Tải bản đầy đủ

Tác động của trách nhiệm xã hội đến sự đổi mới và kết quả hoạt động của doanh nghiệp trường hợp tại các siêu thị trên địa bàn thành phố hồ chí minh

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “TÁC ĐỘNG CỦA CSR ĐẾN SỰ ĐỔI MỚI VÀ KẾT
QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP - TRƯỜNG HỢP TẠI CÁC SIÊU THỊ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” là do bản thân tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Châm.
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn hoàn toàn trung thực. Nội dung luận văn
chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào. Các tài liệu tham khảo
và trích dẫn đều được chú thích và ghi rõ nguồn gốc.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính pháp lý trong quá trình nghiên cứu khoa học
của luận văn này.

TP.Hồ Chí Minh, ngày

tháng 05 năm 2019

Người thực hiện luận văn

Nguyễn Quỳnh Bảo Ngân


MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
CHƢƠNG 1

GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI ......................................................................... 1

1.1

Sự cần thiết của đề tài ......................................................................................... 1

1.2

Mục tiêu nghiên cứu ........................................................................................... 5

1.3

Câu hỏi nghiên cứu ............................................................................................. 5

1.4

Phương pháp nghiên cứu .................................................................................... 6

1.5

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...................................................................... 6

1.5.1

Đối tượng nghiên cứu và đối tượng khảo sát............................................... 6

1.5.2

Phạm vi nghiên cứu ..................................................................................... 7

1.6

Ý nghĩa khoa học của đề tài ............................................................................... 7

1.1

Kết cấu của luận văn ........................................................................................... 8

CHƢƠNG 2
2.1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU..................... 9

Các khái niệm nghiên cứu .................................................................................. 9

2.1.1

CSR (trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp) ............................................... 9

2.1.2

Sự đổi mới .................................................................................................. 11

2.1.3

Kết quả hoạt động của doanh nghiệp ......................................................... 12

2.2

Tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu ............ 14

2.3

Các đặc điểm hoạt động của siêu thị trên địa bàn TP.HCM ............................ 17


2.4

Giả thuyết và mô hình nghiên cứu.................................................................... 21

2.4.1

Mối quan hệ giữa CSR và sự đổi mới........................................................ 21

2.4.2

Mối quan hệ giữa sự đổi mới và kết quả hoạt động của doanh nghiệp ..... 23

2.4.3

Mối quan hệ giữa CSR và kết quả hoạt động của doanh nghiệp ............... 24

2.4.4

Mô hình nghiên cứu ................................................................................... 24

CHƢƠNG 3

PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................... 26

3.1

Quy trình nghiên cứu ........................................................................................ 26

3.2

Nghiên cứu định tính ........................................................................................ 27

3.3

Nghiên cứu định lượng chính thức ................................................................... 30

3.3.1

Chọn mẫu và đối tượng khảo sát ............................................................... 31

3.3.2

Xử lý và phân tích dữ liệu định lượng ....................................................... 32

3.3.2.1

Kiểm tra độ tin cậy của thang đo ........................................................ 32

3.3.2.2

Phân tích nhân tố khám phá (EFA) ..................................................... 32

3.3.2.3

Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) .................................................. 33

3.3.2.4

Kiểm định kết quả mô hình cấu trúc (S.E.M) ..................................... 33

3.3.2.5

Kiểm định bootstrap ............................................................................ 33

CHƢƠNG 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................... 35

4.1

Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu ...................................................................... 35

4.2

Kiểm định thang đo thông qua Cronbach’s Alpha ........................................... 37

4.3

Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis) ............................ 40

4.4

Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) ................................................................ 45

4.5

Mô hình cấu trúc S.E.M.................................................................................... 46

4.6

Kiểm định bootstrap ......................................................................................... 50

4.7

Thảo luận kết quả nghiên cứu........................................................................... 51

CHƢƠNG 5

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ CỦA ĐỀ TÀI ..................... 55

5.1

Kết luận............................................................................................................. 55

5.2

Hàm ý quản trị .................................................................................................. 56


5.3

Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo ........................................... 58

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AVE: Phương sai trích
CFA (Confirmatory Factor Analysis): Phân tích nhân tố khẳng định
CR: Độ tin cậy tổng hợp
CSR: trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
EFA (Exploratory Factor Analysis): Phân tích nhân tố khám phá
ER: Trách nhiệm môi trường
FP: Kết quả hoạt động của doanh nghiệp
KMO: Hệ số Kaiser-Meyer-Okin
KH: Khách hàng
NCC: Nhà cung cấp
Nielsen: Công ty nghiên cứu thị trường và quảng bá toàn cầu
NLĐ: Người lao động
OI: Sự đổi mới
R&D: nghiên cứu và phát triển
RC: CSR đối với khách hàng
RE: CSR đối với nhân viên
RLC: CSR đối với cộng đồng địa phương
ROA: hệ số thu nhập trên tài sản
RS: CSR đối với nhà cung cấp
Saigon Co.op: Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại Thành phố Hồ Chí Minh
SEM (Structural Equation Modelling): Mô hình phương trình cấu trúc


SMEs: Doanh nghiệp vừa và nhỏ
TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
Vietnam Report: Công ty cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam
World Bank: Ngân hàng Thế giới


