Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp giúp trẻ 4 5 tuổi cảm thụ tác phẩm văn học thông qua tiết kể chuyện

1. MỞ ĐẦU
1.1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

“ Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ. Muốn làm tốt trước hết phải yêu
trẻ . Các cháu nhỏ hay quấy phải bền bỉ chịu khó mới nuôi dạy được các cháu .
Dạy trẻ như trồng cây non, trồng cây non được tốt thì sau này các cháu thành
người tốt . Dạy trẻ tốt thì sau này các cháu thành người tốt”.
Thấm nhuần lời dạy của Bác, công tác giáo dục đào tạo thế hệ măng non,
những người chủ tương lai của đất nước đã, đang và sẽ là chủ trương lớn của
toàn Đảng, toàn dân. Để thực hiện tốt mục đích giáo dục này, cấp học mầm non
đã có những bước chuyển lớn nhằm góp phần đặt nền móng đào tạo con người
phát triển toàn diện, có đủ sức khoẻ, đủ trí tuệ, tài năng, là những chủ nhân
tương lai của đất nước, lái con tàu Việt Nam ra đại dương sánh vai các cường
quốc năm châu thoả lòng Bác hằng mong ước.
Như chúng ta đã biết “Ngôn ngữ là công cụ trực tiếp của tư duy” và một
trong những môn học phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách tốt nhất, phong phú
nhất và “chất lượng” nhất đó là cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học. Ngoài
ra cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học còn góp phần phát triển toàn diện nhân
cách của trẻ.
Ngay từ khi còn nằm trong nôi được tắm trong những lời ru của bà, của
mẹ, trẻ được sống trong một thế giới tràn ngập những lời ru, điệu hò, để lại trong

đầu óc non trẻ của các em những ấn tượng đầu tiên về nhạc điệu, nhịp điệu…
Văn học đem đến cho trẻ những điều tốt lành, những cảm xúc lành mạnh,
những tình cảm cao đẹp, thái độ rõ ràng, biết căm ghét, phản kháng cái ác, cái
xấu, biết đồng tình, chia sẻ hay thích thú khi gặp cái thiện, cái đúng. Mặt khác
nó còn đáp ứng nhu cầu hiểu biết của trẻ về thế giới thiên nhiên sinh động, hấp
dẫn đó là cỏ cây, hoa lá muôn màu, muôn sắc. Đem đến cho trẻ những tình cảm
nồng hậu đối với ông bà, cha mẹ, anh em, bạn bè. Nó tạo dựng phong cách sống
và một số tố chất cần thiết cho trẻ.
Với vai trò đặc biệt quan trọng như vậy song thực tế trong các tiết dạy cho
trẻ làm quen với tác phẩm văn học chưa được quan tâm đúng mức, quá trình
thực hiện theo chương trình “Giáo dục mầm non mới” còn lúng túng, áp dụng
còn cứng nhắc. Trong văn học, trong thơ truyện được sử dụng bằng những từ
ngữ nghệ thuật, trong sáng biểu cảm. Đó là cái đẹp của tiếng mẹ đẻ, từ đó ngôn
ngữ của trẻ không những trong sáng, chính xác mà còn biểu cảm và diễn đạt
mạch lạc, rõ ràng. Đó là cách để trẻ tiếp cận và sử dụng tốt tiếng mẹ đẻ.
Nắm được ý nghĩa và tâm quan trọng của môn làm quen với văn học, tôi đã
nhận thức được rằng mình cần phải tìm tòi đưa ra được những nội dung phương
pháp và hình thức dạy đổi mới để kích thích sự hứng thú, say mê của trẻ vào tiết
học nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy, góp phần phát triển tính chủ động của trẻ.
Trẻ ở lứa tuổi này nói chung là nhỏ thì không nhỏ mà lớn thì cũng chưa
hẳn là lớn. Vì thế việc phát triển tư duy và ngôn ngữ cho trẻ ở giai đoạn này rất
quan trọng. Trong quá trình dạy trẻ làm quen với văn học đòi hỏi người giáo
viên phải giúp trẻ cảm nhận được giá trị nghệ thuật của bài thơ, câu chuyện có
nghĩa ngữ nghệ thuật. Muốn thực hiện được những điều trên thì người giáo viên
1


phải có một chất giọng hay tùy theo bài thơ và câu chuyện. Qua đó trẻ cảm nhận
sâu sắc về bài thơ, câu chuyện một cách tích cực và trẻ sẽ thể hiện lại bằng tư
duy và ngôn ngữ của chính mình.
Đối với trẻ mầm non, trẻ rất nhạy cảm với nghệ thuật ngôn từ. Âm điệu,
hình tượng của các bài hát ru, đồng dao, ca dao, dân ca sớm đi vào tâm hồn tuổi
thơ. Những câu chuyện cổ tích, thần thoại đặc biệt hấp dẫn trẻ. Chính vì vậy cho
trẻ tiếp xúc với văn học là con đường phát triển ngôn ngữ cho trẻ tốt nhất, hiệu
quả nhất.
Vì vậy nên tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Một số giải pháp giúp trẻ 4-5 tuổi
cảm thụ tác phẩm văn học thông qua tiết kể chuyện”.
1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

- Thông qua việc nghiên cứu, điều tra khảo sát thực tế tại lớp mẫu giáo 4
tuổi nhằm nâng cao chất lượng giúp trẻ cảm thụ tác phẩm thông qua tiết kể
chuyện.
- Tìm ra biện pháp để tổ chức cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học
1.3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Với mong muốn làm nảy sinh khát vọng và kỹ năng sáng tạo của trẻ khi
tiếp xúc tác phẩm văn học, một sản phẩm tinh thần, ngôn ngữ tinh tế để hình
thành, bộc lộ tư tưởng, tình cảm, thế giới bên trong của trẻ. Và mong muốn nâng
cao hiệu quả của việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học được tốt đối với độ
tuổi 4- 5 tuổi.
1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

a. Phương pháp nghiêm cứu lí luận: Bản thân tôi luôn đọc và sử dụng các
tài liệu liên quan đến đề tài gồm các văn bản, chỉ thị, kế hoạch thực hiện nhiệm
vụ năm học của ngành, của trường Mầm Non Hoằng quý. Ngoài ra tôi luôn tham
khảo các tài liệu trên mạng internet, học hỏi đồng nghiệp trong trường cũng như
ở các trường khác.
b. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Giáo viên phải luôn gần gũi trẻ, nắm bắt được nhu cầu của trẻ để từ đó
đưa ra những kiến thức và nhu cầu phù hợp với trẻ.
Luôn quan tâm đến nhu cầu và khả năng nhận thức của trẻ để đưa ra
những phương pháp phù hợp với trẻ.
c. Lập kế hoạch tổ chức cho trẻ hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm
văn học thông qua tiết kể chuyện:
- Tổ chức dạy trẻ ở mọi lúc mọi nơi
- Thực hiện chế độ sinh hoạt một ngày của trẻ
- Tổ chức cho trẻ hoạt động ngoài trời, đi dạo, tham quan
- Tổ chức cho trẻ được kể chuyện, đóng kịch. Sân khấu hóa trong một số
hoạt động của trẻ.
d. Phương pháp khảo sát thiết dạy:
Đây là phương pháp thực hiện nhằm khảo sát diễn biến của nhiều mối
quan hệ trong quá trình cho trẻ làm quen với tác phâm văn học. Người nghiên
cứu phải xác định mục đích đạt được một vài vấn đề nghiên cứu cụ thể, lựa chọn
phương pháp khảo sát chất lượng.
2


1.5. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

- Hiện nay việc dạy học luôn tập trung và chú trọng vào chuyên đề giáo
dục lấy trẻ làm trung tâm. Chính vì thế trong sáng kiến kinh nghiệm lần này tôi
luôn chú trọng đến mọi hoạt động của trẻ và luôn đặt trẻ làm trung tâm.
- Ngoài ra tôi chú trọng đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt
động của trẻ.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN:

Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ là một quá trình từ thấp đến cao với các
giai đoạn mang những đặc trưng khác nhau tuỳ thuộc vào độ tuổi của trẻ. Trẻ ở
lứa tuổi mầm non sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc chịu ảnh hưởng lớn của việc
tích cực hoá vốn từ, ngôn ngữ của trẻ đã trở nên được mở rộng hơn, có trật tự
hơn, mặc dù cấu trúc còn chưa hoàn thiện. Khả năng nói trình bày ý nghĩa, hiểu
ngôn ngữ hoàn cảnh của trẻ cũng đã bắt đầu phát triển. Bằng các hình tượng văn
học mở ra cho trẻ cuộc sống với xã hội và thiên nhiên, các mối quan hệ qua lại
của con người.
Đặc điểm của trẻ mầm non là trẻ học bằng tai, bằng mắt. Đành rằng các
giác quan đều được huy động cho nhu cầu khám phá thế giới của trẻ nhưng lớp
học đầu tiên bên cái nôi và những tiếng ru hời của mẹ với âm thanh trầm bổng
dịu ngọt rót vào tai trẻ, là bài học hấp dẫn mới lạ.
Nhờ được nghe, tiếp xúc, có những hiểu biết sơ đẳng về văn học, bước
đầu trẻ sẽ nhận biết được sự khác nhau về nội dung và hình thức giữa các thể
loại thơ, truyện. Không những giúp trẻ cảm nhận được cái đặc sắc của cách diễn
đạt hình tượng, nhà sư phạm còn cần giúp trẻ phân biệt được hình tượng nghệ
thuật với hiện thực, hình thành một số khái niệm văn học như: Thơ, truyện, nhân
vật, hình ảnh…, giúp trẻ trao đổi những điều đã được nghe và bộc lộ những suy
nghĩ của mình về tác phẩm, nhằm phát triển đời sống tinh thần của trẻ. Khi cho
trẻ làm quen với tác phẩn văn học góp phần mở rộng nhận thức, phát triển trí
tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mĩ, phát triển ngôn ngữ, phát triển ở trẻ
hứng thú “đọc sách”, kỹ năng đọc và kể tác phẩm.
2.2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM.

a.Thưc trạng chung.
Trường mầm non Hoằng Quý luôn được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng
và chính quyền địa phương, luôn chăm lo cho công tác giáo dục xã nhà. Vì vậy
trong năm học 2018 – 2019 trường vinh dự đạt trường chuẩn quốc gia mức độ
II.
Đội ngũ nhà trường trẻ, khỏe, nhiệt tình và luôn yên tâm công tác. Ban
giám hiệu nhà trường luôn có kế hoạch chỉ đạo chuyên đề làm quen với văn học.
Có kế hoạch thăm lớp, dự giờ, kiểm tra đánh giá giáo viên. Công tác phối kết
hợp giữa ban giám hiệu với các tổ chức đoàn thể trong nhà trường hoạt động
chặt chẽ.
Lớp có phòng học rộng , thoáng mát, đảm bảo diện tích cho trẻ hoạt động,
có đồ dùng đồ chơi, tài liệu cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học. Trường có
3


đầy đủ các phòng chức năng cho trẻ hoạt động như: phòng âm nhạc, phòng tin
học, phòng thư viện…..
Số trẻ trong lớp có chung một độ tuổi nên nhận thức của trẻ tương đối
đồng đều, đa số trẻ đến lớp chuyên cần.
b. Thực trạng đối với giáo viên.
Bản thân là giáo viên nhiệt tình yêu nghề mến trẻ. Có khả năng đọc kể
diễn cảm cho trẻ nghe và biết định hướng cho trẻ kể chuyện, đọc thơ có hiệu
quả, tạo được môi trường hoạt động ở lớp tương đối phong phú.
Là giáo viên bản thân luôn ý thức được việc học tập để nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ của bản thân. Luôn học hỏi kinh nghiệm thông qua đồng
nghiệp, sách báo, mạng internet.. để có những sáng tạo mới trong phương pháp
dạy.
Bản thân tôi luôn thường xuyên luyện giọng đọc, kể để góp phần truyền
đạt các tác phẩm văn học đến trẻ được cuốn hút hơn.
c. Thực trạng đối với phụ huynh.
Trường Mầm Non Hoằng Quý đóng trên địa bàn nông thôn chủ yếu là làm
nông nghiệp và làm công nhân nên đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn.
Trình độ dân trí trên địa bàn tốt nhưng do công viêc của phụ huynh đa số phải đi
từ sang đến tối nên việc phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường trong công tác
chăm sóc giáo dục trẻ còn gặp nhiều khó khăn.
Đa số phụ huynh đi làm công ty các cháu ở nhà với ông bà, nên việc chăm
các cháu ở nhà phần nào còn hạn chế điều này có ảnh hưởng rất lớn đến công tác
chăm sóc giáo dục trẻ ở trường.
d. Thực trạng đối trẻ.
Số trẻ trong lớp là 30 cháu, trong khi đó trẻ mới đi học chưa có nề nếp
học tập cũng như kiến thức của trẻ còn hạn chế, nên tôi còn gặp nhiều khó khăn
trong việc tổ chức cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học.
Bên cạnh đó còn một số trẻ nói ngọng, nói lắp, phát âm không chuẩn, đa
số trẻ còn nói tiếng địa phương nên ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ mạch
lạc đối với trẻ.
Mặc dù đồ dùng, đồ chơi tương đối đầy đủ nhưng chưa phong phú đa
dạng về chủng loại và màu sắc, đồ dùng đồ chơi tự làm nên có tính khoa học và
thẩm mỹ chưa cao, chưa hấp dẫn trẻ.
Kết quả khảo sát thực trạng :
Kết quả
Tổng
TT
Nội dung
số
Đạt
Chưa Đạt
trẻ
TS
%
TS
%
1 Khả năng cảm thụ tác phẩm
30
20
66,7
10
33,3
2 Kĩ năng nghe
30
22
73,3
8
26,7
3 Kĩ năng đọc kể
30
20
66,7
10
33,3
4 Kĩ năng đóng kịch
30
18
60
10
40
Qua kết quả trên cho thấy chất lượng trên trẻ chưa cao, chưa đồng đều số
cháu đạt trung bình còn nhiều. Giáo viên chủ yếu thực hiện tiết dạy theo phương
4


pháp truyền thống, chưa linh hoạt, chưa sáng tạo trong việc đưa các thủ thuật để
thu hút trẻ. Ngoài ra trong tiết dạy giáo viên chưa lấy được trẻ làm trung tâm,
chưa phát huy hết khả năng vốn có của trẻ.
Từ thực tế giảng dạy, kết hợp với học tập nghiên cứu tài liệu và học tập
chuyên đề do ngành chỉ đạo. Tôi đã rút ra được một số biện pháp đạt kết quả tốt
trong việc dạy trẻ làm quen với tác phẩm văn học thông qua tiết kể chuyện.
2.3. GIẢI PHÁP SỬ DỤNG GIÚP TRẺ 4-5 TUỔI CẢM THỤ TÁC PHẨM VĂN
HỌC THÔNG QUA TIẾT KỂ CHUYỆN

