Tải bản đầy đủ

De cuong chi tiet 1 2

ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
Chương 1. GIỚI THIỆU
Chương 1 trình bày lý do hình thành đề tài, từ đó xác định mục tiêu nghiên cứu,
phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài.
1.1. Lý do hình thành đề tài
Ngành công nghiệp cơ khí là ngành chế tạo ra hệ thống máy móc, thiết bị, phương
tiện phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh của các ngành công nghiệp khác và phục
vụ cho các hoạt động trong đời sống của nhân dân. Sự phát triển của ngành công nghiệp
cơ khí đóng vai trò nền tảng, có ảnh hưởng lớn và góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát
triển của khoa học kỹ thuật quốc gia cũng như thúc đẩy sự phát triển của các ngành công
nghiệp khác. Mặc dù có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế, nhưng thực trạng chung
của ngành cơ khí của Việt Nam hiện nay vẫn chưa thật sự phát triển. Thị phần của sản
phẩm nội địa ngành cơ khí Việt Nam còn quá ít ỏi, nhỏ bé so với nhu cầu trong nước.
Các sản phẩm cơ khí của Việt Nam chưa thể cạnh tranh cả về giá và về chất lượng so với
hàng nhập ngoại trên thị trường.
Vì vậy, việc nghiên cứu nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tại các công
ty cơ khí có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của ngành cơ khí. Trong
đó có công ty MT, là một trong những công ty cơ khí của TPHCM, tập trung vào lĩnh
vực sản xuất nồi hơi. Việc nghiên cứu, tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng và đưa ra các giải
pháp nhằm nâng cao năng suất trong quá trình sản xuất sản xuất nồi hơi của Công ty MT
là một trong những nội dung quan trọng khi đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của

đơn vị. Thực tế cho thấy năng suất tăng sẽ làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh
nghiệp, nhờ vậy thu nhập của người lao động cũng tăng, nâng cao mức sống cho lực
lượng lao động. Tạo sự gắn bó của người lao động cũng như khách hàng đối với doanh
nghiệp và cuối cùng là đóng góp vào ngân sách nhà nước thông qua thuế doanh nghiệp.
Với thực tế nói trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Xây dựng các nhân tố ảnh hưởng
đến năng suất trong hoạt động sản xuất nồi hơi của Công ty MT” với mong muốn tìm
hiểu, xác định những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng suất sản xuất nồi hơi của
công ty MT. Qua đó, đề xuất một số giải pháp để công ty có thể thực hiện nhằm nâng
cao năng suất trong quá trình sản xuất nồi hơi của công ty.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được thực hiện để giải quyết 3 mục tiêu chính sau đây:
1


 Nghiên cứu những yếu tố, xác định mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố, đến
năng suất trong quá trình sản xuất của Công ty MT
 Phân tích mối liên hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất.
 Đề xuất một số giải pháp về nhằm nâng cao năng suất trong quá trình sản xuất
nồi hơi của Công ty MT
1.3.

Ý nghĩa của đề tài

Về mặt lý thuyết, đề tài hệ thống hóa lại các vấn đề lý thuyết liên quan đến năng
suất giúp các nhà quản lý nhận thức tương đối toàn diện hơn về năng suất và tầm quan
trọng của việc nâng cao năng suất.
Thông qua phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới năng suất cùng với mối liên hệ
giữa các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất trong sản xuất nồi hơi của công ty MT để đề
xuất những giải pháp thích hợp để nâng cao năng suất trong hoạt động sản xuất nồi hơi
của công ty MT. Từ đó, xây dựng một hệ thống quản lý thực sự có hiệu quả nhằm tối ưu
hóa nguồn lực hiện có và hiệu quả đầu tư, tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị
trường.
1.4.

Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi Công ty TNHH TM-DV Mạc Tích (Martech
Boiler) và công ty TNHH TM SX Hồng Ký –cùng trụ tại Huyện Bình Chánh- TP. Hồ
Chí Minh. Trong điều kiện có hạn, Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những yếu tố về quản
lý, điều hành sản xuất bên trong của doanh nghiệp ảnh hưởng đến năng suất trong quá
trình sản xuất của công ty .
1 . Nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu sản xuất trong lĩnh vực cơ khí tại công ty
Martech Boiler và công ty cơ khí Hồng Ký. Do đó, sự khái quát có hạn chế. Để mở rộng
khả năng khái quát của nghiên cứu này, nghiên cứu so sánh cấp độ ngành trong tương lai
có lẽ có thể tập trung vào các mẫu từ những nơi khác ở Palestine;
2 . Nghiên cứu chỉ quan tâm đến năng suất lao động mà không bao gồm toàn bộ
các năng suất nhân tố và năng suất tài chính;
3 . Nghiên cứu chỉ liên quan đến đo lường năng suất của công việc sản xuất cơ khí
thông dụng : tiện hàn, khoan…Do đó, cần có nghiên cứu trong tương lai tập trung vào
các hoạt động khác trong các dự án cơ khí như cơ khí chính xác ...... vv;
2


4 . Các bảng câu hỏi khảo sát cũng có những hạn chế khác liên quan đến thực tế là
hướng những người tham gia cho ý kiến liên quan đến một số tuyên bố đã có sẵn. Có thể
có các yếu tố khác ảnh hưởng đến năng suất lao động nhưng không đề cập trong bảng
câu hỏi và người trả lời có thể không có thời gian để ghi nhớ chúng.
1.5.

