Tải bản đầy đủ

Tác động của liên kết tư nhân đến nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp VN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

TIỂU LUẬN MÔN QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC

Đề tài số 18:

TÁC ĐỘNG CỦA LIÊN KẾT KINH TẾ TƯ
NHÂN ĐẾN NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH DOANH NGHIỆP

Giảng viên giảng dạy: PGS TS. LÊ THÁI PHONG
Lớp tín chỉ: QTR312(2-1819).1_LT
Họ và tên: Trần Thị Huyền

Hà Nội, tháng 05 năm 2019


LỜI GIỚI THIỆU
Trong những năm vừa qua chúng ta đã được chứng kiến những thành tựu ngoạn mục
cũng như những đóng góp khổng lồ cho nền kinh tế nước ta của khu vực kinh tế tư nhân cụ

thể đã liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá và chiếm tỉ trọng 40-43% GDP, xứng đáng với vị
trí là trụ cột mới của nền kinh tế, là động lực mới cho tăng trưởng. Vì thế hiện nay khu vực
kinh tế đầu tư tư nhân đang được nhà nước chú trọng và nâng cao vị thế trong nhận thức của
Đảng ta so vơi giai đoạn trước thể hiện rõ qua quan điểm trong Nghị quyết hội nghị lần thứ 5
năm 2017 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII khẳng định kinh tế tư nhân (KTTN) là
“một động lực quan trọng của nền kinh tế” thay vì coi KTTN là một trong những động lực
của nền kinh tế như trước.
Nhiều chính sách và biện pháp ưu đãi, cần thiết đã và đang được đưa ra nhằm thúc đẩy
khu vực kinh tế tư nhân phát triển tuy nhiên nhà nước cần có một chính sách khẳng định rõ
ràng về việc các doanh nghiệp tư nhân trong nước sẽ là trụ cột của nền kinh tế quốc dân và
của năng lực cạnh tranh quốc gia cũng như tầm quan trọng của năng lực cạnh tranh doanh
nghiệp.Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp của Việt Nam còn chưa cao trong khi đây chính là
một trong những chìa khóa giúp phát triển khu vực kinh tế tư nhân từ đó tăng trưởng nền kinh
tế. Hiện nay liên kết kinh tế tư nhân đang là xu hướng phát triển của khu vực tư nhân góp
phần không nhỏ trong việc gia tăng khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp đặc biệt trong
tình hình cạnh tranh gay gắt đang diễn ra trên thế giới cũng như trong nước đặc biệt với sự
xuất hiện của doanh nghiệp nước ngoài về mọi khía cạnh trong cuộc cách mạng công nghiệp
4.0.
Để không bị đánh bật khỏi đấu trường quốc tế bởi năng lực cạnh tranh yếu kém, Việt
Nam cần hiểu rõ cũng như thúc đẩy liên kết trong khu vực kinh tế tư nhân nhằm góp thêm sức
mạnh của các doanh nghiêp trong bối cảnh kinh tế hiện nay. Vì vậy chúng ta sẽ cùng tìm hiểu
rõ những tác động của liên kết tư nhân đang và sẽ có lên năng lực của doanh nghiệp để có
những hướng đi và giải pháp đúng đắn cho doanh nghiệp và nhà nước Việt Nam qua bài viết
này.
Vì điều kiện thời gian cũng như trình độ hiểu biết của em còn hạn chế nên bài tiểu
luận khó tránh khỏi những sai sót. Cá nhân em rất hy vọng có thể nhận được lời nhận xét và
đánh giá từ thầy giáo. Em xin chân thành cảm ơn!


