Tải bản đầy đủ

ột số giải pháp nâng cao chất lượng cho trẻ mẫu giáo 3 4 tuổi làm quen với tác phẩm văn học thể loại truyện kể

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD&ĐT HOẰNG HÓA

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO
TRẺ MẪU GIÁO 3- 4 TUỔI LÀM QUEN VỚI TÁC
PHẨM VĂN HỌC THỂ LOẠI TRUYỆN KỂ

Người thực hiện: Đỗ Thị Hiền
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường MN Hoằng Hải
SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn

THANH HÓA. NĂM 2019

1


MỤC LỤC


sTT

Nội dung

Trang

1

Phần 1. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
Phần 2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1. Cơ sở lí luận
2. Thực trạng
2.1. Thuận lợi
2.2. Khó khăn
2.3. Khảo sát
3. Giải pháp thực hiện.
3.1. Xây dựng kế hoạch, lựa chọn nội dung làm quen tác
phẩm văn học cho trẻ.
3.2. Nghiên cứu tác phẩm
3.3. Chuẩn bị đồ dùng dạy học
3.4. Ứng dụng công nghệ thông tin
3.5. . Hệ thống câu hỏi
3.6. Tạo môi trường trong lớp
3.7. Sử dụng nghệ thuật múa rối
3.8. Làm quen mọi nơi mọi lúc
3.9. Thông qua các lớp chuyên đề, tự bồi dưỡng để nâng cao
trình độ chuyên môn.
3.10. Phối hợp với ban giám hiệu tham mưu về cơ sở vật
chất của lớp.
3.11. Thông qua tuyên truyền với phụ huynh
4. Kết quả
Phần 3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
3.2. Kiến nghị

1
1
2
2
2
2
2
3
3
3
3
5
6

2

3

7
8
9
10
11
13
14
16
16
17
19
20
20
20

2


Phần 1. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bác hồ kính yêu của chúng ta đã từng nói:
“Trẻ thơ như búp trên cành
Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan”
Đúng như vậy, ở lứa tuổi mầm non tâm hồn trẻ như một trang giấy trắng
vì vậy cần được chăm sóc và giáo dục nhằm phát huy những khả năng của trẻ
thông qua các hoạt động dạy học giúp trẻ phát triển óc sáng tạo, hình thành nhân
cách trẻ.
Văn học là món ăn tinh thần không thể thiếu đối với trẻ thơ nhất là lứa
tuổi mẫu giáo. Nó đem lại cho trẻ những hiểu biết đầu tiên về cuộc sống xung
quanh trẻ. Văn học nuôi dưỡng và phát triển ở trẻ trí tưởng tượng, sáng tạo nghệ
thuật. Vì vậy việc đem tác phẩm văn học đến cho trẻ là một việc rất quan trọng
và cần thiết.
Đối với trẻ mẫu giáo, quá trình được tiếp xúc với tác phẩm văn học phải
từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, để từ đó trẻ bộc lộ khả năng cảm thụ
văn học của mình. Khả năng cảm thụ đó là sự phát triển trực tiếp của trẻ về các
lĩnh vực: nhận thức - ngôn ngữ - tình cảm xã hội. Tuy nhiên khi đưa tác phẩm
đến cho trẻ đòi hỏi người giáo viên phải có những suy nghĩ sáng tạo và lựa chọn
những tác phẩm hay phù hợp với lứa tuổi, có ý nghĩa giáo dục trẻ, để từ đó đưa
ra những phương pháp, biện pháp thích hợp nhằm giúp trẻ phát triển tốt khả
năng cảm thụ tác phẩm văn học.
Do nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng đó tôi nhận thấy việc chuẩn
bị đồ dùng tranh ảnh, con rối là không thể thiếu được trong việc nâng cao chất
lượng cho trẻ làm quen văn học. Từ đó tôi đã mạnh dạn nghiên cứu cách làm
một số loại rối, làm phim để phục vụ cho giảng dạy đạt kết quả cao. Vì trên thực
tế ở các trường mầm non trước đây khi dạy trẻ “Làm quen với tác phẩm văn học
thể loại truyện kể” chủ yếu chỉ sử dụng tranh ảnh, thậm chí còn dạy chay dẫn
đến chất lượng giờ dạy đạt chưa cao. Trên thực tế đó tôi rất trăn trở suy nghĩ để
tìm ra cách làm một số loại rối , làm phim có lồng tiếng để cho tiết học thêm
sinh động, phong phú. Từ đó chất lượng tiết học được nâng cao đáp ứng được
với yêu cầu của ngành và thực tế phát triển của xã hội.
Việc dạy trẻ làm quen văn học rất quan trọng trong việc hình thành nhân
cách trẻ ban đầu. Thông qua các tác phẩm văn học trẻ cảm nhận được cái hay,
cái đẹp trong tác phẩm. Qua đó trẻ thích vươn tới học tập và làm theo cái đẹp,
cái thiện trong tác phẩm. Ngoài ra thông qua tác phẩm văn học trẻ còn được phát
triển ngôn ngữ, trẻ biết diễn đạt những câu hoàn chỉnh, đủ ý, làm quen với ngôn
từ giàu đẹp, rèn luyện cách nói năng mạch lạc, chính là dấu hiệu để trẻ phát triển
ngôn ngữ giúp trẻ tập kể chuyện, đọc thơ, có trí nhớ tốt, có tư duy sáng tạo.
Nhận thức được văn học có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong công tác
giáo dục trẻ nên tôi mạnh dạn trao đổi với đồng nghiệp“Một số giải pháp nâng
cao chất lượng cho trẻ mẫm giáo 3- 4 tuổi làm quen với tác phẩm văn học thể
loại truyện kể”.
3


2. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn vấn đề cho trẻ làm quen với tác
phẩm vân học để đề suất áp dụng một số giải pháp nâng cao chất lượng cho trẻ
mẫu giáo 3- 4 tuổi làm quen với văn học thể loại truyện kể.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Các giải pháp nâng cao chất lượng cho trẻ mẫu giáo 3- 4 tuổi làm quen
với văn học thể loại truyện kể.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiêm cứu lý luận, phân tích, tổng hợp.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
Phương pháp thống kê.
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
Phương pháp quan sát.
Phương pháp đàm thoại.
Phương pháp trực quan.
Phương pháp thực hành.
Phần 2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1. Cơ sở lý luận:
Văn học là một loại hình nghệ thuật đến với trẻ từ rất sớm. Ngay từ tuổi
ấu thơ các em đã được làm quen với giai điệu nhẹ nhàng thiết tha của lời ru, lớn
hơn một chút các câu chuyện cổ tích, truyện hiện đại, các tác phẩm thơ, ca dao,
đồng dao đã gieo vào tâm hồn ngây thơ trong trắng của trẻ sự yêu mến thế giới
xung quanh, biết tỏ lòng yêu cái thiện, biết căm thù cái ác, từ đó giáo dục trẻ biết
ơn ông bà, bố mẹ, anh chị, bạn bè, biết nhường nhịn em nhỏ.
Qua tác phẩm văn học thế giới mới của cuộc sống thực tại bao gồm thiên
nhiên, xã hội con người được diễn tả một cách đa dạng và độc đáo. Văn học nói
về thế giới loài vật, cỏ cây hoa lá, hiện tượng tự nhiên, vũ trụ mà trẻ nhìn thấy
được đồng thời nói về những gì gần gũi xung quanh trẻ như làng quê, cánh
đồng, lớp học... từ đó trẻ bắt đầu nhận ra có một xã hội ràng buộc con người với
nhau trong tình làng nghĩa xóm, trẻ nhận ra tình cảm yêu thương của ông bà cha
mẹ của người thân đối với trẻ.
Từ các câu chuyện, bài thơ, ca dao, đồng dao… giúp trẻ em hiểu về
truyền thống lao động chiến đấu bền bỉ nhưng vô cùng anh dũng của dân tộc ta,
mở rộng kiến thức cho trẻ về các mối quan hệ xã hội, về phong tục tập quán, về
những cảnh đẹp quê hương đất nước để trẻ cảm nhận được mối quan hệ giữa
người với người, cảm nhận vẻ đẹp trong các hành động cao thượng của các nhân
vật, tạo cho trẻ rung cảm với vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước.
Hình tượng văn học có tác động mạnh mẽ lên tình cảm của trẻ, hướng
dẫn trẻ những giá trị nội dung, nhệ thuật phong phú trong tác phẩm, khơi gợi ở
trẻ sự dung động, hứng thú đối với văn học, có ấn tượng về những hình tượng
nghệ thuật, cái hay, cái đẹp của tác phẩm và thể hiện sự cảm nhận đó qua các
4


hoạt động mang tính chất văn học như đọc thơ, kể chuyện, chơi trò chơi đóng
kịch, cao hơn là sáng tạo ra những bài thơ, câu chuyện theo tưởng tượng của
mình, góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách trẻ.
Văn học còn đề cập đến hiện tượng siêu nhiên như: thần linh, ông bụt, cô
tiên, phù thủy và cả những phép màu còn tồn đọng trong tâm thức dân tộc từ đó
làm nên sự phong phú hấp dẫn của đời sống tinh thần.
Nhờ được nghe, được tiếp xúc với tác phẩm văn học giúp trẻ cảm nhận,
trao đổi những điều đã được nghe và bộc lộ suy nghĩ của mình về tác phẩm vì
vậy mà ngôn ngữ của trẻ phát triển, trẻ có đủ vốn từ để nói năng lưu loát, diến
đạt gãy gọn biết sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, không những thế mà việc dạy trẻ
làm quen với những từ ngữ nghệ thuật như từ tượng hình, từ tượng thanh giúp
trẻ phát triển trí tưởng tượng, óc quan sát khả năng tư duy độc lập trong suy
nghĩ.
Văn học không những góp phần phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mĩ,
tình cảm và kỷ năng xã hội, mà còn phát triển ở trẻ hứng thú đọc sách, kĩ năng
đọc và kể tác phẩm.
Như vây trẻ em được sống trong thế giới cổ tích với những tác phẩm văn
học sống động, đầy tính nhân văn cùng với lời kể diễn cảm và những hình ảnh
đẹp minh họa cho nội dung tác phẩm là con đường tốt nhất nuôi dưỡng tâm hồn
trẻ, giúp trẻ lớn khôn và học làm người.
2. Thực trạng:
2.1. Thuận lợi:
Được sự quan tâm giúp đỡ của lãnh đạo nhà trường đầu tư chỉ đạo, tạo
điều kiện về cơ sở vật chất, phương tiện thực hiện.
Bản thân tôi, tự tìm tòi ứng dụng công nghệ thông tin, tôi đã chủ động
trong việc lên kế hoạch, nội dung, biện pháp sử dụng loại hình hoạt động, thay
đổi hình thức dạy học cho từng câu chuyện bài thơ với môn làm quen văn học.
Ban chuyên môn đã tạo điều kiện cho tôi và các đồng chí khác được tham
gia dự giờ dạy mẫu, dự giờ thao giảng của đồng nghiệp từ đó phần nào tạo điều
kiện cho tôi được học hỏi rèn luyện bản thân.
Các cháu đều học qua lớp 24-36 tháng tuổi, tỉ lệ các cháu đi học chuyên
cần cao, tổng số trẻ trong lớp là 40 trong đó 37 trẻ đi học đều đạt tỉ lệ 90%. Hơn
nữa đa số phụ huynh đều rất quan tâm đến việc học của con nên tôi đã phối hợp
với phụ huynh trong việc dạy trẻ làm quen tác phẩm văn học.
2.2. Khó khăn:
Dạy cả ngày không đủ thời gian để làm rối, truy cập mạng Iternet.
Kinh phí còn hạn chế nên việc làm rối, mua máy vi tính cá nhân, không có
máy chụp hình, quay phim để làm tư liệu nên còn gặp nhiều khó khăn.
Cơ sở vật chất còn thiếu chưa đáp ứng được nhu cầu đổi mới phương
pháp cho hoạt động dạy học.
Phát huy từ những thuận lợi sẵn có, khắc phục một số khó khăn còn tồn
tại, tôi đi sâu vào tìm tòi “Một số giải pháp nâng cao chất lượng cho trẻ mẫm
giáo 3- 4 tuổi làm quen với tác phẩm văn học thể loại truyện kể ”.
5