Kết cấu của đề tài

Kết cấu của luận văn ngoài Lời mở đầu và Kết luận, được chia thành 4 chương
như sau:
Chương 1. Lý luận chung về năng suất và các nghiên cứu có liên quan
Chương 2. Phương pháp nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất
Chương 3. Phân tích dữ liệu và trình bày kết quả
Chương 4. Một số giải pháp nâng cao hoạt động sản xuất của các công ty cơ khí

3


Chương 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Năng suất là một trong những vấn đề quan trọng nhất ở các nước phát triển và
đang phát triển. Các nước phát triển nhận thức được rằng năng suất là rất quan trọng cho
sự tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội. Ở các nước đang phát triển, nơi đang phải đối
mặt với vấn đề thất nghiệp, lạm phát, khan hiếm tài nguyên và sự suy giảm tốc độ tăng
trưởng thì cố gắng sử dụng các nguồn tài nguyên theo cách có thể đạt được tăng trưởng
kinh tế và cải thiện đời sống của người dân. Năng suất là một trong những biện pháp sử
dụng nguồn nhân lực và tài chính quan trọng vì đó là một dấu hiệu rõ rệt thể hiện hiệu
quả sử dụng nguồn lực sẵn có và chuyển đổi năng suất thành những kết quả đáng chú ý.
Chương này sẽ đề cập đến các định nghĩa khác nhau về thuật ngữ năng suất, các
loại năng suất, tầm quan trọng của năng suất trong ngành cơ khí xây dựng, các yếu tố
ảnh hưởng đến năng suất lao động, và đo lường năng suất lao động trong DN. Phần thứ
ba tóm tắt các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây có liên quan và những điều học
hỏi được từ các nghiên cứu này. Phần cuối cúng là đưa ra các mô hình nghiên cứu.
2.1.

Khái niệm chính

2.1.1. Khái niệm về năng suất
Nâng cao năng suất là một mối quan tâm lớn của bất kỳ tổ chức nào có quan tâm đến
lợi nhuận, biểu trưng cho việc chuyển đổi hiệu quả các nguồn lực thành sản phẩm có
thể bán được và xác định lợi nhuận kinh doanh (Wilcox và cộng sự, 1993). Do đó,
người ta đã cố gắng để hiểu được khái niệm năng suất, các nhà nghiên cứu đã thực
hiện các phương pháp tiếp cận khác nhau, đưa ra một loạt các định nghĩa về năng suất.
Một số các định nghĩa được liệt kê theo thứ tự thời gian trong bảng 2.1.
Bảng 2.1. Bảng liệt kê các định nghĩa quan trọng về năng suất theo trình tự
thời gian (Alfeld, 1988 - Lema, 1995 -Pilcher, 1997 - Gupta et al, 2000 - Oglesby,
2002)
Thế kỷ

Tác giả

Năm

Định nghĩa

19th

Littre

1883

Khả năng sản xuất.

20th

Early

1900s Mối quan hệ giữa sản lượng và phương tiện được sử
dụng để tạo ra sản lượng.

Davis

1955

Thay đổi trong sản phẩm thu được đối với các nguồn lực
được sử dụng.
4


Fabricant

1962

Luôn là một tỷ lệ giữa sản lượng đầu ra và đầu vào.

Kendrick et al 1965

Định nghĩa chức năng của một phần, tổng yếu tố và tổng
năng suất.

Siegel

1976

Tập hợp các tỷ lệ giữa sản lượng đầu ra và đầu vào

Sumanth

1979

Tổng năng suất – tỷ lệ giữa sản lượng đầu ra hữu hình và
đầu vào hữu hình.

Alfeld

1988

Tỷ lệ liên quan đến đo lường kết quả đầu ra và đo lường
kết quả đầu vào.

Lema

1995

Pilcher

1997

Tỷ lệ giữa sản lượng đầu ra và đầu vào trong một quá
trình sản xuất.
Tỷ lệ sản xuất tức là đầu ra chia cho đầu vào

Gupta et al

2002

Oglesby et al

2002

Sản lượng của một công việc năng suất liên quan đến
sản lượng đầu vào.
Khả năng tạo ra sản lượng đầu ra dồi dào hoặc phong
phú.

Một số định nghĩa năng suất cũng có nguồn gốc từ các nhóm lợi ích đặc biệt như các
nhà kinh tế, công nghiệp, công đoàn và chính trị gia. Các cá nhân hoặc nhóm có ý
nghĩa phù hợp với tình hình của họ. Ví dụ như tổ chức Hợp tác kinh tế châu Âu (được
trích dẫn trong Lema, 1995) định nghĩa năng suất như "một thương số có được bằng
cách chia sản lượng đầu ra với một trong những yếu tố sản xuất. Bằng cách này chúng
ta có thể nói về năng suất của vốn, đầu tư, nguyên liệu theo liệu đầu ra đang được xét
đến có liên quan với vốn, đầu tư, nguyên liệu v.v "
Trung tâm Năng suất Quốc gia Nhật Bản (trích dẫn trong Lema, 1995) mô tả năng suất
như sau: "Năng suất là trên hết, là một thái độ của tâm trí. Năng suất là một trạng thái
tâm lý của sự tiến bộ, cải tiến liên tục của những gì hiện có. Đó là sự chắc chắn về khả
năng ngày hôm nay có thể làm tốt hơn hôm qua và không tốt bằng ngày mai. Đó là ý
chí nhằm cải thiện tình hình hiện tại, bất kể tình hình dường như có thể tốt như thế nào,
bất kể tình hình có thể thực sự tốt như thế nào. đó là sự thích ứng liên tục của đời sống
kinh tế và xã hội để thay đổi các tình huống; đó là những nỗ lực liên tục để áp dụng kỹ
thuật mới với các phương pháp mới; đó là niềm tin vào sự tiến bộ của con người ".
5