Các giải pháp thực hiện.
Để thực hiện tốt nội dung nâng cao chất lượng cho trẻ làm quen với tác
phẩm văn học trong trường Mầm non chúng ta cần sử dụng linh hoạt các biện
pháp cơ bản sau:
Giải pháp 1. Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của trẻ
Với mỗi giai đoạn phát triển của trẻ đều có những đặc điểm tâm lý giống
và khác nhau cho nên giáo viên và người chăm sóc trẻ cần nắm vững về những
đặc điểm tâm sinh lý này để giao tiếp tốt với trẻ. Khi hiểu rõ được những đặc
điểm tâm lý này của trẻ giúp tôi dễ dàng lựa chọn phương pháp giảng dạy, định
hướng và giúp trẻ phát triển đúng theo từng giai đoạn.
Ở giai đoạn này, trẻ bắt đầu hình thành khả năng giao tiếp và hào hứng
với việc giao tiếp với mọi người. Trẻ quan sát những gì đang diễn ra xung quanh
cha mẹ, người thân và giáo viên để học theo. Vì thế tôi luôn chú ý trong ngôn
ngữ giao tiếp trên lớp sao cho chuẩn mực sư phạm, luôn đưa ra những câu
chuyện,các tình huống, trò chơi phát huy tích cực khả năng giao tiếp của trẻ.[2]
Vào đầu năm học tôi thường xuyên gần gũi trò chuyện, gợi mở nắm bắt
những cá tính riêng của trẻ, động viên thu hút trẻ tham gia vào các nhóm bạn.
Tôi đã phát hiện ra trẻ rất hiếu động, thích khám phá, tìm tòi, trẻ dễ nhớ chóng
quên, sự chú ý có chủ định phụ thuộc vào sự hứng thú và điều kiện mới lạ, trẻ
thích nghe động viên, thích nghe đọc thơ, kể chuyện, thích chơi các trò chơi, qua
trò chơi trẻ tiếp thu bài một cách thoải mái, chủ động và kết quả cao, tôi đã cho
trẻ chọn nhóm học và chơi để tìm hiểu những sở thích, khả năng của trẻ. Nếu trẻ
có khả năng về đọc thơ, kể chuyện tốt thì tôi có kế hoạch bồi dưỡng cho trẻ để
trẻ phát triển năng khiếu của mình và ngược lại trẻ phát âm chưa chuẩn, nói
ngọng, nói lắp nhiều thì tôi cã kế hoạch bồi dưỡng bố trí cho những trẻ đó tiếp
xúc nhiều hơn với những bạn có năng khiếu nhằm giúp trẻ mạnh dạn, tự tin và
phát triển toàn diện hơn về mọi mặt. Vì thế khi nắm bắt được tâm lý của trẻ, tôi
tự tìm tòi cho mình nhiều giải pháp khác nhau để đưa chất lượng giảng dạy tốt
hơn.
Giải pháp 2: Tổ chức hoạt động giáo dục lấy trẻ làm trung tâm.
Giáo dục lấy trẻ làm trung tâm là một quan điểm giáo dục tiến bộ về vị trí
của trẻ em và vai trò của giáo viên. Nó góp phần định hướng cho quá trình, hoạt
động và môi trường giáo dục trong trường mầm non.
Vai trò của giáo viên là rất quan trọng. Ở trường mầm non lấy trẻ làm
trung tâm, giáo viên tôn trọng trẻ, mở rộng kiến thức của mỗi trẻ và tạo nhiều cơ
hội cho trẻ tích cực hoạt động. Giáo viên phải xác định và đáp ứng sự hiểu biết,
5


sở thích, và kỹ năng của trẻ em; đồng thời mở rộng việc học của mỗi đứa trẻ
bằng cách cung cấp nhiều cách khác nhau cho trẻ học trong đó, bao gồm cả chơi
và tương tác với các trẻ em khác.
Trong giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, trẻ em được xem như những người
tham gia tích cực trong việc học của mình. Khả năng, sở thích và nhu cầu của
mỗi trẻ cần được hiểu, tôn trọng và đáp ứng.
Xuất phát từ thực tế trên tôi đã lập các kế hoạch giáo dục lấy trẻ làm trung
tâm như: Kế hoạch thực hiện chủ đề, kế hoạch tuần, ngày. Để triển thực giải
pháp này một cách có hiệu quả tô đã xây dựng tiết dạy thực nghiệm mời sự tham
gia của các bậc phụ huynh và bạn bè đồng nghiệp.
Giải pháp 3: Rèn luyện giọng kể và các sử dụng ngôn từ của cô.
Ở độ tuổi mầm non trẻ không thể tự đọc tác phẩm văn học. Trẻ hòa mình
vào không gian câu chuyện, tiếp xúc với các nhân vật trong truyện thông qua
giọng đọc, lời kể của cô giáo, bà, mẹ…Cho nên giáo viên có vai trò rất quan
trọng, là chiếc cầu nối cho trẻ đến với những câu chuyện. Do đó việc đọc kể
diễn cảm của cô đóng vai trò quan trọng trong việc đưa tác phẩm văn học đến
gần hơn với trẻ. Cô kể càng hay, hấp dẫn thì càng thu hút được sự tập trung chú
ý lắng nghe của trẻ từ đó trẻ sẽ cảm thụ nội dung câu chuyện một cách đễ dàng
hơn, trẻ sẽ bắt trước được ngôn ngữ, giọng điệu, thể hiện được tính cách của
nhân vật. Vì vậy lời kể chính là điều trẻ học tập được ở cô và là chuẩn mực để
trẻ thực hiện.
Để gây được hứng thú cho trẻ trong giờ kể chuyện thì thao tác của cô phải
thật nhuần nhuyễn, logic. Muốn được như vậy thì người giáo viên cần:
- Trước hết tôi cần phải thuộc chuyện vì khi ấy tôi mới có thể tự tin thể
hiện được cảm xúc, tính cách của nhân vật, không ngập ngừng, lúng túng. Sau
đó tôi phải xác định giọng kể của câu chuyện, phải căn cứ vào hành động, diễn
biến của từng nhân vật để có giọng điệu phù hợp, có cử chỉ điệu bộ thích hợp
sao cho thể hiện được tính cách nổi bật của từng nhân vật.
Ví dụ: Truyện “ Quạ và Công” nhìn chung toàn bài thì nhân vật Công sẽ
nói năng nhẹ nhàng, thanh thoát, cử chỉ điệu bộ nhẹ nhàng. Còn nhân vật Quạ sẽ
là một tính cách tham ăn nên giọng kể phải chanh chua đanh đá. Tuy nhiên
giọng điệu lúc đầu của Quạ sẽ hơi buồn vì có bộ lông xấu, giọng kể sẽ thấp và
châm hơn. Nhưng đến đoạn cao trào thì giọng Quạ lúc này sẽ nhanh, gấp gáp và
hốt hoảng thúc dục Công vẽ nhanh hơn.
- Ngoài yếu tố giọng kể thì các yếu tố phi ngôn ngữ như ánh mắt, nét mặt,
cử chỉ, điệu bộ.... cũng có vai trò rất lớn. Vừa kể chuyện vừa kết hợp với các yếu
tố phi ngôn ngữ một cách phù hợp thì sẽ cuốn hút trẻ đi vào không gian câu
chuyện, trẻ sẽ tưởng tượng ra câc nhân vật đó đang hiện ra trước mắt trẻ như thế
nào là hiền lành , dữ hay hung ác.
- Bên cạnh đó khi kể chuyện tôi còn lồng ghép các bản nhạc không lời có
giai điệu phù hợp với câu chuyện nhằm tạo thêm phần hứng thú và kịch tính thu
hút trẻ vào câu chuyện.
6


Giải pháp 4: Làm quen với văn học ở mọi lúc mọi nơi
Thực hiện tích hợp trong tổ chức hoạt động giáo dục trẻ ở trường mầm
non đòi hỏi phải thiết kế nội dung và triển khai hoạt động giáo dục thành một
thể thống nhất trong khung cảnh có ý nghĩa để trẻ hứng thú, tích cực tham gia
hoạt động tạo nên tác động đồng bộ đến đứa trẻ như một chỉnh thể trọn vẹn.[2]
Các hoạt động ngoài giờ học cũng góp phần rất lớn vào việc cho trẻ làm
quen với tác phẩm văn học. Việc làm quen với tác phẩm văn học ở đây nhằm
thỏa mãn nhu cầu giải trí cho trẻ, bổ sung nhiều mặt của các tiết trên lớp, giúp
trẻ hiểu sâu và nhớ lâu tác phẩm, biết cách đọc diễn cảm các tác phẩm văn học.
Từ đó nâng cao năng lực cảm thụ tác phẩm, nâng cao năng khiếu nghệ thuật cho
trẻ. Đồng thời phát triển ngôn ngữ cho trẻ, giúp trẻ sử dụng từ chính xác, diễn
đạt biểu cảm và mạch lạc.

