Tải bản đầy đủ

NGHIÊN cứu đặc điểm lâm SÀNG và ĐÁNH GIÁ kết QUẢ điều TRỊ rò LUÂN NHĨ NHIỄM TRÙNG tái PHÁT

B GIO DC V O TO

B Y T

TRNG I HC Y H NI

TRN CHU TRNH

NGHIÊN CứU ĐặC ĐIểM LÂM SàNG Và
ĐáNH GIá KếT QUả ĐIềU TRị Rò LUÂN
NHĩ
NHIễM TRùNG TáI PHáT
Chuyờn ngnh : Tai Mi Hng
Mó s

: 60720155

LUN VN THC S Y HC
Ngi hng dn khoa hc:
1.
2.


PGS.TS. PHM TUN CNH
ThS. NGUYN CễNG THNH

H NI 2017


LỜI CẢM ƠN!



Tôi xin chân thành cảm ơn:
− Đảng Ủy, Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học - Trường Đại học Y Hà Nội.
− Bộ môn Tai Mũi Họng, các thầy, cô giáo trong Bộ môn Tai Mũi Họng –
Trường Đại học Y Hà Nội.
− Đảng Ủy, Ban Giám đốc, tập thể cán bộ, công nhân viên Bệnh viện Tai Mũi
Họng Trung Ương.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
− PGS.TS: Phạm Tuấn Cảnh – Trưởng Bộ môn Tai Mũi Họng trường
Đại học Y Hà Nội, Trưởng khoa PTCH - Bệnh viện Tai Mũi Họng TƯ.
Ths.Nguyễn Công Thành – Trưởng khoa Tai Mũi Họng Trẻ em bệnh viện Tai
Mũi Họng TƯ.
Là những người thầy tận tình chỉ bảo, dạy dỗ, hướng dẫn và tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận
văn này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:
− PGS. TS. Lương Thị Minh Hương – Nguyên trưởng Bộ môn Tai Mũi Họng
Trường Đại học Y Hà Nội.
− PGS.TS: Lê Minh Kỳ - Trưởng khoa Tai Mũi Họng Ung bướu bệnh viện
Tai Mũi Họng TƯ.
− PGS.TS. Tống Xuân Thắng – Phó Bộ môn Tai Mũi Họng
− PGS.TS: Phạm Trần Anh – Bộ môn Tai Mũi Họng Đại học Y Hà Nội.
− TS. Vũ Trường Phong – Bệnh viện Tai Mũi Họng TƯ.
Là những người thầy, những nhà khoa học đã tận tình giảng dạy, hướng
dẫn và cho tôi nhiều ý kiến quý báu trong suốt quá trình học tập, hoàn thiện
và bảo vệ luận văn này.
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè thân thiết và các anh chị em đồng nghiệp,
khuyến khích, động viên, chia sẻ với tôi trong quá trình học tập và hoàn thành
luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 17 tháng 10 năm 2017
Học viên
Trần Chu Trịnh

LỜI CAM ĐOAN


Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu và
kết quả của luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ
một công trình nghiên cứu nào khác. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm với cam
đoan trên.
Hà Nội, ngày 17 tháng 10 năm 2017
Người cam đoan

Trần Chu Trịnh


DANH MỤC VIẾT TẮT
ĐH:

Đại học

NKQ:

Nội khí quản

RLN:

Rò luân nhĩ

TMH:

Tai – Mũi – Họng

TƯ:

Trung ương

XQ:

