Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp giúp học sinh viết đoạn văn ngắn trong phân môn tập làm văn lớp 2

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP
GIÚP HỌC SINH VIẾT ĐOẠN VĂN NGẮN
TRONG PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN LỚP 2

Người thực hiện: Hàn Thị Hòa
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thiệu Dương
SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Tiếng Việt

THANH HOÁ NĂM 2019


1. MỞ ĐẦU:
1.1. Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm:
Đối với người Việt Nam chúng ta, Tiếng Việt rất quan trọng trong cuộc

sống, giao tiếp, học tập và sinh hoạt. Trong trường Tiểu học, môn Tiếng Việt có
ý nghĩa hết sức quan trọng. Môn Tiếng Việt chiếm nhiều thời gian nhất và là cơ
sở, là phương tiện để học các môn học khác.
Tập làm văn là một phân môn có vị trí đặc biệt trong chương trình Tiếng
Việt. Đây là một phân môn mang tính chất thực hành tổng hợp, sáng tạo và
mang đậm dấu ấn cá nhân. Phân môn Tập làm văn góp phần bổ sung kiến thức
đồng thời cùng các môn học khác rèn luyện tư duy, phát triển ngôn ngữ và hình
thành nhân cách cho học sinh. Nó có khả năng hàng đầu trong việc rèn cho học
sinh nói và viết đúng tiếng Việt.
Phân môn Tập làm văn là phân môn tổng hợp toàn bộ kiến thức đã học ở
các phân môn: Tập đọc, Tập viết, Chính tả, Kể chuyện, Luyện từ và câu. Kỹ
năng viết một đoạn văn ngắn là yêu cầu cơ bản, khá trọng tâm ở phân môn Tập
làm văn lớp 2.
Bản thân tôi đã từng có rất nhiều năm giảng dạy ở lớp 2. Qua quá trình
giảng dạy, tôi thấy kiểu bài viết đoạn văn ngắn là một rất yêu cầu rất khó đối với
học sinh lớp 2. Thứ nhất, vì đây là loại bài hoàn toàn mới đối với học sinh lớp 2.
Ở lớp 1 các em mới chỉ tập nói, viết những câu đơn giản, riêng lẻ theo nội dung,
theo chủ đề bài học hoặc tìm tiếng có âm vần vừa học. Nhưng đến lớp 2, các em
phải viết biết đoạn văn từ 3 đến 5 câu kể về một việc đơn giản hoặc tả sơ lược về
người, vật xung quanh các em. Thứ hai, do ở lứa tuổi của các em vốn kiến thức
và hiểu biết còn hạn hẹp. Các em chưa hiểu sâu về nghĩa các từ ngữ và bản chất
của câu, nên khi viết một đoạn văn các em thường bộc lộ các yếu điểm về vốn từ
và kỹ năng diễn đạt. Bởi vậy kết quả bài văn còn rất hạn chế.
Mặt khác, do đặc điểm tâm lí học sinh lớp 2 thường hay tò mò, thích cái
mới, cái lạ, dễ nhàm chán trong các hoạt động kéo dài. Bên cạnh đó, các em rất
hiếu động, hay bắt chước, dễ thích nghi với môi trường sinh hoạt ở trường, lớp.
Đây là điều kiện tốt để giáo viên tạo sự hứng thú cho các em. Nếu hàng ngày
đến trường, các em được hoạt động nhóm, được cùng bạn bè tham gia chơi các
trò chơi học tập ... được thầy cô ân cần chỉ bảo, quan tâm, tạo sự ham thích cho
các em trong học tập sẽ là động lực thúc đẩy việc học, nâng cao được khả năng
tiếp thu và thực hành thành các kĩ năng, kĩ xảo. Từ đó giúp các em học tập tiến
bộ hơn.
2


