Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ và tăng sinh tế bào thần kinh của rau đắng biển (Bacopa monnieri (L.) wettst) trên mô hình chuột nhắt mất tế bào thần kinh bởi Trimethyltin

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
--------***--------

ĐỖ PHƯƠNG ANH

NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CẢI THIỆN
SUY GIẢM TRÍ NHỚ VÀ TĂNG SINH TẾ
BÀO THẦN KINH CỦA RAU ĐẮNG BIỂN
(Bacopa monnieri (L.) Wettst) TRÊN MÔ
HÌNH CHUỘT NHẮT MẤT TẾ BÀO THẦN
KINH BỞI TRIMETHYLTIN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

HÀ NỘI – 2019


BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
-------***-------


ĐỖ PHƯƠNG ANH
MÃ SINH VIÊN: 1401017

NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CẢI THIỆN
SUY GIẢM TRÍ NHỚ VÀ TĂNG SINH TẾ
BÀO THẦN KINH CỦA RAU ĐẮNG BIỂN
(Bacopa monnieri (L.) Wettst) TRÊN MÔ
HÌNH CHUỘT NHẮT MẤT TẾ BÀO THẦN
KINH BỞI TRIMETHYLTIN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Người hướng dẫn:
1. PGS.TS. Nguyễn Thị Lập
2. TS. Phạm Thị Nguyệt Hằng
Nơi thực hiện:
1. Bộ môn Hóa sinh
2. Viện Dược Liệu

HÀ NỘI - 2019


LỜI CẢM ƠN

Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS. Phạm Thị Nguyệt Hằng –
Trưởng khoa Dược lý – Sinh hóa – Viện Dược liệu là người đã trực tiếp hướng dẫn em
hoàn thành khóa luận này.
Tiếp đến em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS. Nguyễn Thị Lập – Bộ
môn Hóa sinh – Trường Đại học Dược Hà Nội. Cô là người đã nhận em vào bộ môn cũng
như tạo mọi điều kiện tốt nhất để giúp em tiến hành khóa luận tốt nghiệp.
Em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các anh chị tại khoa Dược lý – Sinh
hóa – Viện Dược liệu đã giúp đỡ, hướng dẫn em về kỹ thuật cũng như tạo điều kiện để em
có thể hoàn thành được nghiên cứu thực nghiệm tại khoa.
Nhân dịp này, em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu cùng toàn thể các thầy
cô giáo trường Đại học Dược Hà Nội đã dạy dỗ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong
thời gian em học tập tại trường.
Cuối cùng, em xin bày tỏ sự yêu thương và biết ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè đã
luôn bên tôi, ủng hộ và động viên em, là chỗ dựa tinh thần vững chắc khi em gặp khó khăn
trong học tập cũng như trong cuộc sống.
Do thời gian làm thực nghiệm cũng như kiến thức của bản thân có hạn, khóa luận này
còn có nhiều thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô, bạn bè để khóa
luận được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2019
Sinh viên

Đỗ Phương Anh


MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ...........................................................................
DANH MỤC CÁC HÌNH ............................................................................................
DANH MỤC CÁC BẢNG ...........................................................................................
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ...................................................................................... 3
1.1. Tổng quan về dược liệu nghiên cứu: Rau đắng biển (Bacopa monnier L.) ......... 3
1.1.1. Tên gọi………………………………………………………………………………3
1.1.2. Đặc điểm thực vật, phân bố ....................................................................................... 3
1.1.3. Bộ phận dùng làm thuốc ............................................................................................ 4
1.1.4. Thành phần hóa học................................................................................................... 4
1.1.5. Tác dụng dược lý ....................................................................................................... 4
1.1.6. Tính vị, công năng ..................................................................................................... 5
1.1.7. Công dụng …………………………………………………………………………5
1.1.8. Bài thuốc có Rau đắng biển ....................................................................................... 5
1.1.9. Một số nghiên cứu về BME....................................................................................... 6
1.2. Tổng quan về suy giảm trí nhớ và sa sút trí tuệ .................................................. 7
1.2.1. Khái niệm sa sút trí tuệ và suy giảm trí nhớ .............................................................. 7
1.2.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh ............................................................................. 9
1.2.3. Thuốc điều trị .......................................................................................................... 12
1.2.4. Một số mô hình nghiên cứu ..................................................................................... 15
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU......................... 18
2.1. Nguyên vật liệu, thiết bị .................................................................................... 18
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu .............................................................................................. 18


2.1.2. Động vật thí nghiệm ................................................................................................ 18
2.1.3. Dụng cụ, hóa chất thí nghiệm .................................................................................. 18
2.2. Phương pháp và nội dung nghiên cứu ............................................................... 20
2.2.1. Nghiên cứu tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ của cao chiết Rau đắng biển trên mô
hình chuột TMT… ............................................................................................................. 20
2.2.2. Đánh giá tác dụng tăng sinh tế bào thần kinh của cao chiết Rau đắng biển bằng
phương pháp nhuộm Nissl ................................................................................................. 25
2.3. Xử lý số liệu ....................................................................................................... 26
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................................ 27
3.1. Đánh giá tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ của cao chiết Rau đắng biển trên
chuột bị mất tế bào thần kinh bởi Trimethyltin. ..................................................... 27
3.1.1. Đánh giá tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ của cao chiết Rau đắng biển bằng thử
nghiệm vị trí đồ vật (OLT). ............................................................................................... 27
3.1.2. Đánh giá tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ không gian của cao chiết Rau đắng biển
bằng thử nghiệm mê lộ chữ Y cải tiến............................................................................... 30
3.1.3. Đánh giá tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ của cao chiết Rau đắng biển bằng thử
nghiệm lẩn tránh thụ động. ................................................................................................ 31
3.2. Đánh giá tác dụng tăng sinh tế bào thần kinh của BME trên mô hình chuột TMT
bằng phương pháp nhuộm Nissl. ............................................................................. 33
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN........................................................................................ 36
4.1. Về tác dụng cải thiện trí nhớ của cao chiết từ Rau đắng biển trên chuột bị mất tế
bào thần kinh bởi trimethyltin................................................................................. 36
4.1.1. Về tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ của cao chiết Rau đắng biển bằng thử nghiệm
vị trí đồ vật (OLT). ............................................................................................................ 37
4.1.2. Về tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ không gian của cao chiết Rau đắng biển bằng
thử nghiệm mê lộ chữ Y cải tiến. ...................................................................................... 38


