Tải bản đầy đủ

Mười bốn viên ngọc thô trong cổ văn Trung Quốc


MƯỜI BỐN VIÊN NGỌC NHỎ
trong Cổ văn Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Hiến Lê

Đánh máy: Goldfish
Sửa lỗi: QuocSan
Tạo eBook lần đầu (17/12/‘11): QuocSan
Tạo lại (01/01/‘16): QuocSan.


MỤC LỤC
Vài lời thưa trước
1. BÁ DI LIỆT TRUYỆN
Tư Mã Thiên
Nguyên văn
Phiên âm
Dịch nghĩa
Nhận định
2. LAN ĐÌNH TẬP TỰ
Vương Hi Chi

Nguyên văn
Phiên âm
Dịch nghĩa
Nhận định
3. XUÂN DẠ YẾN ĐÀO LÍ VIÊN TỰ
Lí Bạch
Nguyên văn
Phiên âm
Dịch nghĩa
Nhận định
4. TỐNG MẠNH ĐÔNG DÃ TỰ
Hàn Dũ
Nguyên văn
Phiên âm
Dịch nghĩa
Nhận định
5. A PHÒNG CUNG PHÚ
Đỗ Mục
Nguyên văn
Phiên âm
Dịch nghĩa
Nhận định
6. NHẠC DƯƠNG LÂU KÍ
Phạm Trọng Yêm


Nguyên văn
Phiên âm
Dịch nghĩa
Nhận định
7. TUÝ ÔNG ĐÌNH KÍ
Âu Dương Tu
Nguyên văn
Phiên âm
Dịch nghĩa
Nhận định
8. HỈ VŨ ĐÌNH KÍ
Tô Thức
Nguyên văn
Phiên âm
Dịch nghĩa
Nhận định
9. TIỀN XÍCH BÍCH PHÚ
Nguyên văn
Phiên âm
Dịch nghĩa
Nhận định
10. HẬU XÍCH BÍCH PHÚ
Nguyên văn
Phiên âm
Dịch nghĩa
11. KÍ ÂU DƯƠNG XÁ NHÂN THƯ
Tăng Củng
Nguyên văn
Phiên âm
Dịch nghĩa
Nhận định
12. TƯ MÃ QUÍ CHỦ LUẬN BỐC
Lưu Cơ
Nguyên văn


Phiên âm
Dịch nghĩa
Nhận định
13. THƯƠNG LƯƠNG ĐÌNH KÍ
Qui Hữu Quang
Nguyên văn
Phiên âm
Dịch nghĩa
Nhận định
14. XÚC CHIỆP THUẾ TRIỆU THÁI HẬU
Chiến Quốc Sách
Nguyên văn
iv class="sgc-toc-level-3"> Phiên âm
Dịch nghĩa
Nhận định