Vì vậy tôi đã mạnh dạn đề xuất sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp
giúp học sinh viết đoạn văn ngắn trong phân môn Tập làm văn lớp 2”
1.2. Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu, đề xuất những biện pháp giúp học sinh lớp 2 viết đoạn văn ngắn
trong phân môn Tập làm văn.
- Trao đổi với đồng nghiệp một vài kinh nghiệm, mong được lắng nghe ý kiến
đóng góp của đồng nghiệp giúp bản thân có phương pháp dạy học tốt hơn .
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
Để hướng dẫn học sinh viết đoạn văn ngắn nhằm phát huy tính tích cực
của người học, cần nghiên cứu kĩ các nội dung sau:
- Mục tiêu của việc luyện viết đoạn văn ngắn cho học sinh lớp 2.
- Nắm chắc trọng tâm chương trình môn học thông qua nội dung sách giáo khoa,
vở bài tập, các loại sách tham khảo Tiếng Việt lớp 2.
- Nội dung, phương pháp dạy Tập làm văn lớp 2.
- Điều tra tình hình thực tiễn những vấn đề có liên quan đến sáng kiến kinh
nghiệm.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
a. Phương pháp quan sát:
- Quan sát học sinh học tập trên lớp.
- Quan sát lời nói, cách ứng xử của học sinh với bạn bè và mọi người xung
quanh ở mọi nơi, mọi lúc.
- Đánh giá kết quả học tập của học sinh thông qua lời phát biểu của học sinh
trong tiết Tập làm văn của mỗi tiết học, qua các bài tập thực hành.
b. Phương pháp phân tích - tổng hợp:
Qua việc quan sát, theo dõi trong giờ học và các hoạt động giao tiếp của học
sinh, tôi đã ghi chép, thu thập được và xử lí những thông tin ấy bằng cách phân
tích, tổng hợp. Như vậy sẽ đánh giá, nhận xét học sinh sát thực và cụ thể hơn.
c. Phương pháp thực hành luyện tập:
Phương pháp này giúp học sinh thường xuyên được thực hành luyện viết
đoạn văn trong tất cả các tiết học Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm
văn nói riêng. Nhờ đó khả năng viết đoạn văn của các em ngày được nâng cao
và hoàn thiện hơn. Rèn cho các em viết sao cho đúng yêu cầu bài tập, bài viết
trôi chảy, mạch lạc, câu văn thể hiện được tình cảm và suy nghĩ của mình.
1.5. Những điểm mới trong sáng kiến kinh nghiệm:
3


Sáng kiến kinh nghiệm này có nhiều đổi mới trong cả nội dung lẫn hình thức.
Phân môn Tập làm văn có khả năng hàng đầu trong việc rèn cho học sinh nói và
viết đúng Tiếng Việt. Việc tìm ra các biện pháp giúp học sinh lớp 2 viết đoạn
văn ngắn trong phân môn Tập làm văn đã được nhiều giáo viên quan tâm, tìm
tòi, nghiên cứu. Có nhiều giáo viên viết sáng kiến kinh nghiệm về nội dung này
nhưng các biện pháp còn chung chung, chưa rõ ràng, cụ thể; chưa biết lồng
ghép, tích hợp phân môn Tập làm văn với các môn học khác để mở rộng kiến
thức cho học sinh. Xuất phát từ tình hình nêu trên và thực tế trong quá trình
giảng dạy, đồng thời ý thức được tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng viết đoạn
văn ngắn trong phân môn Tập làm văn cho học sinh là rất cần thiết nên tôi đã
tìm ra phương pháp giáo dục cụ thể, tìm ra những sáng kiến mới, hay và phù
hợp với đặc điểm tâm lý học sinh, sát với thực tiễn của từng nhóm đối tượng học
sinh trong lớp nhằm thực hành áp dụng, đúc rút, tích luỹ những kinh nghiệm để
nâng cao nghiệp vụ chuyên môn và góp phần giúp cho chất lượng giáo dục của
lớp, của trường ngày được nâng cao.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Phân môn Tập làm văn giúp học sinh có kỹ năng sử dụng Tiếng Việt được
phát triển từ thấp đến cao, từ luyện đọc cho đến luyện nói, từ luyện viết câu văn
đến đoạn văn và viết thành bài văn theo suy nghĩ của từng cá nhân. Tập cho các
em ngay từ nhỏ có những hiểu biết sơ đẳng đó cũng là rèn cho các em tính tự
lập, tự trọng. Hình thành cho các em biết rằng từ những việc nhỏ nhặt, tưởng
như không quan trọng đó sẽ trở thành những điểm tựa trở thành một con người
văn hóa trong tương lai. Hơn nữa, làm văn có nghĩa là tạo lập văn bản mà nhiệm
vụ chính của phân môn Tập làm văn là rèn luyện cho học sinh kỹ năng tạo lập
văn bản.
Nội dung chương trình phân môn Tập làm văn ở lớp 2 đặc biệt chú trọng
tới rèn kỹ năng viết đoạn văn cho học sinh. Học sinh phải viết đoạn văn từ 1 đến
3 câu rồi cao hơn từ 4 đến 5 câu kể về một sự kiện đơn giản hoặc tả sơ lược về
người, vật xung quanh các em. Kiến thức trong sách giáo khoa được sắp xếp
một cách hợp lý, đi từ đơn giản đến phức tạp, từ cách nhìn thực tế đến vận dụng
vốn sống, vốn hiểu biết để viết đoạn văn. Học sinh được dạy các kỹ năng kể, tả
đơn giản. Song không phải kể lại hoặc tả lại câu chuyện, cảnh vật theo nội dung
bài tập đọc mà các em kể, tả những gì diễn ra trong cuộc sống xung quanh. Điều
4