4.1.3. Về tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ của cao chiết Rau đắng biển bằng thử nghiệm
lẩn tránh thụ động. ............................................................................................................. 39
4.2. Về tác dụng tăng sinh tế bào thần kinh của cao chiết Rau đắng biển trên mô hình
chuột TMT bằng phương pháp nhuộm Nissl. .......................................................... 40
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................................. 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...........................................................................................


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TMT

BME

Trimethyltin

Bacopa monnier (L.)

Trimethyltin
Cao chiết Rau đắng biển

Wettst. Extract
OBX

Olfactory bulbectomized

Mất thùy khứu giác

βAP

β – amyloid peptid

β – amyloid peptid

NFTs

Neurofibrilary Tangles

Đám rối thần kinh

ApoE4

Apolipoprotein E

Apolipoprotein E

NMDA

N-methyl D aspartate

N-methyl D aspartate

AD

Alzheimer's Disease

Bệnh lý Alzheimer

APP

Amyloid Precursor Protein

Tiền chất amyloid

Ach

Acetylcholin

Acetylcholin

AchE

Acetylcholinesterase

Acetylcholinesterase

TMT – BME

Chuột được điều trị bằng Trimethyltin
và cao chiết Rau đắng biển

TMT – nước

Chuột được điều trị bằng Trimethyltin
và nước


OLT

PBS

Object Location Test

Phosphate Buffered Saline

MEAN

SEM

Thử nghiệm vị trí đồ vật
Dung dịch đệm phosphate

Giá trị trung bình từng lô

Standard Error of the Mean

Sai số chuẩn


DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Cây Rau đắng biển (Bacopa monnier (L.) Wettst)

3

Hình 1.2: Sơ đồ bệnh sinh

9

Hình 2.1: Thiết kế nghiên cứu

20

Hình 2.2: Sơ đồ thiết kế thí nghiệm

21

Hình 2.3: Sơ đồ thí nghiệm OLT

22

Hình 2.4: Sơ đồ thí nghiệm mê lộ chữ Y cải tiến

23

Hình 2.5: Sơ đồ thí nghiệm lẩn tránh thụ động

24

Hình 2.6: Sơ đồ thiết kế thí nghiệm

25

Hình 3.1: Tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ ngắn hạn của BME (50 mg/kg)

27

trên chuột TMT được đánh giá bằng thử nghiệm OLT.


Hình 3.2: Tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ của BME (50 mg/kg) trên chuột

30

TMT sau 18 và 33 ngày điều trị, được đánh giá bằng thử nghiệm mê lộ chữ Y
cải tiến
Hình 3.3: Tác dụng cải thiện suy giảm nhận thức của BME (50 mg/kg) trên

32

chuột TMT, được đánh giá bằng thử nghiệm lẩn tránh thụ động
Hình 3.4: Tác dụng của BME (50 mg/kg) trên các tổn thương tế bào thần kinh

34

gây bởi TMT ở vùng CA1 và CA3 của thùy hải mã. Lát cắt não được nhuộm
Nissl với tím tinh thể 0.5% như mô tả phía trên.
Hình 3.5: Tác dụng của BME (50 mg/kg) trên các tổn thương tế bào thần kinh

35

gây bởi TMT ở vùng CA1 và CA3 của thùy hải mã.
Hình 4.1: Cơ chế gây thoái hóa thần kinh của TMT

36


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Hóa chất.

18

Bảng 2.2: Trang thiết bị

19


ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo một số nghiên cứu thống kê đã được công bố, sẽ có khoảng 63 triệu người bị
sa sút trí tuệ trên toàn thế giới vào năm 2030. Trong số những người sa sút trí tuệ, 60%
sống ở các nước đang phát triển, con số này tăng lên 71% vào năm 2040 [44]. Hội chứng
sa sút trí tuệ thường có tính chất mạn tính, tiến triển dần dần và thường trở nên tồi tệ sau
một vài năm. Chứng sa sút trí tuệ có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế và xã hội liên quan
đến gánh nặng về chi phí y tế, chi phí chăm sóc, chi phí xã hội. Trong khi đó, các phương
pháp điều trị hiện tại không có hiệu quả kéo dài tuổi thọ, chữa khỏi, hoặc tạm dừng hoặc
đảo ngược quá trình sinh lý bệnh. Mặt khác, đa số các thuốc được sử dụng trong điều trị là
tân dược và có nhiều tác dụng không mong muốn. Do đó, việc nghiên cứu phát triển các
loại thuốc mới không chỉ có hiệu quả trong việc ngăn chặn và điều trị sa sút trí tuệ mà còn
có thể sử dụng trong thời gian dài nhưng không gây ra các phản ứng bất lợi là rất cần thiết.
Rau đắng biển có tên khoa học là Bacopa monnieri (L.) Wettst. (BM) thuộc họ Hoa
mõm chó (Scrophulariaceae), được biết đến như một cây thuốc ở Ấn Độ và Đông Nam Á
để tăng cường trí nhớ và cải thiện chức năng não bộ. Ở Việt Nam, cây Rau đắng biển mọc
hoang dại ở nhiều nơi, được người dân sử dụng làm rau ăn hàng ngày và điều trị một số
bệnh như suy nhược thần kinh, động kinh, mất trương lực cơ... theo kinh nghiệm dân gian.
Các nghiên cứu trước đây sử dụng các mô hình động vật thiếu hụt nhận thức khác
nhau đã chứng minh rằng việc điều trị bằng Rau đắng biển có tác dụng cải thiện trí nhớ và
bảo vệ tế bào thần kinh chống lại sự tổn thương não bộ [33], [36], [48], [50], [57]. Bằng
chứng chỉ ra rằng Rau đắng biển làm giảm stress oxy hóa trong não và do đó bảo vệ các tế
bào thần kinh khỏi các độc tố gây stress oxy hóa [19], [53]. Nó không chỉ làm giảm sự lắng
đọng β-amyloid vùng đồi thị mà còn làm giảm tổn thương vùng đồi thị do stress [15].
Nghiên cứu trước đây đã chứng minh rằng cao chiết Rau đắng biển (BME) và chất
ức chế Cholinesterase Tacrine làm giảm sự thiếu hụt nhận thức ở chuột bị gây mất thùy
khứu giác (OBX). Phát hiện này cho thấy phương pháp điều trị với BME có lợi cho chứng
mất trí nhớ và các rối loạn thoái hóa thần kinh khác [37]. Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa rõ
liệu tác dụng chống mất trí nhớ của chiết xuất BM có liên quan đến sự hình thành thần kinh
nội sinh hay không.
1


Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm mục đích:
1. Đánh giá tác dụng cải thiện trí nhớ của cao chiết Rau đắng biển trên mô hình chuột
nhắt bị mất tế bào thần kinh do Trimethyltin gây ra thông qua thử nghiệm vị trí đồ
vật, thử nghiệm mê lộ chữ Y và thử nghiệm lẩn tránh thụ động.
2. Đánh giá tác dụng tăng sinh tế bào thần kinh của cao chiết Rau đắng biển trên mô
hình chuột nhắt bị mất tế bào thần kinh do Trimethyltin gây ra thông qua phương
pháp nhuộm Nissl.

2


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1.

Tổng quan về dược liệu nghiên cứu: Rau đắng biển (Bacopa monnier L.)

Hình 1.1: Cây Rau đắng biển (Bacopa monnier (L.) Wettst)
1.1.1. Tên gọi
Ở Việt Nam, Rau đắng biển còn có tên gọi khác là Sam trắng
Người Hindu giáo gọi Rau đắng biển là Brahmi [26]
Tên khác: Thyme – leaved granola (Anh)
Tên khoa học: Bacopa monnier (L.) Wettst, họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae) [1]
1.1.2. Đặc điểm thực vật, phân bố
❖ Đặc điểm thực vật
Rau đắng biển là cây thảo, sống lâu năm, cao 10 – 20cm. Thân nhẵn, phần gốc mọc bò,
bén rễ ở những mấu, phần trên mọc đứng. Lá mọc đối, không cuống, hình trái xoan, mọng
nước, dài 0.8 – 1.2cm, rộng 3 – 5mm, gốc thuôn, đầu tù, hai mặt nhẵn, chỉ gân giữa rõ.
Hoa màu trắng, mọc đơn độc ở kẽ lá trên một cuống dài; lá bắc dạng lá, lá bắc con hình
sợi; đài năm răng không bằng nhau, ba cái hình trái xoan, hai cái hình chỉ; tràng dài gấp hai
lần đài, năm cánh gần bằng nhau; nhị bốn, chỉ nhị nhẵn.
Quả nang, hình trứng nhẵn, có đài tồn tại; hạt nhỏ, có cạnh.
Mùa hoa: tháng 4 – 9 [1].
❖ Phân bố, sinh thái
3


Bacopa Aubl. là chi tương đối lớn, có khoảng 70 loài, phân bố rải rác khắp các vùng
nhiệt đới và cận nhiệt đới; sống tập trung nhiều ở khu vực Trung và Nam Mỹ. Ở Việt Nam
chỉ có hai loài [1]. Loài Rau đắng biển được coi là cây liên nhiệt đới, đồng thời cũng có thể
thấy ở vùng cận nhiệt đới. Ở châu Á, Rau đắng biển phân bố rộng rãi từ vùng Nam Trung
Quốc, Việt Nam, Lào đến các nước khác ở Đông Nam châu Á.
Ở Việt Nam, Rau đắng biển phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và trung du miền Bắc
và miền Nam. Cây ưa sáng, thường mọc trên đất ẩm, pha cát lẫn với các loại vỏ thấp ở bờ
ruộng, bãi sông, bờ kênh mương… Cây ra hoa quả nhiều hàng năm, tái sinh tự nhiên chủ
yếu từ hạt. Cây còn có khả năng mọc chồi khỏe từ kẽ lá, kể cả phần còn sót lại sau khi cắt.
Do đó, Rau đắng biển cũng bị coi là cây cỏ dại ảnh hưởng tới cây trồng [1].
1.1.3. Bộ phận dùng làm thuốc
Phần trên mặt đất, thu hái quanh nắm, dùng tươi hoặc phơi khô [1].
1.1.4. Thành phần hóa học.
Rau đắng biển chứa một triterpene là bacosin [1], [26]. Chất này có tác dụng gây tê.
Ngoài ra, cây còn chứ nhiều saponin triterpenic như bacosaponin A (3-O-α-Larabinopyranosyl-20-O-α-L-arabinopyranosyl-jujubogenin), bacosaponin B (3-O-[α-Larabinopyranosyl (1→2) α-L-arabinopyranosyl] -pseudojujubogenin), bacosaponin C (3O- [β-D-glucopyranosyl (1→3) [α-L-arabinopyranosyl (1→2)] α-L-arabinopyranosyl
pseudojujubogenin) (Garai Saraswati và cs. 1996; CA 125:53.567 w) [1], [26].
Theo những tác giả khác, Rau đắng biển chứa một số saponin triterpene khác là
bacoside A1 (3-O- [α-L-arabinofuranosyl (1→3) α-L-arabinopyranosyl] jujubogenin),
bacoside A3 (3-β- [O-β-D-glucopyranosyl (1→3)-O- [α-L-arabinofuranosyl (1→2) -O-βD-glucopyranosyl] jujubogenin) [1], [26].
Theo Proliac A. và cs, 1991; lá chứa hai glycosylflavonoid là glucuronyl – 7 –
apigenin và glucuronyl – 7 – luteolin (CA 115:89.186 d).
Có tài liệu nêu ở Rau đắng biển có brahmin [1].
1.1.5. Tác dụng dược lý
Tác dụng trên huyết áp: Alcaloid brahmin chiết từ cây Rau đắng biển với liều 0.5
mg/kg ở mèo có tác dụng làm hạ huyết áp. Tuy nhiên, liều nhỏ hơn lại gây tăng huyết áp
nhẹ do co mạch và kích thích cơ tim.
4