1. Lý thuyết chung về khu vực kinh tế tư nhân và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1. Kinh tế tư nhân
Kinh tế tư nhân tại Việt Nam được xác định là khu vực kinh tế nằm ngoài khu vực kinh tế nhà
nước (không bao gồm khu vực vốn đầu tư nước ngoài), bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và
kinh tế tư bản tư nhân dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Hiện nay, kinh tế tư nhân
tồn tại dưới các hình thức như: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty
cổ phần (không có hoặc có vốn nhà nước dưới 50%) và các hộ kinh doanh cá thể. (Theo Viện
Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Trung tâm Thông tin – Tư liệu)
Liên kết trong kinh tế tư nhân là liên kết giữa DN thuộc thành phần kinh tế tư nhân (cty
TNHH, cty CP, cty TNHH MTV...) có liên kết kinh doanh với 1 DN khác thuộc khu vực kinh
tế tư nhân hoặc khu vực kinh tế nhà nước, hoặc khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
(DN FDI).
1.2. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Theo Wikipedia: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ thực lực của doanh
nghiệp và là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh không chỉ được
tính băng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,… mà
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa
ra thị trường. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có
quan điểm đồng nhất của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh…”
 Các nhân tố tạo nên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp:
Trìnhđộ tổ chức quản lý của doanh nghiệp
Yếu tố nguồn lực của doanh nghiệp bao gồm nguồn nhân lực, nguồn vốn và trình độ
khoa học công nghệ.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Khả năng liên kết vả hợp tác với doanh nghiệp khác và hội nhập kinh tế quốc tế
Năng suất sản xuất kinh doanh
Uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp được hình thành trong cả một quá trình phấn
đấu lâu dài, kiên trì theo đuổi mục tiêu và chiến lược đúng đắn
 Các nhân tố tác động khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm:
 Môi trường vĩ mô bao gồm xã hội và nhân khẩu, tự nhiên, kinh tế, pháp luật chính


trị,văn hóa, khoa học kĩ thuật
Môi trường ngành bao gồm năm nhân tố cơ bản là : đối thủ cạnh tranh, người mua,



người cung cấp, các đối thủ tiềm ẩn và các đối thủ thay thế
Doanh nghiệp bao gồm nguồn nhân lực, nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính tổ
chức, kinh nghiệm


2. Thực trạng tác động của liên kết tư nhân đối với nâng cao năn lực cạnh tranh doanh
nghiệp ở nước ta
2.1. Thực trạng kinh tế tư nhân và liên kết kinh tế tư nhân ở nước ta
Theo ông Trịnh Đức Chiều - Phó Trưởng ban Cải cách và Phát triển doanh nghiệp (Viện
nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương - CIEM) kinh tế tư nhân là thành phần chiếm tỉ trọng
lớn nhất trong GDP trong suốt giai đoạn 1995 - 2017, dao động từ 38 - 43%. Đặc biệt tỉ trọng
thuộc khu vực doanh nhân tăng 8,64% năm 2017 trong khi khu vực kinh tế cá thể và khu vực
kinh tế tập thể giảm mạnh.Vị thế của kinh tế tư nhân đang được nâng cao qua các năm biểu
hiện cụ thể là khu vực này liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, chiếm tỉ trọng 40-43%
GDP.

Hình 1: Cơ cấu GDP năm 2016
HTX; 4.00%
Thuế sản phẩm từ trợ cấp
sản
10.00%
Khu vựcphẩm;
nhà nước;
29.00%
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; 18.00%

khu vực tư nhân; 39.00%

Nguồn: Tổng cục thống kê
Hiện nay, tốc độ tăng trưởng của KTTN đang nhanh hơn tốc độ chung của nền kinh tế, thúc
đẩy mục tiêu tăng tỉ trọng đóng góp của khối KTTN vào nền kinh tế đạt khoảng 50% vào năm
2020, tăng thêm 5% vào năm 2025 và đến năm 2030 khoảng 60-65%. Trong những năm gần
đây có thể kể đến một số đại gia mới nổi đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế và đóng vai trò
nổi bật trong việc cạnh tranh và việc hội nhập với bên ngoài như Vingroup, FLC, Trường Hải,
TH TrueMilk, Hòa Phát, đặc biệt là doanh nghiệp Tân Hiệp Phát. Tuy vậy, bức tranh kinh tế
tư nhân hầu hết có quy mô nhỏ và siêu nhỏ; những doanh nghiệp tư nhân đầu đàn dường vẫn
đang tập trung vào bất động sản, xây dựng và đầu tư tài chính.... Để KTTN phát triển các
doanh nghiệp nhỏ cần liên kết với doanh nghiệp lớn để phát triển và có những bước tiến dài
hơn.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế với chính sách nền kinh tế mở của các doanh nghiệp thuộc
khu vực KTTN của Việt Nam phải đối mặt với cơ hội và thách thức to lớn. Họ phải cạnh tranh