X-quang


MỤC LỤC


DANH MỤC BẢNG


DANH MỤC BIỂU ĐỒ


DANH MỤC HÌNH


9

ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm trùng rò luân nhĩ tái phát là tình trạng tái phát nhiễm trùng, áp
xe đường rò luân nhĩ ở bệnh nhân có tiền sử rò luân nhĩ đã được điều trị nội
khoa hoặc ngoại khoa. Rò luân nhĩ là một dị tật bẩm sinh do bất thường trong
quá trình biệt hóa các cung mang, được Van Heusinger mô tả lần đầu tiên vào
năm 1864 [1]. Rò luân nhĩ là dị tật bẩm sinh ít gặp ở người da trắng 0,1 % ở
châu Âu, 0,9% ở Mỹ [2] rất phổ biến ở người da màu Nigeria 4,4%, Đài Loan
2,5%, Hàn Quốc 1,91% [3],[4],[5]. Bệnh thường không được quan tâm để ý,
chỉ khi có nhiễm trùng hoặc áp - xe người bệnh đi khám và biết bị rò luân nhĩ.
Do đó việc điều trị gặp rất nhiều khó khăn, tình trạng tái phát cao.
Nhiễm trùng rò luân nhĩ tái phát xảy ra khá phổ biến, theo nghiên cứu
của Yeo S.W tại đại học Catholic, Hàn Quốc thì tỷ lệ rò luân nhĩ tái phát là
19-40% [6]. Ở Việt Nam, tác giả Nhan Trừng Sơn [7], Phạm Thị Bích Thủy
[8] có đề cập đến một số trường hợp rò luân nhĩ và phẫu thuật lấy bỏ đường
rò nhưng chưa có nghiên cứu cũng như số liệu chi tiết về tình trạng rò luân
nhĩ tái phát.
Nhận thấy nhiễm trùng rò luân nhĩ tái phát là một vấn đề lâm sàng rất
thiết thực nhưng chưa có nghiên cứu cụ thể nào về tình trạng này, đặc điểm
bệnh học lâm sàng còn chưa rõ ràng, phương pháp điều trị và đánh giá sớm
kết quả chưa đầu đủ. Từ thực tế trên, chúng tôi quyết định tiến hành Nghiên
cứu đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị rò luân nhĩ nhiễm
trùng tái phát với mục tiêu sau:
1.
2.

Mô tả đặc điểm lâm sàng nhiễm trùng rò luân nhĩ tái phát.
Đánh giá kết quả phẫu thuật nhiễm trùng rò luân nhĩ tái phát.


10

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Trên thế giới


Năm 1827 Von Baer lần đầu tiên mô tả các cung mang ở người [9].



Năm 1864 Van Heusinger đã đưa ra thuật ngữ rò khe mang [1].



Năm 1865 Virchow đã báo cáo một trường hợp đa dị tật ở trẻ em trong đó có
một đường rò chạy từ sau dưới của vành tai, bị thiểu sản và đến phần mũi
họng, mà ông cho rằng xuất phát từ mang I [10].



Tại Pháp, các tác giả Champroux, Gaillard de Collogny, Lafaye, Russier,
Becaud, Banus đã đề cập đến rò cung mang. Các tác giả đã nhắc đến một
cách có hệ thống nguồn gốc mô phôi thai của các đường rò thuộc phạm vi
khe mang đồng thời cũng nêu lên một số đặc điểm lâm sàng cơ bản của
đường rò cung mang. Các tác giả này đã dùng thuật ngữ “Rò – Tai Mang” để chỉ các đường rò cung mang I nhằm nhấn mạnh vị trí của
đường rò [11].



Tại Đại học Catholic Hàn Quốc, các tác giả Yeo S.W, Jun B.C, Park S.N và
cộng sự có đề cập đến các yếu tố góp phần vào tái phát sau mổ rò luân nhĩ
trong nghiên cứu năm 2006 [6].
1.1.2 Ở Việt Nam
Một số nghiên cứu có liên quan đến nhiễm trùng rò luân nhĩ tái phát như:



Năm 1989, Vũ Sản đã đề cập đến rò cung mang I trong luận văn tốt nghiệp
BSNT bệnh viện [12].



Tháng 9/1991, các tác giả Thái Thành Nhơn, Bùi Thị Minh Khai, Trần Quan
Dưỡng, Nguyễn Hoàng Lĩnh đã đưa ra nghiên cứu về một số vấn đề trong rò
luân nhĩ đăng trên nội san Tai Mũi Họng [13].


11



Tháng 8/2000, Nhan Trừng Sơn đã đưa ra một số nhận xét về rò luân nhĩ gặp
tại bệnh viện Nhi Đồng I trong tạp chí thời sự Y- Dược học [7].



Tháng 10/2002, Lê Minh Kỳ đã đề cập tới một số vấn đề của rò cung mang I
trong luận án tiến sĩ Y học [14].