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 - Thống kê các siêu thị tại TP.HCM ................................................................. 18
Bảng 3.1 – Ý nghĩa tỷ lệ đồng thuận ................................................................................ 30
Bảng 3.2 – Thống kê số siêu thị và mẫu khảo sát ............................................................ 31
Bảng 4.1 – Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu ................................................................... 36
Bảng 4.2 – Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha ........................................................... 38
Bảng 4.3 – Kết quả phân tích EFA .................................................................................. 41
Bảng 4.4 – Bảng Communalities trong phân tích EFA.................................................... 41
Bảng 4.5 – Bảng Total Variance Explained trong phân tích EFA ................................... 42
Bảng 4.6 – Bảng Pattern Matrix trong phân tích EFA ..................................................... 43
Bảng 4.7 – Độ tin cậy và phương sai trích trong CFA .................................................... 46
Bảng 4.8 – Bảng Regression Weights trong S.E.M ......................................................... 48
Bảng 4.9 – Bảng Standardized Regression Weights trong S.E.M ................................... 49
Bảng 4.10 – Kết quả chính trong kiểm định bootstrap .................................................... 51


DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 2.1 - Mô hình nghiên cứu ........................................................................................ 25
Hình 4.1 – Kết quả về độ phù hợp của mô hình CFA ...................................................... 45
Hình 4.2 – Kết quả mô hình cấu trúc S.E.M .................................................................... 47


TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đề tài được thực hiện trong bối cảnh CSR đóng một vai trò ngày càng quan trọng
trong môi trường kinh doanh tại Việt Nam và quốc tế. Riêng đối với lĩnh vực kinh
doanh siêu thị, nhận thức về CSR đã tạo ra năng lực sáng tạo, góp phần cải thiện kết
quả hoạt động và duy trì khả năng phát triển bền vững tại các đơn vị bán lẻ. Trong quá
trình học tập và làm việc, tác giả có điều kiện quan sát và tìm hiểu về CSR tại các siêu
thị trên địa bàn TP.HCM, đồng thời nhận thức rõ tầm quan trọng của yếu tố này đến sự
đổi mới cũng như kết quả hoạt động. Chính vì những lý do đó, cùng với việc kết hợp lý
thuyết khoa học, tác giả quyết định chọn đề tài “Tác động của CSR đến sự đổi mới và
kết quả hoạt động của doanh nghiệp: Trường hợp tại các siêu thị trên địa bàn Thành
phố Hồ Chí Minh”.
Đề tài được thực hiện nhằm đáp ứng các mục tiêu cụ thể như sau:
-

Nghiên cứu và đo lường tác động của CSR đến sự đổi mới.

-

Nghiên cứu và đo lường tác động của CSR đến kết quả hoạt động, một cách trực

tiếp và gián tiếp thông qua sự đổi mới.
-

Đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao kết quả hoạt động tại các siêu thị

thông qua CSR và sự đổi mới.
Để đạt được các mục tiêu trên, đề tài sử dụng phương pháp định tính kết hợp với các
kỹ thuật định lượng. Sau khi tham khảo các tài liệu học thuật có liên quan, tác giả phát
triển mô hình và giả thuyết nghiên cứu về sự tương tác đồng thời và phức tạp giữa ba
khái niệm trên. Thang đo và bảng câu hỏi được xây dựng dựa trên nền tảng nghiên cứu
của Isabel et al. (2017), tuy nhiên có sự điều chỉnh, bổ sung để phù hợp với bối cảnh
thực tế tại Việt Nam thông qua quá trình thảo luận nhóm các chuyên gia. Sau đó, tác
giả vận dụng phối hợp các công cụ định lượng, trên phần mềm SPSS lẫn AMOS nhằm


kiểm định thang đo cũng như kết quả khảo sát. Dữ liệu được thu thập thông qua việc
điều tra bảng câu hỏi 350 chuyên viên và cán bộ quản lý đang công tác tại các phòng
ban chuyên môn, có liên quan đến phát triển chiến lược và CSR.
Sau khi vận dụng kết hợp các phương pháp trên, kết quả cho thấy CSR được tạo
thành từ cách hành xử với năm đối tượng: nhân viên, nhà cung cấp, khách hàng, cộng
đồng địa phương và môi trường. Sự đổi mới của đơn vị được thể hiện thông qua việc
thường xuyên cập nhật, bày bán các dòng sản phẩm mới; và quy trình nội bộ được thay
đổi mới hoặc cải tiến. Còn kết quả hoạt động tại các siêu thị được đo lường thông qua
các chỉ tiêu tài chính (lợi nhuận, doanh thu) và phi tài chính (dịch vụ, quan hệ và lòng
trung thành của khách hàng, môi trường làm việc, lòng trung thành và tinh thần làm
việc của nhân viên). Ngoài ra, thông qua các kỹ thuật định lượng, kết quả cho thấy
CSR tác động trực tiếp và tích cực đến sự đổi mới và kết quả hoạt động của siêu thị;
đồng thời, mối quan hệ giữa CSR và kết quả hoạt động cũng được thể hiện một cách
gián tiếp, thông qua nhân tố trung gian là sự đổi mới. Do hạn chế về mặt thời gian và
nguồn lực, việc thực hiện đề tài vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế nhất định, hi vọng sẽ
được khắc phục trong các nghiên cứu tương lai.
Thông qua các kết quả kiểm định, đề tài cũng đóng góp một số hàm ý quản trị vào
tình hình kinh doanh thực tế tại các siêu thị trên địa bàn TP.HCM như sau:
-

Để thiết lập nền tảng CSR, siêu thị cần quan tâm đến cả năm đối tượng: khách

hàng, nhân viên, nhà cung cấp, cộng đồng địa phương và môi trường.
-

Để tạo dựng sự đổi mới có thể thực hiện những hành động: bày bán các dòng

sản phẩm mới, độc đáo; cải tiến cấu trúc tổ chức và quy trình nội bộ; đổi mới các
chương trình khuyến mãi.
-

Muốn nâng cao kết quả hoạt động và sự đổi mới có thể thiết lập các chính sách

về CSR.