với những doanh nghiệp nước ngoài vững mạnh về tiềm lực tài chính và kinh nghiệm vì vậy
liên kết kinh tế là một biện pháp thiết yếu để các doanh nghiệp trong nước củng cố hơn về
tiềm lực và năng lực cạnh tranh của mình.
 Mối liên kết giữa doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân và doanh nghiệp FDI
(doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài)
Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã trở thành một địa điểm hấp dẫn thu hút FDI trong
khu vực ASEAN) và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) , thu hút đầu tư từ nhiều nước
phát triển ở Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore, cũng như các nhà đầu tư đến từ
Châu Âu, Hoa Kỳ,… Tuy nhiên, hầu hết các công ty trong nước còn có quy mô nhỏ và chỉ
phục vụ thị trường nội địa. FDI đã mang lại những lợi ích to lớn cho Việt Nam về tăng trưởng,
xuất khẩu và việc làm, nhưng ít quan tâm hơn đến phát triển mối liên kết với nền kinh tế trong
nước. Điều này được phản ánh trong việc giá trị gia tăng nội địa thấp và nền tảng cung cấp
yếu của Việt. Theo nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB), mối liên kết giữa doanh nghiệp
Việt Nam với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI) mặc dù đã có sự cải thiện, các doanh
nghiệp Việt Nam đang bắt đầu thâm nhập vào chuỗi cung ứng của một số tập đoàn đa quốc
gia như SamSung, LG… nhưng vẫn chậm so với kỳ vọng của Chính phủ và mức độ cạnh
tranh ngày càng cao trong khu vực.
Về liên kết ngược (doanh nghiệp trong nước cung cấp đầu vào cho doanh nghiệp FDI)
Hiện nay các doanh nghiệp nước ngoài đang tìm kiếm nhà cung cấp từ các khu vực địa
phương để có nguồn đầu vào rẻ,giảm chi phí sản xuất trung bình và chi phí vận chuyển. Ví dụ
Giai đoạn 2014 - 2015, chỉ có 10 DN của Việt Nam được chọn là nhà cung ứng cho Samsung
thì đến hết năm 2017, Việt Nam đã có 29 nhà cung ứng cấp 1 và khoảng hơn 200 nhà cung
ứng cấp 2, cấp 3 được chọn là nhà cung ứng cho tập đoàn này. Ban đầu các sản phẩm cung
cấp chỉ đơn giản như đóng gói bao bì, nhưng qua thời gian với sự hướng dẫn của Samsung, số
DN Việt Nam cung cấp sản phẩm đã mở rộng sang các lĩnh vực chuyên sâu hơn.


Hình 2. Tỷ lệ doanh nghiệp nước ngoài sử dụng đầu vào trong nước (Nguồn: WB (2017))
Từ bảng 1 ta thấy 2/3 doanh nghiệp FDI sử dụng đầu vào cung cấp bởi các doanh nghiệp
trong nước điều này mang lại lợi ích lớn cho các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói
chung.

Loại hợp đồng cung ứng

Doanh   nghiệpDoanh   nghiệp
FDI
VN

Hợp đồng ngắn hạn

89,5%

89,8%

Hợp đồng dài hạn

10,5%

10,2%

- Với doanh nghiệp FDI khác

     34,2%

12,3%

- Với doanh nghiệp VN

     65,8%

87,7%

Bảng 2. Tỷ lệ doanh nghiệp FDI ký hợp đồng mua đầu vào trong nước năm 2017
(Nguồn: Tạp chí kinh tế đối ngoại số 99)
Tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam là nhà cung cấp đầu vào cho các doanh nghiệp FDI vẫn còn ở
mức thấp nhưng đang có xu hướng cải thiện. Số liệu điều tra doanh nghiệp năm 2017 cho thấy
có gần 20% DN Việt Nam trở thành nhà cung cấp cho các doanh nghiệp FDI, con số này tăng
lên đáng kể so với năm 2015 (khoảng 14% theo điều tra PCI2016). Và trong số đó thì có tới
65% doanh nghiệp VN xác định rằng các doanh nghiệp FDI là khách quan trọng nhất của họ
Về liên kết xuôi (doanh nghiệp trong nước mua đầu vao được sản xuất từ các doanh nghiệp
FDI)


Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2018, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu
thô) đạt 175,52 tỷ USD chiếm 71,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Như vậy các
doanh nghiệp FDI có xu hướng xuất khẩu làm giảm cơ hội liên kết xuôi với doanh nghiệp tư
nhân trong nước ta.
Theo số liệu của cục thống kê 2017,trong số gần 70% doanh nghiệp FDI có cung ứng sản
phẩm cho thị trường trong nước thì chưa đến 20% doanh nghiệp hoàn toàn không có hoạt
động xuất khẩu.
Mức độ liên kết xuôi nội địa