VÀI LỜI THƯA TRƯỚC
Trong Hồi kí, cụ Nguyễn Hiến Lê nói về cuốn Cổ văn Trung Quốc như
sau:
“Bộ đó tôi dịch kĩ cho nên khá mệt. Phải thuận, sát và giữ đúng thể văn
trong nguyên bản. Phải chú thích nhiều.
Các nhà cựu học trong nhóm Nam Phong đã dịch được mươi bài Cổ văn
Trung Quốc nhưng không nhà nào chỉ cho ta biết cái hay ở đâu. Bộ Cổ văn
bình chú có in thêm ít lời “Bình” sơ sài của cổ nhân. Tôi nghĩ cần phải phân
tích cái hay thì thanh niên tân học mới hiểu được, cho nên việc đó tôi làm khá
công phu. Đọc các bài Bá Di liệt truyện của Tư Mã Thiên, Lan Đình tập tự
của Vương Hi Chi, Xuân dạ yến đào lí viên tự của Lí Bạch, A Phòng cung
phú của Đỗ Mục, Tuý Ông đình kí của Âu Dương Tu, Hỉ Vũ đình kí của Tô
Thức, Kí Âu Dương xá nhân thư của Tăng Củng… độc giả sẽ thấy tôi đã đem
tinh thần mới để xét nghệ thuật của cổ nhân, việc đó chưa ai làm, và những
độc giả nào lớn tuổi, biết chữ Hán, đọc kĩ sách của tôi đều nhận đó là một
cống hiến đáng kể trong văn học nước nhà.
Tôi mừng rằng đã làm cho một số cựu sinh viên Văn khoa đại học Sài Gòn
hiểu được và thích cổ văn Trung Quốc. Trong bài Tựa, tôi đã nói đọc nó, có
lợi nhiều về luyện văn: “Nghị luận thì chặt chẽ mà đột ngột, tự sự thì giản
lược mà linh hoạt, miêu tả tài hoa mà gợi hình, lời văn thì hàm súc và cảm
động”.
Tôi mừng rằng đã làm cho một số cựu sinh viên Văn khoa đại học Sài Gòn
hiểu được và thích cổ văn Trung Quốc. Trong bài tựa, tôi đã nói đọc nó, có
lợi nhiều về luyện văn: “Nghị luận thì chặt chẽ mà đột ngột, tự sự thì giản
lược mà linh hoạt, miêu tả tài hoa mà gợi hình, lời văn thì hàm súc và cảm
động.
Còn cái lợi về tinh thần thì “mỗi khi muốn có cái cảm giác nhẹ nhàng như
người mới tắm dưới suối lên rồi đứng hóng gió trên ngọn đồi thì chúng ta cứ
phải lật bộ Cổ văn ra chứ không tìm được trong các tác phẩm hiện đại nào
cả”. Vì tâm hồn của cổ nhân thanh tao mà khoáng đạt hơn chúng ta nhiều.
Đọc những bài Nhạc Dương lâu kí, Thương Lương đình kí… ta muốn quên
tất cả mọi vật, thế sự, cảm xúc triền miên; những bài Tuý Ông đình kí, Hỉ Vũ
đình kí khiến ta muốn nhảy múa với tác giả, vui cái vui thanh cao của tác giả;
hai bài Xích Bích phú tiền và hậu làm cho ta lây cái tinh thần của Lão Trang,
lâng lâng như muốn “mọc cánh”. Và mới tháng trước, tôi đã mượn câu “Tích


nhật chi sở vô, kim nhật hữu chi, bất vi quá; tích nhật chi sở hữu, kim nhật vô
chi, bất vi bất túc”[1] của Lưu Cơ trong bài Tư Mã Quí Chủ luận bốc để an ủi
gia đình một bạn mấy năm nay sa sút, phải bán lần đồ đạc mà sống, như hàng
ức, hàng triệu gia đình khác. Tôi viết cuốn đó khi buồn về quân Mỹ đổ vào
miền Nam nên gởi tâm sự trong lời của Hàn Dũ “bất bình tắc minh”[2] mà tôi
in ở trang đầu, và trong phần trên bài Tựa chép đời một ông nghè cuối Lê
chán thời cuộc tìm một nơi hẻo lánh để dạy học ở gần làng tôi”.
Cụ còn bảo:
“Sau này mỗi khi muốn có cái cảm giác nhẹ nhàng của người mới tắm
dưới suối lên rồi đứng hóng gió trên ngọn đồi thì cứ phải lật bộ cổ văn ra
chứ không tìm được trong một tác phẩm hiện đại nào cả. Tới bây giờ tôi
vẫn cho những bài Tiền Xích Bích phú, Hậu Xích Bích phú, Hỉ Vũ đình kí
của Tô Đông Pha, Tuý Ông đình kí của Âu Dương Tu, Lan Đình tập tự của
Vương Hi Chi, Nhạc Dương lâu kí của Phạm Trọng Yêm… là những viên
ngọc nhỏ trong văn học Trung Quốc”.
Trước đây tôi đã chép bài Tựa cuốn Cổ văn Trung Quốc[3] cho vào eBook
8 bài tựa đắc ý). Tôi cũng chép ba bài, tức bài Học nhi 1, Thuật nhi 14, Tiên
tiến 25[4] cho vào phần phụ lục eBook Luận ngữ và bài Kiêm ái cho vào phụ
lục eBook Mặc học. Nay tôi xin được chép mười ba bài cụ Nguyễn Hiến Lê
nói ở trên cùng tiểu sử tác giả các bài đó, tức các bài:
- Bá Di liệt truyện của Tư Mã Thiên,
- Lan Đình tập tự của Vương Hi Chi,
- Xuân dạ yến đào lí viên tự của Lí Bạch,
- Tống Mạnh Đông Dã tự của Hàn Dũ
- A Phòng cung phú của Đỗ Mục,
- Nhạc Dương lâu kí của Phạm Trọng Yêm,
- Tuý ông đình kí của Âu Dương Tu,
- Hỉ Vũ đình kí, Tiền Xích Bích phú, Hậu Xích Bích phú[5] của Tô Đông
Pha,
- Kí Âu Dương xá nhân thư của Tăng Củng,
- Tư Mã Quí chủ luận bốc của Lưu Cơ,
- Thương Lương đình kí của Qui Hữu Quang,
và bài Xúc Chiệp thuế Triệu Thái hậu cùng với lời giới thiệu cuốn Chiến
Quốc Sách. Bài này, trong cuốn Cổ văn Trung Quốc, cụ Nguyễn Hiến Lê bảo
đáng là “một viên ngọc trong cổ văn Trung Quốc”.