Tác dụng trên hô hấp: Brahmin với liều nhỏ, có tác dụng kích thích hô hấp.
Tác dụng trên cơ trơn: Ở nồng độ rất loãng 1/200000 đến 1/500000, brahmin có tác
dụng tăng co bóp ruột và tử cung cô lập.
Tác dụng kích thích hệ thần kinh: Brahmin cũng giống như Strychnin có tác dụng
kích thích thần kinh trung ương gây hưng phấn các cơ quan đặc biệt là kích thích tủy sống.
Ngoài ra, nó có tác dụng kích thích trực tiếp trên tim, khác với Strychnin chỉ gián tiếp kích
thích tim.
Tác dụng chống ung thư: Cao khô chiết cồn của toàn cây Rau đắng biển có tác dụng
ức chế sự phát triển tế bào ung thư Walker carcinosarcoma 256 khi tiêm bắp cho chuột cống
trắng.
Độc tính: Brahmin có độc tính cao. Ếch bị chết trong vòng 10 phút với một liều 5
mg/kg thể trọng, còn chuột cống trắng và chuột lang chết trong vòng 24 giờ khi dùng liều
25 mg/kg. Cao khô chiết cồn 50º rồi cô chân không có LD50 là 50 mg/kg khi tiêm trong
màng bụng cho chuột nhắt trắng [1].
1.1.6. Tính vị, công năng
Rau đắng biển có vị đắng, tính mát, có tác dụng kích thích thần kinh, trơ tim, thanh
nhiệt giải độc, lợi tiểu, tiêu thũng, nhuận tràng [1].
1.1.7. Công dụng
Toàn cây Rau đắng biển được dùng chữa suy nhược thần kinh [9], mất trương lực
cơ, động kinh, thao cuồng, mất tiếng, khản tiếng, viêm phế quản cấp, ho, hen [1]. Còn chữa
bí đái, viêm gan, thấp khớp, rắn cắn và bệnh ngoài da như da sưng dày lên như da voi, lở,
nhọt độc, ghẻ. Ngày 6 – 12g dạng thuốc sắc. Dùng ngoài không kể liều lượng.
Ngọn lá Rau đắng biển có thể dùng như rau sống hoặc nấu chín ăn [1].
1.1.8. Bài thuốc có Rau đắng biển
❖ Chữa động kinh, thao cuồng, suy nhược thần kinh, mất tiếng, khản tiếng (Bài thuốc
Brahmi ghrita ở Ấn Độ):
Dùng bốn lít dịch ép Rau đắng biển tươi, bốn lít bơ, các vị thủy xương bồ, mộc hương
và rễ cỏ bươm bướm (Canscora decussata (Roxb.) Roem et Schult., Gentianaceae) mỗi vị
120g đã tán thành bột mịn. Tất cả cho vào đánh kỹ rồi đun nhỏ lửa cho đến khi bốc hết hơi
5


thành bột nhão. Liều dùng 5 – 10g, ngày 2 lần, uống với sữa, sau khi ăn. Có thể chế thành
siro rồi uống.
❖ Chữa khản tiếng do lao phổi (tài liệu Ấn Độ):
Rau đắng biển, thủy xương bồ, rễ cang mai, quả chiêu liêu, tất bát (Piper longum L.,
Piperaceae). Các vị phơi khô tán bột với lượng bằng nhau. Ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần
10g với mật ong.
❖ Chữa rắn cắn:
Rau đắng biển 30g, dây mơ lông 30g, lá mướp đắng 30g, đọt cây sập 20g, rau cần tươi
20g, rau má 20g. Tất cả dùng tươi, giã nát, vắt lấy nước uống, bã đắp (kinh nghiệm của
nhân dân Minh Hải) [1].
1.1.9. Một số nghiên cứu về BME
Nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng việc điều trị bằng BME sau một khoảng thời gian
cải thiện rõ rệt khả năng học tập và trí nhớ ở chuột so với nhóm chứng sinh lý thông qua
thử nghiệm mê lộ chữ T và thử nghiệm lẩn tránh thụ động [58].
Nghiên cứu của PGS Nguyễn Thị Thu Hương và cộng sự đối với tác dụng cải thiện
trí nhớ của Rau đắng biển trên mô hình gây suy giảm trí nhớ bằng Scopolamine trong thử
nghiệm “step – down”. Thử nghiệm được sử dụng nhằm mục đích đánh giá trí nhớ của
chuột thông qua thời gian từ lúc chuột bắt đầu được đặt lên trên bục cho đến khi chuột bước
xuống sàn và đặt hoàn toàn bốn chân lên sàn và số lần chuột bước xuống sàn trong suốt
thời gian quan sát 300 giây. Kết quả cho thấy nhóm chuột được điều trị với saponin toàn
phần (50 mg/kg) cải thiện trí nhớ so với nhóm chứng bệnh lý.
Nghiên cứu tác dụng cải thiện trí nhớ của Rau đắng biển trên mô hình gây suy giảm
trí nhớ bằng scopolamine bằng thử nghiệm mê lộ nước Morris cũng cho thấy saponin toàn
phần của Rau đắng biển có tác dụng cải thiện khả năng ghi nhớ bị suy giảm bởi scopolamine
của chuột thử nghiệm [4].
Nghiên cứu của Ahirwar S. và cộng sự về khả năng ức chế Acetylcholinesterase của
Rau đắng biển trên các vùng khác nhau của não chuột qua mô hình in vivo, cho thấy liều
100 mg/kg thể trọng chuột, dịch chiết Rau đắng biển có khả năng ức chế Acetylcholin khác
nhau và có tác dụng ức chế cạnh tranh với Acetylcholinesterase trong tất cả các vùng não
[10].
6


