông dân bị thu
hồi họ có thể còn bị mất đi cơ hội để phát triển bản thân, gia đình cũng như tiếp cận xã
hội.[7]

12


*Thay đổi về nguồn vốn xã hội
Cơ hội tiếp cận nguồn vốn xã hội sau khi thu hồi đất được mở ra nhưng ít người dân
tận dụng cơ hội này để cải thiện và thay đổi sinh kế của mình. Khi bị thu hồi đất,
100% hộ gia đình đều nhận hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp (nếu có) bằng tiền mặt
nhưng có rất ít người sử dụng nguồn vốn này cho việc học nghề.
Rất ít số hộ nhận tiền bồi thường, hỗ trợ đầu tư cho việc học nghề và cho con em đi
học.Phần lớn số hộ đều sử dụng nguồn vốn này để đầu tư xây dựng nhà cửa, mua sắm
tài sản, sự đầu tư này là nhu cầu thiết yếu nhưng về mặt xã hội sẽ dẫn đến không bền
vững cho sinh kế người dân. Đây là điều mà các cơ quan chức năng khi thực hiện
phương án bồi thường, hỗ trợ phải quan tâm và có những giải pháp hợp lý và sát với
điều kiện từng địa phương cụ thể.[7]
Khi không còn đất nông nghiệp người dân ít có cơ hội để tiếp xúc, tương trợ nhau, do
vậy nhiều người dân băn khoăn là mất đất dẫn đến “tình làng nghĩa xóm” sẽ dần dần
mất đi. Một thực trạng xảy ra làm không ít người dân lo lắng là khi thiếu đất sản xuất
dẫn đến thời gian rãnh rỗi nhiều, lại có nhiều tiền mặt từ các khoản bồi thường, hỗ trợ
và thu nhập từ làm công của lao động tự do sẽ là tiền đề cho các tệ nạn xã hội như say
bia rượu, nạn cờ bạc gia tăng.[7]
* Thay đổi về nguồn vốn tài chính
Do có sự thay đổi về nguồn vốn đất đai, tư liệu sản xuất chủ yếu của các hộ nông dân
nên dẫn đến thay đổi về lao động và thu nhập của hộ. Điều này chứng tỏ sau thu hồi
đất có sự dịch chuyển lao động nông nghiệp sang lao động phi nông nghiệp. Ngoài ra
có một số hộ dùng nguồn vốn bồi thường, hỗ trợ gửi ngân hàng đã thu được tiền lãi
hàng tháng ổn định.
Thực tế điều tra cho thấy rằng, nhiều người có thu nhập từ lao động tự do cao hơn so
với sản xuất nông nghiệp trước đây, tuy nhiên nguồn thu này rất bấp bênh, thường khó
khăn trong tìm kiếm việc làm vào mùa mưa. Hơn nữa thu nhập bằng tiền mặt hàng
ngày nên cũng dễ tiêu xài, khó tiết kiệm và một lý do mà họ đưa ra là chi tiêu tăng cao
do phải mua nhiều thứ hơn trước đây còn đất nông nghiệp bản thân gia đình tự sản
xuất được.[7]
* Thay đổi về nguồn vốn con người
Họ hiểu rằng trong tình hình đô thị hóa, công nghiệp ngày càng phát triển như hiện
nay muốn có việc làm thì phải có trình độ tay nghề và bằng cấp, tuy nhiên hạn chế lớn
nhất là do tuổi cao, khó khăn trong việc theo học. Do đó họ đầu tư cho con em theo
học, còn bản thân người lớn tuổi (trên 35-40 tuổi) khi mất đất nông nghiệp cách đơn
giản nhất mà họ lựa chọn là làm thuê tự do. Lao động nông nghiệp trước khi chuyển
đổi đất đai đã giảm xuống đáng kể. Lao động phi nông nghiệp tăng mạnh nhất là lao
động tự do.[7]

13


1.2. Cơ sở thực tiễn vấn đề thu hồi đất sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng đến thu
nhập của người dân
1.2.1. Thự c tiễ n thu hồ i đấ t nông nghiệ p ở nư ớ c ta