Với mười bốn bài nêu trên, tạm gọi là “Mười bốn viên ngọc nhỏ trong
Cổ văn Trung Quốc”, tuy chỉ là một phần nhỏ trong cuốn Cổ văn Trung
Quốc[6], tôi cũng mong rằng nó sẽ giúp chúng ta hiểu được cái hay của cổ
văn, tìm được “cái cảm giác nhẹ nhàng của người mới tắm dưới suối lên rồi
đứng hóng gió trên ngọn đồi”… và “được thở cái không khí của cổ nhân”
như lời của cụ Nguyễn Hiến Lê đã nói trong bài Tựa.
Goldfish
Tháng 09 năm 2011


1. BÁ DI LIỆT TRUYỆN
TƯ MÃ THIÊN[7]
Tư Mã Thiên là một sử gia vĩ đại của Trung Quốc, đời trước không ai hơn
mà đời sau cũng chưa ai bằng. Ông thành công lớn, đã đành là nhờ thiên tài,
mà cũng nhờ công phu và nhờ hoàn cảnh nữa: từ hồi trẻ ông đã có chí lập
nghiệp bấtVHSTQ. (Goldfish).


[220]

Nguyên văn phù đồ trỏ nhà sư. Văn Anh là tên hiệu.


[221]

Tô Tử Mĩ, tức Tô Thuấn Khâm đời Tống (1008-1048) ở đất Ngô Trung
(tại Giang Tô), tính tình khẳng khái, có chí lớn, thơ có giọng hào phóng, nổi
tiếng ngang với Mai Thánh Du, lưu lại bộ Tô Học Sĩ tập 16 quyển. Ông dựng
Thương Lang đình (đình là ngôi nhà nhỏ để nghỉ mát) trong thành Ngô
Trung, chung quanh có nước, bên cạnh có núi, phong cảnh rất đẹp.


[222]

Cuối nhà Đường đời vua Chiêu Tôn, Tiền Lưu làm chức Tiết độ sứ ở
Trấn Hải; khi nhà Đường mất, vua Lương Thái Tổ phong cho Tiền Lưu làm
Ngô Việt Vương, và Tiền Lưu tự xưng là vua Ngô Việt (Ngô Việt quốc
vương). – Quảng Lăng Vương họ Tiền, tên Nguyên Liêu. Nguyên văn: tử
thành là một thành nhỏ phụ thuộc vào một thành lớn.