ABSTRACT
The research is carried out in the context that CSR plays an increasingly important
role in the business environment in Vietnam and international. Particularly for
supermarket business, awareness of CSR has created creative capacity, contributing to
improving operating results and maintaining the ability to sustainably develop at retail
units. In the process of studying and working, the author has conditions to observe and
learn about CSR at supermarkets in Ho Chi Minh City, and aware of the importance of
this factor to innovation as well as performance results.
The research is conducted to meet the specific objectives as follows:
- Research and measure the impact of CSR on innovation.
- Research and measure the impact of CSR on performance, directly and indirectly
through innovation.
- Proposing some administrative implications to improve the performance in
supermarkets through CSR and innovation.
To achieve the above objectives, the thesis uses qualitative methods combined with
quantitative techniques. After referring to the relevant scholarly documents, the author
develops a research model and hypothesis about concurrent and complex interactions
between the three concepts above. Scale and questionnaire are based on the research of
Isabel et al. (2017), however, there is an adjustment and supplement to suit the actual
context in Vietnam through a group discussion of experts. Then, the author used a
combination of quantitative tools, on SPSS and AMOS software to test the scale as
well as the survey results. Data were collected through a questionnaire survey of 350


experts and managers working in specialized departments, related to strategic
development and CSR.
After applying the combination of the above methods, the results show that CSR is
made up of the behavior with five subjects: employees, suppliers, customers, local
communities and the environment. The innovation of the unit is shown through regular
updates and sale of new product lines; and new or improved internal processes. The
performance in supermarkets are measured through financial indicators (profit,
revenue) and non-financial (services, relationships and loyalty of customers, work
environment, heart loyalty and working spirit of employees). In addition, through
quantitative techniques, the results show that CSR has a direct and positive impact on
the innovation and performance of supermarkets; simultaneously, the relationship
between CSR and performance is also expressed indirectly, through intermediary factor
is innovation. Due to time and resources constraints, this research still has certain
limitations, hoping to be overcome in future studies.
Through the verified results, the research also contributed some management
implications to the actual business situation in supermarkets in Ho Chi Minh City as
follows:
- To establish the foundation of CSR, managers need to pay attention to all five
objects: customers, employees, suppliers, local communities and the environment.
- To create innovation, managers can carry out these actions: selling new and unique
product lines; improve organizational structure and internal processes; renovate
promotions.
- To improve performance and innovation, managers should establish policies on
CSR.


1

CHƢƠNG 1

GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

Trong chương đầu, tác giả trình bày tổng quan những điểm chính như tính cấp thiết
của vấn đề từ đó dẫn đến lý do chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng
nghiên cứu và khảo sát, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, kết cấu của luận văn.
1.1

Sự cần thiết của đề tài

Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp đã nhìn nhận được lợi thế
cạnh tranh không chỉ dừng lại ở chất lượng sản phẩm, dịch vụ mà còn được tạo dựng
thông qua các hoạt động củng cố hình ảnh và phát triển thương hiệu. Các chỉ số kinh tế
không còn là thước đo duy nhất để đánh giá kết quả hoạt động cũng như khả năng phát
triển bền vững của một công ty. Mới đây, Vietnam Report phối hợp cùng các cơ quan
báo chí công bố Bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp Việt Nam thịnh vượng dựa trên các
tiêu chí: hoạt động kinh doanh hiệu quả, khả năng tạo việc làm và CSR. Có thể thấy,
CSR ngày càng trở nên quan trọng hơn tại môi trường kinh doanh Việt Nam qua hàng
loạt vụ việc đáng báo động về trách nhiệm của doanh nghiệp, hậu quả không chỉ dừng
lại ở mức độ pháp lý mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh, thương hiệu doanh
nghiệp cũng như chôn vùi niềm tin của biết bao người dân Việt Nam.
Đồng thời, theo Báo cáo Phát Triển Bền Vững của Nielsen, người tiêu dùng Việt
Nam có tinh thần hướng đến xã hội và sự phát triển bền vững cao nhất trong khu vực
Đông Nam Á. Có đến 86% người tiêu dùng Việt sẵn sàng chi trả cao hơn để mua sản
phẩm, dịch vụ từ các công ty có ảnh hưởng tích cực đến xã hội và môi trường, so với
76% người tiêu dùng khu vực Đông Nam Á. Kết quả này đã phần nào khẳng định vai
trò không thể tranh cãi của CSR đối với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, đặc biệt là
tại Việt Nam. Tuy nhiên, phần lớn các công ty vẫn còn thờ ơ và chưa nhận thức được
những lợi ích và CSR mang lại. Các nhà quản lý cho rằng chi phí bỏ ra cho các hoạt