Tỷ lệ

Không có liên kết xuôi trong nước

28.29%

Liên kết xuôi trong nước yếu

26.66%

Liên kết xuôi trong nước nhiều

26.09%

Liên kết xuôi hoàn toàn trong nước

18.96%

Bảng 3. Liên kết xuôi của các doanh nghiệp FDI với thị trường Việt Nam năm 2017
(nguồn: Tạp chí kinh tế đối ngoại số 99)
Cũng theo điều tra doanh nghiệp của Tổng cục thống kê 2017, tỷ lệ doanh nghiệp FDI có
khách hàng là doanh nghiệp Việt Nam chiếm khoảng 48, 25% và khoảng 23,45% doanh
nghiệp FDI có bạn hàng chỉ là các doanh nghiệp FDI, không có bất kỳ bạn hàng nào trong
nước.
 Mối liên kết giữa khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế nhà nước
Hiện nay, nhà nước đang xây dựng chính sách tạo điều kiện để kinh tế tư nhân tham gia vào
quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước thông qua việc góp vốn, mua cổ phần; thúc đẩy
liên kết theo chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp của tư nhân... Năm
2018, cả nước có 32 doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) được phê duyệt phương án cổ phần
hóa, Nhà nước chỉ còn giữ 58,44% tổng vốn điều lệ. Qúa trình thoái vốn đang được thúc đẩy
thực hiện thúc tạo cơ hội cho doanh nghiệp tư nhân tham gia vào doanh nghiệp nhà nước.
Ngoài ra,PPP (hợp tác công tư) là hình thức hợp tác mới theo đó nhà nước cho phép tư nhân
tham gia đầu tư vào các dịch vụ hoặc công trình công cộng của nhà nước. Theo thống kê của
Ngân hàng thế giới giai đoạn 1994 – 2009 Việt Nam có 32 dự án được thực hiện theo mô hình
PPP với tổng vốn là 6,7 tỷ đô la. Trong đó viễn thông và điện là 2 lĩnh vực chiếm phần lớn.
Ngoài ra, cơ hội tìm kiếm lợi nhuận là mục đích tiên quyết của dự án này.


 Mối liên kết giữa các doanh nghiệp trong khu vực tư nhân
Theo nội dung đề cập ở trên thành phần chiếm phần lớn khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam
là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Những doanh nghiệp này còn hạn chế về tiềm lực cũng như kinh
nghiệm vì vậy sự liên kết với các doanh nghiệp lớn là điều vô cùng cần thiết để nâng cao khả
năng cạnh tranh của mình. Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp chỉ tập trung cho lợi ích
riêng lẻ, chỉ quan tâm đến thương hiệu riêng, sản phẩm riêng của mình chứ không thấy rõ
được lợi ích to lớn của việc xây dựng thương hiệu cho ngành hàng. Những hạn chế này là
những lý do khiến các doanh nghiệp Việt yếu thế, không thể cạnh tranh với các tập đoàn, công
ty nước ngoài ngay chính trên sân nhà và thị trường thế giới. Những doanh nghiệp lớn mạnh
hẳn có thể giải quyết được, còn hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều hoạt động manh
mún, thiếu đoàn kết, và có lúc cạnh tranh không lành mạnh.
Hiện nay, tình hình này đã có khởi sắc khi Việt Nam có nhiều hiệp hội như Hiệp hội Cà phê
Ca cao Việt Nam (VN), Hiệp hội Dệt may VN, Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản VN,
Hiệp hội Da giầy VN, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản VN... đã và đang có hoạt động hướng vào việc
hình thành chuỗi cung ứng sản phẩm để nâng cao chất lượng sản phẩm đồng thời khuyến
khích các doanh nghiệp xây dựng và mở rộng quy mô qua quá trình liên kết.
Bên cạnh đó với sự phát triển ngày càng lớn mạnh về số lượng và quy mô, kinh tế tư nhân đã
và đang có nhiều chuyển biến tích cực trong những năm qua, đặc biệt là ngày càng có nhiều
doanh nghiệp của khu vực tư nhân hình thành và phát triển theo hướng mô hình tập đoàn kinh
tế (tự phát hoặc liên kết). Về bản chất, tập đoàn kinh tế là một tổ hợp hoặc nhóm các doanh
nghiệp có tư cách pháp nhân độc lập, gồm công ty mẹ, công ty con và các doanh nghiệp liên
kết khác, trong đó công ty mẹ là đầu mối liên kết các doanh nghiệp thành viên, nắm quyền chi
phối các quyết sách chung của tập đoàn. Có thể kể đến một số tập đoàn kinh tế như Kinh Đô,
Trung Nguyên, Hòa Phát, Hoàng Anh Gia Lai, Vingroup,... có mức vốn điều lệ trên 1.000 tỷ
đồng, còn hàng trăm doanh nghiệp khác có mức vốn điều lệ vài trăm tỷ đồng cũng hoạt động
theo mô hình tập đoàn.
Xây dựng chuỗi cung ứng cũng là một trong những hướng mới của các doanh nghiệp Việt để
liên kết với các doanh nghiệp khác. Vingroup là một tấm gương điển hình cho các doanh
nghiệp khác về quan hệ giữa tập đoàn trong nước và doanh nghiệp vừa và nhỏ hình thành
chuỗi cung ứng nông nghiệp. Hiện nay, Vingroup đã ký hợp đồng với 250 nhà cung cấp và
hàng trăm hợp tác xã nông nghiệp để hợp tác áp dụng công nghệ mới, hướng dẫn nông dân
canh tác giúp doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng, người tiêu dùng và Vingroup đều hưởng
lợi.