2.3. Khảo sát thực trạng:
Từ những thực trạng trên tôi đã khảo sát chất lượng đầu năm học 20182019 tại lớp tôi phục trách. Với tổng số trẻ là 40
(Thời điểm tháng 9 năm 2018).
Nội dung
Trẻ nhớ tên
truyện, tên tác
giả.
Trẻ hiểu nội
dung truyện kể
Trẻ ghi nhớ các
tình tiết trong
truyện,
tên
nhân vật và lời
thoại của nhân
vật
trong
truyện.
Trẻ trả lời
mạch lạc, rõ
ràng đúng câu
hỏi, đúng nội
dung
câu
truyện.
Trẻ phân biệt
nhân vật, tính
tốt xấu của
nhân vật trong
truyện.

Kết quả khảo sát
Đạt
Tỷ lệ Khá Tỷ lệ TB Tỷ lệ
%
%
%

Số
trẻ

Tốt

40

15

37%

10

25%

10

25%

5

13%

40

10

25%

15

37%

10

25%

5

13%

40

8

20%

8

20%

14

35%

10

25%

40

8

20%

14

35%

10

25%

8

20%

40

7

17%

9

22%

15

38%

9

23%

Chưa đạt
Số Tỷ lệ
trẻ
%

3. Giải pháp thực hiện:
Dựa vào kết quả khảo sát trên trẻ tôi đã mạnh dạn đưa ra “Một số giải
pháp nâng cao chất lượng cho trẻ mẫm giáo 3- 4 tuổi làm quen với tác phẩm
văn học thể loại truyện kể ” Thông qua những biện pháp sau:
3.1. Xây dựng kế hoạch, lựa chọn nội dung làm quen tác phẩm văn
học cho trẻ:
Việc xây dựng kế hoạch và lựa chọn nội dung cho trẻ làm quen với các tác
phẩm truyện là việc làm quan trọng của giáo viên. Vì việc tập trung vào kế
hoạch ngay từ đầu sẽ giúp cô giáo vạch định tốt những công việc định làm trong
6


suốt cả năm học và quan trọng hơn việc lập kế hoạch sẽ là một công cụ để thúc
đẩy mọi hoạt động của cô và trẻ trong lớp.
Hiểu được điều đó bản thân tôi đã dựa vào đặc điểm phát triển tâm sinh
lý của trẻ, dựa vào kế hoạch năm và kế hoạch tháng của tổ chuyên môn, dựa vào
mục tiêu chương trình, nội dung chủ đề, điều kiện trang thiết bị đồ dùng của lớp
để xây dựng kế hoạch và lựa chọn nội dung cho trẻ làm quen với tác phẩm văn
học phù hợp với chủ đề.
Ví dụ: Chủ đề Trường mầm non: Thời gian thực hiện từ 6/9-23/9/2018
+ Truyện: Người bạn tốt, thỏ trắng đi học.
Ví dụ: Chủ đề Gia đình: Thời gian thực hiện từ 24/10-25/12/2018
+ Truyện: Tích Chu, Cây khế.
3.2. Nghiên cứu kỹ tác phẩm truyện:
Để giúp trẻ nâng cao khả năng cảm thụ tác phẩm truyện thì việc tạo cơ hội
cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học phải thường xuyên. Ngay từ đầu năm học
ban giám hiệu nhà trường đã trang bị cho lớp nhiều quyển truyện, tập tranh.
Ngoài ra bản thân tôi còn sưu tầm các sách văn học, các hoạ báo, tạp chí, lịch
cũ, nguyên liệu cho trẻ tự làm sách để xây dựng một “Góc thư viện” mang nội
dung văn học. Tại “Góc thư viện” trẻ được xem các tranh truyện, tạp chí, hoạ
báo.
Để tiết học đạt kết quả cao thì trước hết tôi phải xác định rõ mục đích yêu
cầu của tác phẩm và phải thuộc tác phẩm. Từ đó đưa ra nội dung giáo dục phù
hợp với cốt truyện, phù hợp với lứa tuổi của trẻ. Bên cạnh đó tôi phải chú ý đến
giọng kể của mình, kể diễn cảm, đúng ngữ điệu của từng nhân vật trong truyện,
thể hiện nét mặt cử chỉ, tư thế phù hợp với diễn biến của câu chuyện thì mới thu
hút sự chú ý của trẻ. Giọng đọc, giọng kể của cô nhịp nhàng, đúng nhịp điệu sẽ
giúp trẻ hiểu sâu sắc hơn về nội dung bài thơ, câu chuyện và khả năng cảm thụ
văn học của trẻ cũng được nâng cao.
Muốn cho trẻ làm quen với một tác phẩm truyện thì tôi phải luôn dành
thời gian để đọc tác phẩm nhiều lần.
Lựa chọn nhân vật và cách thể hiện hành động và cử chỉ của nhân vật,
muốn câu chuyện được người nghe hiểu nội dung và nhớ nội dung một cách ghi
nhớ và sâu sắc thì việc lựa chọn nhân vật là cực kỳ quan trọng.
Ví dụ: Trong truyện “Cây rau của thỏ út” tôi đã chọn nhân vật Thỏ mẹ và
hai anh em Thỏ.
Với truyện “ Cáo thỏ và gà trống” Tôi chọn nhân vật Cáo, Gà trống. Thỏ,
Bác gấu và cún con.
Vì vậy khi dạy truyện tôi vừa kể vừa đưa lần lượt các nhân vật ra để trẻ tri
giác và khắc sâu nội dung câu truyện, tôi tin rằng mình cũng đã phần nào góp
phần nâng cao khả năng cảm thụ tác phẩm văn học cho trẻ.