Hình ảnh một số hoạt động trong ngày của cô và trẻ

- Thông qua giờ đón, trả trẻ, chơi tự do, chuẩn bị cơm trưa....Giáo viên
đều có thể cho trẻ làm quen với văn học. Cô đọc, kể cho trẻ nghe những câu
chuyện, bài thơ mới mà trẻ sắp được học trong giờ thơ chuyện, hoặc nghe những
tác phẩm ngoài chương trình. Cô cũng có thể hướng dẫn trẻ ôn luyện các tác
phẩm đã học bằng cách đó, hoặc chơi phân vai, đóng kịch…để việc ôn luyện
hấp dẫn, linh hoạt, giáo viên nên tổ chức dưới hình thức trò chơi (như hái hoa,
đoán tên).
Hình ảnh hoạt động ăn và ngủ của trẻ.

Khi tiến hành ôn luyện cho trẻ qua hình thức này tôi đã chú ý rèn luyện
nâng cao năng lực kể diễn cảm tác phẩm văn học cho trẻ.
- Thông qua lúc dạo chơi, tham quan: Bản thân tôi luôn tìm những bài thơ,
câu đố… phù hợp với hoàn cảnh khi trẻ đi dạo chơi, tham quan.
- Thông qua hoạt động vui chơi: Tôi giúp trẻ thuộc lời nhân vật trong các
câu chuyện, thể hiện đúng giọng điệu của nhân vật.
- Thông qua góc văn học: Trong lớp giáo viên nên bố trí một góc đủ ánh
sáng, kê bàn, giá sách để các loại truyện tranh, tranh minh hoạ các tác phẩm
trong chương trình. Ngoài giờ học cô gợi ý để các cháu tự lấy truyện tranh ra kể
cho nhau nghe.
Góc văn học sẽ thu hút trẻ, giúp trẻ tiếp xúc với văn học một cách tự giác
nếu thường xuyên được cô giáo thay đổi các loại sách, tranh mới, vì vậy tôi luôn
có kế hoạch bổ sung sách mới và hướng dẫn trẻ xem sách.
Giải pháp 5: Trang trí lớp, làm đồ dùng trực quan tạo môi trường văn
học.
Với việc làm quen với tác phẩm văn học trên tiết học hay ở mọi lúc mọi
nơi đều giúp trẻ cảm nhận được tác phẩm văn học. Nhưng để giúp trẻ được khắc
7


sâu và nhớ lâu hơn tác phẩm văn học thì việc trang trí lớp sinh động, bắt mắt
cũng có tác dụng rất lớn đến trẻ.
Hình ảnh cô tạo góc sách truyện để trẻ được trải nghiệm khám phá

Trong lớp tôi luôn chú tâm vào việc đặt góc sách, tôi luôn đặt góc sách ở
nơi sáng sủa, gần cửa sổ, trong giá sách có nhiều loại sách để trẻ có thể tự xem.
Tôi luôn bổ sung các loại sách, truyện trong giá sách nhằm giúp trẻ luôn
có những khám phá mới, kích thích trẻ phát triển óc thẩm mỹ, trí tưởng tượng.
Sách cần phải xếp theo chủ đề, thí dụ: “Sách về Bác Hồ”, “Truyện cổ
tích”, “Sách về thiên nhiên”…Trên góc sách có thể treo những bức tranh đẹp của
trẻ về nội dung một số truyện.
Bên cạnh đó tôi luôn chuẩn bị kỹ càng cho đồ dùng minh hoạ khi thực
hiện tiết dạy của mình. Đồ dùng minh hoạ phải đảm bảo tính thẩm mỹ và an
toàn: về hình thức đồ dùng phải đẹp, màu sắc hài hoà, kích thước vừa phải. Về
nội dung phải thể hiện sáng tỏ một ý, một đoạn, một phần, tính cách nhân vật …
trong tác phẩm
Khi sử dụng đồ dùng trực quan giáo viên cần cân nhắc lựa chọn đồ dùng,
thời điểm sử dụng để giúp trẻ thích thú, dễ hiểu bài hơn mà không làm giảm sức
tập trung cảm thụ ngôn ngữ nghệ thuật của trẻ.
Hình ảnh một số đồ dùng, đồ chơi tự tạo để dạy trẻ

Nên chọn đồ dùng dạy học sao cho dễ làm, dễ sử dụng, ít tốn kém. Tuỳ
điều kiện địa phương mà giáo viên linh hoạt trong việc chọn và làm đồ dùng dạy
học cho trẻ.
Tạo môi trường cho trẻ hoạt động là rất cần thiết trong chương trình chăm
sóc giáo dục trẻ. Hiện nay, nếu cô giáo tạo được môi trường cho trẻ hoạt động
tốt thì sẽ kích
thích trẻ phát triển ngôn ngữ, tham gia vào các hoạt động và kết quả đạt được rất
cao. Vì thế ngay từ đầu năm học tôi đã đi sâu vào tạo môi trường bằng cách đưa
hình ảnh nhân vật của các câu chuyện nổi bật vào góc văn học và một số góc
trong và ngoài lớp học thể hiện trên các mảng tường. Vẽ và sưu tầm một số bộ
truyện tranh ngoài chương trình để đưa vào giảng dạy, vận động phụ huynh
đóng góp truyện tranh đưa vào góc văn học cho trẻ hoạt động thường ngày.
Những câu chuyện được thể hiện trên các mảng tường trong không gian rộng đã
giúp trẻ dễ tri giác, trẻ được thảo luận, bàn bạc về câu chuyện đó.
Ngoài việc tạo những bức tranh trên mảng tường, sa bàn, những tập
truyện tranh chữ to tôi còn đi sâu làm một số đồ dùng trực quan cho trẻ hoạt
động như: Một số con rối dẹt có bánh xe, có cử động tay chân và tận dụng
những truyện tranh cũ, những sản phẩm vẽ của trẻ, cắt dán bồi bìa cứng cho trẻ
ghép tranh kể chuyện sáng tạo hoặc cắt dời các con vật cho trẻ tự chọn các con
vật đó để kể chuyện sáng tạo theo ý tưởng của mình.
Hình ảnh sa bàn tự tạo để dạy trẻ