Văn phòng Lao động quốc tế (1996) mô tả năng suất như sau: "Năng suất là một so
sánh giữa việc bạn đã đưa vào các dự án bao nhiêu nhân lực, vật liệu, máy móc, công
cụ và kết quả mà bạn có được từ dự án. Năng suất phải tương quan với hiệu quả sản
xuất. Tạo ra một công trường xây dựng hiệu quả hơn có nghĩa là nhận được sản lượng
đầu ra nhiều hơn với chi phí ít hơn trong thời gian ngắn hơn. Năng suất bao gồm tất cả
các hoạt động nhằm hoàn thành các công trình xây dựng tại công trường, từ giai đoạn
quy hoạch cho đến giải phóng mặt bằng. Nếu nhà thầu có thể thực hiện các hoạt động
này với chi phí thấp trong thời gian ngắn hơn với số lượng người lao động ít hơn, hoặc
với sử dụng các thiết bị ít hơn nhưng năng suất sẽ được cải thiện " (Anderson và cộng
sự, 1996).
Từ các định nghĩa trên có thể kết luận rằng năng suất thường được định nghĩa là tỷ lệ
giữa sản lượng đầu ra và đầu vào.

Sản lượng đầu ra

Năng suất =

Sản lượng đầu vào

6


Điều quan trọng là phải xác định đầu vào và đầu ra đo được khi tính toán năng suất bởi
vì có rất nhiều yếu tố đầu vào, chẳng hạn như lao động, vật tư, thiết bị, công cụ, vốn,
và thiết kế. Quá trình chuyển đổi từ đầu vào đến đầu ra liên quan đến quá trình vận
hành bất kỳ cũng rất phức tạp, chịu tác động của công nghệ được sử dụng, của nhiều
yếu tố bên ngoài như các quy định của chính phủ, thời tiết, đoàn thể, điều kiện kinh tế,
quản lý, và các thành phần môi trường nội bộ.
2.1.2. Sự khác nhau giữa năng suất và sản xuất
Nhiều người bị nhầm lẫn giữa thuật ngữ năng suất và sản xuất. Họ nghĩ rằng sản xuất
càng nhiều, năng suất càng lớn. Điều này không hoàn toàn đúng. Sản xuất trong một
công việc hữu ích bất kỳ chỉ thể hiện kết quả mà không đề cập đến sản lượng đầu vào.
Nhưng năng suất là có liên quan với việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực (đầu vào)
trong sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ (đầu ra) (Gupta và cộng sự, 2000). Nếu xem xét
về mặt số lượng, sản xuất số lượng sản phẩm sản xuất được, trong khi đó năng suất là
tỷ lệ giữa kết quả sản xuất với nguyên liệu đầu vào được sử dụng (Gupta và cộng sự,
2000).
2.1.3. Các loại năng suất
Có ba loại năng suất, được gọi là năng suất đơn yếu tố, năng suất yếu tố tổng hợp và
tổng năng suất.
2.1.3.1. Năng suất đơn yếu tố
Năng suất đơn yếu tố là tỷ lệ giữa sản lượng đầu ra với một loại sản lượng đầu vào
(Lema, 1995). Ví dụ như năng suất lao động là tỷ lệ giữa sản lượng đầu ra với sản
lượng lao động đầu vào. Tương tự như vậy năng suất vốn là tỷ lệ giữa đầu ra và vốn
đầu vào. Năng suất đơn yếu tố được sử dụng rộng rãi như các biện pháp hiệu quả kinh
tế và ít nhất cũng có được những lợi thế của sự đơn giản nhưng nó có một điểm yếu ở
chỗ nó không bao gồm toàn bộ quá trình sản xuất và không đủ để đối phó với tác động
của thay đổi công nghệ và thay thế yếu tố (Lowe, 1987).

7


2.1.3.1.1. Năng suất lao động

Năng suất lao động là thước đo sử dụng rộng rãi nhất của hiệu quả hoạt động.
Điều này không có nghĩa lao động là yếu tố đầu vào tốt nhất để đo lường năng
suất nhưng chỉ đơn giản là phản ánh những khó khăn hoặc bất khả thi của việc
có được giá trị số cho các yếu tố quyết định khác về năng suất. Vì vậy, rất nhiều
các bài tiểu luận về năng suất dường như cho rằng năng suất lao động là biện
pháp phù hợp duy nhất (Lowe, 1987). Một biện pháp phổ biến của năng suất lao
động trung bình là tỷ lệ của sản lượng bình quân lao động.
Năng suất lao động trung bình =

Q

/L

Trong đó Q = sản lượng đầu ra
L = Lao động được sử dụng
Lao động được sử dụng (L) cần phải lượng tử hóa và khi sử dụng yếu tố này làm
số lượng các toán tử thì ít nhất cũng có những thuận lợi đó là sự đơn giản và vì
phương pháp này sử dụng thống kê học khá dễ dàng có sẵn (Lowe, 1987). Nhiều
phép hoán vị về chủ đề này đã được lập công thức – sản lượng đầu ra/giờ thực hiện,
sản lượng đầu ra/năm thực hiện, chỉ số chi phí lao động, v.v. (Lowe, 1987). Trong bối
cảnh này, năng suất lao động trung bình là đo lường cường độ lao động của quá trình
sản xuất và không cần phải ám chỉ điều gì về hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực.
Năng suất lao động vì vậy có thể được tăng lên bằng cách thay thế một yếu tố khác –
luôn luôn là vốn đối với lao động. Sự thay thế này có thể hoặc không đưa đến hiệu quả
sử dụng nguồn lực tốt hơn và giá thành tốt hơn trong sản xuất. Vì vậy, ví dụ nếu máy
móc được thay thế cho lao động ở công trường, điều này sẽ cải thiện năng suất lao
động. Tương tự, sử dụng các linh kiện được chế tạo bên ngoài công trường, có liên
quan đến việc thay thế lao động ngoài công trường đối với lao động tại công trường
cũng sẽ cải thiện năng suất lao động trung bình (Lowe, 1987).
2.1.3.1.2. Năng suất vốn
Năng suất vốn luôn được định nghĩa theo phần trăm lợi nhuận trên vốn đầu tư, bằng
cách sử dụng biện pháp truyền thống chẳng hạn như tỷ lệ lợi nhuận trung bình hoặc
phương pháp chiết khấu dòng tiền chẳng hạn như phương pháp lợi suất nội hàm
(Lowe, 1987).
8