7


Góc sách
3.3 Chuẩn bị đồ dùng dạy học:
Nhận thức được tầm quan trọng của đồ dùng trực quan trong việc nâng
cao chất lượng giáo dục trẻ 3- 4 tuổi làm quen với văn học. Vì vậy tôi đã tìm tòi,
học tập và suy nghĩ để sáng tạo ra một số đồ dùng, đồ chơi phục vụ chuyên đề,
cụ thể vào các buổi thứ bảy trong tuần tôi cùng với đồng nghiệp tập trung làm
đồ dùng như: Vẽ tranh, làm mô hình rối dẹt, làm tranh nổi, khâu rối tay… Ngoài
ra những sản phẩm khó tôi nhờ sự giúp đỡ của đồng nghiệp để sản phẩm của
mình được đẹp mắt và gần gũi hơn .
Nhờ có sự đầu tư trên nên đã phát huy tối đa khả năng hoạt động của trẻ,
kích thích sự khám phá bằng các giác quan, phát triển trí tò mò ham hiểu biết
của trẻ. Đó là hiệu quả phấn khởi của việc đầu tư thích đáng vào hoạt động đồ
chơi, sách tranh truyện của nhà trường góp phần đồng hành cùng tác phẩm văn
học.

8


9


10


11


12


13


Đồ dùng dạy học
3.4. Ứng dụng công nghệ thông tin:
Trong mỗi hoạt động cho trẻ làm quen văn học tôi phải sử dụng nhiều
hình thức hoạt động sinh động để chuyển tải nội dung yêu cầu của bài dạy đến
với trẻ. Hình thức đó phải phù hợp với hoạt động của trẻ, có tính mới lạ với trẻ.
Để hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học, dù là thơ hay
truyện. Muốn đạt kết quả cao thì việc đầu tiên tôi cần phải chuẩn bị tốt đồ dùng
dạy học, đồ dùng đẹp hấp dẫn sẽ thu hút sự chú ý của trẻ. Trước đây tôi thường
sử dụng tranh minh hoạ làm đồ dùng chính trong hoạt động cho trẻ làm quen với
tác phẩm văn học. Song với hình thức đổi mới hiện nay, thời đại công nghệ
14


thông tin nên việc ứng dụng công nghệ thông tin vào bài dạy mang lại kết quả
rất cao. Biện pháp này luôn gây sự chú ý, tò mò cho trẻ. Vì vậy tôi đã mạnh dạn
đưa công nghệ thông tin vào giảng dạy trong các tiết học ở lớp sẽ mang lại kết
quả cao.
Đơn giản là các hình ảnh đưa vào bài giảng powepoint, sử dụng các hiệu
ứng, màu sắc phù hợp cũng đã gây sự chú ý của trẻ. Những giáo viên có khả
năng sử dụng máy tính thành thạo, họ có thể chuyển các bức tranh có sẵn của
bài thơ, câu chuyện thành đoạn phim hoạt hình, hay ta có thể đưa đoạn phim
quay sẵn phù hợp với nội dung, như thế rất thu hút và gây hứng thú cho trẻ.
Khi dạy trẻ làm quen với tác phẩm văn học cần lựa chọn truyện có nội
dung phù hợp với chủ đề: Bản thân tôi phải tìm tòi, sưu tầm ở sách, tập truyện
tranh của chương trình lớp 3- 4 tuổi, những truyện, thơ có nội dung phù hợp với
chủ đề ở lứa tuổi của trẻ.
Ví dụ: Trong chủ đề “Giao thông” tôi đã chọn truyện “ ô tô con học bài”.
Với câu chuyện “ Ô tô con học bài” tôi đã xây dựng đoạn phim về nội
dung câu chuyện, kết hợp lồng giọng kể rất hứng thú làm cho trẻ dễ nhớ nội
dung truyện và thấy được nét đặc trưng của các nhân vật.

Ứng dụng công nghệ thông tin
3.5. Hệ thống câu hỏi đàm thoại:
Để trẻ cảm nhận, hiểu được nội dung của một tác phẩm văn học thì không
thể thiếu được hệ thống câu hỏi vì vậy với từng bài dạy tôi đưa ra hệ thống câu
hỏi có tính logic từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp để đàm thoại với trẻ
một cách sôi nổi theo phương hướng “Lấy trẻ làm trung tâm” để phát huy trí
tưởng tượng, những cảm xúc của trẻ, tính liên hệ thực tiễn, sáng tạo phù hợp với
từng nội dung của bài mà trẻ không bị áp đặt một cách gò bó, tạo cơ hội cho trẻ
được giao tiếp, suy ngẫm, trao đổi, chia sẻ, diễn đạt.
15


Ví dụ: Khi kể cho trẻ nghe câu chuyện” Tích Chu” tôi đã chuẩn bị một hệ
thống câu hỏi:
+ Cô vừa kể cho các con nghe câu chuyện có tên là gì?
+ Trong câu chuyện có những ai?
+ Bà đã thương yêu Tích Chu như thế nào ?
+ Vì sao bà bị ốm?
+ Bà ốm bà đã gọi tích chu như thế nào?
+ Tích chu có thương bà không?
+ Vì sao Tích Chu lại không thương bà ?
+ Bà tiên đã nói gì với Tích Chu?
+ Tích Chu đã làm gì để bà trở lại thành người ?
+ Câu chuyện vừa rồi nhắc nhở chúng ta điều gì?
+ Bạn Tích Chu trong truyện đáng khen hay đáng chê?
Như vậy tôi tạo cơ hội hướng dẫn, gợi mở giúp trẻ nhận thức được sâu
sắc hơn các kiến thức mà tôi chuyền đạt. Khi đặt câu hỏi tôi rải đều ở các trẻ, tôi
chú ý những trẻ chưa trả lời được và những trẻ không chú ý.
Để giờ học không bị nhàm chán tôi tạo tư thế thoải mái cho trẻ, khuyến
khích động viên trẻ trả lời theo sự tiếp thu của mình để lôi cuốn trẻ vào giờ học.

Cô vừa kể cho
con nghe câu
chuyện gì?

Trong câu
chuyện có
những ai?