Tuy nhiên mức độ mua sắm hàng hóa và dịch vụ của các doanh nghiệp lớn, DNNN từ các
doanh nghiệp nhỏ là hết sức hạn chế. DNNN và doanh nghiệp lớn hơn chưa trở thành nhà
cung cấp đáng tin cậy về nguyên liệu đầu vào, máy móc mà doanh nghiệp nhỏ cần cho quá
trình sản xuất và cung ứng dịch vụ (đặc biệt là trong các lĩnh vực có giá trị và yêu cầu chất
lượng cao như như sản xuất khuôn mẫu, phụ tùng…) gây cản trở để nền kinh tế có năng suất
cao hơn. Bên cạnh đó sự liên kết giữa hộ kinh doanh – loại hình đang rất phát triển đóng góp
30,4% cho GDP song chỉ đóng góp 1,56% cho Ngân sách Nhà nước hàng năm (Tổng cục
Thuế, 2018) và các doanh nghiệp khác dường như rất mong manh và mơ hồ.
2.2. Tác động của liên kết kinh tế tư nhân nước ta lên nâng cao năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp ở nước ta
Nhìn chung liên kết kinh tế tư nhân đã đóng góp không nhỏ trong việc thúc đẩy năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp có bước cải thiện. Theo báo cáo của diễn đàn kinh tế thế giới, Năng
lực cạnh tranh nước ta năm 2017 - 2018 tăng 5 bậc so với năm 2016 (từ vị trí 60/138 lên vị trí
55/137 nền kinh tế) môi trường kinh doanh tăng 14 bậc(từ vị trí 82 lên vị trí 68/190 nền kinh
tế); đổi mới sáng tạo cải thiện 12 bậc, đạt thứ hạng 47/127nền kinh tế. Đó là những thứ hạng
cao nhất mà Việt Nam đã đạt được cho đến nay.

Hình 4. Bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu ( Nguồn: weforum)
 Liên kết với doanh nghiệp FDI
Doanh nghiệp FDI là doanh nghiệp có đóng góp lớn vào GDP nước ta qua quá trình vận hành
doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả nhờ vào tiềm lực về tài chính, công nghệ, nguồn nhân
lực, năng lực cạnh tranh lớn và kinh nghiệm trên thương trường. Đây là những yếu tố mà
doanh nghiệp tư nhân cần để nâng cao vị thế của mình trên thương trường cũng như nâng cao