Năm 2003, Phạm Thị Bích Thủy đã nghiên cứu về rò quanh tai tại viện Tai
Mũi Họng trong luận văn tốt nghiệm BSNT [8].
Tuy nhiên các nghiên cứu trên chưa có nghiên cứu nào đề cập đầy đủ
`về nhiễm trùng rò luân nhĩ tái phát.
1.2 SƠ LƯỢC GIẢI PHẪU TAI NGOÀI

Tai ngoài gồm vành tai và ống tai ngoài
1.2.1 Vành tai

Hình 1.1: Vành tai [15], [16].
1. Hố tam giác, 2. Rễ luân nhĩ, 3. Bình nhĩ, 4. Khuyết gian bình tai, 5. Đối
bình tai, 6. Dái tai, 7. Xoắn tai, 8. Xoắn tai hố thuyền, 9. Gờ đối luân, 10. Hố
thuyền, 11. Củ loa tai, 12. Rễ gờ đối luân, 13. Gờ luân nhĩ.


12



Vành tai là một cái loa bằng sụn ngoài có da bao bọc, vành tai có những chỗ
lồi chỗ lõm, những chỗ lồi tính từ chu vi về trung tâm là: luân nhĩ, gờ đối
luân, đối bình tai, và bình tai hay nắp tai.



Những chỗ lõm là hố thuyền, rãnh luân nhĩ, loa tai và cửa tai.



Phần dưới của vành tai không có sụn, chỉ có da và mỡ được gọi là dái tai.



Cấu trúc lồi lõm của vành tai giúp cho việc dẫn âm được tốt hơn.



Vành tai hợp với thành bên của xương sọ tạo nên một góc 40° - 45° để thuận
tiện cho việc định hướng âm thanh.
1.2.2 Ống tai ngoài

Hình 1.2: Ống tai ngoài và liên quan [15],[16].


Là một ống tịt bắt đầu từ lỗ tai và tận cùng ở màng nhĩ.


13



Ống này có hai đoạn, đoạn ngoài là sụn, đoạn trong là xương. Ở tư thế bình
thường giữa đoạn sụn và xương có một chỗ gấp khuỷu hơi cong. Thiết diện
ngang của ống tai hình bầu dục, dẹt theo chiều trước sau.
1.2.3 Liên quan của ống tai ngoài (Hình 1.2)



Thành trước: liên quan đến khớp thái dương hàm.



Thành sau: liên quan đến dây thần kinh số VII thông qua tường dây VII và
xương chũm.



Thành trên: liên quan đến hố não.



Thành dưới: liên quan đến tuyến mang tai.



Thành trong: hay đáy ống tai là màng nhĩ, qua màng nhĩ liên quan đến tai
giữa.
1.3 PHÔI THAI HỌC BỘ PHẬN MANG VÀ RÒ CUNG MANG I

1.3.1 Sự hình thành bộ phận cơ thể
Vào khoảng tuần thứ 3 của đời sống phôi thai, ba lá phôi: ngoại bì (lá
phôi ngoài), trung bì (lá phôi giữa) và nội bì (lá phôi trong) đã biệt hóa và
tạo ra mầm nhiều cơ quan.


Ngoại bì: là lá phôi bên ngoài, nguồn gốc của da và các bộ phận phụ thuộc
da, ống thần kinh, các tấm giác quan.



Trung bì: là lá phôi trung gian, nguồn gốc của các mô liên kết, sụn xương,
cơ, máu, bạch huyết và một số biểu mô (nội mô phủ thành các mạch máu,
trung biểu mô phủ các màng phổi, màng bụng, màng ngoài tim), mầm các cơ
quan niệu – sinh dục.



Nội bì: là lá phôi trong cùng, là nguồn gốc ruột nguyên thủy, biểu mô phủ
ống tiêu hóa từ họng đến hậu môn và biểu mô các tuyến tiêu hóa, nguồn gốc
của ống thanh – khí quản, biểu mô đường hô hấp từ thanh quản đến phế
nang.


14

Hình 1.3: Vùng mang phôi người đầu tuần thứ 5 [17],[18].
1.3.2 Sự phát sinh vùng mang
Khoảng cuối tuần thứ 4, các tế bào mầm thần kinh đã di cư tới thành
bên của ruột họng, đoạn đầu của ruột nguyên thủy và là họng phôi. Ở đó,
chúng tạo thành một mô gọi là ngoại trung mô (trung mô có nguồn gốc
ngoại bì) rồi cùng trung mô phát sinh từ trung bì, tăng sinh để tạo ra những
khối mô gọi là cung mang. Những khối này dài theo hướng lưng bụng, rồi
lên mặt ngoài phôi và được phủ bởi ngoại bì, đồng thời lồi vào họng phôi,
được phủ bởi nội bì. Mỗi bên có 6 cung mang lần lượt được tạo ra và đánh
số thứ tự theo hướng đầu – đuôi phôi. Trong khi các cung mang ở đuôi phôi
xuất hiện, các cung mang phía đầu phôi đã phát triển khá xa.
Nhưng ngay sau khi được tạo ra, cung mang V biến đi rất sớm và cung
mang VI rất thô sơ nên mặt ngoài phôi người trong khoảng tuần thứ 4, 5, 6
chỉ có bốn cung mang xuất hiện rõ rệt mỗi bên.
Chen vào giữa cung mang, ở mặt ngoài phôi, ngoại bì lõm vào trung
mô, tạo thành các khe rãnh gọi là túi nang ngoại bì hay còn gọi là khe mang