Truyện Tích Chu
3.6 Tạo môi trường trong lớp cho trẻ làm quen với truyện kể:
Tôi nhận thức việc xây dựng môi trường giáo dục là rất cần thiết, môi
trường giáo dục là học liệu cho trẻ học tập. Môi trường giáo dục đa dạng sinh
động sẽ thu hút sự tích cực của trẻ tham gia vào các hoạt động giáo dục, mang
lại hiệu quả giáo dục cao.
Thực hiện giải pháp này, tôi sưu tầm nhiều hình ảnh, sắp xếp môi trường
khoa học phù hợp với nhận thức của trẻ, phù hợp với chủ đề để áp dụng cho trẻ
16


hoạt động ở nhiều các hoạt động học có chủ đích hay hoat động vui chơi tìm
hiểu trong chủ đề.
Để xây dựng môi trường hiệu quả tôi căn cứ vào nội dung của hoạt động
cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học để từ đó tư duy nội dung về môi trường
cần xây dựng ở các không gian cụ thể của lớp để xây dựng góc chơi, góc sách,
góc cổ tích, các góc mang đậm màu sắc về nội dung các câu chuyện, bài thơ.
* Xây dựng góc cổ tích:
Góc cổ tích là một góc được bố trí lại một không gian hợp lý trong lớp,
trong góc tôi xây dựng các hình ảnh, mô hình, cảnh quan về nội dung, về các
nhân vật trong các câu chuyện tạo cho trẻ những cảm nhận mới lạ, có cảm giác
thích tìm tòi khám phá.
Ví dụ: Ở chủ đề động vật chuẩn bị cho kể chuyện “Chú dê đen”
Tôi xây dựng trong góc cổ tích mô hình về câu chuyện “Chú dê đen” gồm
các mảng mô hình được bố trí hợp lý, dễ quan sát.
Như vậy tôi xây dựng, thay đổi các hình ảnh, mô hình theo nội dung bài
thơ, câu chuyện mà trẻ sẽ học hoặc đã học để cũng cố.

Góc cổ tích
* Xây dựng góc sách truyện:
Ngoài việc xây dựng góc cổ tích trong lớp để giúp trẻ làm quen với hình
ảnh gợi mở về các câu truyện trẻ sẽ được làm quen, hoặc đã được làm quen. Tôi
xây dựng góc sách của lớp. Góc sách cũng là góc được bố trí trong không gian
phù hợp của lớp. Góc sách có nhiều các loại sách, tranh, truyện tranh có nội
dung phù hợp với nội dung chủ đề. Các sách tranh phải phù hợp với trẻ, là các
tranh truyện mầm non, tranh có ghép chữ to, hình ảnh sinh động hấp dẫn trẻ, có
tác động đến trí tưởng của trẻ.
Xây dựng góc sách để trong các giờ chơi trẻ sẽ chủ động xem tranh,
xem sách. Thông qua đó để làm quen với nội dung của các tác phẩm văn học.
Thông qua các tranh truyện, trẻ tự đặt câu hỏi về nội dung các bức tranh, tư duy
về các bức tranh thành những câu chuyện theo trí tưởng tượng của trẻ. Tự trả lời
17


cho những câu hỏi mà trẻ tự đặt ra, hoặc các câu hỏi mà cô gợi mở cho trẻ tìm
hiểu.
Thông qua góc sách cô hướng dẫn cho trẻ cách cầm sách, cách đọc sách,
trẻ tự đọc chuyện theo tưởng tưởng, trẻ tư duy tưởng tưởng về những câu
chuyện sáng tạo qua các hinh ảnh trong sách, tranh. Từ đó đạt được mục tiêu
phát triển ngôn ngữ cho trẻ cũng như phát triển các lĩnh vực giáo dục khác.
Để góc sách được phong phú thì tôi phải tích cực sưu tầm sách, tranh,
thay đổi sách, tranh trong góc sách theo chủ đề, theo nội dung từng tác phẩm
văn học mà trẻ sẽ học, đã học để trẻ tìm hiểu, tránh sự nhàm chán. Sưu tầm các
loại tranh ảnh, hoạ báo có nội dung chương trình để làm phong phú góc sách.
Để thuận tiện và hiệu quả của góc sách đối với giáo dục trẻ, việc bố trí,
sắp xếp các sách, tranh trong góc phải vừa tầm với của trẻ, giúp trẻ dễ lấy dễ sử
dụng.
Ngoài ra tôi tận dụng tất cả mọi không gian trong ngoài lớp đề trang trí
các hình ảnh đa dạng có nội dung phù hợp để tận dụng tác động của môi trường
xây dựng đến sự phát triển của trẻ ở mọi lúc mọi nơi, mọi không gian môi
trường.
Để phát huy hiệu quả của môi trường đã xây dựng thì đòi hỏi tôi phải
quan tâm đến mọi hoạt động của trẻ với môi trường. Tạo các cơ hội để khai thác
sự tác động của môi trường với sự phát triển toàn diện của trẻ.
Qua việc xây dựng môi trường cho trẻ làm quen với văn học trong
nhóm lớp, đã có tác động tích cực nâng cao hiệu quả cho trẻ làm quen với các
tác phẩm văn học.

3.7 Sử dụng nghệ thuật múa rối tay:
Việc sử dụng rối trong tiết học gây được sự chú ý, tò mò của trẻ tạo điều
kiện cho trẻ tiếp cận với nghệ thuật múa rối, một môn nghệ thuật truyền thống
của dân tộc.
Ví dụ: Truyện “ Dê con nhanh trí” tôi đã làm được bộ rối tay sau:
Tôi đã dùng xốp dày (xốp ở các thùng đựng tủ lạnh, ti vi), dùng dao gọt
để tạo thành đầu nhân vật và dùng giấy nhám đánh nhẵn. Sau đó dùng hồ dán
18