Năng suất vốn trung bình = Năng suất / Vốn đã đầu tư
Để tính toán năng suất vốn, cần phải ước tính giá trị cổ phần vốn cố định. Tồn tại một
số vấn đề do có các phương pháp đánh giá tài sản vốn khác nhau và do mọi ước tính
chỉ ở mức độ chủ quan, cụ thể là những người quản lý công ty có thể có quan điểm
khác với các cổ đông. Trong mọi trường hợp, những thông tin đó chắc chắn không có
sẵn. Vì vậy, năng suất vốn ít được sử dụng hơn năng suất lao động (Lowe, 1987).
Ngoài những khó khăn thực tế này, năng suất vốn là một tiêu chí hữu ích hơn nhiều so
với năng suất lao động trong việc đánh giá hiệu suất hoạt động của một doanh nghiệp
hoạt động trong một nền kinh tế thị trường. Hầu hết các công ty tư nhân sẽ tìm cách để
đảm bảo đủ lợi nhuận trên khoản vốn đã đầu tư vào các cổ đông của họ - vì vậy lợi
nhuận trên vốn đầu tư cao hơn nhiều so với sản lượng cao trên mỗi công nhân (Lowe,
1987).
2.1.3.2 Năng suất yếu tố tổng hợp
Để khắc phục những hạn chế của phương pháp năng suất đơn yếu tố đã xét ở trên,
người ta đã phát triển biện pháp đo lường năng suất yếu tố tổng hợp. Năng suất yếu tố
tổng hợp là tỷ lệ giữa sản lượng đầu ra tịnh vào tổng sản lượng lao động và vốn đầu
vào liên quan (Lema, 1995)

TFPt =

Sản lượng đầu ra
(Ht + Ct)

(3)

Trong đó
TFPt = Năng suất yếu tố tổng hợp trên khoảng thời gian t

9


Ht = lao động đầu vào trên khoảng thời gian t
Ct = vốn đầu vào trên khoảng thời gian t
Từ quan điểm về hiệu quả sản xuất trong điều kiện khan hiếm, doanh nghiệp sẽ phải
kết hợp các yếu tố đầu vào khác nhau với sự kết hợp chính xác để có được kết quả tối
ưu hoặc giảm thiểu chi phí ở một mức độ sản xuất nhất định hoặc để tối đa hóa sản
xuất từ nguồn lực sẵn có. Từ quan điểm điểm hiệu quả phân bổ, các chủ sở hữu có thể
giả định các yếu tố sản xuất khác nhau để tìm cách tối đa hóa lợi nhuận của mình từ
những yếu tố đó (Lowe, 1987).
2.1.3.3 Tổng năng suất
Tổng năng suất là tỷ lệ giữa tổng sản lượng đầu ra và tổng các yếu tố đầu vào. Vì vậy,
đo lường tổng năng suất thể hiện tác động liên kết của tất cả các yếu tố đầu vào trong
việc tạo ra sản lượng đầu ra. Trong tất cả các định nghĩa ở trên, cả sản lượng đầu ra và
đầu vào đều là các giá trị thực hoặc hiện có do được giảm so với đồng đô la cố định
trong một khoảng thời gian tham chiếu (Lema, 1995). Việc giảm theo khoảng thời gian
cơ sở này được thực hiện bằng cách chia giá trị sản lượng đầu ra và giá trị sản lượng
đầu vào nhân với hệ số giảm phát hoặc lạm phát tùy theo giá cả của sản lượng đầu ra
và đầu vào tăng lên hay giảm xuống tương ứng.


(Lema, 1995).
TPt =

Tổng giá trị đầu ra
Tổng giá trị đầu vào

(4)

Trong đó TPt là tổng năng suất trong khoảng thời gian t
Do đó TPt =

Vt
(Ht + Ct + Mt + Et + Ot)


Trong đó
Vt = giá trị đầu ra trong khoảng thời gian t
Ht = nhân sự đầu vào trong khoảng thời gian t
Ct = vốn đầu vào trong khoảng thời gian t
Mt = vật tư đầu vào trong khoảng thời gian t
Et = năng lượng đầu vào trong khoảng thời gian t
Ot = các chi phí khác trong khoảng thời gian t.
2.1.4. Biến suất
Biến suất tồn tại do việc quản lý ba biến. Các biến suất này gồm lao động, vốn và quản
lý. Ba yếu tố này rất quan trọng trong việc cải thiện năng suất. Chúng tượng trưng cho
những lĩnh vực rộng lớn mà trong đó những người quản lý có thể hành động để có
được năng suất tốt hơn (Heizer et al, 1990).
2.1.4.1.

Lao động

Chất lượng lao động rất quan trọng để cải thiện năng suất. Ba biến truyền thống đối với
năng suất lao động được cải thiện đó là (Heizer và cộng sự, 1990).
1- Giáo dục cơ bản phù hợp với lực lượng lao động hiệu quả;
2- Chế độ ăn uống của lực lượng lao động;
3- Chi phí xã hội để có lao động, chẳng hạn như vận chuyển và vệ sinh.
Ở các nước đang phát triển, ba biến này rất quan trọng; tuy nhiên, ở các nước phát
triển, biến quan trọng nhất là duy trì và nâng cao kỹ năng của lao động.
2.1.4.2.