15

(branchial grooves) ngăn cách các cung mang, và ở mặt họng phôi, nội bì
cũng lõm vào trung mô, tạo thành các khe rãnh gọi là túi mang nội bì hay túi
mang (branchial pouches) cũng ngăn cách các cung mang. Các khe mang
cũng được đánh số thứ tự theo hướng đầu – đuôi phôi. Phôi người không có
khe mang V, còn túi mang tương ứng với nó, nhiều tác giả coi là ngách phụ
của túi mang IV. Vùng phôi người có các cung mang, các khe mang, túi
mang gọi là vùng mang.

a

b

Hình 1.4: Phôi thai người tuần thứ 5 (a), thiết đồ hệ thống cung mang (b) [11].
1.3.3 Sự phát triển của các thành phần vùng mang.
Các cung mang phát triển rất sớm (tuần thứ 4) của phôi thai khi các
tế bào mào thần kinh di chuyển vào vùng đầu và cổ tương lai, góp phần chủ
yếu tạo thành mặt, cổ, các khoang mũi, miệng, thanh quản và họng.
Vì sự liên quan chặt chẽ của rò luân nhĩ với sự hình thành của cung
mang I do đó chúng tôi chỉ nhắc tới sự hình thành của cung mang I, các cung
mang khác sẽ ít nhắc tới.


16

Bảng 1.1. Thành phần các bộ phận phát sinh từ cung mang [11]
Cung mang

Sụn



Thần kinh

Cung động
mạch

Sụn Meckel
Cung mang Xương hàm dưới
I

Xương búa

Dây thần kinh

ĐM hàm

tam thoa(V)

trong

Dây thần kinh

ĐM cơ bàn

VII

đạp

Cơ màn hầu

Dây thần kinh

ĐM cảnh

Cơ trâm họng

IX

trong

Dây thần kinh

ĐM dưới

phế vị (X)

đòn phải

(dây thanh quản

Quai ĐM

trên)

chủ

Cơ cắn

Xương đe
Sụn Reichert
Cung mang Xương bàn đạp
II

Cơ mặt

Sừng bé xương Cơ trâm móng
móng

Cung mang Thân và sừng lớn
xương móng

III

Sụn giáp
Cung mang

Cơ họng
Cơ nhẫn giáp

IV

Cư nhẫn họng
Sụn nhẫn
Cung mang Sụn phễu
VI

Dây thần kinh
Cơ thanh quản

phế vị (X)
(dây thần kinh
quặt ngược)

(Tài liệu tham khảo của giáo sư Oliver Deguin 11/2001)

ĐM phổi


17

Hình 1.5: Sự phát triển của vùng mang và sàn họng [19].
A, A’. phôi thai người khoảng 8mm, B,B’. phôi thai người khoảng 13mm, C.
sơ đồ tuyến ức và thể mang cuối I,II. Các cung mang I’, II’, III’, IV’. Túi
mang nội bì I”, II”, III”, IV”. Túi mang ngoại bì.
1. Ống giáp lưỡi, 2. Mầm tuyến giáp, 3. Lưỡi, 4. Ống thanh khí quản, 5.
Thực quản, 6. Ống họng – hòm nhĩ, 7. Mầm hạnh nhân khẩu cái, 8. Mầm
tuyến cận giáp dưới, 9. Mầm tuyến ức, 10. Mầm tuyến cận giáp trên, 11. Thể
mang cuối, 12. Ống tai ngoài, 13. Xoang cổ, 14. Sụn Meckel, 15. Sụn
Reichert, 16. Lỗ tịt, 17. Tuyến giáp, 18. Họng, 19. Mào thượng tâm mạc.
1.3.3.1 Cung mang I
Cung mang I là cơ quan sơ khai của hàm dưới, lõi sụn gồm một đoạn
lưng ngắn gọi là sụn của mỏm hàm trên, lan tới vùng sau mắt và một đoạn
bụng dài hơn gọi là sụn của mỏm hàm dưới hay sụn Meckel. Sau đó, lõi