bồi 2 - 3 lớp giấy báo lên xốp và dùng keo để dán khăn mặt vào xốp (nếu dán
trực tiếp khăn mặt lên xốp thì keo nóng và làm sụn xốp)
Lấy dao nhọn khoét lỗ và dùng bìa cứng cuốn lại cắm vào để làm cổ.
Dùng vải vụn cắt và khâu thành áo rối (áo rối có 2 mảnh). áo rối dài rộng
tùy thuộc vào đầu của rối và tùy thuộc vào nhân vật trong truyện.
Dùng keo để dán áo rối vào cổ.
Dùng khuy, xốp để làm mắt, mũi, mồm của nhân vật.
Cắt tai nhân vật bằng mi ca trong, sau đó dán khăn mặt vào cả 2 mặt của
mi ca trong.
Khi tôi dạy tôi dùng cánh tay lồng vào con rối, điều khiển con rối bằng 3
ngón tay và tôi điều khiển sao cho những cử chỉ phù hợp với lời thoại trong
truyện.
Nhờ việc sử dụng nghệ thuật rối trong tiết học mà số trẻ có khả năng cảm
thụ tác phẩm văn học cao hơn, đa số trẻ nhớ được nội dung câu chuyện, lời thoại
của các nhân vật trong truyện và qua đó trẻ biết nhận xét đánh giá tính cách của
từng nhân vật trong truyện.
Qua việc thực hiện giải pháp tôi luôn tìm tòi sáng tạo các hình thức tổ
chức cho trẻ làm quen tác phẩm văn học, tôi nhận thấy tất cả trong các giờ hoạt
động làm quen văn học trẻ đều rất thích và trẻ nhớ nội dung tác phẩm nhanh, trả
lời lưu loát được các câu hỏi đàm thoại và còn đạt được các câu hỏi với cô trong
khi trẻ học tập.

Kể chuyện bằng rối tay
3.8. Dạy trẻ làm quen với truyện kể thông qua hoạt động mọi lúc mọi
nơi:
Với hoạt động ở mọi lúc mọi nơi tôi đã vận dụng phù hợp từng đề tài để
dạy trẻ vào các thời điểm thích hợp.
* Thông qua các giờ học:

19


Tôi là người xác định chủ đề, xây dựng kế hoạch tổ chức lồng ghép tích
hợp các môn học một cách hợp lý để khuyến khích trẻ tích cực chủ động trong
giờ học.
Ngoài việc dẫn dắt bằng ngôn ngữ thì sự linh hoạt sáng tạo, ứng xử
nhanh của cô giáo trong một tiết dạy mang lại sự chú ý cho trẻ, tôi luôn kết hợp
nhuần nhuyễn bộ môn văn học cho phù hợp với từng chủ đề, cho từng môn học.
Ví dụ: Trong giờ hoạt động làm quen với toán “Nhận biết số 3” để gây
hứng thú cho trẻ tôi lồng ghép câu chuyện sáng tạo “Thỏ vào rừng hái nấm” vào
giờ học để giờ học lôi cuốn, hấp dẫn trẻ.
Ngoài giờ toán tôi cũng có thể lồng ghép các câu truyện vào giờ môi
trường xung quanh, tạo hình, thể dục.
Ví dụ: Trong giờ môi trường xung quanh “Nhận biết Hoa Hồng, Hoa
Cúc, Hoa Đồng Tiền” trước khi cho trẻ nhận biết các loại hoa tôi cho trẻ nghe
câu truyện về “ Hoa mào gà”
* Thông qua các hoạt động chơi:
Thông qua hoạt động vui chơi tôi có thể cho trẻ chơi đóng kịch phản
ánh lại tác phẩm theo hướng dẫn gợi ý của cô.
Ví dụ: Chơi góc gia đình trẻ ru em bé; trẻ làm cô giáo dạy học sinh kể
lại câu truyện đã học.
Như vậy khi chơi trẻ phải nhận đúng vai, trao đổi, bàn bạc, thảo luận,
giao tiếp giữa các vai chơi trong các tình huống cụ thể do đó kích thích ngôn
ngữ phát triển. Bên cạnh đó khi chơi tinh thần của trẻ vui vẻ, sáng khoái từ đó
giúp trẻ nhớ nội dung chơi và hứng thú trong các hoạt động trong ngày.
* Sưu tầm các bài hát ru và ru trẻ ngủ trong giờ ngủ:
Từ xa xưa, hát ru là món ăn tinh thần quý giá đối với mỗi trẻ thơ. Nhưng
ngày nay món ăn tinh thần đó đối với trẻ đã được các bà mẹ trẻ và giáo viên
mầm non không mang lại cho trẻ.
Từ thực tế chăm sóc giáo dục trẻ, tôi nhận thấy đa số trẻ thèm khát được
nghe những lời ru êm ái trước giờ trẻ ngủ. Mỗi bài hát ru đều chứa đựng trong
đó những giá trị giáo dục sâu sắc. Vì vậy tôi nghĩ đây cũng là một giải pháp mới
giúp mở rộng cho trẻ làm quen với văn học và thông qua đó phát triển ngôn ngữ
cho trẻ.
Trước hết, tôi đã bằng nhiều hình thức sưu tầm các bài hát ru xưa để có
được các bài hát ru như mong muốn để sử dụng trong hoạt động chăm sóc giấc
ngủ cho trẻ trong giờ ngủ trưa.
Kết quả tôi đã sưu tầm được 32 bài hát ru cổ, 10 bài hát ru lời mới. Giai
điệu các bài hát ru mượt mà ấm áp, nội dung các bài hát ru chứa đựng nhiều
những nỗi niềm sâu lắng mang tính giáo dục cao. Tuy đối với trẻ là rất trừu
tượng, nhưng điều đó luôn tạo ra trong trẻ sự tưởng tượng phong phú, để kích
thích trẻ có thể có nhu cầu hỏi người lớn để được giải đáp. Hoặc sẽ mãi là điều
trẻ nhớ và tưởng tượng trong tâm trí trẻ. Những câu từ trong các bài hát ru
thường lại là những hình ảnh gây được chú ý của trẻ.
20


Ngoài giờ ngủ ra trong giờ ăn trước khi cho trẻ ăn tôi cho trẻ đọc những
bài thơ phù hợp với giờ ăn như: Mời bạn ăn, giờ ăn. Qua đó góp phần vào giúp
trẻ hứng thú học với hoạt động làm quen với tác phẩm văn học, đồng thời giáo
dục nhân cách và phát triển ngôn ngữ cho trẻ đạt hiệu quả cao.
* Thông qua hoạt động đón, trả trẻ:
Trong giờ đón trẻ tôi yêu cầu trẻ đọc các bài thơ, bài ca giao đồng giao.
Tôi có thể hướng dẫn trẻ tự xếp tranh, xem tranh và kể chuyện theo tranh mà
mình vừa xếp được. Qua việc trò chuyện với trẻ tôi đặt những câu hỏi liên quan
đến câu chuyện phù hợp cho trẻ tư duy và trả lời.
Ví dụ: + Hôm qua con đã được nghe cô kể câu chuyện gì?
+ Câu chuyện có nhân vật nào?...
Từ tất cả các hoạt động trong giờ đón trả trẻ, tôi đều tận dụng để giáo
dục trẻ các nội dung phù hợp, đặc biệt là trao đổi trò chuyện với trẻ các nội dung
có vấn đề, các nội dung liên quan đến các tác phẩm văn học, từ đó để khai thác
tối ưu tác động đến phát triển ngôn ngữ cho trẻ.