[223]

Nguyên văn: nạp thổ là nạp đất (cho nhà Tống) mà nhận làm bề tôi.
[Tương ứng với câu “Đến khi Hoài Nam Vương qui về nhà Tống”, trong
ĐCVHSTQ chép là: “Tới khi đất Hoài Nam về nhà Tống”. Nhiều trang trên
mạng bảo: năm 978, Tiền Lưu (vua Ngô Việt đời thứ năm) nộp bản đồ đất
Hoài Nam, đầu hàng Bắc Tống. (Goldfish)].


[224]

Đài Cô Tô ở trên núi Cô Tô tại phía Tây Nam Ngô huyện (tức Ngô
Trung – coi chú thích (1)), do Ngô vương Phù Sai dựng sau khi thắng được
Việt vương Câu Tiễn, để vui thú với nàng Tây Thi.
Phạm Lãi là một vị đại thần của Việt vương Câu Tiễn, tìm được Tây Thi,
dâng lên Ngô vương. Vua Ngô mê Tây Thi, bỏ phế việc nước, nhờ vậy Câu
Tiễn trả thù được. Khi đã đánh bại được Ngô vương. Phạm Lãi đem Tây Thi
đi chơi Ngũ Hồ (cũng gọi là Thái Hồ).


[225]

Thái Bá và Ngu Trọng đều là con của Thái vương mà Thái vương là ông
nội của Chu Văn Vương. [Chu Văn Vương, tức Cơ Xương, là con của Quí
Lịch. Thái vương thấy Cơ Xương tài giỏi hơn người nên có ý truyền ngôi cho
Quí Lịch để sau này Quí Lịch truyền ngôi cho là Cơ Xương. Hai người anh
của Quí Lịch là Thái Bá và Ngu Trọng biết ý định của cha nên bỏ trốn đến ở
đất Kinh, phía Nam sông Trường Giang. Từ đó Thái Bá trở thành tổ tiên của
nước Ngô. (Goldfish)].


[226]

Hạp Lư là cha của Phù Sai. Về Phù Sai coi chú thích (5).


[227]

Tử Tư, họ Ngũ, tên Viên, là người nước Sở đời Xuân Thu, văn võ toàn
tài, vì Sở Bình vương giết cha, trốn qua nước Ngô, giúp Phù Sai đánh Sở (tức
tổ quốc của mình) để trả thù cho cha; sau lại giúp Phù Sai đánh bại được
Việt; cuối cùng phải tự tử vì bị Phù Sai nghi là có ý làm phản. – Văn Chủng
là đại phu người Việt thời Chiến Quốc. – Phạm Lãi coi chú thích (5).


[228]

Coi chú thích (3).


[229]

Nguyên văn: tư nhiên là tiêu tan đi, trỏ phần thể xác hữu diệt.


[230]

Lời Mạnh Tử trong Đằng Văn Công – hạ.


[231]

Lời Lưu Hướng trong Chiến Quốc Sách thư lục.


Thuế: Trong Hồi kí, cụ Nguyễn Hiến Lê bảo chữ 說 đọc là thuyết khi nó
là danh từ và đọc là thuế khi nó là động từ. Cụ còn cho biết: “Có sách bảo
cách phân biệt như vậy chỉ có từ đời Đường. Thời cổ danh từ và động từ đọc
như nhau hết”, nhưng cụ không nói rõ thời cổ đọc là thuyết hay là thuế.
(Goldfish).
[232]


Cung: bản nguồn chép nguyên văn là: 宮, trên mạng có bản cũng chép
như vậy, có bản chép là: 宫 (cung), lại có bản chép là: 官 (quan). (Goldfish).
[233]


[234]

Đoạn “Thái hậu viết: “Kính nặc. Niên kỉ hà hĩ?” Đối viết: “Thập ngũ tuế
hĩ.” là do tôi ghi thêm. (Goldfish).


Cập: bản nguồn chép nguyên văn là 及 (cập), nhưng ở đây chép phiên
âm là: “phản”. Các trang chữ Hán trên mạng đều chép là: 及 (cập).
(Goldfish).
[235]


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×