18

cung mang I biến đi gần hết, chỉ còn sót lại hai đoạn nhỏ ở gần đầu phía
lưng của sụn hàm trên, trên nền đó các mô xương đắp vào để tạo ra xương
búa và xương đe.
Trung - biểu mô: mỏm hàm trên sẽ tạo ra trực tiếp (không cốt hóa trên
mô hình sụn) đoạn xương hàm trên mang răng nanh và răng hàm, xương gò
má và mỏm gò má của xương thái dương (đoạn xương hàm trên mang 4 răng
cửa phát sinh từ nụ mũi trong). Mỏm xương hàm dưới vây quanh sụn
Meckel sẽ tạo ra trực tiếp xương hàm dưới, một phần sụn này biến thành mô
xơ và tạo ra dây chằng bướm hàm. Vì tạo ra các phần hàm trên và dưới nên
cung mang I còn gọi là cung hàm.
Thành phần của cung mang I sinh ra các cơ nhai (gồm cơ cắn, cơ thái
dương và cơ chân bướm), đoạn bụng trước cơ nhị thân, cơ búa, cơ bao vòi
ngoài. Dây thần kinh của cung mang I là dây thần kinh tam thoa (V). Cung
động mạch chủ I biến đi rất sớm, ở giai đoạn 4mm, chỉ còn sót lại mỗi bên
đoạn ngắn, sẽ trở thành động mạch hàm trong.
1.3.3.2 Túi mang ngoại bì I
Mang ngoại bì I dài ra tạo thành một ống là ống tai ngoài được phủ
bởi biểu bì da có nguồn gốc từ ngoại bì da phủ cung mang I. Biểu mô ngoại
bì phủ đáy túi mang sẽ trở thành biểu mô phủ mặt ngoài màng nhĩ. Như vậy,
màng nhĩ là một màng xơ có nguồn gốc ngoại trung mô ngăn cách đáy các
túi mang nội và ngoại bì I.
1.3.3.3 Túi mang nội bì I
Đoạn gần họng phát triển thành một ống dài, gọi là ống họng – hòm
nhĩ, về sau sẽ là vòi Eustachi của trẻ em và người trưởng thành. Biểu mô nội
bì phủ ống ấy sẽ trở thành biểu mô phủ vòi Eustachi. Tới tháng thứ năm của
đời sống trong bụng mẹ, tế bào lympho xâm nhập vào trung mô để tạo ra
hạnh nhân vòi. Ở thành sau bên của họng, phần họng mũi và ở sàn họng, nơi


19

sau này trở thành phần sau của lưỡi cũng xảy ra những hiện tượng như vậy
để tạo thành tương ứng hạnh nhân họng và hạnh nhân lưỡi.
Đoạn xa họng giáp với đáy túi nang ngoại bì I, tạo ra hòm nhĩ. Biểu
mô nội bì phủ đoạn này sẽ trở thành biểu mô phủ hòm nhĩ và phủ trên các
mặt xương con của tai giữa (xương búa, xương đe, xương bàn đạp) có nguồn
gốc từ ngoại trung mô cung mang I và II.
1.3.3.4 Đặc điểm và ngồn gốc phát sinh của rò cung mang I:
Nguồn gốc của các dị tật này vẫn chưa rò ràng, có nhiều quan điểm và
giả thuyết khác nhau, có thể là do sự sai sót trong việc đóng lại khe mang I
gây nên nang và đường rò, cũng có thể là sự vùi lấp các vết tích ngoại bì,
theo mô bệnh học chia ra làm 2 loại, loại 1 là sự tách đôi ống tai ngoài
nguồn gốc ngoại bì, loại 2 là sự tách đôi ống tai ngoài có nguồn gốc ngoại bì
và trung bì, phát triển bất thường của hệ thống mang trong thời kỳ phôi thai.
Phần lớn những dị tật này là do còn tồn tại các vết tích của bộ phận mang,
mà lẽ ra sẽ tiêu biến đi.
1.3.3.5 Rò cung mang I:
Do sự tách đôi của ống tai ngoài có nguồn gốc từ ngoại bì, đường rò
thường đi lên trên, phía dưới và sau vành tai, loa tai, hướng về phía mặt bên
ngoài dây thần kinh mặt (VII), đi song song với nó và ống tai ngoài, được
bao bọc bởi nhu mô tuyến mang tai, để rồi tận hết trong một túi cùng vùng
trước trên của tai.