Hoạt động đón trả trẻ
* Thông qua hoạt động chiều:
Trong giờ hoạt động chiều tôi có thể đọc kể tác phẩm mới được quy
định trong chương trình cho trẻ nghe hoặc những tác phẩm cô tự chọn phù hợp
với khả năng nhận thức của trẻ. việc ôn luyện các tác phẩm đã học trong chương
trình tôi đọc hoặc kể lại tác phẩm cho trẻ nghe sau đó yêu cầu trẻ đọc hoặc kể lại
theo gợi ý của cô trong các thời điểm ngoài giờ học, cô theo dõi sửa sai cho trẻ
để trẻ thực hiện đúng yêu cầu mong đợi của cô. Muốn cho việc ôn luyện trẻ
hứng thú tham gia tôi tổ chức dưới hình thức trò chơi: Hái hoa, đoán tên, đóng
kịch, hay thi biểu diễn giữa cá nhân, các tổ theo các đề tài.
* Thông qua các ngày hội ngày lễ:
Thông qua các ngày hội ngày lễ trong trường là hình thức để lồng ghép
hoạt động làm quen với các câu truyện cho trẻ thể hiện rất hiệu quả.
21


Ví dụ: gắn liền với các ngày hội ngày lễ vào dịp kỉ niệm ngày 8/3,
20/11, 22/12... tôi tổ chức cho các cháu trong lớp liên hoan biểu diễn văn nghệ,
trong đó có thi kể chuyện, đóng kịch theo tác phẩm văn học.
Hình thức này thu hút được nhiều trẻ tham gia biểu diễn, có tác dụng
động viên cho các cháu giỏi, đồng thời khuyến khích các cháu yếu, nhút nhát
tham gia vào các hoạt động nghệ thuật...
Như vậy, tôi đã tận dụng mọi cơ hội mọi lúc mọi nơi để nâng cao hiệu
quả cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học thể loại truyện.

Trò chơi đóng kịch
3.9. Thông qua các lớp chuyên đề, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ
chuyên môn:
Đối với trẻ mầm non cô giáo là mẹ hiền thứ hai của trẻ, là người hướng
dẫn giáo dục trẻ những kiến thức đầu tiên trong môi trường giáo dục. Vì vậy để
nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ trong quá trình chăm sóc và giáo dục
trẻ. Bản thân tôi tự rèn luyện và học tập qua các phương pháp sau:
Tự bồi dưỡng qua các lớp chuyên đề: Của phòng, của cụm tổ chức.
Học tập qua giờ thao giảng của cụm, của trường bạn và trong trường mình
để rút ra kinh nghiệm của bản thân.
Bên cạnh đó tôi còn tự học trên Internet qua sách báo:
Ví dụ: Chương trình chăm sóc giáo dục trẻ 3- 4 tuổi, thiết kế các hoạt
động học cho trẻ mầm non 3- 4 tuổi.
3.10. Phối hợp với ban giám hiệu tham mưu về cơ sở vật chất của lớp:
Như chúng ta đã biết cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học có tầm quan trọng
vô cùng lớn đối với các tiết học ở trường mầm non nói chung và giờ làm quen
với tác phẩm văn học nói riêng. Vì vậy để giờ hoạt đông làm quen với tác phẩm
văn học đạt kết quả cao thì không thể thiếu trang thiết bị, đồ dùng dạy học.
22


Ngoài những đồ dùng đồ chơi tự làm từ phế liệu ngay từ đầu năm học tôi
dựa vào kế hoạch của tổ chuyên môn, tôi tham mưu với ban giám hiệu nhà
trường mua thêm trang thiết bị, đồ dùng dạy học mà tôi không thể làm được để
phục vụ cho giờ học.
Ví dụ: Chủ đề trường mầm non tôi tham mưu với ban giám hiệu mua thêm
tranh truyện phù hợp với chủ đề.
Bên cạnh việc mua tranh truyện, tranh thơ phục vụ cho giờ hoạt động làm
quen với tác phầm văn học tôi còn tham mưu với ban giám hiệu nhà trường mua
thêm lô tô, tranh ảnh, đồ chơi phù hợp với từng chủ đề.
3.11. Tuyên truyền và phối kết hợp với phụ huynh:
Như chúng ta đã biết, đối với trẻ mầm non môi trường tiếp xúc của trẻ chủ
yếu là gia đình và nhà trường. Chính vì vậy việc kết hợp giữa gia đình và nhà
trường là một biện pháp không thể thiếu. Phụ huynh chính là nhân tố quyết định
về các điều kiện cho hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ rất cần thiết cần đến sự
phối hợp của phụ huynh.
Nhưng đây là việc làm khó vì đa số các phụ huynh đều làm nông nghiệp
nên rất ít quan tâm đến nội dung giảng dạy ở cấp mầm non nên còn hạn chế vì
vậy tôi đã quan tâm việc tuyên truyền với phụ huynh bằng nhiều hình thức,
thông qua góc tuyên truyền, trao đổi thường xuyên qua giờ đón trả trẻ, thông qua
các kỳ họp phụ huynh, tôi nêu tầm quan trọng của lĩnh vực phát triển ngôn ngữ
cho trẻ nói riêng, đặc biệt là phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động
cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học.
Tuyên truyền cho phụ huynh hiểu về việc thông qua các hình ảnh sự gợi
mở của người lớn, để trẻ tư duy về hình ảnh đó một cách lôgic, từ nội dung trên,
giúp trẻ nói lên được ý tưởng của mình bằng ngôn ngữ, thông qua các câu hỏi
mà người lớn gợi ý, hỏi trẻ. Từ đó phụ huynh phối hợp với cô giáo để giáo dục
trẻ tại gia đình, giúp việc tiếp thu kiến thức, rèn luyện kĩ năng kể chuyện sáng
tạo của trẻ tốt hơn.
Hàng tháng tôi tuyên truyền với phụ huynh qua các biểu bảng nêu lên
nội dung về chủ đề, về các câu chuyện sáng tạo của cô và trẻ. Qua đó phụ huynh
thấy được ngôn ngữ của trẻ phát triển như thế nào và có biện pháp kích thích sự
phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại gia đình.
Ví dụ: Cô trao đổi với phụ huynh về những hình thức có thể giúp trẻ kể
lại truyện, đọc thơ, tư duy sáng tạo câu chuyện trẻ đã kể, yêu cầu phụ huynh về
nhà cho trẻ kể lại câu chuyện đó hoặc kích thích trẻ kể các câu chuyện khác khi
gặp tình huống nào đó, hình ảnh nào đó ở gia đình.
Bằng những hình thức trên đa số các phụ huynh đã hiểu được vai trò và
tầm quan trọng của việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học nên đã nhiệt tình
ủng hộ giúp tôi thực hiện tốt môn học này.