Bằng chứng chỉ ra rằng điều trị bằng BME giúp làm giảm nồng độ β – amyloid có
trong não bệnh nhân Alzheimer nhờ sự có mặt của các chất có trong BME có khả năng ảnh
hưởng tới các thành phần có liên quan tới stress oxy hóa như sự khử các kim loại hóa trị II,
thay đổi hoạt tính lipoxygenase và quá trình peroxyd hóa lipid [34].
Các nghiên cứu trước đây khi sử dụng mô hình in vivo và in vitro trong bệnh thiếu
máu não cũng cho thấy tác dụng của Rau đắng biển trong việc cải thiện trí nhớ. Trong một
nghiên cứu in vivo sử dụng mô hình chuột tắc hai mạch thoáng qua (T2VO) đã phát hiện ra
rằng cao tiêu chuẩn có chứa 21.8% bacoside A và 11.0% bacopaside I từ rau đắng biển
(Bacopa monnieri (L.) Wettst) làm giảm sự thiếu hụt nhận thức do thiếu máu não thoáng
qua. Hơn nữa, nghiên cứu in vitro sử dụng nuôi cấy lát cắt vùng đồi thị (OHSCs) đã cho
thấy rằng bacopaside I, một triterpenoid từ BM, bảo vệ chống lại tổn thương tế bào đồi thị
do oxy hóa và glucose (OGD) thông qua PKC và PI3 [38]. Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa rõ
liệu tác dụng chống mất trí nhớ của cao chiết Rau đắng biển có liên quan đến sự hình thành
thần kinh nội sinh hay không.
1.2.

Tổng quan về suy giảm trí nhớ và sa sút trí tuệ

1.2.1. Khái niệm sa sút trí tuệ và suy giảm trí nhớ
Theo định nghĩa của WHO: “Sa sút trí tuệ là một hội chứng cấp tính hay mạn tính
do bệnh của não, gây rối loạn chức năng thần kinh cao cấp bao gồm trí nhớ, tư duy, phương
hướng, sự hiểu biết, tính toán, khả năng học hỏi, ngôn ngữ và phán xét nhưng ý thức chưa
bị mất hoàn toàn. Hội chứng đi kèm sự suy giảm chức năng nhận thức do suy giảm trong
kiểm soát cảm xúc, động cơ và hành vi xã hội. Hội chứng xảy ra trong bệnh Alzheimer,
bệnh mạch máu não và trong các điều kiện khác trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến
não” [54].
Hoạt động của trí nhớ gồm có ba quá trình cơ bản [6]:
❖ Quá trình ghi nhận:
Quá trình hưng phấn ở những hệ thống cấu trúc cơ động của bộ não trước những kích
thích của thực tại: Càng chú ý và càng thích thú với kích thích bao nhiêu thì quá trình ghi
nhận càng chắc chắn, rõ ràng bấy nhiêu.
❖ Quá trình bảo tồn:
7


Quá trình hình thành những đường liên hệ tạm thời để duy trì dấu vết của những kích
thích đã tác động vào bộ não. Kích thích càng mạnh, càng được lặp lại thì quá trình bảo tồn
càng bền vững.
❖ Quá trình nhớ lại:
Quá trình hồi phục những đường liên hệ tạm thời đã được bảo tồn trong những hệ thống
cấu trúc cơ động của bộ não. Nhớ lại tốt chứng tỏ quá trình bảo tồn tốt. Thường nhớ lại
xuất hiện dưới hai hình thức:
-

Nhận lại: Thông qua các giác quan nhận được những đối tượng kích thích trước
kia. Ví dụ: Nhận lại bạn cũ xa nhau nhiều năm.

-

Hiện tại: Kinh nghiệm và tri thức cũ, không cần thông qua tri giác đối tượng kích
thích trước kia, vẫn có thể hiện ra trong óc dưới dạng biểu tượng hay ý niệm. Ví
dụ: Hiện lại khuôn mặt bà mẹ đã mất.