này đã phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong viết đoạn
văn. Cụ thể là:
- Thực hành về các nghi thức lời nói tối thiểu: chào hỏi, tự giới thiệu, cảm ơn,
xin lỗi,…
- Thực hành về kỹ năng phục vụ học tập và đời sống hàng ngày như: viết bản tự
thuật ngắn, lập danh sách học sinh, tra mục lục sách, …
- Thực hành rèn kỹ năng diễn đạt (nói, viết) như: kể về người thân, kể ngắn về
con vật, tả ngắn về bốn mùa, tả biển, tả cây cối, tả ngắn về Bác,…
- Thực hành rèn kỹ năng nghe.
Tập làm văn là sản phẩm thể hiện rõ vốn hiểu biết, đời sống, trình độ văn
hoá của học sinh. Hiệu quả của việc dạy học không chỉ phụ thuộc vào nội dung
dạy học mà còn phụ thuộc vào phương pháp dạy học. Đặc biệt Tập làm văn là
phân môn mà các em ở Tiểu học học yếu hơn các môn khác. Bởi vậy người giáo
viên phải có nhiệm vụ giúp các em nối tiếp một cách tự nhiên các bài khác nhau
trong môn Tiếng Việt như Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, kể chuyện...
nhằm giúp các em có năng lực nói, viết tốt. Để cung cấp và giúp các em có
những kiến thức tiếng Việt, người giáo viên phải có phương pháp dạy Tập làm
văn cụ thể, lô - gic thông qua các tiết dạy.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
a. Về giáo viên:
Trường Tiểu học Thiệu Dương nơi tôi công tác có đội ngũ giáo viên được
đào tạo chuẩn hoá về chuyên môn, đa số đều nhiệt tình giảng dạy, yêu nghề, mến
trẻ. Nhà trường có cơ sở vật chất tương đối đầy đủ phục vụ cho việc dạy và học.
Tuy nhiên trong việc tổ chức dạy học phân môn Tập làm văn vẫn còn bộc lộ
một số hạn chế:
- Giáo viên còn lúng túng khi vận dụng phương pháp dạy Tập làm văn. Cách dạy
của giáo viên có phần khuôn mẫu, còn lệ thuộc một cách máy móc vào sách giáo
viên.
- Về hình thức tổ chức dạy học: còn đơn điệu, chưa linh hoạt, sáng tạo. Vì vậy
chưa tạo được hứng thú học tập cho HS.
- GV chưa thật chú ý đến cách liên kết các phân môn khác với phân môn Tập làm
văn. Đặc biệt việc cung cấp vốn từ, việc viết câu, liên kết câu... trong tiết Luyện
từ và câu.
- GV chưa chủ động trong việc xác định trọng tâm của giờ học cũng như chưa
linh hoạt trong việc tập trung vào những kĩ năng còn yếu của HS lớp mình.
5