2

động về CSR sẽ làm giảm lợi nhuận, mà không quan tâm đến việc đây là một trong
những nhân tố quyết định đến hiệu quả hoạt động lâu dài của doanh nghiệp.
Riêng đối với lĩnh vực kinh doanh siêu thị, trong thời gian vừa qua, hàng loạt tập
đoàn hàng đầu thế giới đã liên tục đầu tư vào thị trường trong nước và tạo ra sự lo ngại
rất lớn cho ngành bán lẻ nước nhà. Trước sự tấn công dồn dập ấy, những “ông lớn”
trong nước như Saigon Co.op, Vingroup… đã có rất nhiều nỗ lực trong việc đổi mới hệ
thống phân phối, đa dạng hàng hóa, dịch vụ nhằm duy trì thị phần đang nắm giữ. Trong
bối cảnh mà người tiêu dùng ngày một quan tâm đến CSR, công cuộc đổi mới tại các
siêu thị càng hướng tới những sản phẩm, hoạt động thể hiện trách nhiệm với xã hội và
môi trường. Có thể thấy, nhận thức về CSR đã góp phần tạo ra năng lực và các sáng
kiến cải tiến tại các đơn vị bán lẻ, cụ thể là ở địa bàn TP.HCM. Sự đổi mới này không
chỉ góp phần nâng cao hình ảnh, uy tín, mà còn xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa siêu
thị và các đối tượng liên quan, như khách hàng, người lao động, nhà cung cấp… Đây là
một trong những nhân tố tích cực cải thiện kết quả hoạt động và duy trì khả năng phát
triển bền vững tại các siêu thị.
Tuy nhiên, trên thực tế, số lượng các doanh nghiệp Việt Nam áp dụng các chính
sách về CSR rất ít, hoặc việc thực hiện chỉ dừng lại ở mức độ tối thiểu, nhằm đáp ứng
các yêu cầu bắt buộc của pháp luật. Các nhà quản lý cho rằng CSR là trách nhiệm, gây
tốn kém chi phí, chứ chưa thấy được những “ngách quyền lợi” mà CSR mang lại như:
lòng trung thành và niềm tin, sự yêu quý và tín nhiệm của xã hội, cũng như các hoạt
động cải tiến xuất phát từ nhận thức về CSR… Câu hỏi liệu CSR có thực sự nâng cao
hiệu quả đổi mới cũng như kết quả hoạt động của doanh nghiệp hay không đã dần trở
thành một vấn đề khiến các nhà lãnh đạo trăn trở, do dự trong việc thực thi các chiến
lược về CSR trong quy trình kinh doanh hiện tại.


3

Với mong muốn mang lại một kết luận hợp lý cho câu hỏi ấy, đã có không ít học giả
thực hiện các bài nghiên cứu liên quan đến CSR, sự đổi mới và kết quả hoạt động của
công ty. Trong đó, có thể kể đến các nghiên cứu tiêu biểu sau đây:
Để trả lời vấn đề đầu tiên nói đến mối quan hệ giữa CSR và sự đổi mới, có hai
nghiên cứu đã được tiến hành tại Ghana và Thái Lan. Trong khi nghiên cứu của
Mohammed et al. (2012) xoay quanh ba yếu tố chính: định hướng thị trường, sự đổi
mới và CSR; thì nghiên cứu của Yasushi Ueki et al. (2016) lại tập trung vào mối quan
hệ giữa năm nhân tố: CSR, sự đổi mới, định hướng khách hàng, sự đào tạo và kỹ năng
nhân viên, tinh thần đồng đội và các hoạt động nhóm tại các công ty vận tải ở Thái
Lan. Một trong những kết quả quan trọng được đúc kết từ hai nghiên cứu này là “CSR
tác động trực tiếp và tích cực đến sự đổi mới”.
Để trả lời câu hỏi thứ hai: liệu CSR có góp phần nâng cao kết quả hoạt động của
doanh nghiệp hay không, có ba nghiên cứu tiêu biểu đã được tiến hành. Đầu tiên,
Riliang Qu (2009) đã tiến hành một cuộc điều tra trong phạm vi các khách sạn đứng
đầu tại Trung Quốc về sự tương tác giữa ba yếu tố: định hướng thị trường, CSR và kết
quả hoạt động của tổ chức. Đến năm 2014, Sayedeh et al. tiến hành một cuộc điều tra
tại các công ty sản xuất và tiêu dùng ở Iran với mục đích khám phá mối quan hệ giữa
CSR và kết quả hoạt động thông qua ba yếu tố: sự hài lòng của khách hàng, danh tiếng
và lợi thế cạnh tranh. Cùng thời điểm đó, tại Tây Ban Nha, một nghiên cứu khác cũng
được tiến hành bởi Dolores et al. đề cập đến mối tương tác giữa ba yếu tố: CSR, kết
quả hoạt động và thành công cạnh tranh. Điểm tương đồng giữa ba nghiên cứu trên là
mối quan hệ trực tiếp và tích cực giữa CSR và kết quả hoạt động của doanh nghiệp
được khẳng định thông qua các kết quả kiểm định.
Cuối cùng, mối quan hệ phức tạp và đồng thời giữa CSR, sự đổi mới và kết quả hoạt
động của doanh nghiệp cũng được giải đáp trong hai bài báo khoa học được thực hiện
tại Tây Ban Nha. Trong các nghiên cứu gần đây của Isabel et al. (2017) và Carmelo et