20

Hình 1.6: Rò cung mang I - Loại I [20],[21].
1.3.3.6 Rò cung mang I - Loại II

Hình 1.7: Rò cung mang I – Loại II [20],[21].
Các bệnh tích nằm phía sau xương hàm dưới với một nang ở phía sau
dưới vùng tuyến mang tai. Đường rò chạy đến chỗ nối giữa xương sụn ống
tai ngoài. Nó có liên quan rất gần với dây thần kinh mặt (VII) mà có thể đi
bên trong, bên ngoài hoặc đi ngang giữa các nhánh dây thần kinh.


21

1.3.3.7 Rò luân nhĩ
Có rất nhiều giả thiết về sự hình thành của rò luân nhĩ, ở giai đoạn
phôi thai tuần thứ 6, đoạn đầu của rãnh mang I nguyên vẫn hở để tạo thành
ống tai ngoài. Xoang bắt đầu thường từ một vùng giữa bờ trước vành của loa
tai và bờ dưới của bình tai. Có những xoang chỉ chạy nông dưới da độ 1 –
2mm nhưng cũng có những xoang thông với tai giữa hoặc ống tai ngoài và tận
cùng thành một đầu bám vào màng sụn của loa tai hoặc bình tai. Những xoang
nông và kín thường không được để ý vì nó không gây nên dấu hiệu gì ngoài
một nốt gồ nhỏ như một hạt cơm không đau. Có thể bị cả 2 bên hoặc bị đơn
thuần 1 bên. Dị dạng chỉ gây phiền phức trong 2 trường hợp:


Về thẩm mĩ nó để lại một cục u to đôi khi làm hẹp lỗ ống tai ngoài.



Hoặc nó khá sâu để chứa chất ứ đọng và gây nên những đợt nhiễm trùng tái
diễn. Những xoang đó lại có thể vỡ để tạo ra miệng lỗ rò cho dịch viêm chảy
ra làm tấy đỏ xung quanh vùng và ngứa ngáy khó chịu. Khi đó, chẩn đoán
trở nên dễ dàng hơn.

Hình 1.8: Lỗ rò luân nhĩ ở vị trí trước gờ bình tai [20],[21].


22

1.3.3.8 Một giả thuyết khác của sự hình thành rò luân nhĩ.
Vành tai được tạo thành từ liên hợp 6 nụ phôi (còn gọi là gò His) các
nụ phôi này tập trung ở khe mang I. Vào tuần thứ 5 của thai kỳ,3 nụ phôi
(1,2,3) phát sinh từ cung hàm dưới và 3 nụ phôi còn lại (4,5,6) từ cung
xương móng ở phần đối diện khe khe mang I. Ba nụ phôi 1,2,3 tạo thành
bình tai, rễ luân nhĩ và loa tai.Các nụ phôi 4,5,6 hình thành các phần còn lại
của vành tai người tưởng thành. Trong đó, nụ phôi 1 và 6 giữ nguyên vị trí
tạo thành bình tai và gờ đối bình. Nụ phôi 4 và 5 phát triển rộng và xoay
ngang qua đầu sau khe mang I, từ đó phát sinh phàn trước, trên của luân nhĩ
và phần kế cận của vành ta. Vành tai được hình thành hòa thiện vào tuần thứ
18 của thai kỳ và phát triển hoàn thiện đến tuổi trưởng thành. Bất thường
trong sự hợp lại của 6 nụ phôi này khi hình thành vành tai là nguyên nhân
dẫn đến các vị trí khác của rò luân nhĩ.

Hình 1.9: Rò luân nhĩ với các vị trí khác[20],[21]
1.4 HÌNH THÁI LÂM SÀNG CỦA RÒ LUÂN NHĨ

1.4.1 Đặc điểm rò luân nhĩ
Rò luân nhĩ là dị tật bẩm sinh tương đối phổ biến so với các dị tật bẩm
sinh khác trên toàn cơ thể, hay gặp ở những bệnh nhân có thể trạng bình
thường, trẻ em. Có thể gặp ở cả hai bên hoặc đơn thuần 1 bên, bệnh nhân
sinh ra đã có một lỗ nhỏ vùng trước tai.