- Chưa rèn cho học sinh có thói quen đọc các bài văn mẫu, văn hay từ đó rút ra ý
hay. Một số giáo viên còn cho học sinh học thuộc những bài văn mẫu, điều đó đã
làm mất đi sự sáng tạo và óc tưởng tượng phong phú của học sinh.
- Việc chấm chữa bài của một số giáo viên còn qua loa, chưa chỉ ra lỗi sai phổ
biến của học sinh và chưa hướng dẫn cách chữa lỗi cho các em nên lỗi sai
thường lặp đi lặp lại nhiều lần như: lỗi về diễn đạt, lỗi viết câu sai ngữ pháp, lỗi
dùng từ...
b. Về học sinh :
* Thuận lợi:
Năm học 2018 - 2019 tôi được phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp 2A.
Lớp có 37 HS trong đó có 18 em nam, 19 em nữ. Học sinh chủ yếu là con gia
đình nông nghiệp. Nhìn chung các em khá ngoan, biết nghe lời cô giáo, rất thích
tham gia các hoạt động học tập.
* Khó khăn:
- Địa bàn xã Thiệu Dương là vùng sông nước nên những khi thời tiết không
thuận lợi, việc đến trường của các em gặp không ít trở ngại.
- Một số HS chưa chủ động, tích cực học tập, chỉ học khi có cô nhắc nhở.
- Một số học sinh còn nhút nhát, thiếu tự tin trong học tập, nói quá nhỏ, nói nhát
gừng, chưa thành câu, ít giao tiếp với bạn xung quanh.
- Một số học sinh chỉ thích các bài tập làm miệng không thích các bài tập viết
đoạn văn.
- Vốn từ của các em còn rất nghèo nàn do các em lười đọc sách báo hoặc ít tìm
tòi, sưu tầm những tài liệu phục vụ cho kiến thức có liên quan đến môn học.
- Kỹ năng diễn đạt bằng ngôn ngữ viết của học sinh còn hạn chế do các em chưa
nhận ra sự khác biệt giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, còn sử dụng từ địa
phương trong bài làm.
c . Về phụ huynh:
- Người dân ở đây chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp và buôn bán nhỏ. Công
việc bận rộn nên có rất ít thời gian quan tâm đến việc học hành của con cái.
- Một số phụ huynh đi làm ăn xa, một số không biết chữ, kinh tế khó khăn nên
giao phó việc học hành của con em cho thầy cô và nhà trường. Mà các em còn
nhỏ, ý thức tự giác chưa cao, sẽ quên nhiệm vụ học ở nhà nếu không có sự dìu
dắt của cha mẹ.
- Một số phụ huynh chưa mua đủ đồ dùng học tập cho con.
d. Kết quả khảo sát đầu năm phân môn Tập làm văn:
6


Sau khi dạy xong bài Tập làm văn tuần 8: Em hãy viết một đoạn văn ngắn từ 3
đến 5 câu kể về cô giáo lớp 1 của em, tôi tiến hành cho HS khảo sát.
Kết quả khảo sát như sau:
Sĩ số
37 em

Hoàn thành Tốt
Số lượng
Tỉ lệ
5 em
13,5 %

Hoàn thành
Số lượng
Tỉ lệ
25 em
67,6 %

Chưa hoàn thành
Số lượng Tỉ lệ
7 em
18,9 %

2.3. Những giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
2.3.1. Phân loại đối tượng học sinh, lên kế hoạch giảng dạy, bồi dưỡng, phụ
đạo:
Ngay từ khi mới nhận lớp, việc làm đầu tiên tôi xác định là phải phân loại
đối tượng học sinh. Tôi làm một quyển sổ theo dõi, đánh giá chất lượng phân
môn Tập làm văn của học sinh. Tôi ghi chép những điều đã quan sát được, ghi
những hành vi, lời nói giao tiếp, ý thức học tập, ghi nhận xét những thói quen tốt
và những hạn chế, khiếm khuyết của từng học sinh trong lớp. Từ đó tôi dễ dàng
phân loại khả năng môn học này của từng học sinh trong lớp và có kế hoạch bồi
dưỡng nâng cao cho học sinh có năng khiếu, rèn kĩ năng cho những học sinh
chưa đạt theo yêu cầu. Tôi chọn những câu hỏi gợi mở sao cho phù hợp với từng
đối tượng để các em phát huy hết khả năng của mình trong phần luyện viết của
tiết Tập làm văn. Tôi thường xuyên quan sát, phản ánh trung thực tình trạng của
học sinh. Từ đó động viên, uốn nắn chỉ bảo cho các em biết cách thực hiện yêu
cầu bài học đúng và có hiệu quả hơn.
2. 3.2. Hướng dẫn học sinh nắm vững các bước khi làm bài tập làm văn:
- Để có kĩ năng viết tốt đoạn văn, người GV cần rèn cho học sinh kĩ năng nói
gãy gọn, trọn vẹn ý, phải hướng cho học sinh tư duy, phân tích tổng hợp, sắp
xếp…
- Việc rèn cho học sinh viết đoạn văn cần tạo điều kiện phát huy tính tích cực,
chủ động của học sinh. Phải làm sao cho mỗi đoạn văn là một cơ hội phát triển
tư duy cho học sinh đưa từ việc quan sát, phân tích từ thực tế.
- Học sinh tập viết đoạn văn là tự viết lời nói, văn bản. Vì vậy giáo viên cần dựa
vào các bước sau để hướng dẫn học sinh làm bài tập.
* Bước 1: Đọc đề bài để nắm vững yêu cầu bài tập:
- Học sinh xác định yêu cầu bài tập.
- Giáo viên phân tích yêu cầu.
* Bước 2: Định hướng cách viết cho HS (qua hệ thống câu hỏi gợi ý):
7