4

al. (2016) đã đặt ra vấn đề là liệu cả ba yếu tố này có mối quan hệ “tam giác” với nhau
hay không. Được khảo sát tại các công ty vừa và nhỏ tại Tây Ban Nha, với ba yếu tố
chính và ba giả thuyết, các tác giả khẳng định rằng: CSR tác động tích cực đến hoạt
động đổi mới và kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Ngoài ra, sự đổi mới cũng đóng
vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa CSR và kết quả hoạt động. Tuy nhiên, các
kết quả của nghiên cứu có đúng đối với một quốc gia Đông Nam Á, đang phát triển
như Việt Nam hay không, với ngành nghề có nhiều đặc thù như kinh doanh siêu thị bán lẻ hay không, vẫn còn là một câu hỏi lớn.
Được đăng tải trên các tạp chí khoa học uy tín, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về mẫu
và phương pháp nghiên cứu định lượng, các bài nghiên cứu vừa rồi đã cung cấp những
nền tảng quan trọng trong cả lý thuyết lẫn thực nghiệm. Tuy nhiên, như đã trình bày,
các tác giả chỉ thực hiện ở một phạm vi cụ thể về không gian (giới hạn ở quy mô doanh
nghiệp, hoặc một khu vực nào đó…), nên kết quả của nghiên cứu chưa mang tính khái
quát hóa, đặc biệt là ở một môi trường kinh tế từng bước vươn mình chuyển đổi như
Việt Nam; hay trong lĩnh vực mà các doanh nghiệp đang dần dành sự quan tâm cho
nhiều cho CSR như ngành thương mại – bán lẻ.
Trong quá trình học tập và làm việc, tác giả có điều kiện quan sát và tìm hiểu về
CSR tại các siêu thị trên địa bàn TP.HCM, đồng thời nhận thức rõ tầm quan trọng của
yếu tố này đến sự đổi mới và kết quả hoạt động. Việc thực hiện những chính sách về
CSR sẽ giúp các thương hiệu siêu thị gầy dựng mối quan hệ tốt đẹp với các đối tượng
liên quan thông qua sự tin yêu của khách hàng, sự hỗ trợ của nhà cung cấp và cộng
đồng địa phương. Đồng thời, CSR còn thể hiện sự quan tâm của doanh nghiệp đối với
đời sống nhân viên cũng góp phần nâng cao năng suất lao động, lòng trung thành và sự
gắn bó, từ đó nhân viên hăng say làm việc hơn, đưa ra nhiều sáng kiến đổi mới hơn.
Trong bối cảnh cạnh tranh tại các siêu thị, những đổi mới trong sản phẩm, dịch vụ và
hoạt động, nhất là hướng đến trách nhiệm xã hội, lại càng quan trọng trong việc giữ


5

chân khách hàng, củng cố thương hiệu để nâng cao hiệu quả kinh doanh hơn bao giờ
hết. Ngoài ra, do đặc điểm kinh tế nước ta có nhiều điểm khác biệt so với các quốc gia
khác: phần lớn các doanh nghiệp hoạt động theo phương thức truyền thống và còn khá
thờ ơ với các hoạt động về CSR. Liệu các kết quả thực nghiệm từ những nghiên cứu
trước đây có đúng cho một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, và ở một lĩnh vực
đang diễn ra sự cạnh tranh gay gắt như ngành bán lẻ hay không – lại là một vấn đề
đáng để chúng ta nghiên cứu. Chính vì những lý do đó, cùng với việc kết hợp lý thuyết
từ các tài liệu khoa học, tác giả quyết định chọn đề tài của mình là “Tác động của CSR
đến sự đổi mới và kết quả hoạt động của doanh nghiệp: Trường hợp tại các siêu thị
trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”.
1.2

Mục tiêu nghiên cứu

Bài nghiên cứu được thực hiện nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm về hàm ý
mối quan hệ giữa CSR, sự đổi mới và kết quả hoạt động tại các siêu thị trên địa bàn
TP.HCM với các mục tiêu cụ thể như sau:
-

Nghiên cứu và đo lường tác động của CSR đến sự đổi mới.

-

Nghiên cứu và đo lường tác động của CSR đến kết quả hoạt động, một cách trực

tiếp và gián tiếp thông qua sự đổi mới.
-

Dựa vào kết quả nghiên cứu đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao kết

quả hoạt động tại các siêu thị thông qua CSR và sự đổi mới.
1.3

Câu hỏi nghiên cứu

Được hình thành dựa trên nền tảng của mục tiêu nghiên cứu, tác giả đưa ra các câu
hỏi nghiên cứu để định hướng cho các giai đoạn nghiên cứu tiếp theo, cụ thể như sau:
-

CSR và sự đổi mới được hiểu như thế nào trong các nghiên cứu khoa học và

thực tiễn tại các siêu thị trên địa bàn TP.HCM?


6

-

Kết quả hoạt động của doanh nghiệp được đánh giá như thế nào và tại các siêu

thị trên địa bàn TP.HCM có những chỉ tiêu gì khác biệt?
-

CSR có tác động tích cực đến sự đổi mới tại các siêu thị ở TP.HCM hay không?

-

CSR có tác động đến việc nâng cao kết quả hoạt động tại các siêu thị này?

-

Sự đổi mới có góp phần nâng cao kết quả hoạt động của các siêu thị trên địa bàn

TP.HCM hay không?
-

Dựa vào kết quả nghiên cứu, các hàm ý quản trị nào được đề xuất để gia tăng sự

đổi mới tại các siêu thị trên địa bàn TP.HCM thông qua CSR trong thực tiễn?
-

Các hàm ý quản trị nào có thể được đề xuất nhằm nâng cao kết quả hoạt động

của siêu thị trên địa bàn TP.HCM thông qua CSR và sự đổi mới trong thực tiễn?
1.4

Phƣơng pháp nghiên cứu

Đề tài được tác giả thực hiện thông qua hai giai đoạn: nghiên cứu định tính và
nghiên cứu định lượng. Đầu tiên, tác giả sử dụng phương pháp thảo luận nhóm gồm
bảy chuyên gia nhằm điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện bảng câu hỏi cho phù hợp với
tình hình thực tế tại các siêu thị trên địa bàn TP.HCM. Nghiên cứu định lượng sử dụng
phối hợp các phương pháp thông qua việc khảo sát 350 chuyên viên và cán bộ quản lý
dựa trên cơ sở bảng câu hỏi khảo sát, kiểm định thang đo thông qua hệ số Cronbach’s
Alpha, phân tích EFA để xác định mức độ quan hệ giữa biến quan sát và các nhân tố cơ
sở, phân tích CFA nhằm kiểm định độ phù hợp của mô hình và thang đo. Sau đó, tác
giả thực hiện kiểm định SEM để kết luận mối quan hệ giữa các yếu tố và sử dụng
bootstrap để kiểm định độ tin cậy của các ước lượng trong mô hình.
1.5