năng lực cạnh tranh. Vì vậy sự liên kết giữa doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI sẽ
mang lại lợi ích vô cùng to lớn cho doanh nghiệp tư nhân Việt Nam.
Trong bài tiểu luận này, ta xét đến tác động lan tỏa (tác động gián tiếp xảy ra khi sự hiện diện
của các doanh nghiệp FDI tại nước nhận đầu tư làm cho các doanh nghiệp tại nước này thay
đổi hành vi và hoạt động của mình như thay đổi chiến lược sản xuất kinh doanh, thay đổi
công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm…) của doanh nghiệp FDI đối với doanh nghiệp tư
nhân trong nước theo kênh tác động liên kết sản xuất.
Về liên kết ngược, việc các doanh nghiệp nội địa cung cấp hàng hóa cho các doanh nghiệp
FDI sẽ giúp cho các doanh nghiệp nội địa mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm để
đạt được các tiêu chuẩn khắt khe của các doanh nghiệp FDI này. Ngoài ra doanh nghiệp Việt
còn được học hỏi thêm kinh nghiệm cũng như áp dụng các công nghệ tiên tiến của doanh
nghiệp FDI trong quá trình liên kết. Điều này sẽ giúp cho các doanh nghiệp nội địa tăng khả
năng cạnh tranh trên thị trường sản phẩm, chiếm lĩnh được thêm thị phần. Ví dụ, SamSung là
doanh nghiệp đứng thứ 2 toàn cầu. Cho nên, để tham gia được vào chuỗi cung ứng của
SamSung, các doanh nghiệp trong nước phải đủ năng lực để có sản phẩm cạnh tranh toàn cầu.
Theo anh Nguyễn Văn Hùng- Tổng Giám đốc của Công ty TNHH Nhựa An Phú Việt. Công ty
chuyên cung cấp các linh kiện nhựa của vỏ điện thoại, vỏ sạc…cho các nhà máy của Samsung
từ năm 2015 sau khi được các chuyên gia từ Samsung hỗ trợ trong khuôn khổ Chương trình tư
vấn cải tiến doanh việc trở thành vendor của Samsung có ý nghĩa bước ngoặt với công ty của
anh vì những yêu cầu khắt khe của Samsung giúp cho doanh nghiệp của anh có cơ sở thay
đổi, cải tiến năng lực sản xuất, năng suất lao động, hệ thống quản lý chất lượng để đáp ứng về
mặt thời gian, sản lượng và chất lượng do Samsung đặt ra. Ngoài ra công ty anh cũng áp dụng
mô hình quản lý vệ sinh công nghiệp 5S tương tự như Samsung giúp An Phú Việt có cơ hội
tìm thêm những khách hàng lớn khác, tạo điều kiện để doanh nghiệp của anh mở rộng quy mô
sản xuất. Đây là một ví dụ nhỏ về quá trình nâng cao năng lực khi liên kết với doanh nghiệp
FDI từ đó cho ta thấy các doanh nghiệp tư nhân Việt cần tận dụng cơ hội để liên kết cũng như
học hỏi trong quá trình liên kết với doanh nghiệp nước ngoài.
Ở chiều ngược lại, liên kết xuôi sẽ giúp các công ty trong nước tiếp nhận được các sản phẩm
và dịch vụ chất lượng cao từ các công ty đa quốc gia để làm đầu vào sản xuất. Điều này làm
nâng cao giá trị sản phẩm của Việt Nam cũng như vị thế của doanh nghiệp trong sự đánh giá
của của khách hàng từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Khách hàng

Thực hiện đầu tư

Chuyển giao công nghệ

Không có doanh nghiệp FDI

6,6%

5,1%


 Có doanh nghiệp FDI

13,4%

12%

Bảng 5. Tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam thực hiện đầu tư và chuyển giao công nghệ từ
khách hàng
(Nguồn Tính toán của tạp chí kinh tế đối ngoại từ Điều tra Doanh nghiệp của Tổng cục thống
kê (2017))
Từ bảng trên ta thấy rõ các doanh nghiệp Việt Nam có khách hàng là các doanh nghiệp FDI sẽ
có tỉ lệ % thực hiện đầu tư và chuyển giao công nghệ từ khách hàng cao hơn 2 lần so với
doanh nghiệp không có liên kết với doanh nghiệp FDI.
 Liên kết với khu vực nhà nước
Việc liên kết đem lại lợi ích cho cả hai bên: nhà nước tận dụng vốn, công nghệ và nhân lực
của doanh nghiệp tư nhân còn doanh nghiệp tư nhân có thể phát huy được thế mạnh nhờ lợi
thế về chính sách, cơ chế quản lí, ưu đãi thuế, đất đai của nhà nước. Hiện nay PPP đang thu
hút sự chú ý các doanh nghiệp trong và ngoài nước tạo ra môi trường cạnh tranh khốc liệt đòi
hỏi các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh của mình để đảm bảo có thể thực hiện dự
án thành công.
Ngoài ra các doanh ngiệp cũng có thể tạo nên điểm mạnh của mình nhờ đảm nhândự án
BOT,BT...Ví dụ như dự án Vinhomes Skylake cuả Vingroup đang là dự án bất động sản được
đánh giá cao và thu hút nhất nhờ vào dự án BT hồ điều hòa và công viên ngay cạnh tòa nhà
này. Không chỉ thu hút khách hàng về lợi thế là dự án duy nhất có mô hình hồ điều hòa và
công viên mà còn giúp nâng giá phòng cao hơn góp phần tăng lợi nhuận.
 Liên kết với doanh nghiệp tư nhân
Những lợi ích mà liên kết kinh tế đem lại cho doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp là rất lớn:
o Đối với doanh nghiệp tư nhân đặc biệt doanh nghiệp vừa và nhỏ còn hạn chế khả năng
cạnh tranh trên thị trường, việc liên kết giúp giảm chi phí giao dịch và rủi ro trong
kinh doanh nhờ mối quan hệ tin cậy giữa các doanh nghiệp trong tập đoàn. Việc giảm
chi phí giao dịch (tức chi phí tìm kiếm, ký kết và kiểm soát thực thi hợp đồng) đóng
vai trò quyết định trong giảm giá thành sản phẩm từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh
cho doanh nghiệp trên thị trường
o Phát huy lợi thế nhờ quy mô: Tập đoàn với việc huy động các nguồn lực sản xuất trên
quy mô lớn góp phần làm giảm chi phí sản xuất, nhờ đó phát huy được lợi thế của yếu
tố quy mô và hiệp lực, cùng với khai thác triệt để thương hiệu, hệ thống cung cấp dịch
vụ, phân phối chung của tập đoàn.