Vốn

Con người là loài sử dụng công cụ. Đầu tư vốn cung cấp những công cụ này. Những
công cụ này có thể phân loại từ máy vi tính đến máy móc phức tạp và sân bay mới
(Heizer và cộng sự, 1990). Thông thường sản xuất được thực hiện với sự trao đổi giữa
lao động và vốn. Cụ thể là nếu chúng ta muốn xây một con đường, chúng ta có thể
thực hiện với một đội ngũ hàng ngàn người sử dụng cuốc xẻng hoặc chúng ta có thể
đầu tư vào thiết bị di chuyển đất. Sự giao đổi giữa vốn và lao động sự lưu động liên tục
(Heizer và cộng sự, 1990).


2.1.4.3.

Quản lý

Quản lý là một yếu tổ của sản xuất và là một nguồn kinh tế. Quản lý chịu trách nhiệm
đảm bảo lao động và vốn được sử dụng hiệu quả để tăng năng suất. Nghệ thuật và khoa
học quản lý bao gồm những cải tiến được thực hiện bởi công nghệ và kiến thức. Cải
tiến đó đòi hỏi có sự đào tạo và giáo dục cũng như tổ chức năng động (Heizer và cộng
sự, 1990).
2.1.5. Chu kỳ năng suất
Chu kỳ năng suất có bốn giai đoạn: đo lường năng suất, phát triển năng suất, lập kế
hoạch năng suất và cải thiện năng suất như được thể hiện trong hình 2.1 [cited in
Sisalemetal, 2000].

Đánh giá
năng suất

Cải thiện
năng suất

Đo lường
năng suất

Lập kế hoạch
năng suất



Hình .2.1. Chu kỳ năng suất (trích trong Sisalem và cộng sự, 2000).
Một tổ chức khi bắt đầu một chương trình năng suất chính thức lần đầu tiên có
thể bắt đầu với đo lường năng suất. Khi xác định được các mức năng suất, cần
phải đánh giá các mức năng suất hoặc so sánh với giá trị đã định. Dựa trên mục
tiêu đánh giá này, các mức năng suất được lập kế hoạch trên cơ sở ngắn hạn và
dài hạn. Để đạt được những mục tiêu đã định, trong kỳ tiếp theo sẽ phải tiến
hành cải thiện năng suất; lúc này phải đo lại mức năng suất.
Vì vậy, chu kỳ này tiếp tục cho đến khi nào chương trình năng suất áp dụng
trong tổ chức (Armstrong, 1988).
Khái niệm chu kỳ năng suất cho chúng ta thấy rằng cải thiện năng suất phải được
bắt đầu bằng đo lường, phát triển, và lập kế hoạch. Tất cả bốn giai đoạn đều quan
trọng chứ không chỉ đo lường năng suất hoặc cải tiến năng suất. Đồng thời, chu
kỳ này nhấn mạnh bản chất quá trình của vấn đề năng suất. Chương trình năng
suất không phải là một dự án thời gian mà là một quá trình diễn ra liên tục.
2.1.6. Năng suất cơ khí xây dựng
Năng suất cơ khí xây dựng là tập trung vào giá trị tiền thu được từ khách hàng cơ
khí xây dựng. Kiến thức về năng suất là một phần thiết yếu trong quản lý cơ khí
xây dựng. Ứng dụng đo lường năng suất chính xác nhất trong lĩnh vực quản lý
nguồn lực. Tuy nhiên, tỷ lệ năng suất liên quan đến nhiều chủ thể khác trong quá
trình thực hiện chẳng hạn như dự toán chi phí, lập kế hoạch các hoạt động, kiểm
soát chi phí, nguồn nhân lực, và bảng lương (Herbsman và cộng sự, 1990). Vì
vậy, xác định chính xác năng suất là rất quan trọng nhưng đo lường năng suất
trong cơ khí xây dựng là một vấn đề phức tạp vì sự tương tác giữa lao động, vốn,
vật tư, và thiết bị và yếu tố thay đổi các điều kiện công trường khác nhau trên tỷ
lệ năng suất của các hạng mục xây dựng tiêu chuẩn nhất.
2.1.7. Năng suất theo cách tiếp cận mới - Hướng nhìn cho các DN Việt Nam.

15


Năng suất ở cấp DN được hiểu là phương pháp sản xuất hàng hóa/dịch vụ có chất
lượng và giá trị cao với chi phí thấp nhất có thể. Điều nầy cho phép DN cung cấp
hàng hóa/dịch vụ với giá cạnh tranh. Kết quả là nếu tiêu thụ tốt thì lợi nhuận của
DN sẽ tăng. Như vậy, năng suất hiện nay bao gồm những nội dung sau:
-

Đáp ứng được yêu cầu của khách hàng

-

Giảm đến mức tối thiểu các tác động xấu tới môi trường

-

Thỏa mãn người lao động

-

Hướng vào việc tạo ra giá trị cho khách hàng

-

Làm đúng việc ngay từ đầu để giảm lãng phí trong sản xuất.

Đối với mỗi nhân viên , năng suất và hiệu quả kinh doanh của DN cũng có nghĩa
là công việc ổn định hơn, nhiều cơ hội hơn, mức lương cao hơn và chất lượng
cuộc sống cũng sẽ tốt hơn.
1.1.1.

Tầm quan trọng của năng suất và nâng cao năng suất

1.1.2.