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

1.5.1 Đối tượng nghiên cứu và đối tượng khảo sát


7

Để làm rõ mục tiêu đã đặt ra, đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm: mối quan hệ
giữa CSR và sự đổi mới, mối quan hệ giữa CSR và kết quả hoạt động, mối quan hệ
giữa sự đổi mới và kết quả hoạt động tại các siêu thị trên địa bàn TP.HCM.
Do hạn chế về mặt thời gian và tính chất đặc trưng của dữ liệu, đối tượng khảo sát
của đề tài là các nhà quản lý và chuyên viên các phòng ban có liên quan đang công tác
tại các siêu thị.
1.5.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian, đề tài được khảo sát dựa trên 10 siêu thị Co.op Mart, 2 đại siêu thị
Co.op Xtra, 1 siêu thị Lotte Mart, 2 siêu thị Vinmart, 1 siêu thị E-mart, 1 siêu thị MM
Mega Market và 2 siêu thị/đại siêu thị Big C đang hoạt động trên địa bàn TP.HCM.
Trong đề tài này, tác giả lựa chọn các siêu thị truyền thống, kinh doanh đa chủng loại
hàng hóa vì có tiêu chuẩn về số lượng lao động (98–218 người) phù hợp với đối tượng
SMEs (nhân sự từ 100-250 người) trong nghiên cứu gốc của Isabel et al. (2017). Các
siêu thị chuyên dụng không được lựa chọn vì định biên lao động quá thấp so với tiêu
chuẩn tại các SMEs ở các quốc gia châu Âu.
Về thời gian, đề tài được thực hiện từ tháng 4/2018 đến tháng 12/2018.
1.6

Ý nghĩa khoa học của đề tài

Bài nghiên cứu được thực hiện tại các siêu thị trên địa bàn TP.HCM, do đó, kết quả
thực nghiệm sẽ cho một cách nhìn mới về cách thức CSR tác động đến sự đổi mới cũng
như kết quả hoạt động trong lĩnh vực này, cụ thể cung cấp các nội dung sau đây:
-

Đề xuất mô hình nghiên cứu thể hiện mối quan hệ giữa CSR, sự đổi mới và kết

quả hoạt động của các siêu thị.
-

Cung cấp kết quả thực nghiệm về tác động của CSR đến sự đổi mới cũng như

kết quả hoạt động của các siêu thị trên địa bàn TP.HCM.


8

-

Đề xuất các hàm ý quản trị cải thiện hiệu suất đổi mới và kết quả hoạt động của

siêu thị thông qua việc phát triển CSR của tổ chức.
Trong chương đầu, tác giả đã trình bày sơ bộ những điểm chính của đề tài như tính
cấp thiết của vấn đề, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu,
các phương pháp được sử dụng để thu thập và phân tích dữ liệu, kết cấu của luận văn
cũng như ý nghĩa khoa học của đề tài. Cơ sở lý thuyết làm nền tảng để xây dựng các
khái niệm, thang đo, giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất sẽ được tác giả trình
bày trong chương tiếp theo.
1.1 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và các nội dung hỗ trợ, đề tài nghiên cứu bao gồm các chương:
CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI, trình bày tổng quan những điểm chính của đề
tài nghiên cứu.
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU, trình bày
những lý thuyết nền tảng xây dựng nên mô hình và giả thuyết nghiên cứu của đề tài.
CHƢƠNG 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU trình bày cơ sở chọn mẫu và cách
thức thu thập dữ liệu, xây dựng thang đo và bảng câu hỏi khảo sát của đề tài.
CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, bao gồm việc thống kê mô tả dữ liệu
nghiên cứu và trình bày kết quả kiểm định giả thuyết.
CHƢƠNG 5: HÀM Ý QUẢN TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI, đúc kết lại các
kết quả chính và đóng góp trong thực tiễn; đồng thời nêu lên những điểm hạn chế để
gợi ý cho hướng nghiên cứu tiếp theo.


9

CHƢƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Trong chương 2, tác giả sẽ thảo luận ba khái niệm nghiên cứu: CSR, sự đổi mới
cũng như kết quả hoạt động của doanh nghiệp được trình bày như thế nào trong các tài
liệu khoa học, các nghiên cứu trước có liên quan đến vấn đề, đặc điểm hoạt động của
siêu thị trên địa bàn TP.HCM, biện luận để lựa chọn thang đo phù hợp cho đề tài, từ đó
phát triển giả thuyết và mô hình nghiên cứu dự kiến.
2.1