o Các doanh nghiệp liên kết với nhau thành một khối vững chắc và thống nhất để cạnh
tranh một cách hiệu quả với sự quản lý điều hành chung, thương hiệu chung...là cách
thức nhanh và hiệu quả nhất tạo nên sức mạnh cạnh tranh thống lĩnh, chi phối thị
trường và không bị đánh bật bởi thị trường bởi những doanh nghiệp nước ngoài lớn
mạnh trong những ngành hàng nhất định.
o Các doanh nghiệp độc lập tự nguyện liên kết với nhau (theo chiều ngang, dọc hoặc
hỗn hợp) thành doanh nghiệp có quy mô lớn hơn, tạo ra khả năng tiếp thu, đổi mới
công nghệ, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn, có sức cạnh tranh lớn hơn trên thị
trường.
3. Giải pháp
1/

Chính phủ và doanh nghiệp cần thúc đẩy các hoạt động phát triển công nghệ tầm trung
phù hợp với trình độ phát triển hiện tại, như thiết lập các cụm liên kết ngành sản xuất
linh kiện đòi hỏi quy mô đầu tư vốn vừa phải và độ tinh vi công nghệ ở mức trung
bình, nắm bắt được làn sóng khởi nghiệp của các doanh nghiệp công nghệ và thúc đẩy
các hệ sinh thái khởi nghiệp nhằm giúp các doanh nhân vượt qua rào cản về vốn, rủi
ro, nguồn nhân lực... để hiện thực hóa các ý tưởng của mình liên quan đến công nghệ

2/

và đổi mới sáng tạo.
Chính phủ cần cải cách thủ tục hành chính, giảm mạnh những giấy phép, những thủ
tục không cần thiết và chi phí kinh doanh của doanh nghiệp để tạo động lực cho doanh

3/

nghiệp phát triển
Xây dựng tiêu chuẩn đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có năng lực hành nghề
chuyên môn, kỹ năng mềm, đặc biệt kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm, kỷ luật đạo
đức làm việc, trách nhiệm nghề nghiệp và trách nhiệm lao động. Tập trung vào việc
xây dựng thể chế, cơ chế, chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp phù hợp với xu
thế hội nhập; hoàn thiện quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp; nâng cao

4/

chất lượng dạy nghề, tiếp cận các chuẩn khu vực và thế giới.
Xây dựng các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm giải quyết những
khó khăn của doanh nghiệp với hệ thống giám sát và đánh giá toàn diện hơn đồng thời
nâng cao năng lực cho doanh nghiệp và tháo dỡ các rào cản về môi trường kinh doan

5/

mà doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp phải
Tăng cường các hoạt động khuyến khích liên kết giữa các khu vực kinh tế như tổ chức
các diễn đàn kinh tế, đưa ra các quy định chặt chẽ về tỉ lệ nội địa hóa và việc chuyển
giao công nghệ đối với doanh nghiệp FDI