8


Điều đặc biệt hơn nữa tôi đầu tư suy nghĩ và làm ra các loại rối tay cho trẻ
hoạt động. Thực tế tôi nhận thấy đồ dùng làm bằng rối tay hầu như ở các lớp
không có cho trẻ hoạt động, qua nghiên cứu tìm tòi tôi đã vận dụng làm từ các
quả bóng, chổi rơm, đĩa nhựa đồ chơi… để làm mặt con rối sau đó dùng vải
hoặc len móc làm váy, thân, tay để khi trẻ sử dụng không bị thô và cứng. Các
khuôn mặt có thể thay đổi tuỳ theo nội dung, nhân vật của câu chuyện trẻ kể.
Qua cách nghĩ và làm như vậy tôi đã tạo ra một góc văn học với nhiều
chủng loại về đồ dùng trực quan đa dạng phong phú, giúp trẻ hứng thú tham gia
vào các hoạt động. Vì vậy đòi hỏi cô giáo phải biết tạo cảm xúc cho trẻ bằng các
con vật ngộ nghĩnh đáng yêu, đồng thời biết gợi mở cho trẻ có cảm xúc tích cực
tham gia hoạt động làm quen với văn học nói chung và kể chuyện nói riêng.
Giải pháp 6: Ứng dụng công nghệ thông tin
Để thu hút sự chú ý, gây hứng thú của trẻ tôi đã sử dụng công nghệ thông
tin vào một số bài dạy cụ thể sau :
Ví dụ : Dạy câu truyện : “ Sự tích Hồ Gươm ”
Chủ đề : Quê hương – Đất Nước – Bác Hồ
Với bài dạy này tôi đã sử dụng phần mềm PowerPoint để soạn giáo án
điện tử xuyên suốt cả tiết dạy. Để làm được giáo án điện tử trước hết tôi cần phải
chuẩn bị đầy đủ những học liệu cần thiết như :
- Tìm những hình ảnh về quê hương và thủ đô Hà Nội trên mạng theo chủ
đề và bài hát về chủ đề đó là bài “ Yêu Hà Nội” để quay video làm thành phim
đưa vào vi tính
- Quyển tranh truyện
- Băng đĩa kịch bản câu chuyện
- Nhạc bài hát : “ Yêu Hà Nội ”
- Hình ảnh Hồ Gươm.
Tất cả những hình ảnh trên đều được quay video, chụp ảnh đưa vào máy
theo trình tự một tiết dạy. Trước khi vào tiết dạy tôi còn chuẩn bị máy tính xách
tay đã cài đặt phần mềm PowerPoint, máy chiếu, phông chiếu là những đồ dùng
cần thiết khi giảng dạy. Vào giờ học để thu hút sự chú ý của trẻ tôi gọi trẻ đến
bên cô và hỏi:
- Các con thấy thời tiết hôm nay như thế nào ?
- Với thời tiết đẹp thế này các con có dự định đi đâu ? ( trẻ nêu ý định)
- Bây giờ cô có một đề nghị, chúng ta sẽ cùng đi chơi, cô sẽ đưa các con
đến thăm thủ đô Hà Nội nhé!.
Hình ảnh danh lam thắng cảnh Hà Nội

Sau đó tôi sẽ cho trẻ nhẹ nhàng ngồi trước máy vi tính xem hình ảnh về
trên máy chiếu và trò chuyện cùng cô. Tiếp đó trẻ cùng cô đàm thoại nội dung
câu truyện trên máy chiếu và lắng nghe cô kể câu chuyện trên băng đĩa .
Hình ảnh minh họa cho truyện “ Sự tích Hồ Gươm”

9


Với đặc điểm tư duy của trẻ là tư duy trực quan hình tượng nên việc sử
dụng công nghệ thông tin vào tiết dạy, trẻ đặc biệt rất hứng thú, trước khi vào
bài học, khi nhìn thấy trong lớp có máy vi tính, có máy chiếu, tất cả trẻ đều ngạc
nhiên đến sửng sốt, đến khi vào tiết học khi được xem trực tiếp các hình ảnh
động kèm theo âm thanh, bài hát trên màn hình trẻ vô cùng thích thú. Tiết học
trôi qua một cách nhẹ nhàng đầy lôi cuốn trẻ từ đầu đến cuối. Đến khi hết tiết
học trẻ còn nói “ học tiếp đi cô”
Với bài dạy này trẻ được quan sát kỹ các hình ảnh các loại cây một cách
sống động và trung thực, trẻ được quan sát kỹ nội dung quyển tranh truyện trên
máy chiếu thay vì quyển tranh truyện bé ở ngoài. Trẻ được xem và khắc sâu tính
cách nhân vật cậu bé hiền lành tốt bụng, lão địa chủ tham lam độc ác qua cử chỉ,
nét mặt của từng nhân vật, qua đó trẻ tập trung cao độ vào tiết học, hăng hái phát
biểu xây dựng bài, giờ học sôi nổi .
Từ đó phát huy được tính tích cực, phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Giờ học
đạt kết quả từ 90-95%.
Truyện “Bác Gấu đen và hai chú Thỏ”
Chủ đề : Thế giới động vật
Chủ đề nhánh : Động vật sống trong rừng .
Với bài dạy này tôi chuẩn bị :
- Hình ảnh một số động vật sống trong rừng như gấu, thỏ, voi, sư tử…
- Bài hát : vào rừng xanh
- Băng đĩa kịch bản với câu chuyện .
Mở đầu bài dạy tôi cho trẻ đến bên cô cùng trò chuyện, sau đó cho trẻ đến
thăm sở thú qua việc xem hình ảnh những con vật trên máy chiếu và đàm thoại
cùng trẻ .
+ Trên màn hình có những con vật gì ?
+ Chúng đang làm gì ?
+ Những con vật này sống ở đâu ?
Sau đó cô dẫn dắt trẻ vào bài kể chuyện cho các cháu nghe. Bài
dạy : “Bác Gấu đen và hai chú Thỏ” là một bài khó, bởi vì đây là bài thuộc chủ
đề thế giới động vật – những con vật sống trong rừng nên việc tìm được những
con vật sống trong rừng để giới thiệu với trẻ là rất khó. Thay vì trước đây tôi chỉ
có thể sử dụng tranh ảnh hoặc những con vật bằng rối rẹt để giới thiệu với trẻ
nên bài dạy không có tính thuyết phục, trẻ không hứng thú. Thì nay với công
nghệ thông tin tôi có thể dễ dàng tìm được hình ảnh những con vật sống trong
rừng ở trên mạng thật dễ dàng .
Hình ảnh minh họa truyện “ Bác Gấu đen và hai chú Thỏ”

Từ việc tìm được hình ảnh đó trẻ rất hứng thú và ngạc nhiên khi được
quan sát những bước đi, tư thế, hay đang rình mồi, tiếng kêu các con vật. Chính
điều đó kích thích sự hứng thú trẻ vào tiết học, trẻ nào cũng chăm chú theo dõi.
Qua tiết học trẻ không chỉ được làm quen với thế giới động vật phong phú, mà
còn được học chữ viết, được phát triển ngôn ngữ tích cực, trẻ đựơc học một cách
10


thoải mái, nhẹ nhàng, đúng theo yêu cầu của ngành đề ra “ Trẻ học bằng chơi –
chơi mà học” . Giờ học đạt kết quả cao .
Từ đó phát huy được tính tích cực, phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Giờ học
đạt kết quả từ 90-95%.
Giải pháp 7: Sân khấu trong cuộc sống của trẻ:
Đối với trẻ 4 – 5 tuổi là thời kỳ phát triển ngôn ngữ mạnh nhất. Chính vì
thế trẻ luôn muốn bắt chước người lớn, luôn thể hiện những gì trẻ đã gặp trong
cuộc sống hàng ngày
Với tác phẩm văn học là các câu chuyện trẻ cũng rất thích thể hiện làm
các nhân vật trong các câu chuyện mà trẻ thích. Chính vì thế sân khấu hóa
những tác phẩm nghệ thuật giúp trẻ lĩnh hội rõ ràng, đúng đắn nội dung tác
phẩm. Sau khi trẻ đã được nghe cô kể truyện diễn cảm nhiều lần, cảm nhận
được sắc thái ngôn ngữ khác nhau đối thoại giữa các nhân vật. Kết hợp xem
tranh minh hoạ, giải thích thêm về tính cách nhân vật để thêm chất liệu cho trí
tưởng tượng nghệ thuật của trẻ. Trẻ có thể hình dung rõ nét dáng điệu, cử chỉ,
ngôn ngữ của nhân vật. Và sau khi trẻ đã tiến hành tập kể lại chuyện, cô cho trẻ
tập các động tác, cử chỉ của nhân vật trong chuyện như sau:
+ Cô tóm tắt nội dung cơ bản của truyện.
+ Cô diễn lại từng đoạn truyện, dừng lại gợi ý giúp trẻ lựa chọn các động
tác, điệu bộ để diễn tả.
+ Trẻ nhắc lại các câu nói trong truyện.
+ Cho trẻ thực hành, cô làm mẫu trực quan để sửa sai cho trẻ.
Việc này cần được tiến hành ngoài giờ học trước khi đóng kịch trên lớp
Chuẩn bị sân khấu, đạo cụ: Cô làm sân khấu đơn giản, phông màn (nếu có).
Chuẩn bị hóa trang cho trẻ bằng mũ múa, trang phục phù hợp với các nhân vật.
Hình ảnh trẻ đóng kịch một số câu truyện