Các khái niệm nghiên cứu

2.1.1 CSR (trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp)
Trong nhiều thập kỷ qua, rất nhiều nhà nghiên cứu đã dành sự quan tâm đáng kể đến
CSR và mỗi học giả đều đưa ra những quan điểm thể hiện cách nhìn nhận riêng của
mình. Một trong những khái niệm được đông đảo học giả vận dụng là quan điểm của
Caroll (1979). Theo đó, CSR là cam kết của doanh nghiệp đối với đạo đức kinh doanh
và đóng góp vào phát triển kinh tế bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người
lao động, cộng đồng địa phương và xã hội. Mô hình “kim tự tháp” của ông cho rằng
CSR bao gồm bốn trách nhiệm chính: kinh tế (hiệu quả và tăng trưởng); pháp lý (tuân
thủ pháp luật và giá trị cơ bản mà xã hội mong đợi); đạo đức (tuân thủ những quy tắc,
giá trị được xã hội chấp nhận); tự nguyện (hành vi vượt ra ngoài sự mong đợi của xã
hội như quyên góp, ủng hộ từ thiện…). Quan điểm này được xem có tính toàn diện và
khả thi cao, được sử dụng làm khuôn khổ tư duy về CSR dưới góc độ của Nhà nước.
Đối với người tiêu dùng và cộng đồng xã hội, cũng tồn tại khá nhiều cách tiếp cận
về CSR. Gần đây World Bank đã đưa ra khái niệm được xem là khá hoàn chỉnh, rõ
ràng dưới góc nhìn của các đối tượng này: “CSR là sự cam kết của doanh nghiệp đóng
góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao
chất lượng cuộc sống của người lao động; cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi
cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội”. Sở dĩ quan điểm này được


10

đánh giá là khá phù hợp với vai trò khách hàng và xã hội là vì bên cạnh sự phát triển
của mình, doanh nghiệp còn cần phải tạo ra lợi ích cho những đối tượng hữu quan
khác, đồng thời nhấn mạnh vào việc gia tăng các giá trị của xã hội.
Dưới góc độ của doanh nghiệp, có thể kể đến quan điểm về CSR của Hammann và
Lindgreen (2009). Theo đó, có năm đối tượng hữu quan mà các hành vi thể hiện trách
nhiệm CSR của đơn vị hướng đến bao gồm: nhà cung cấp, khách hàng, người lao động,
cộng đồng địa phương và môi trường. Tại Việt Nam, một nghiên cứu của Châu Thị Lệ
Duyên và đồng sự (2014) cũng định nghĩa CSR hướng đến việc cân bằng lợi ích của
năm đối tượng hữu quan này. Cùng chung quan điểm ấy, năm 2017, Isabel et al. đã
phát triển thang đo khá hoàn chỉnh như sau:
Đối với nhân viên, CSR góp phần đảm bảo quyền lợi của người lao động. Doanh
nghiệp không chỉ hướng đến việc đào tạo những kỹ năng cơ bản cho nhân viên mà còn
hỗ trợ họ phát triển chuyên môn thông qua những khóa học nâng cao khác. Bên cạnh
đó, lãnh đạo cần thể hiện sự quan tâm đến những vấn đề mà nhân viên đang gặp nhằm
giúp họ đạt được sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống.
Ngoài ra, các chiến lược về CSR không thể không chú ý đến đối tượng chính tạo ra
doanh thu. Muốn tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp với người tiêu dùng đầu tiên phải đáp
ứng đầy đủ các cam kết về chất lượng. Việc thông tin rõ ràng về cách thức sử dụng
cũng như những rủi ro của sản phẩm/dịch vụ cũng không kém phần quan trọng nhằm
thể hiện trách nhiệm đối với khách hàng. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần thực
hiện những hành động cần thiết để khách hàng không cảm thấy phiền lòng, cũng như
trả lời kịp thời và giải quyết hợp lý những phàn nàn của khách hàng.
Đối với nhà cung cấp, các quyết định cần xem xét và đảm bảo quyền lợi của đối
tượng này. Ngoài ra, họ cũng cần nhận được thông tin kịp thời về những thay đổi trong
doanh nghiệp, nếu như sự thay đổi ấy có ảnh hưởng đến họ.


11

CSR còn thể hiện ở việc tổ chức cố gắng, nỗ lực đóng góp vào sự phát triển của địa
phương, ví dụ như: hỗ trợ cho các hoạt động văn hóa – thể thao, thực hiện các chương
trình giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn.
Cuối cùng, trách nhiệm đối với môi trường được xem là một trong những khía cạnh
quan trọng nhất của CSR, đặc biệt trong những năm gần đây. Doanh nghiệp cần tuân
thủ các quy định chung về môi trường cũng như quy định riêng đối với từng ngành
nghề, lĩnh vực. Ngoài ra, trách nhiệm môi trường cần được nhận thức và thực hành tự
nguyện, như việc đầu tư vào các thiết bị tiết kiệm năng lượng; thực hiện các chương
trình giảm tiêu thụ điện, nước; thiết kế sản phẩm và bao bì có thể tái sử dụng hoặc tái
chế. Gần đây, một số công ty còn thực hiện việc kiểm toán môi trường theo định kỳ.
Tương tự như lĩnh vực sản xuất, hoạt động kinh doanh của siêu thị cũng trải qua một
chuỗi các mối quan hệ, từ nhà cung cấp đến người lao động, khách hàng, cộng đồng
địa phương và môi trường. Đối với mỗi đối tượng, yêu cầu về CSR thể hiện ở những
khía cạnh và hành động khác nhau. Bên cạnh đó, dưới góc độ siêu thị, việc đánh giá
các trách nhiệm về pháp lý và đạo đức không rõ ràng, quan điểm này phù hợp hơn với
các cơ quan Nhà nước và cộng đồng xã hội. Do đó, trong đề tài này, tác giả lựa chọn
việc tiếp cận CSR theo định nghĩa của Isabel et al. (2017). Theo đó, việc thực hành
CSR tại các siêu thị bao gồm các chính sách và hành động cụ thể với các bên liên quan:
nhân viên, nhà cung cấp, khách hàng, cộng đồng địa phương và môi trường xã hội. Tuy
nhiên, các nội dung về CSR theo lý thuyết cũng được điều chỉnh, bổ sung để phù hợp
với bối cảnh thực tiễn tại các siêu thị trên địa bàn TP.HCM.
2.1.2 Sự đổi mới
Theo Skerlavaj et al. (2010), sự đổi mới được định nghĩa là khả năng tiếp cận thay
đổi và sẵn sàng đối mặt với những thách thức mới. Nó cho phép tổ chức tận dụng năng