23


Bảng tuyên truyền
4. Kết quả:
Sau khi thực hiện các biện pháp trên tôi nhận thấy kết quả đã được nâng
cao lên rõ rệt, tôi đã nắm chắc phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn
học thể loại truyện kể. Giọng đọc, giọng kể diễn cảm hơn, giọng kể hợp với tính
cách của từng nhân vật thu hút được sự chú ý của trẻ. Biết cách lấy hình ảnh
minh họa lồng ghép giọng đọc và kể thành đoạn phim khi xử dụng công nghệ
thông tin một cách thành thạo, để hỗ trợ tiết dạy sinh động, hấp dẫn, sáng tạo
trong quá trình dạy.
Khả năng nhận thức của trẻ tăng dần, trẻ càng ngày càng thích nghe cô kể
chuyện. Trẻ mạnh dạn hơn, một số trẻ nói ngọng cũng giảm rõ rệt, trẻ tích cực
tham gia hoạt động hơn, một số trẻ nhút nhát nay đã mạnh dạn tự tin hơn so với
đầu năm.
Từ những hiệu quả trên tôi đã khảo sát được kết quả như sau:
Nội dung

Số
trẻ

Trẻ nhớ tên
truyện, tên tác 40
giả.
Trẻ hiểu nội 40
dung truyện kể
Trẻ ghi nhớ các
tình tiết trong
truyện,
tên
nhân vật và lời 40
thoại của nhân
vật
trong
truyện.
Trẻ trả lời

Tốt

Kết quả khảo sát
Đạt
Tỷ lệ Khá Tỷ lệ TB Tỷ lệ
%
%
%

20

50%

15

38%

5

12%

18

45%

18

45%

4

10%

17

42%

15

38%

8

20%

Chưa đạt
Số
Tỷ
trẻ lệ %

24


mạch lạc, rõ
ràng đúng câu 40
hỏi, đúng nội
dung
câu
truyện.
Trẻ phân biệt
nhân vật, tính
tốt xấu của 40
nhân vật trong
truyện.

19

47%

15

38%

6

15%

15

38%

20

50%

5

12%

Phần 3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Qua việc nghiên cứu tìm tòi, tôi vận dụng sáng tạo phù hợp với tình hình
thực tế của trường lớp, đồng thời áp dụng các giải pháp nâng cao chất lượng cho
trẻ làm quen với tác phẩm văn học thể loại truyện kể cho trẻ mầm non ở lớp tôi
đã đạt được hiệu quả cao. Từ đó làm động lực giúp tôi tự tin, mạnh dạn hơn
trong công tác dạy trẻ làm quen với tác phẩm văn học của trẻ mầm non nhằm
nâng cao hiệu quả chăm sóc giáo dục trẻ.
Nâng cao khả năng cảm thụ văn học cho trẻ 3- 4 tuổi là một vấn đề hết
sức quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ sau này.
Hình thức tổ chức cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học phong phú, đa dạng sẽ
giúp trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt: nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm xã hội.
Qua những câu chuyện trẻ biết yêu cái đẹp của tự nhiên và con người, biết
phân biệt cái thiện và cái ác, đem lại cho trẻ những hiểu biết đầu tiên về cuộc
sống xung quanh. Đồng thời trẻ biết nhập vai với những nhân vật trong câu
chuyện Ngoài ra văn học còn giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng sáng tạo nghệ
thuật, và là một trong những hoạt động cần thiết trong việc hình thành nhân cách
cho trẻ.
Để làm được điều đó tôi phải thực hiện tốt kế hoạch giảng dạy đã xây
dựng đồng thời xác định cho trẻ 3- 4 tuổi làm quen với tác phẩm văn học là
nhiệm vụ cần thiết giúp trẻ phát triển ngôn ngữ mạch lạc, chính xác .
Cần nắm vững phương pháp giảng dạy trẻ làm quen với văn học. Trước
tiên tôi phải là người phát âm chuẩn xác đối với trẻ, có giọng kể diễn cảm.
Tích cực học hỏi với đồng nghiệp, tìm tòi ứng dụng công nghệ thông tin
vào dạy học để phát huy khả năng sáng tạo của mình trong công tác phục vụ tiết
dạy .
Tham gia đầy đủ các hoạt động thực hành về chuyên đề văn học.
Nghiên cứu tài liệu phục vụ môn dạy, khai thác tối đa công nghệ thông tin
để tiết dạy sinh động và hấp dẫn .
Tích cực làm đồ dùng, đồ chơi theo chủ đề, đồ dùng minh hoạ cần phong
phú, đa dạng hấp dẫn. Tôi phải sử dụng khoa học gọn gàng đúng lúc.
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×