Tiến hành đóng kịch:
- Cô tóm tắt lại nội dung truyện và nêu lại đặc điểm tính cách của nhân
vật.
- Gợi ý cho trẻ nhận vai.
- Trẻ phân vai, đóng kịch.
Khi cho trẻ tập và thể hiện các vai, cô theo dõi, nhận xét, giúp trẻ sửa sai
và khích lệ, động viên trẻ lúc đầu nên chọn cháu có khả năng mạnh dạn tham gia
sau đó khuyến khích các cháu nhút nhát cùng tham gia đóng vai.
Giải pháp 8: Phối kết hợp với các bậc cha mẹ trẻ nhằm nâng cao chất
lượng cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học.
Thông qua biện pháp này giúp các bậc cha mẹ hiểu được những bài thơ,
câu chuyện cô cần cung cấp cho trẻ trong một chủ đề nào đó một cách dễ dàng
hơn.
Ngay từ đầu năm học nhà trường họp phụ huynh mỗi lớp bầu ra ban đại
diện cha mẹ trẻ cho năm học mới, để nhằm hỗ trợ cho giáo viên cùng tuyên
truyền nội dung giáo dục trẻ.
11


Thông qua góc trao đổi với phụ huynh giáo viên tuyên truyền trao đổi
thường xuyên qua mỗi chủ đề học, qua việc trao đổi nhằm giúp phụ huynh biết
được chủ đề tới con em mình học bài thơ câu chuyện gì để cha mẹ trẻ về nhà rèn
thêm kiến thức cho trẻ, tạo điều kiện cho các cô giáo khi dạy trẻ làm quen với
văn học tại nhóm lớp, từ đó chất lượng cho trẻ làm quen với văn học tại nhà
trường được nâng lên.
Trong khi lập kế hoạch theo chủ đề, kế hoạch tuần, giáo viên cần đưa nội
dung phối hợp với gia đình vào kế hoạch, cần nêu những yêu cầu cụ thể về vấn
đề cần phối hợp với gia đình để thực hiện chủ đề đó.
Chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trong trường Mầm non phụ thuộc nhiều
vào sự tham gia phù hợp của gia đình trẻ. Vì vậy, trong quá trình giáo dục, giáo
viên cần phải cú sự phối hợp chặt chẽ với gia đình bằng nhiều nội dung, hình thức
phong phú để tạo điều kiện cho công tác dạy trẻ trong nhà trường có hiệu quả.
Hình ảnh: Giáo viên trao đổi với phụ huynh.

Muốn tạo sự tin tưởng và thu hút sự tham gia của phụ huynh vào hoạt
động chăm sóc giáo dục trẻ của lớp, giáo viên cần thực hiện tốt các yêu cầu sau:
Lắng nghe ý kiến của cha mẹ trẻ, chủ động xây dựng mối quan hệ tốt với
phụ huynh, sẵn sàng tư vấn và giúp đỡ kiến thức khi gia đình có yêu cầu, thông
tin đầy đủ cho cha mẹ trẻ về chương trình chăm sóc - giáo dục trẻ ở trường bằng
nhiều hình thức khác nhau như họp phụ huynh, bảng thông báo, góc trao đổi với
phụ huynh, giới thiệu những hoạt động trong ngày ở trường của giáo viên và của trẻ.
Liên lạc thường xuyên với gia đình để tìm hiểu sinh hoạt của trẻ ở gia
đình, thông tin cho cha mẹ trẻ biết về tình hình của trẻ ở lớp, những thay đổi của
trẻ nếu có để kịp thời có biện pháp giáo dục cho phù hợp.[1]
Trong khi lập kế hoạch của chủ đề, kế hoạch tuần, giáo viên cần phải đưa
nội dung phối hợp với gia đình vào kế hoạch, cần nêu những yêu cầu cụ thể về
vấn đề cần phối hợp với gia đình để thực hiện chủ đề đó.[1]
Đối với trẻ mầm non, khả năng nghe và nói luôn liên quan chặt chẽ với
nhau, chính vì vậy giáo viên nên tạo cơ hội cho trẻ nghe và nói ở mọi lúc mọi nơi
trong các hoạt động giao tiếp hàng ngày, trong trò chuyện với trẻ, trong hoạt động
vui chơi, trong hoạt động kể chuyện...[1]
Với những giải pháp phù hợp và việc sử dụng nhẹ nhàng, liên hoàn không
máy móc, dập khuôn các phương pháp, biện pháp, đưa các nội dung tích hợp
phù hợp với từng đề tài. Đồng thời kết hợp với một số thủ thuật khác đã cho tôi
một kết quả rất khả quan như sau:
Hoạt động: Làm quen với tác phẩm văn học
Đề tài: Truyện: “Chú Đỗ con ”
Chủ điểm: Nước và một số hiện tượng tự nhiên
Độ tuổi: 4-5 tuổi
12


Số trẻ: 25 cháu
I. Mục đích:
1. Kiến thức:
- Trẻ thể hiện cảm xúc, biết lắng nghe cô kể chuyện.
- Trẻ hiểu nội dung và nhớ được những chi tiết chính của câu truyện “ Chú Đỗ
con lớn lên nhờ có đất, nước, ánh sáng, không khí ”.
- Trẻ kể được truyện theo ngôn ngữ của mình.
- Trẻ biết đóng kịch thể hiện được tính cách, tâm trạng nhân vật.
2. Kỹ năng:
- Rèn luyện kỹ năng tự nhiên trong giao tiếp
- Phát triển khả năng tưởng tượng. Phát triển vốn từ, rèn ngôn ngữ mạch lạc.
- Rèn kỹ năng quan sát, ghi nhớ có chủ định.
3. Thái độ:
- Giáo dục trẻ chăm sóc và bảo vệ cây xanh, biết ăn uống đầy đủ các chất để cơ
thể khỏe mạnh.
- Giáo dục trẻ biết tham gia hoạt động cùng tập thể, thích thú nhập vai khi đóng
kịch.
II. Chuẩn bị:
1, Đồ dùng của cô:
- Powerpoint câu truyện “Chú Đỗ con”, sa bàn quay, tranh các nhân vật.
- Nhạc bài hát: Vườn cổ tích, Cho tôi đi làm mưa với.
- Hạt đỗ và cốc đựng đất.
2, Đồ dùng của trẻ:
- Trang phục, mũ múa để trẻ tham gia đóng kịch.
3, Phương pháp: Quan sát, đàm thoại.
Nội dung tích hợp : Giáo dục dinh dưỡng, âm nhạc, làm quen với toán, bảo vệ
môi trường.
III. Cách tiến hành:
Hoạt động của cô
Hoạt động của trẻ
1, Hoạt động 1: Gây hứng thú
- Cô cho trẻ hát bài “Vườn cổ tích”
- Trẻ hát
- Chào mừng các con đã đến với chương trình - Trẻ chú ý lắng nghe.
“Vườn cổ tích”.
Tham dự với chương trình gồm có hai đội, đó là
đội Ong vàng, đội Sóc nâu và đội Thỏ Ngọc!
Đến tham dự chương trình hôm nay còn có các - Trẻ chú ý lắng nghe
vị giám khảo một tràng pháo tay dành thật to
dành cho các vị giám khảo của chúng ta nào!
- Trong chương trình hôm nay sẽ có các phần - Trẻ vỗ tay
như sau:
Phần thứ nhất: Tìm hiểu
Phần thứ hai: Thưởng thức
Phần thứ ba: Khám phá
Phần thứ tư: Thử tài bé yêu
13


Phần thứ nhất: Tìm hiểu
* Trò chơi “Ảo thuật”
- “Úm ba la, úm ba la hãy xuất hiện”.