12

lực sáng tạo của lực lượng lao động và do đó đáp ứng tốt hơn với những thay đổi của
môi trường (Bergh et al., 2011; Swink & Mabert, 2000).
Theo Calantone et al. (2002), Cambra et al. (2011), quá trình đổi mới bao gồm việc
đón nhận, phổ biến và sử dụng kiến thức mới; thực hiện thành công những ý tưởng mới
và sáng tạo trong tổ chức (Amabile et al., 1996; Hurley & Hult, 1998).
Đối tượng của sự đổi mới có thể là sản phẩm/dịch vụ, công nghệ và quy trình sản
xuất, thậm chí là cấu trúc tổ chức và các thủ tục hành chính hiện tại. Dù với mục tiêu
nào thì sự đổi mới cũng hướng đến việc thích ứng, cải tiến nhằm giúp doanh nghiệp
duy trì và nâng cao kết quả hoạt động (Damanpour et al., 2009).
Trong đề tài này, khái niệm về sự đổi mới được vận dụng dựa trên nghiên cứu của
Isabel et al. (2017). Các tác giả đo lường một số chỉ tiêu của doanh nghiệp như: bày
bán sản phẩm/dịch vụ mới hoặc được cải tiến, quy trình nội bộ mới hoặc được cải thiện
thường xuyên, các chương trình khuyến mãi và tiếp thị được cải tiến. Nếu đa phần câu
trả lời là có, thì xem như các hoạt động đổi mới đã thực sự hình thành tại siêu thị.
2.1.3 Kết quả hoạt động của doanh nghiệp
Kết quả hoạt động của doanh nghiệp là một trong những biến phụ thuộc được các
nhà nghiên cứu quan tâm nhiều nhất, được định nghĩa là một bộ các chỉ số tài chính và
phi tài chính cung cấp thông tin về mức độ đạt được các mục tiêu và kết quả (Lebans &
Euske, 2006). Rất nhiều người nghĩ rằng kết quả hoạt động chỉ gắn với các chỉ tiêu đo
lường được về tài chính, tuy nhiên khái niệm này còn bao gồm các giá trị vô hình như
kiến thức, năng lực và quan hệ với khách hàng, đối tác…
Kết quả hoạt động đã được nghiên cứu rất nhiều trong các bài báo khoa học trước
đây (Quinn và Rohrbaugh, 1983; Judge và Douglas, 1998; Aragon et al., 2008) dựa


13

trên đánh giá so với các công ty khác trong ngành. Maltz et al. (2003) đề xuất các phép
đo kết quả hoạt động của tổ chức bao gồm các chỉ số tài chính và phi tài chính.
Dựa trên những cơ sở ấy, nghiên cứu của Isabel et al. (2017) đưa ra ba khía cạnh để
đánh giá hoạt động của một tổ chức bao gồm: các chỉ số tài chính cơ bản, dịch vụ
khách hàng và sự gắn kết của nhân viên. Về mặt tài chính, kết quả hoạt động của doanh
nghiệp được đo lường thông qua hai chỉ tiêu: lợi nhuận và lợi tức trên tài sản. Theo các
học giả kinh tế, lợi nhuận phản ánh hiệu quả của toàn bộ quá trình kinh doanh, là yếu
tố sống còn của doanh nghiệp. Doanh nghiệp chỉ tồn tại và phát triển khi nó tạo ra lợi
nhuận, bởi nếu nguồn thu không đủ bù đắp chi phí, doanh nghiệp sẽ không có khả năng
tiếp tục hoạt động, dẫn đến rủi ro bị đào thải và phá sản. Ngoài ra, ROA cũng là thước
đo mức sinh lợi hiệu quả của một công ty, cho biết tài sản và nguồn vốn đầu tư được
doanh nghiệp sử dụng hiệu quả như thế nào. Dựa trên nền tảng ấy, nghiên cứu của
Châu Thị Lệ Duyên và đồng sự (2014) được tiến hành tại Việt Nam cũng đề cập đến
kết quả tài chính dựa trên sự tăng trưởng trong mức tiêu thụ hàng hóa (doanh thu) và
hiệu quả đầu tư – tài chính (lợi nhuận, ROA).
Bên cạnh các thước đo về tài chính, các chỉ tiêu phi tài chính cũng không kém phần
quan trọng. Isabel et al. (2017) cho rằng khách hàng là một trong những yếu tố quan
trọng nhất để khẳng định một doanh nghiệp có thực sự tốt hay không. Theo các tác giả,
có ba chỉ tiêu liên quan đến khách hàng để đo lường kết quả hoạt động, bao gồm: dịch
vụ, mối quan hệ và lòng trung thành của khách hàng. Bên cạnh đó, nhân viên cũng là
một đối tượng không kém phần quan trọng. Các chỉ tiêu để đánh giá kết quả kinh
doanh của công ty thông qua đối tượng này bao gồm: tỷ lệ thôi việc, môi trường làm
việc, lòng trung thành và tinh thần làm việc của nhân viên. Nếu tồn tại một mối quan
hệ tốt đẹp giữa doanh nghiệp và người lao động, họ sẽ gắn kết với công ty nhiều hơn,
làm việc hăng say, chăm chỉ hơn, năng suất vì thế cũng cao hơn và điều đó dẫn đến sự
cải thiện kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Vì thế, trong đề tài này, tác giả đã chọn


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×