1.2.1.1Thực tiễn thu hồi đất nông nghiệp ở nước ta
Đất nông nghiệp có thể thu hồi theo các trường hợp thu hồi đất nói chung.
Việc thu hồi đất nông nghiệp cũng thực hiện theo trình tự, thủ tục chặt chẽ, dựa trên
những cơ sở pháp lý xác định nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp cho người sử
dụng đất.
Hiện nay, các trường hơp thu hồi đất do nhu cầu của Nhà nước diễn ra khá phổ
biến, bởi trong tình hình hiện nay, trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhà
nước với tư cách là chủ đầu tư lớn nhất, có nhiệm vụ xây dựng các cơ sở kinh tế, hạ
tầng xã hội, sử dụng đất vào mục đích công cộng, lợi ích của cộng đồng, an ninh quốc
phòng hoặc cho mục tiêu phát triển kinh tế. Do vậy, các vấn đề thu hồi đất được đặt ra
để phục vụ những mục đích lớn hơn. Chính vì vậy, mà diện tích đất nông nghiệp ngày
càng bị thu hồi nhiều hơn.
Hiện nay, vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người dân được đặc biệt
quan tâm bởi sự tác động của việc thu hồi đất tới người dân là rất lớn, đối với ngày
càng đông người dân bị thu hồi đất. với đất nông nghiệp, vấn đề này được đặc biệt
quan tâm bởi với người sử dụng đất nông nghiệp, đất bị thu hồi là nguồn kinh tế chủ
yếu cho bản thân và cho gia đình. Các quy định về vấn đề này được nhiều lần bổ sung
theo hướng đảm bảo tốt hơn về quyền lợi của người nông dân bị thu hồi đất.
Theo quy định hiện hành, hộ gia đình, các nhân sử dụng đất nông nghiệp khi
Nhà nước thu hồi được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng đất, nếu không
có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền tính theo giá cùng mục đích sử
dụng đất. Khi bị thu hồi đất nông nghiệp, người sử dụng đất còn có thể được hỗ trợ sản
xuất và ổn định đời sống bằng tiền. Đặc biệt hiện nay mức bồi thường đất bị thu hồi
cho người sử dụng đất hiện nay đã cao hơn nhiều so với trước kia, đảm bảo tốt hơn
cho người dân sau khi bị thu hồi đất.[8]
Trước đây, vấn đề bồi thường đất nông nghiệp cho người sử dụng đất thường
gây bức xúc trong dư luận do giá bồi thường cho người sử dụng đất quá thấp, trong khi
giá trị của đất sau khi chuyển đổi mục đích sử dụng lại chênh lệch quá lớn. Hiện nay,
giá bồi thường về đất bị thu hồi dựa trên giá đất của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban
hành.
Hiện nay, mặc dù giá đền bù cho người dân đã tăng cao nhưng đây vẫn là vấn
đề “nóng” trong dư luận. Việc thu hồi đất ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất, đời sống của
người sử dụng đất, đặc biệt là nông dân.

14


Đất nông nghiệp có thể thu hồi theo các trường hợp thu hồi đất nói chung.
Việc thu hồi đất nông nghiệp cũng thực hiện theo trình tự, thủ tục chặt chẽ, dựa trên
những cơ sở pháp lý xác định nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp cho người sử
dụng đất.
Hiện nay, các trường hơp thu hồi đất do nhu cầu của Nhà nước diễn ra khá phổ
biến, bởi trong tình hình hiện nay, trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhà
nước với tư cách là chủ đầu tư lớn nhất, có nhiệm vụ xây dựng các cơ sở kinh tế, hạ
tầng xã hội, sử dụng đất vào mục đích công cộng, lợi ích của cộng đồng, an ninh quốc
phòng hoặc cho mục tiêu phát triển kinh tế. Do vậy, các vấn đề thu hồi đất được đặt ra
để phục vụ những mục đích lớn hơn. Chính vì vậy, mà diện tích đất nông nghiệp ngày
càng bị thu hồi nhiều hơn.
Hiện nay, vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người dân được đặc biệt
quan tâm bởi sự tác động của việc thu hồi đất tới người dân là rất lớn, đối với ngày
càng đông người dân bị thu hồi đất. với đất nông nghiệp, vấn đề này được đặc biệt
quan tâm bởi với người sử dụng đất nông nghiệp, đất bị thu hồi là nguồn kinh tế chủ
yếu cho bản thân và cho gia đình. Các quy định về vấn đề này được nhiều lần bổ sung
theo hướng đảm bảo tốt hơn về quyền lợi của người nông dân bị thu hồi đất.
Theo quy định hiện hành, hộ gia đình, các nhân sử dụng đất nông nghiệp khi
Nhà nước thu hồi được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng đất, nếu không
có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền tính theo giá cùng mục đích sử
dụng đất. Khi bị thu hồi đất nông nghiệp, người sử dụng đất còn có thể được hỗ trợ sản
xuất và ổn định đời sống bằng tiền. Đặc biệt hiện nay mức bồi thường đất bị thu hồi
cho người sử dụng đất hiện nay đã cao hơn nhiều so với trước kia, đảm bảo tốt hơn
cho người dân sau khi bị thu hồi đất.
Trước đây, vấn đề bồi thường đất nông nghiệp cho người sử dụng đất thường
gây bức xúc trong dư luận do giá bồi thường cho người sử dụng đất quá thấp, trong khi
giá trị của đất sau khi chuyển đổi mục đích sử dụng lại chênh lệch quá lớn. Hiện nay,
giá bồi thường về đất bị thu hồi dựa trên giá đất của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban
hành.
Hiện nay, mặc dù giá đền bù cho người dân đã tăng cao nhưng đây vẫn là vấn
đề “nóng” trong dư luận. Việc thu hồi đất ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất, đời sống của
người sử dụng đất, đặc biệt là nông dân.[8]
1.2.1.2 Một số hoạt động thực tiễn về thu hồi đất nông ngiệp ở Việt Nam
Trong 5 năm, từ năm 2011-2015, tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi là
366,44 nghìn ha (chiếm 3,89% đất nông nghiệp đang sử dụng). Trong đó, diện tích đất
nông nghiệp đã thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp và cụm công nghiệp là 39,56
nghìn ha, xây dựng đô thị là 70,32 nghìn ha và xây dựng kết cấu hạ tầng là 136,17
nghìn ha.
15


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×