23

1.4.2 Vị trí miệng lỗ rò
Miệng lỗ rò hay gặp nhất ở rễ luân nhĩ hoặc ở 0,5cm trên gờ bình tai,
ngoài ra có thể gặp ở các vị trí khác như: trên vành tai, các hố vành tai, trong
ống tai hoặc sau tai (ít gặp).

Hình 1.10: Vị trí miệng lỗ rò luân nhĩ ở gờ luân nhĩ.
BN: Tăng Thị Hà M 04 tuổi, số BA: 16013291.


24

Hình 1.11: Vị trí miệng lỗ rò luân nhĩ ở chân sụn gờ luân nhĩ
BN: Nguyễn Yến N 4 tuổi. Số BA. 16012962
1.4.3 Hình dạng miệng lỗ rò
Miệng lỗ rò thường nhỏ bằng đầu kim, đường rò đi ngoằn nghoèo về
phía dưới và sau sát chân bám của sụn luân nhĩ, tận cùng bằng một xoang.
Trong trường hợp có biến chứng (viêm tấy, áp-xe, vỡ mủ tái đi tái lại
nhiều lần) miệng lỗ rò tấy đỏ, sưng nề xung quanh, ấn có thể có mủ, dịch
chảy ra qua miệng lỗ rò, có thể thấy sẹo xơ chằng chịt miệng lỗ rò ở những
trường hợp được chích rạch nhiều lần mà vẫn tái phát.
1.4.4 Triệu chứng lâm sàng
1.4.4.1 Triệu chứng toàn thân
Bệnh nhân vào viện trong tình trạng toàn thân bình thường
1.4.4.2 Triệu chứng cơ năng
Rò luân nhĩ là thể rất hay gặp, nhất là ở trẻ em, lỗ rõ nằm ở rễ luân
nhĩ, có thể bị 1 bên hoặc cả 2 bên.


25



Lỗ rò nông: bệnh nhân vẫn khỏe mạnh, chỉ thấy ở phía trước ống tai ngoài
một lỗ rất nông, đường kính nhỏ hơn 1mm, ấn không đau, không có nước
vàng chảy ra hoặc có ít chất bã hôi chảy ra.



Lỗ rò rỉ nước vàng: bệnh nhân đến khám vì lý do ở trước tai có một lỗ
thường rỉ nước vàng, đục, không sưng nóng đỏ đau, hoặc có nhưng nhẹ rồi
tự khỏi.
1.4.4.3 Triệu chứng thực thể



Khám thấy thực thể:



Phía trước nắp bình tai thấy phồng hơn (so với bên lành hoặc so với xung
quanh nếu bị cả 2 bên). Trên bề mặt có một lỗ nhỏ (bán kính khoảng 1mm)
ấn không đau, nhưng rỉ ra nước vàng đục hoặc có chất bã tiết ra ở miệng lỗ.



Nếu trong giai đoạn viêm nhiễm nhẹ thì thấy, phía trước trên tai, ngay rễ của
gờ luân sưng, nóng, đỏ, ấn nắp bình tai bệnh nhân rất đau. Bệnh nhân có thể
có sốt kèm theo.



Trường hợp có áp-xe quanh lỗ rò thì triệu chứng rầm rộ hơn:



Sưng phồng đau trước tai bên bệnh, sốt, trước tai có một lỗ, thỉnh thoảng ra
nước vàng đục, rất hôi.



Bệnh nhân cũng có thể đã có viêm nhiễm hoặc áp-xe mủ tự vỡ hoặc đã được
chích rạch dẫn lưu, để lại một sẹo nhăn nhúm.



Thực thể: phía trước tai có một lỗ rò, quanh lỗ rò sưng, nóng, đỏ, ấn mềm,
đau nhiều.

1.4.3. 1.4.5. Mô bệnh học
Rò luân nhĩ có cấu trúc chung với các loại rò bẩm sinh khác gồm có 2
lớp: lớp phủ và lớp đệm.
1.4.3.1. 1.4.5.1. Biểu mô phủ
Lớp biểu mô phủ đường rò là biểu mô lát tầng sừng hóa, rất giống với
biểu bì da có nguồn gốc từ ngoại bì, hoặc là biểu mô trụ giả tầng có lông


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×