- Tả, kể về ai? (cái gì)?
- Viết mấy câu?
- Viết với tình cảm như thế nào?
* Bước 3: Hướng dẫn học sinh sắp xếp ý:
- Dù mới là học sinh lớp 2, bài viết chưa yêu cầu cao với bố cục một bài văn như
các lớp trên cũng chưa có khái niệm lập dàn ý. Song với đoạn viết từ 3 đến 5 câu
với 2 đến 3 ý cũng cần sự sắp xếp ý. Trong học kỳ I học sinh kể về những người
thân thiết với mình như: cô giáo, thầy giáo, ông, bà, anh, chị, em. Do đó giáo
viên nên gợi ý học sinh trước tiên tự giới thiệu về người đó (tên là gì, mối quan
hệ với bản thân của HS đó như thế nào?).
- Tiếp đó là hình dáng, tính cách, công việc hoặc ý thích của người kể và cuối
cùng là tình cảm của học sinh đối với người mình kể. Sang học kỳ II, học sinh
được tả một số con vật, tả ngắn về bốn mùa, tả ngắn về biển, tả ngắn về cây cối,
…cảnh vật xung quanh mình. Đầu tiên cần gợi mở cho học sinh giới thiệu về vật
(cảnh vật ) định tả. Chi tiết nổi bật của cảnh, vật đó. Cuối cùng nêu lên tình cảm
của bản thân đối với cảnh vật và con vật đó.
* Bước 4: Hướng dẫn học sinh phát triển đoạn văn thông qua làm miệng:
- Khi thực hiện phần này học sinh bộc lộ rất rõ nhược điểm về tư duy, cách viết
câu, sử dụng từ. Giáo viên không nên làm thay cho học sinh mà nên chuẩn bị
một số tình huống, một số cách dùng từ, một số cách liên kết phù hợp với nội
dung đoạn viết để học sinh tham khảo và vận dụng viết bài.
- Cho học sinh làm miệng đoạn văn.
* Bước 5: Học sinh viết đoạn văn hoàn chỉnh vào vở:
Ví dụ: Tuần 8: Mời, nhờ, yêu cầu, đề nghị. Kể ngắn theo câu hỏi.
Bài tập 2: Kể về cô giáo lớp 1 của em theo các câu hỏi gợi ý.
+ Bước 1: HS xác định yêu cầu: Kể về cô giáo lớp 1.
Giáo viên phân tích yêu cầu: kể về cô giáo lớp 1 của em.
+ Bước 2: Định hướng cách làm bài cho HS:
. YC HS xem lại bài tập đọc “ Người mẹ hiền ”(SGK tập 1, trang 63, 64); “ Bàn
tay dịu dàng ”(SGK, tập 1, trang 66); chú ý đến thái độ, tình cảm của cô giáo
(thầy giáo) với học sinh biểu hiện qua lời nói, việc làm nào?
. Nhớ lại: Tên cô giáo (thầy giáo) dạy em ở lớp 1; tình cảm của cô giáo (thầy
giáo) đối với em và các bạn trong lớp; điều mà em đáng nhớ nhất ở cô giáo (thầy
giáo); tình cảm của em đối với cô giáo (thầy giáo).
(Điều đáng nhớ nhất có thể là: Khi em mắc khuyết điểm, cô giáo (thầy giáo) ân
8