Suy giảm trí nhớ (hypomnesia):
❖ Là kém nhớ những sự việc mới xảy ra hay những sự việc đã cũ. Thường những sự
việc mới xảy ra khó nhớ hơn những sự việc cũ (Định luật Ribot). Gặp trong loạn
thần tuổi già, liệt toàn thể tiến triển, bệnh tâm căn suy nhược, … [6].
❖ Bộ nhớ có chức năng còn nguyên vẹn là rất quan trọng để thực hiện các hoạt động
trong cuộc sống hằng ngày như quản lý tài chính, nhớ uống thuốc, lái xe. Nhớ sinh
nhật của một đứa cháu và cách sử dụng máy tính mới, … Suy giảm trí nhớ được thấy
trong bệnh lão hóa, bệnh Alheimer nhưng cũng gặp trong một số rối loạn tâm thần
và thần kinh khác: Thiểu năng trí tuệ, tự kỷ, rối loạn thiếu tập trung, khuyết tật khả
năng học tập, tâm thần phân liệt, trầm cảm đều có suy giảm trí nhớ, cũng như trong
bệnh Parkinson, Huntington và các bệnh thoái hóa thần kinh khác. Người ta tin rằng,
suy giảm trí nhớ phát sinh từ các hoạt động bất thường trong mạng lưới neuron và
sự suy giảm hoạt động của các synap. Việc tái tạo synap là rất cần thiết cho sự hình
thành của trí nhớ và được cho là điều chỉnh bởi nhiều điều kiện sinh học bao gồm:
Biểu hiện gen, dịch mã protein, sự suy thoái protein, động học tế bào, tương tác
matrix ngoại bảo, chất truyền tin thứ hai, receptor và chức năng của chất dẫn truyền
thần kinh. Sự thiếu hụt hoặc suy giảm chức năng của một hay nhiều yếu tố này có
thể dẫn tới cản trở dẫn truyền thần kinh và gây suy giảm trí nhớ [30].
8


Sa sút trí tuệ cần được phân biệt với tình trạng giảm trí nhớ sinh lý của người lớn
tuổi (quên lành tính của tuổi già) vốn là hệ quả của sự lão hóa, trong đó các quá trình thần
kinh bị chậm đi. Người có chứng quên lành tính của tuổi già học các thông tin mới bị chậm
hơn và cũng nhớ lại các thông tin mới học được chậm hơn người bình thường, tuy nhiên
nếu họ được cho thêm thời gian để được thực hiện những hoạt động này thì họ vẫn đạt được
các thành tích trí tuệ ở mức chuẩn của người bình thường. Các hoạt động thường ngày của
họ cũng không bị ảnh hưởng [20].
1.2.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
Có nhiều nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh dẫn tới suy giảm trí nhớ:
❖ Nguyên nhân do bệnh lý thoái hóa:
Suy giảm trí nhớ thường gặp trong bệnh Alzheimer. Alzheimer là một bệnh lý thoái hóa
thần kinh tiến triển, các rối loạn thần kinh không thể đảo ngược và được đặc trưng về mặt
lâm sàng bởi mất trí nhớ và suy giảm nhận thức [30]. Tuy nhiên, nguyên nhân và cơ chế
bệnh sinh của bệnh Alzheimer chưa được biết chính xác. Tuổi tác và yếu tố gen di truyền
là những nguy cơ quan trọng nhất.

Hình 1.2: Sơ đồ bệnh sinh
9


-

Giả thuyết beta amyloid:

β - amyloid peptid (βAP) là những sản phẩm tự nhiên của quá trình chuyển hóa bao
gồm 36-43 acid amin, βA42 ít phổ biến hơn so với các βAP nhưng lại dễ bị kết tụ và hình
thành mảng bám. Sự mất cân bằng giữa sản xuất, thanh thải của các peptid làm cho các
βAP dư thừa tích lũy và kết tụ lại gây độc cho tế bào. Giả thuyết chỉ ra sự tích tụ β-amyloid
peptid (βAP) được coi là độc tố làm ngăn cản quá trình cân bằng ion calci, ức chế chức
năng của một số enzyme và khả năng sử dụng glucose của tế bào thần kinh đồng thời kích
hoạt sự chết theo chương trình [14], [55]. Người ta vẫn chưa biết chính xác sự biến đổi
trong việc sản xuất βAP đến mức độ nào thì gây ra suy giảm trí nhớ.
-

Giả thuyết đám rối thần kinh (Neurofibrilary Tangles - NFTs)

Đám rối thần kinh - NFTs thường được tìm thấy trong các tế bào thùy hải mã và vỏ
não ở người bệnh Alzheimer. NFTs được hình thành từ protein tau phosphoryl hóa bất
thường. Protein tau có vai trò ổn định cấu trúc vi ống, giúp hệ thống vi ống thực hiện chức
năng nâng đỡ tế bào, chức năng vận chuyển và vận động tế bào chất. Khi sợi tau bị
phosphoryl hóa bất thường tại một vị trí cụ thể, chúng không thể liên kết một cách hiệu quả
với các vi ống làm chức năng của chúng bị gián đoạn dẫn tới gây chết tế bào. Mật độ của
các NFTs tương quan với mức độ nghiêm trọng của bệnh mất trí nhớ bởi chúng là một dấu
hiệu về sự chết đi của các tế bào thần kinh [55], [22], [14].
-

Giả thuyết cholinergic và những bất thường về các chất dẫn truyền thần kinh
khác.

Rối loạn chức năng và thoái hóa tế bào lan tỏa dẫn đến một loạt các khiếm khuyết
dẫn truyền thần kinh, trong đó, các bất thường trên hệ cholinergic là nổi bật nhất. Sự mất
hoạt động của hệ cholinergic có mối tương quan thuận với mức độ nghiêm trọng của bệnh
suy giảm trí nhớ. Vào giai đoạn muộn của bệnh, số lượng các tế bào thần kinh cholinergic
và số lượng các thụ thể nicotinic trong vùng hải mã và vỏ não giảm xuống. Thụ thể nicotinic
trước synap có vai trò kiểm soát việc giải phóng của acetylcholin, cũng như các chất dẫn
truyền thần kinh quan trọng khác cho bộ nhớ và tâm trạng, bao gồm: glutamat, serotonin
và norepinephrin. Giả thuyết cholinergic lý giải việc mất tế bào cholinergic là nguyên nhân
suy giảm nhận thức trong bệnh Alzheimer, do đó, việc tăng cường chức năng hệ cholinergic
có thể cải thiện triệu chứng mất trí nhớ [14], [55], [22].
10