- Trẻ cùng làm động tác với
cô.
- Con đoán xem đây là gì nào ?
- Hạt đỗ
- Các con có biết hạt đỗ lớn lên như thế nào - Trẻ trả lời
không?
- Trẻ chú ý xem, quan sát.
Chúng mình cùng xem đoạn video về quá trình
phát triển từ hạt đỗ thành cây đỗ nhé!
- Thế các con có muốn biết để hạt đỗ nảy mầm
và cần những yếu tố gì để lớn lên không? Hãy
lắng nghe cô kể câu chuyện “ Chú Đỗ con” nhé! - Trẻ chú ý lắng nghe
2, Hoạt động 2: Nội dung
phần thứ hai: Thưởng thức
2.1: Kể truyện:
- Cô kể lần 1: Cô kể diễn cảm kết hợp cử chỉ
điệu bộ.
+ Cô vừa kể cho các con nghe câu chuyện gì?
Nào các con hãy nghe cô kể lại câu chuyện này - Trẻ chú ý lắng nghe
để thấy rõ hơn quá trình lớn lên của hạt đỗ nhé!
- Cô kể lần 2: Cô kể diễn cảm kết hợp với tranh - Trẻ trả lời
minh họa
Phần thứ 3: Khám phá
2.2: Đàm thoại, trích dẫn, giảng từ mới, từ khó. - Trẻ chú ý lắng nghe
- Câu chuyện cô vừa kể nói về điều gì nào?
- Trẻ trả lời
- Trong câu chuyện có những nhân vật nào?
- Đỗ con, chị Gió Xuân, cô
Mưa Xuân, bác Mặt Trời.
- Ai là người đầu tên đánh thức Đỗ con dạy?
- Cô Mưa Xuân.
- Cô Mưa Xuân mang điều gì đến cho Đỗ con? - Những hạt mưa.
( Cả lớp cùng cô giả làm tiếng mưa rơi nào!)
- Trẻ làm cùng cô.
- Khi nghe tiếng vi vu trên mặt đất Đỗ con đã
hỏi gì?
- Chị Gió Xuân đã nói gì với Đỗ con?
- Trẻ trả lời.
( Cô kể trích dẫn “ Có tiếng sáo vi vu….Chị
Gió Xuân bay đi” Kèm hình ảnh minh họa trên
màn hình).
- Được cô Mưa Xuân làm mát và chị Gió Xuân - Trẻ trả lời và làm động tác.
mang lại không khí trong lành, Đỗ con đã làm
gì?
( Cô và trẻ làm động tác cựa mình làm nứt vỏ
áo)
- Cuối cùng ai là người đánh thức Đỗ con dạy ? - Bác Mặt Trời.
- Bác Mặt Trời đã hỏi gì và Đỗ con trả lời Như
thế nào?
14


- Thế Bác Mặt Trời đã khuyên Đỗ con điều gì?
( Cô kể trích dẫn “ Có tia nắng ấm áp…đến hết”
kèm theo hình minh họa trên máy tính)
- Giải thích từ khó cho trẻ nghe: Từ “ lớn
phổng” : Cho trẻ làm động tác đứng lên và gươ
2 tay lên.
- Vậy để Đỗ con có thể lớn lên cần những yếu
tố gì?
* Giáo dục: Các con ạ Đỗ con muốn phát triển
được cần có nhiều yếu tố như: đất, nước, gió,
ánh nắng…Đặc biệt là sự chăm sóc của con
người. Các con cũng vậy,muốn cơ thể lớn lên
khỏe mạnh thì nhớ phải ăn uống đầy đủ dưỡng
chất, thường xuyên tập thể dục các con nhớ
chưa!
- Cô kể chuyện lần 3 kết hợp với hình ảnh minh
họa trên máy tính.
Phần thứ tư: Thử tài bé yêu
- Tại sân khấu của lớp mình hôm nay các con
được xem các diễn viên chính là các bạn lớp
mình sẽ hóa thân kể lại câu chuyện “ Chú Đỗ
con” nhé! Nào sau đây câu chuyện “ Chú Đỗ
con” do các bạn nhỏ lớp 4 tuổi A xin phép được
bắt đầu!
3. Hoạt động 3: Kết thúc
Cô và trẻ cùng chơi trò chơi mô phỏng động tác
của chú Đỗ con. Cô kẻ tóm tắt và trẻ thể hiện
động tác mô phỏng:
- Đỗ con ngủ khì: Trẻ ngồi thi mình cúi đầu.
- Khi tỉnh dậy: Trẻ ngẩng mặt lên tỏ vẻ ngạc
nhiên.
- Khi lớn làm nứt áo ngoài: Trẻ ngồi thoải mái
giang tay, giang chân.
- Khi vươn vai lớn lên phổng phao: Trẻ đứng
lên tư thế tự nhiên.
Hôm nay cô thay lớp mình học rất ngoan và
giỏi cô đã chuẩn bị những hạt đậu và các cốc
đựng đất nữa, nào chúng ta hãy cùng nhau đi
gioe những hạt đậu và chăm sóc để xem chúng
lớn lên như thế nào nhé! Nào đi thôi!!!

- Trẻ trả lời
- Trẻ hát.
- Trẻ chú ý lắng nghe

- Trẻ chú ý.

- Trẻ chú ý

- Trẻ chơi cùng cô.

- Trẻ ra ngoài tham gia hoạt
động cùng cô.

Tiết dạy thành công như sự mong đợi của tôi. Trẻ tích cực được tham gia
vào các hoạt động theo nhiều các khác nhau. Lĩnh hội được kiến thức, kỹ năng,
thái độ một cách tốt nhất. Đặc biệt tiết dạy này tôi nhận được sự đồng tình rất
cao của phụ huynh nhờ vào kết qủa hoạt động của trẻ. Hoạt động kể chuyện của
15


tôi đã được bạn bè đồng nghiệp học tập và ứng dụng tại các lớp trong nhà trường
phù hợp với độ tuổi.
2.4. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC, VỚI BẢN THÂN, ĐỒNG NGHIỆP VÀ NHÀ TRƯỜNG:

Sau khi áp dụng các biệp pháp trên tôi đã khảo sát kết quả đối với trẻ.
TT
1
2
3
4