cần khuyên bảo em như thế nào? Lúc em viết sai, cô giáo (thầy giáo) đã uốn nắn
cho em từng nét chữ như thế nào?...)
+ Bước 3: Sắp xếp các ý ( câu hỏi gợi ý của bài này đã sắp xếp đúng trình tự ).
+ Bước 4: Làm bài miệng:
Các em lần lượt trả lời từng câu hỏi trong SGK để kể về cô giáo (thầy giáo)
của mình. Chú ý dùng từ đúng, nói thành câu đủ ý và thể hiện được tình cảm
chân thành của em đối với cô giáo (thầy giáo).
a. Cô giáo (hoặc thầy giáo) lớp một của em tên là gì ?
- Cô giáo lớp Một của em tên là cô Hà.
- Cô Minh Châu là cô giáo dạy em hồi lớp Một.
b. Tình cảm của cô (hoặc thầy) đối với học sinh như thế nào?
- Cô rất thương yêu và quan tâm, chăm sóc chúng em chu đáo.
- Cô luôn luôn chăm lo cho chúng em từng li, từng tí.
c. Em nhớ nhất điều gì ở cô (hoặc thầy)?
- Em nhớ nhất lần đầu tiên cô cầm tay giúp em viết từng nét chữ.
- Em nhớ mãi lần em bị ốm sốt cô đã ân cần đưa em xuống phòng y tế của nhà
trường.
d. Tình cảm của em đối với cô giáo (hoặc thầy giáo) như thế nào?
- Em sẽ nhớ mãi cô Minh Châu.
- Dù đã lên lớp hai, không được học cô Hà nữa, nhưng hình ảnh cô vẫn còn in
đậm trong tâm trí em.
+ Bước 5: Học sinh viết đoạn văn hoàn chỉnh vào vở.
Bài tập 3: Dựa vào các câu trả lời ở bài tập 2, em hãy viết một đoạn văn
khoảng 4, 5 câu nói về cô giáo (hoặc thầy giáo) cũ của em.
- Nhớ lại những câu trả lời của em theo các câu hỏi ở bài tập 2 để chuẩn bị làm
bài (chú ý tiếp thu những ý kiến nhận xét hay sửa chữa của cô giáo và các bạn
trên lớp nếu có).
- Viết nháp từng câu rồi sửa lại trước khi chép vào vở.
- Chú ý lời kể cần tự nhiên, chân thực, bộc lộ tình cảm của em; dùng từ, đặt câu
rõ ý; các ý cần gắn với nhau sao cho mạch lạc. Viết xong, đọc lại bài, phát hiện
và sửa những chỗ sai (về nội dung, từ, câu, chính tả).
Ví dụ: Bài văn viết về cô giáo lớp 1của HS Nguyễn Lê Hà My lớp tôi:

9


2.3.3. Giúp học sinh có hệ thống câu hỏi gợi ý rõ ràng:
+ Với mỗi đề bài khác nhau giáo viên cần chuẩn bị một hệ thống câu hỏi rõ
ràng, phù hợp, dễ hiểu với học sinh.
+ Tôi đưa ra hệ thống câu hỏi gợi ý trong 1 số dạng bài như sau:
* Bài viết về một mùa trong năm:
- Em thích mùa nào nhất trong năm?
- Mùa đó bắt đầu từ tháng nào, kết thúc vào tháng nào?
- Thời tiết, mặt trời, mưa, nắng, gió như thế nào?
- Cây cối, hoa lá trong vườn ra sao?
- Em thường làm gì vào dịp đó?
* Bài viết về người thân :
- Người thân của em là ai?
- Năm nay người ấy bao nhiêu tuổi? Làm công việc gì?
- Tình cảm của người ấy đối với em ra sao?
- Em sẽ làm gì để đền đáp sự quan tâm của người ấy đối với em?
- Em có yêu quý người đó không?
* Bài viết về một loài hoa:
- Loài hoa ấy tên là gì? Em thấy ở đâu?
- Hoa có những đặc điểm gì (màu sắc, các bộ phận: cánh hoa, nhụy, hương
thơm,…)
- Vì sao em thích loài hoa ấy?
* Bài viết về một việc tốt mà em hoặc bạn em đã làm:
- Em ( bạn em) đã làm việc tốt khi nào? Ở đâu? Đó là việc gì?
- Em ( bạn ấy) đã làm như thế nào?
10