Những yếu tố ảnh hưởng tới năng suất

Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất cơ khí xây dựng đã là chủ đề phân tích của
nhiều nhà nghiên cứu. Để cải thiện năng suất, cần phải nghiên cứu những yếu tố
ảnh hưởng đến năng suất, bất kể tích cực hay tiêu cực. Sử dụng các yếu tố có
ảnh hưởng tích cực, và loại bỏ (hoặc kiểm soát) những yếu tố có ảnh hưởng tiêu
cực sẽ cải thiện được năng suất.
Nếu biết được tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, cũng có thể dự đoán
được năng suất (lema, 1995). Nhiều nhà nghiên cứu đã kiểm tra các yếu tố ảnh
hưởng đến năng suất lao động. Các nhà nghiên cứu này bao gồm Liên hiệp quốc
(1965), Kane và cộng sự (1980), Thomas, và cộng sự (1991), Yates và cộng sự
(1993), Lim và cộng sự (1995), lema (1995), Olomolaiye và cộng sự (1996),
Heizer và cộng sự (1996) , Olomolaiye và cộng sự (1998), Kaming, và cộng sự
(1998), Teicholz (2001), Thomas và cộng sự (2001), Wachira. (2001), Rojas và
cộng sự (2003). Mặc dù đã điều tra chuyên sâu như vậy, theo sự tìm hiểu của tác

16


giả, các nhà nghiên cứu vẫn chưa thống nhất về một tập hợp chung các yếu tố có
ảnh hưởng đáng kể đến năng suất cũng như chưa thỏa thuận về việc phân loại
các yếu tố này.
1.1.3.
1.2.

Đo lường năng suất

Lý thuyết liên quan

1.2.1. Năng suất và cạnh tranh.
1.2.2. Năng suất - hiệu quả.
1.2.3. Năng suất - giá trị gia tăng.
1.2.4. Năng suất và những mục tiêu của xã hội.
1.2.5. Năng suất và tăng trưởng năng suất.
1.2.6. Năng suất lao động chân tay và lao động tri thức.
1.2.7. Năng suất theo cách tiếp cận mới - Hướng nhìn cho các DN Việt Nam.
1.3.

Tổng quan các nghiên cứu trước về năng suất và các nhân tố ảnh
hưởng đến năng suất

1.3.1. Nghiên cứu trong nước
1.3.2. Nghiên cứu ngoài nước
1.4.

Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất

1.4 Phương pháp nghiên cứu và phương pháp
1.4.1 Giới thiệu
Các phương pháp được lựa chọn cho nghiên cứu này là phương pháp nghiên cứu
trường hợp dạng Case Study , phương pháp nghiên cứu khu vực và phương pháp
so sánh. Sự kết hợp của các nghiên cứu so sánh và nghiên cứu trường hợp là hợp
lý theo các căn cứ sau đây . Các nghiên cứu trường hợp cung cấp cái nhìn sâu sắc
vào các cơ chế công ty cấp cơ sở, mà không thể được nghiên cứu ở mức độ ngành.
Nghiên cứu này sử dụng số liệu chính từ các công ty trường hợp để điều tra các

17


vấn đề và các vấn đề cải thiện hiệu suất trong các công ty sản xuất cơ khí ở huyện
Bình Chánh, TPHCM .
1.4.2 Trường hợp nghiên cứu
Các nghiên cứu tập trung vào bốn công ty sản xuất . Thông tin nghiên cứu được
thu thập thông qua một loạt các chuyến thăm nghiên cứu cho các công ty hợp tác
cách nhau khoảng mười hai tháng ngoài trong khoảng thời gian bốn năm. Một tour
du lịch nghiên cứu duy nhất tất cả bốn nhà máy trong thời gian dài của thời gian,
thu thập dữ liệu , có được các tài liệu liên quan đến nhà máy , và thực hiện cả các
cuộc phỏng vấn có cấu trúc và bán cấu trúc với một loạt các nhân viên công ty .
Các dữ liệu nghiên cứu thu thập được sau đó được sử dụng để xây dựng các biện
pháp phù hợp thực hiện công ty và các proxy của các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu
suất này . Những sau đó được phân tích để giải thích sự phát triển hiệu quả và
cung cấp những hiểu biết mới về cơ chế của quá trình cải thiện hiệu suất .
Các nghiên cứu ban đầu bắt đầu với một nghiên cứu khảo sát của 39 công ty sản
xuất trong nước Zambia và Zimbabwe để cung cấp một sự hiểu biết chung về các
vấn đề cải thiện hiệu suất trong các công ty sản xuất trong hai nước kém phát triển
điển hình và để giúp phát triển các mô hình nghiên cứu . Nghiên cứu đã tìm cách
xác định xem những yếu tố bên trong và ảnh hưởng bên ngoài được xác định trong
văn học (xem Yamfwa , 1997) là biến số quan trọng để giải thích sự khác biệt về
hiệu suất quan sát giữa các công ty . Nghiên cứu khảo sát được theo sau bởi một
hội thảo tổ chức tại Zambia . Những người tham gia hội thảo đã được rút ra từ các
cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm về thương mại , Thương mại, Công nghiệp và
Kỹ thuật Giáo dục, trường đại học, các nhà tài trợ quốc tế , các lĩnh vực sản xuất
Zambia và các bên liên quan khác . Hội thảo cung cấp những đóng góp có giá trị
và hiểu rõ hơn về cách các công ty sản xuất ở Zambia xem cải thiện hoạt động sản
xuất của họ như là các tổ chức cá nhân và như là một khu vực . Ví dụ , các vấn đề