Nội dung
Khả năng cảm thụ tác phẩm
Kỹ năng nghe
Kỹ năng đọc kể
Kỹ năng đóng kịch

TS
trẻ
30
30
30
30

TS
25
28
25
22

Kết quả
Đạt
Chưa Đạt
%
TS
%
83,3
5
16,7
93,3
2
6,7
83,3
5
16,7
73,3
8
26,7

Qua quá trình nghiên cứu và thực hiện các biện pháp trên khi cho trẻ làm
quen với tác phẩm văn học tôi đã thấy được những hiệu quả sau:
* Đối với trẻ:
- Hình thành và rèn cho trẻ một số đức tính tốt như: Ham hiểu biết, luôn
thích tìm tòi khám phá những điều mới lạ.
- Rèn các kỹ năng: Ghi nhớ, chú ý, quan sát, lắng nghe và phát triển tư
duy lô gíc, phát triển ngôn ngữ, óc quan sát phán đoán cho trẻ.
- Qua bài học trẻ biết học tập những nhân vật hiền lành chăm chỉ biết
tránh xa những nhân vật tham lam độc ác.
* Đối với giáo viên:
- Mở rộng tầm hiểu biết và nâng cao kiến thức cho các cô.
- Cô học được cách làm việc cùng trẻ có hiệu quả
- Cô được làm quen với công nghệ thông tin hiện đại và đã, đang từng
bước làm chủ công nghệ thông tin đó. Qua công nghệ thông tin cô truyền thụ
được đến trẻ tất cả những nội dung giáo dục không chỉ bằng lời nói mà còn bằng
hình ảnh minh hoạ, âm thanh, tiếng động một cách sống động và trung thực.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

a. Kết luận
Làm quen với một số lượng tác phẩm văn học đáng kể trẻ nhận biết được
sự khác nhau về nội dung và hình thức giữ các loại thể thơ, truyện, phân biệt được
hình tượng nghệ thuật với hiện thực; hình thành một số khái niệm như: Thơ,
truyện, nhân vật, hình ảnh. Qua tác phẩm văn học trẻ quen dần tính chất nhiều
nghĩa và tinh luyện của ngôn ngữ văn học dần dần tiến tới hiểu được nghĩa thực
đến nghĩa bóng, từ nghĩa văn cảnh đến ý tưởng nhà văn muốn truyền đạt.
Qua quá trình nghiên cứu và thực hiện các biện pháp trên vào việc dạy trẻ
làm quen tác phẩm văn học để phát triển ngôn ngữ cho trẻ tôi đã rút ra những
bài học kinh nghiệm sau:
- Cô giáo phải đi sâu nghiên cứu để tạo ra được môi trường tốt cho trẻ
hoạt động một cách tích cực nhất, biết tạo cảm xúc cho trẻ khi làm quen tác
phẩm văn học.
16


- Thường xuyên trò chuyện với trẻ, khơi gợi trẻ đặt tên cho nội dung vừa
trò chuyện hoặc tóm tắt ngắn gọn những điều vừa trò chuyện.
- Khuyến khích trẻ nói những ý nghĩ của trẻ qua nội dung hay chủ điểm
nào đó nhằm giúp trẻ luyện cách trình bày, diễn đạt ý.
- Cho trẻ tham quan, hướng dẫn từ quan sát sự vật, hiện tượng nhằm mở
rộng vốn hiểu biết cho trẻ; kết hợp đàm thoại để trẻ hiểu sâu bản chất của sự vật,
hiện tượng và nói lên nhận xét của mình.
- Mở rộng vốn từ cho trẻ và khuyến khích trẻ sử dụng vốn từ trẻ học
được trong các hoạt động khác nhau, đặc biệt qua các trò chơi ngôn ngữ, trò
chuyện, đàm thoại giữa cô với trẻ, trẻ với trẻ.
b. Kiến nghị:
* Đối với nhà trường:
Cần có kế hoạch chỉ đạo cụ thể để bồi dưỡng cho giáo viên còn những mặt
hạn chế. Tạo điều kiện để cho giáo viên được đi tham quan học hỏi các giờ dạy tốt
tại các trường điểm trong huyện để giáo viên có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy.
Nên tổ chức các hội thi cho giáo viên về năng lực kể chuyện, đọc thơ hàng
năm trong nhà trường.
* Đối với phòng giáo dục:
- Cung cấp thêm các tài liệu, tập san có liên quan đến môn học, tham khảo
những kinh nghiệm hay của huyện bạn, tỉnh bạn để giáo viên nâng cao tay nghề.
- Cần có nhiều tiết dạy mẫu trong huyện, tiếp tục mở các lớp chuyên đề về
“Làm quen với tác phẩm văn học”.
Những biện pháp tôi đã đưa ra rất khả thi, nó rất cần thiết và có tác
động to lớn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục trẻ tại trường. Tôi rất
mong nhận được sự góp ý, bổ sung của các chị em đồng nghiệp, của các cấp
lãnh đạo và hội đồng xét duyệt để đề tài sáng kiến kinh nghiệm của tôi được
hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

HIỆU TRƯỞNG

Hoằng Quý, ngày 06 tháng 5 năm
2019

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của tôi
viết , không sao chép của người khác. Nếu sai
tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
NGƯỜI VIẾT SÁNG KIẾN

Lê Thị Tình
Nguyễn Thị Hoài Thương

17


Tài liệu tham khảo
TT
Tên tài liệu
Tác giả
1
Chương trình chăm sóc và Bộ giáo dục và đào tạo
giáo dục trẻ 3 – 4 tuổi
2 Module MN 1A: Giáo dục
phát triển ngôn ngữ cho
trẻ.
3
4
5

6

7
8

Module MN 7: Thiết kế và
sử dụng giáo án điện tử.
Chương trình giáo dục Bộ giáo dục và đào tạo
mầm non
Các hoạt động phát triển Bộ giáo dục và đào tạo
ngôn ngữ của trẻ mầm non
(Theo Chương trình giáo
dục mầm non mới.

Nhà xuất bản
Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam
Dự án tăng cường
khả năng sẳn sàng
đi học cho trẻ mầm
non

Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam
Nhà xuất bản giáo
dục Việt Nam.

Tổ chức hoạt động phát Bộ giáo dục và đào tạo Nhà xuất bản giáo
triển ngôn ngữ cho trẻ
dục Việt Nam.
mầm non theo hướng tích
hợp
Tham khảo qua các tập
san
Tham khảo qua mạng
Internet.

18


MỤC LỤC
STT

N ỘI DUNG

TRANG

PHÒNG
1. MỤC
LỤC GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ TRUNG
1. MỞ ĐẦU TRƯỜNG MẦM NON HÀ LĨNH
1–3
1.1. Lý do chọn đề tài
1-2
1.2. Mục đích nghiên cứu
2
1.3. Đối tượng nghiên cứu
2
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2-3
1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
3
2
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
3 – 19
2.1. CƠ SỞ LÝSÁNG
LUẬN KIẾN
CỦA SKKN
3-4
KINH NGHIỆM
2.2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
4
TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SKKN.
ĐỀ TÀI:
Thực
trạng
chungNÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
3 - CHO
4
MỘTa.SỐ
BIỆN
PHÁP
Thực trạng
với giáo
viên
4 TIẾT
TRẺ 3b.TUỔI
LÀMđối
QUEN
TÁC
PHẨM VĂN HỌC THÔNG QUA
CHUYỆN
c. Thực trạng đối với phụKỂ
huynh
4
d. Thực trạng đối với học sinh
4-5
2.3. CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT
5
VẤN ĐỀ
Các giải pháp
Giải pháp 1: Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của trẻ.
5–6
6
Giải pháp 2: Tổ chức hoạt động lấy trẻ làm trung tâm.
6–7
Giải pháp 3: Rèn luyện giọng nói và sử dụng ngông ngữ.
Giải pháp 4: Làm quen với văn học ở mọi lúc mọi nơi
7-8
Giải pháp 5: Trang trí lớp, làm đồ dùng trực quan tạo
8 – 10
Người
thực
hiện:
Đinh
Thị
Sâm
môi trường văn học.
Chức
vụ:
Giáo
10 – 13
Giải pháp 6:Ứng
dụng
công
nghệviên
thông tin.
Đơn vị công tác: Trường Mầm Non Hà Lĩnh
13 – 14
Giải pháp 7: Sân khấu trong cuộc sống trẻ.
SKKN thuộc Môn: Văn học
Giải pháp 8: Phối kết hợp với các bậc cha mẹ trẻ nhằm 14 – 15
nâng cao chất lượng cho trẻ làm quen với tác phẩm văn
học.
15 - 19
2.4. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
3
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
19 - 20
3.1. Kết luận
19 - 20
3.2. Kiến nghị
20
4
Tài liệu tham khảo
21
1

19
HÀ LĨNH NĂM 2016


20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×