-

Giả thuyết apolipoprotein E

Những nghiên cứu trước đây đã tìm thấy nhiều mối liên hệ giữa cholesterol và sự
xuất hiện của bệnh Alzheimer. Apolipoprotein E (Apo E) là một lipoprotein có nhiệm vụ
vận chuyển cholesterol trong não. Apoliprotein E4 có liên quan đến tăng tính lắng đọng của
βAP và được cho là đóng vai trò như một chất điều hòa thúc đẩy trong quá trình bệnh sa
sút trí tuệ mạch máu. Cholesterol được vận chuyển bằng LDL vào tế bào thần kinh và liên
kết với NFTs. Mức cholesterol cao trong tế bào thần kinh não có thể làm thay đổi chức
năng màng tế bào, dẫn đến hình thành các βAP và các mảng bám [22], [55], [14].
-

Các chất trung gian gây viêm

Giả thuyết cho rằng, khi βAP tích tụ, các thực bào tiểu thần kinh đệm được kích hoạt và
tăng cường phản ứng của các tế bào hình sao với các mảng bám. Các thực bào tiểu thần
kinh đệm làm giảm βAP bằng cơ chế thực bào. Các tế bào hình sao đưa βAP vào tế bào
chất gián tiếp qua receptor và vận chuyển βAP vào tuần hoàn chung, do đó cũng làm giảm
βAP. Tuy nhiên, việc kích hoạt mạn tính các tiểu thần kinh đệm dẫn tới giải phóng các
cytokin như interleukin-1 (IL-1), interleukin-6 (IL-6) và yếu tố hoại tử khối u (TNF-α),
nitric oxid ... làm tổn thương các tế bào thần kinh và thúc đẩy quá trình viêm liên tục. Trên
thực tế, nhiều cytokin và chemokin tăng lên trong não bệnh nhân Alzheimer, và một số kiểu
đa hình gen tiền viêm được báo cáo là có liên quan với bệnh Alzheimer [55], [14], [22].
❖ Nguyên nhân không do bệnh lý thoái hóa
Ngày càng có nhiều bằng chứng về mối quan hệ nhân - quả giữa các bệnh lý tim mạch
và những yếu tố nguy cơ tim mạch với tỷ lệ mắc bệnh sa sút trí tuệ. Các yếu tố nguy cơ tim
mạch là những yếu tố nguy cơ sa sút trí tuệ bao gồm: tăng huyết áp, tăng lipoprotein
cholesterol tỷ trọng thấp (LDL-cholesterol), giảm lipoprotein cholesterol tỷ trọng cao
(HDL-cholesterol) và bệnh tiểu đường. Bệnh tiểu đường có thể làm tăng nguy cơ mất trí
nhớ thông qua các yếu tố liên quan đến “hội chứng chuyển hóa” (rối loại lipid máu và tăng
huyết áp) và thông qua bất thường insulin. Rối loạn con đường tín hiệu insulin (insulinsignaling pathways), cả ở ngoại vi và ở não, có sự liên quan đến bệnh sa sút trí tuệ. Insulin
cũng có vai trò trong việc điều chỉnh sự chuyển hóa của βAP và protein tau.
Các bệnh mạch máu não làm giảm cung cấp các chất dinh dưỡng cho tế bào thần
kinh và giảm độ thanh thải của βAP từ não bộ, làm tăng tốc độ lắng đọng β-amyloid và tăng
11


độc tính của β-amyloid cho tế bào thần kinh do đó làm nặng thêm sự giảm khả năng nhận
thức của bệnh sa sút trí tuệ.
Những giả thuyết khác được đề xuất để giải thích cơ chế bệnh sinh của suy giảm trí
nhớ bao gồm sự oxy hóa, rối loạn chức năng ty thể, và những ảnh hưởng của estrogen ở
phụ nữ sau mãn kinh.
Cho tới nay, chưa có cơ chế bệnh sinh nào được chứng minh là cơ chế chính. Nhưng
tất cả các giả thuyết đều dẫn đến một hậu quả: sự thoái hóa của tế bào thần kinh trong vùng
não cao hơn, hình thành NFTs và mảng bám; sự suy giảm hoạt động nghiêm trọng hệ
cholinergic và sự mất nhận thức tiến triển từ từ cho tới khi bệnh nhân tử vong [22], [55],
[14].
1.2.3. Thuốc điều trị
1.2.3.1.

Nhóm thuốc điều trị tổn thương liên quan đến nhận thức

❖ Thuốc kháng enzym cholinesterase
Nhóm này được sử dụng do khả năng suy giảm thụ thể acetylcholin và nicotin trong
hệ thần kinh trung ương ở các bệnh nhân sa sút trí tuệ do bệnh Alzheimer và những khiếm
khuyết gây suy giảm trí nhớ, nhận thức.
Cho tới nay, thuốc kháng enzym cholinesterase được xem là nhóm thuốc chính trong
điều trị Alzheimer và các bệnh sa sút trí tuệ khác, đã được chứng minh là có hiệu quả trong
việc điều trị các triệu chứng của bệnh Alzheimer và các bệnh sa sút trí tuệ khác khi được
sử dụng ở giai đoạn bệnh nhẹ hay nặng trung bình (10-24 điểm MMSE), tuy nhiên các
thuốc này không ngăn chặn được diễn tiến tự nhiên của bệnh. Các thuốc thuộc nhóm này
bao gồm: tacrin, donepezil, rivastigmin, galantamine [3].
❖ Nhóm thuốc kháng thụ thể N-methyl D aspartate (NMDA)
Glutamat là một chất dẫn truyền thần kinh kích thích có thể đóng vai trò quan trọng
trong việc phát triển và tiến triển của bệnh thoái hóa thần kinh. Một giả thuyết cho rằng vai
trò của glutamate là phát quá mức xung động thần kinh dẫn đến kích thích quá mức của các
thụ thể glutamate NMDA, gây tăng nhập calci vào tế bào gây phá hủy các neuron [5]. Do
đó, các thuốc tác động vào thụ thể NMDA sẽ làm cải thiện được tình trạng bệnh.
Memantin, một thuốc thuộc nhóm NMDA, là thuốc đối kháng không cạnh tranh trên
thụ thể NMDA của hệ thống glutamat. Memantin giảm ức chế receptor NMDA đối với
12