18


liên quan đến sự sống còn của các công ty được xem là quan trọng hơn so với các
khía cạnh môi trường của sản xuất ( ô nhiễm ) mà dường như đã trở nên nổi bật
trong các quốc gia công nghiệp hóa cao nhất .
Thông tin thu thập được từ các nghiên cứu khảo sát, từ thăm trang web, từ các hội
thảo làm việc và các tài liệu được công bố trong các khu vực khác của thế giới
đang phát triển đã giúp trong các khái niệm của mô hình nghiên cứu . Các nghiên
cứu đưa ra giả thuyết rằng việc cải thiện hiệu quả sản xuất là một quá trình tích
hợp chủ yếu là do yếu tố nội bộ công ty có thể bị hạn chế hoặc tăng cường bởi
ngành công nghiệp ảnh hưởng bên ngoài có liên quan.
Bốn công ty tạo ra các nghiên cứu trường hợp của chúng tôi , hai trong chế biến
nông sản ( thực phẩm và dệt may) , một trong các kim loại chế tạo và khác trong
sản xuất hóa chất . Bốn chi nhánh đã được chọn vì ba lý do . Thứ nhất, các chi
nhánh là một trong những lớn nhất trong lĩnh vực này trong điều kiện lao động ,
đóng góp vào GDP và tỷ trọng giá trị gia tăng công nghiệp . Trong năm 1998, các
chi nhánh cùng nhau chiếm 45,4 phần trăm việc làm trong sản xuất , 40,7 phần
trăm của giá trị sản xuất tăng ( theo giá yếu tố ) , và khoảng 52 phần trăm kim
ngạch xuất khẩu sản xuất . Thứ hai, các ngành có tiềm năng cho các liên kết lạc
hậu và tạo ra thu nhập , tức là họ có thể hoạt động như các cực tăng trưởng . Lý do
thứ ba là công nghệ sản xuất trong tất cả bốn chi nhánh chủ yếu dựa vào kỹ thuật
cơ khí . Các ngành được lựa chọn , do đó , chịu tương đồng với các chi nhánh khác
với hệ thống sản xuất có thể so sánh .
Trong trường hợp nghiên cứu tập trung chủ yếu là trên các hệ thống sản xuất của
công ty có hiệu quả các chỉ tiêu đã đủ điều kiện sản lượng mỗi người tham gia và
hiệu quả chuyển đổi của các hệ thống sản xuất . Chỉ số hoạt động khác (chẳng hạn

19


như chỉ số tài chính ) , trong đó

cũng rất quan trọng góp phần vào khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, không
được xem xét.
Trong đo biến như đầu vào trung gian , chúng tôi tập trung vào loại chính của đầu
vào trung gian thường nhận được sự chú ý quản lý lớn nhất và sau đó có một cách
sử dụng tương đối hiệu quả hơn. Bao gồm tất cả các yếu tố đầu vào trung gian
trong việc phân tích có thể xảy ra trong các chỉ số hiệu suất thấp hơn , mặc dù xu
hướng chính sẽ không thay đổi .
Số lượng các nghiên cứu trường hợp là nhỏ, như là không thể tránh khỏi trong một
phương pháp nghiên cứu trường hợp . Điều này hạn chế tính đại diện của họ . Kết
hợp với các nghiên cứu khu vực , tuy nhiên , các nghiên cứu cho phép một nghiên
cứu chuyên sâu của các cơ chế liên quan đến việc cải thiện năng suất . Như vậy họ
cung cấp những hiểu biết có liên quan mà vượt qua ranh giới của các công ty cá
nhân .
Mô hình định tính
1.4.1. Mô hình định lượng
Chương 3. Phương pháp nghiên cứu
3.1.Giới thiệu
Chương trước được mô tả một cách chi tiết, các khái niệm về năng suất và cho
rằng để hiểu biết đầy đủ về năng suất, tổng năng suất cần được nghiên cứu. Tuy
nhiên, nghiên cứu ngành công nghiệp cơ khí chưa đáp ứng đủ để có thể đạt được

20


điều này, và một phần các biện pháp năng suất thường được sử dụng, phổ biến
nhất trong số đó là năng suất lao động. Hơn nữa, nghiên cứu chi tiết các tài liệu đã
được thực hiện, trong đó phổ biến nhất đã xác định bốn phương pháp đo lường
năng suất và các yếu tố năng suất lao động.
Trong chương này, mô tả về quá trình và phương pháp thu thập dữ liệu của việc
thực hiện nghiên cứu này . Một phương pháp chi tiết và các công cụ sử dụng sẽ
được mô tả.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Giới thiệu
Phương pháp được lựa chọn cho nghiên cứu này là phương pháp nghiên cứu
trường hợp Case Study kết hợp phương pháp so sánh. Sự kết hợp nghiên cứu
trường hợp và phương pháp so sánh là hợp lý theo các căn cứ sau đây. Các nghiên
cứu trường hợp cung cấp cái nhìn sâu sắc vào các cơ chế công ty cấp cơ sở, mà
không thể được nghiên cứu ở mức độ ngành.
Hơn nữa, một nghiên cứu định tính cho phép các nhà nghiên cứu để đạt được sự
hiểu biết phong phú và sâu sắc về nội dung nghiên cứu và các khái niệm bằng
cách thu thập thông tin liên quan một cách linh hoạt ( Holme & Solvang , 1997).
Vì tác giả làm báo cáo này phụ thuộc vào nghiên cứu thông tin liên quan và sẽ thu
thập các dữ liệu cá nhân, lựa chọn phương pháp cho luận án này là một phương
pháp định tính.
Theo McDaniel và Gates (2005) đề cập đến trong cuốn sách của họ , một phương
pháp định lượng luôn luôn dựa trên nghiên cứu thông tin thống kê và thường được
sử dụng để tìm ra các mối quan hệ được luận giữa các biến khác nhau . Một
phương pháp định lượng chính thức với mức độ cấu trúc cao kiểm soát, trong khi
một phương pháp định tính là mặt khác chính thức với sự linh hoạt hơn ( Holmes
& Solvang , 1997). Holmes và Solvang (1997) cũng nói thêm rằng một phương