KẾT LUẬN
Quá trình hội nhập và tự do hóa thương mại đang diễn ra mạnh mẽ thể hiện qua hàng loạt hiệp
định tự do thương mại (FTA), hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình
Dương,...được kí kết bởi Việt Nam và các quốc gia khác. Có thể nói đây là những cơ hội tốt
nhất để phát triển kinh tế cùng học hỏi kinh nghiệm quốc tế. Tuy nhiên để đứng vững đấu
trường quốc tế nói chung và trong nước nói riêng các doanh nghiệp Việt Nam cần có những
bước chuyển mình trong năng lực cạnh tranh thông qua nâng cao tiềm lực tài chính, áp dụng
những công nghệ hiện đại nhất vào quá trình quản lí, sản xuất....Để làm được điều đó liên kết
giữa các doanh nghiệp trong cùng và khác khu vực kinh tế, trong và ngoài nước là quá trình
thiết yếu cần được đẩy mạnh bởi nhà nước cũng như bởi chính các doanh nghiệp.
Hiện nay, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân đã được cải thiện đáng kể nâng tầm
năng lực quốc gia trên thế giới. Các mối liên kết ngày càng sâu rộng tạo cơ hội phát triển cho
các doanh nghiệp cùng với những chính sách ưu đãi hơn cho khu vực kinh tế tư nhân được
ban hành bởi chính phủ đóng góp không nhỏ vào sự cải thiện năng lực của doanh nghiệp. Các
phong trào start-up diễn rầm rộ và có không ít các start up thành công khi có sự liên kết, giúp
đỡ của các công ty lớn. Như vậy có thể thấy doanh nghiệp Việt đang dần thâm nhập vào thị
trường quốc tế nhờ nhận thức được tầm quan trọng của việc liên kết trong việc nâng cao năng
lực cạnh tranh cũng chính là nâng cao vị thế của mình.
Chính phủ cần có nhiều biện pháp hơn nữa để khuyến khích các doanh nghiệp liên kết tạo nên
khối kinh tế vững mạnh bắt kịp nhịp độ của thế giới. Các doanh nghiệp phải chủ động hơn
nữa nâng cao năng lực cạnh tranh của mình để có thể đứng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, tận
dụng mối liên kết để học hỏi và phát triển. Chiếm lĩnh thị trường hay biến mất khỏi cuộc đua
được quyết định bởi khả năng tiếp thu cái mới và khả năng thích nghi của doanh nghiệp, khả
năng ấy phụ thuộc rất lớn vào quá trình hợp tác giữa các doanh nghiệp.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

http://documents.worldbank.org/curated/en/214681506064742480/text/119861-WPVitNamTngcngNnglcCnhtranhvLinKtcaDoanhnghipVavNh-PUBLIC-

2.

VIETNAMESE.txt
http://blogs.worldbank.org/vi/eastasiapacific/unlocking-competitiveness-why-invest-

3.

rural-vietnam
http://www.tapchicongthuong.vn/bai-viet/kinh-te-tu-nhan-voi-xu-huong-hinh-thanh-

4.
5.

tap-doan-kinh-te-hien-nay-13133.htm
http://ncif.gov.vn/Pages/NewsDetail.aspx?newid=19348
http://tapchiktdn.ftu.edu.vn/c%C3%A1c-s%E1%BB%91-t%E1%BA%A1p-ch
%C3%AD-kt%C4%91n/t%E1%BA%A1p-ch%C3%AD-kt%C4%91n-s%E1%BB
%91-91-100/t%E1%BA%A1p-ch%C3%AD-kt%C4%91n-s%E1%BB%91-99/1532-li
%C3%AAn-k%E1%BA%BFt-gi%E1%BB%AFa-c%C3%A1c-doanh-nghi%E1%BB
%87p-fdi-v%C3%A0-doanh-nghi%E1%BB%87p-vi%E1%BB%87t-nam-h
%C3%ACnh-th%E1%BB%A9c-li%C3%AAn-k%E1%BA%BFt-v%C3%A0-t
%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%99ng-t%E1%BB%9Bi-doanh-nghi%E1%BB%87p-

6.

vi%E1%BB%87t-nam.html
http://www.ciem.org.vn/Content/files/2018/vnep2018/C%C4%9018%20-Ph%C3%A1t
%20tri%E1%BB%83n%20kinh%20t%E1%BA%BF%20t%C6%B0%20nh%C3%A2n
%20v%C3%A0%20c%C6%A1%20c%E1%BA%A5u%20l%E1%BA%A1i%20n
%E1%BB%81n%20kinh%20t%E1%BA%BF%20trong%20%C4%91i%E1%BB%81u
%20ki%E1%BB%87n%20CMCN%204_0-converted.pdf



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×