glutamate sinh lý và tăng ức chế receptor này đối với glutamate bệnh lý, do đó cải thiện trí
nhớ và chức năng nhận thức [28]. Điều trị Alzheimer vừa và nặng với memantin không cải
thiện chức năng và hành vi, nhưng cải thiện ít tổng thể và tình trạng nhận thức [22], [14],
[28].
❖ Chất tác dụng trên amyloid bệnh lý
Tuy dòng thác amyloid là một trọng tâm nghiên cứu trong điều trị suy giảm trí nhớ
nhưng đến nay vẫn chưa có thuốc đối kháng amyloid nào được phê duyệt, mặc dù nhiều
chất đang ở pha cuối thử nghiệm lâm sàng [22].
-

Giảm sản xuất Aβ:
✓ Ức chế β-secretase: Amyloid được hoạt hóa bởi β-secretase hoặc enzyme
β-site APP-cleaving 1 (BACE1). Nhóm thiazolidindion trong điều trị đái
tháo đường typ 2 gồm rosiglitazon và pioglitazon được sử dụng chủ yếu
để điều chỉnh chuyển hóa glucose và lipid, cũng có thể ức chế β-secretase
và tiền chất amyloid (APP) [28].
✓ Ức chế γ-secretase: Tác động của γ-secretase lên β-secretase trong quá
trình phân cắt protein APP là bước cuối cùng trong sản xuất Aβ.
Semagacestat là chất ức chế γ-secretase duy nhất được nghiên cứu trong
điều trị Alzheimer, có tác dụng giảm sản xuất Aβ ở hệ thần kinh trung
ương phụ thuộc liều [28].
✓ Hoạt hóa α-secretase: α-secretase là enzym cạnh tranh với β-secretase
trong phân cắt protein APP, hoạt hóa con đường không amyloid tạo ra các
sản phẩm có tác dụng bảo vệ thần kinh, cải thiện trí nhớ và giảm sự chết
tế bào. Một số chất ảnh hưởng lên hoạt động của α-secretase thông qua
các chất dẫn truyền thần kinh khác (glutamat, serotonin), hormon
(estrogen, testosteron) và các statin đã được nghiên cứu. Tuy nhiên, hiện
tại chưa có chất tác động lên α-secretase nào được thử nghiệm pha III
[28].

-

Giảm kết tập Aβ:

Gần đây, các oligome tan được của Aβ được biết tới có mối liên hệ chặt chẽ với độc
tính trên thần kinh và synap hơn so với các sợi fibrin Aβ. Các chất ức chế kết tập hoặc làm
13


mất ổn định của oligome Aβ có thể làm thay đổi triệu chứng bệnh. Một số chất ức chế kết
tập khác đang được nghiên cứu lâm sàng [28].
-

Tăng thải trừ Aβ:

Loại bỏ độc tính của Aβ thông qua đáp ứng miễn dịch làm giảm bớt những tác động
có hại của Alzheimer với 4 cơ chế chính: (i) liên kết kháng thể và thực bào nhờ tế bào tiểu
thần kinh đệm microglia; (ii) trực tiếp hòa tan thông qua sự gián đoạn của Aβ; (iii) chiết
tách hòa tan từ hệ thần kinh trung ương bởi kháng thể trong huyết tương; (iv) liên kết kháng
thể để ức chế oligome gây độc tính mà không ảnh hưởng tới amyloid. Bapineuzumab và
Solanezumab đang được nghiên cứu với cơ chế tạo ra kháng thể trung gian giải phóng Aβ
[28].
1.2.3.2.

Nhóm điều chỉnh hành vi (Tăng cường hoạt tính serotonin)

Nhóm này có tác dụng tăng cường tái hấp thu serotonin chọn lọc SSRIs có tác dụng
giúp bệnh nhân điều chỉnh hành vi, chống trầm cảm, tránh kích thích hoặc lú lẫn. Nhóm
này gồm có Fluoxetin, Citalopram, Escitalopram, Paroxetin [14], [22], [55].
1.2.3.3.

Các thuốc chống oxy hóa và các nhóm khác

❖ Vitamin E:
Giảm tổn thương do tế bào bị oxy hóa bởi các gốc tự do.
❖ Ginkgo Biloba:
Tăng tuần hoàn, cải thiện suy giảm trí nhớ.
❖ Estrogen:
Ảnh hưởng đến quá trình bảo vệ và dinh dưỡng thần kinh.
❖ Kháng viêm NSAIDs:
Có một nghiên cứu cho thấy nhóm này có tác dụng giảm nguy cơ mắc bệnh
Alzheimer [22], [14].
1.2.3.4.

Hạn chế của các thuốc điều trị sa sút trí tuệ hiện nay

❖ Các phương pháp điều trị hiện tại không có hiệu quả kéo dài tuổi thọ, chữa khỏi,
hoặc tạm dừng hoặc đảo ngược quá trình sinh lý bệnh. Hai nhóm thuốc chính đang
sử dụng là thuốc ức chế cholinesterase và thuốc tác dụng trên hệ glutamat dựa trên
hai giả thuyết cơ chế bệnh sinh của bệnh Alzheimer. Nhóm thuốc ức chế
cholinesterase chỉ định cho trường hợp bệnh nhẹ đến trung bình, ổn định nhận thức
14


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×