21


pháp định tính luôn luôn có thể cung cấp một sự hiểu biết sâu sắc hơn về một chủ
đề nghiên cứu . "Một phương pháp định tính vì thế cũng đủ làm điều tra về quan
điểm và giá trị " ( McDaniel & Gates , 2005). Do đó , theo ý kiến bản thân , tiếp
cận định tính là sự lựa chọn phù hợp nhất cho nghiên cứu này .
Nghiên cứu được thực hiện dưới hình thức nghiên cứu trường hợp trong bối cảnh
của nghiên cứu định tính với định hướng thực chứng (qualitative research with a
positivist orientation). Phương pháp nghiên cứu trường hợp là một cuộc điều tra
chuyên sâu về một đơn vị ( Handel , 1991 trong Babbie và Mouton , 2004).
Nghiên cứu trường hợp là một nghiên cứu của một nhấn mạnh sự thống nhất và
toàn vẹn của hệ thống đó , nhưng chú ý đến những khía cạnh có liên quan đến vấn
đề nghiên cứu vào thời điểm " ( Stack , 1994:258 ) . Trong nghiên cứu này, giới
hạn nghiên cứu là công ty TNHH TM-DV-SX Mạc Tích (MARTECH BOILER) ,
nằm ở phía Tây TPHCM (Huyện Bình Chánh, TPHCM) và bất kỳ các hoạt động
trong nhà máy có thể có tác động đáng kể đến năng suất ngành sản xuất lò hơi tại
Việt Nam.
Một trong những mục tiêu chính của phương pháp định tính trong nghiên cứu,
chẳng hạn như trường hợp nghiên cứu , là xác định các mối quan hệ của thực tế ,
do đó thu thập và tổng hợp sự hiểu biết về ý nghĩa của những gì đã được tìm thấy,
hơn là cố gắng để xác minh một giả thuyết được xác định trước ( Perry , và Coote ,
1994).
Phương pháp so sánh cấp cơ sở (Methodology for the 1990 Level Comparison)
được sử dụng trong nghiên cứu này đã được sử dụng trong một số nghiên cứu của
dự án ICOP (xem van Ark, năm 1993; Maddison và van Ark , 1988 , 1994;
Szirmai và Pilat , 1990 ; và Timmer , 1996).
Nghiên cứu này sử dụng số liệu chính từ chính công ty Martech Boiler để điều tra
các vấn đề và các vấn đề cải thiện năng suất trong các công ty sản xuất cơ khí ở
huyện Bình Chánh, TPHCM . Song song, so sánh với các số liệu của công ty

22


TNHH SX TM Cơ Khí Hồng Ký (cùng ngụ tại Huyện Bình Chánh, TPHCM)
3.2.2 Nghiên cứu trường hợp Case Study
Các nghiên cứu tập trung vào hai công ty sản xuất cơ khí . Thông tin nghiên cứu
được thu thập thông qua dữ liệu cung cấp từ báo cáo bộ phận sản xuất và bộ phận
tài chính kế toán của công ty. Một nghiên cứu duy nhất tất cả hai nhà máy trong
thời gian thực hiện, thu thập dữ liệu , có được các tài liệu liên quan đến nhà máy ,
và thực hiện cả các cuộc phỏng vấn có cấu trúc và bán cấu trúc với một loạt các
nhân viên của hai công ty . Các dữ liệu nghiên cứu thu thập được sau đó được sử
dụng để xây dựng các biện pháp phù hợp thực hiện và độ tác động các yếu tố ảnh
hưởng đến năng suất này . Kết quả sau đó được phân tích để giải thích sự phát
triển năng suất hiệu quả và cung cấp những hiểu biết mới về cơ chế của quá trình
cải thiện năng suất .
Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi.
3.2. Quy trình nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, đề tài thực hiện quy trình
nghiên cứu được trình bày cụ thể trong sơ đồ sau:

23


Sơ đồ về quy trình nghiên cứu
Xác định mục tiêu
nghiên cứu

Thu thập thông tin thứ cấp (các
nghiên cứu, các bài báo trong và
ngoài nước có liên quan)

Tìm hiểu lý thuyết
về năng suất

Tìm hiểu về vấn đề
năng suất đối với
doanh nghiệp ở Việt
Nam

Xử lý thông tin thứ cấp

Thiết kế mẫu: đối tượng, cỡ
mẫu, cách lấy mẫu

Xác định thông tin sơ cấp
cần thu thập

Xây dựng Bảng hỏi
Điều tra thí điểm
Hoàn thiện Bảng hỏi
Điều tra thu thập dữ liệu
Xử lý, phân tích dữ liệu
Trình bày kết quả phân tích
phâ
Kiến nghị các giải pháp nâng cao
năng suất

24


Lựa chọn chủ đề
Xác định mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu lý thuyết về năng suất

Đề xuất hướng nghiên cứu

Các yếu tố ảnh hưởng đến NS

Đo lường năng suất
Nghiên cứu lý thuyết

Nghiên cứu lý thuyết
Thiết kế bảng câu hỏi

Lựa chọn phương pháp đo lường

Kiểm tra sự phù hợp

Thiết kế bảng quan sát

Nghiên cứu thí điểm
Nghiên cứu thí điểm
Kiểm tra độ tin cậy
Tiến hành quan sát
Tiến hành khảo sát
Phân tích kết quả
Thảo luận
Kết luận và kiến nghị

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×