- Em suy nghĩ gì khi làm (thấy bạn làm) việc tốt đó?
2.3.4. Hướng dẫn học sinh cách quan sát:
- Kỹ năng quan sát rất cần cho học sinh khi viết văn: Quan sát trên lớp theo gợi
ý, hướng dẫn của giáo viên hoặc tự quan sát khi chuẩn bị bài ở nhà. Giáo viên
cần khai thác kỹ tranh ảnh, hình ảnh, tập trung quan sát đặc điểm nổi bật của đối
tượng, mục đích là giúp HS tránh được kiểu kể theo liệt kê. Bên cạnh đó, tôi
cũng hướng dẫn HS cách quan sát bằng các giác quan để cảm nhận một cách có
cảm xúc về sự vật.
- Để làm được dạng bài này các em phải biết quan sát các đối tượng khác nhau:
một bức tranh, một cây cối, một con vật. Biết quan sát tức là các em dùng các
giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, da) để nhận biết đặc điểm của bức tranh hay con
vật, cây cối.(Hình dạng của chúng thế nào? Chúng có màu sắc, mùi vị gì? Các
hoạt động của chúng ra sao?)
- Khi quan sát, đầu tiên các em phải có một cái nhìn chung để xác định được
mình đang phải quan sát gì? quan sát cảnh gì ? quan sát con gì? Tiếp theo các
em phải biết cách chia đối tượng thành nhiều phần rồi lần lượt quan sát theo
nhiều góc độ.
- Quan sát tranh, sau cái nhìn chung ban đầu, có thể quan sát từ trái sang phải, từ
trên xuống dưới; quan sát từ cảnh ở gần đến những cảnh ở xa; quan sát những
cảnh, nhân vật chính rồi đến cảnh, nhân vật phụ.
Chẳng hạn:
+ Quan sát tranh về cảnh biển:
Quan sát chung cảnh biển
Quan sát từ cảnh gần (sóng biển) đến cảnh xa (những con thuyền, chim, mây,
ông mặt trời).
+ Khi quan sát con vật, các em nhớ quan sát hình dáng bên ngoài, từ hình dáng
chung đến đầu, mình, chân, đuôi… con vật: tiếp đó em quan sát hoạt động của
chúng.
+ Khi quan sát cây cối, các em cũng cần quan sát bao quát toàn cây rồi quan sát
tán cây, lá, hoa, quả, thân và gốc cây.
- Cần lưu ý tập trung quan sát những bộ phận chính, lướt qua những bộ phận
phụ, nên tập trung vào những gì có khả năng gây sự chú ý mạnh mẽ, những gì là
đặc điểm riêng của đối tượng quan sát. Điều quan trọng là không chỉ quan sát
bằng giác quan mà bằng cả tấm lòng, quan sát bằng cả tình yêu thiên nhiên, loài
vật. Sau khi đã quan sát, em phải biết dùng lời để nêu những nhận xét về những
11


gì mà mình quan sát được, tập trung nói về những gì gây ấn tượng nhất.
- Để định hướng cho các em quan sát cũng như nêu nhận xét của mình, bài Tập
làm văn có một số câu hỏi gợi ý. Vì vậy, các em sẽ lần lượt trả lời từng câu hỏi
này. Đầu tiên, các em gắng trả lời cho đúng điều câu hỏi yêu cầu. Sau đó, các em
nên sửa lại lời bằng cách chọn lọc các từ ngữ, sử dụng các từ chỉ hình ảnh, màu
sắc… để câu trả lời ngày càng hay hơn, có ý riêng và cách diễn đạt riêng của
mình hơn. Các em nhớ câu trả lời hay không phải là câu trả lời chỉ nêu được
chính xác đặc điểm của đối tượng được quan sát mà còn thể hiện được thái độ,
tình yêu của các đối tượng với sự vật.
- Yêu cầu các em vừa trả lời những ý các em cần nói. Nhưng muốn nói (viết)
thành đoạn, thành bài, lại phải nói (hoặc viết) liên tục nhiều câu làm sao để các
câu gắn liền với nhau.
2.3.5. Hướng dẫn học sinh cách sử dụng từ ngữ khi viết văn:
- Với lứa tuổi của các em học sinh lớp 2, việc sử dụng từ ngữ trong bài tập làm
văn còn nhiều hạn chế. Hầu hết học sử dụng từ ngữ chưa phù hợp, chưa chính
xác. Vì vậy, giáo viên cần cung cấp giúp các em lựa chọn, phân tích để sử dụng
từ ngữ cho hợp lý.
- Bên cạnh đó, GV cũng cần giới thiệu, cung cấp thêm các từ đồng nghĩa phù
hợp với bài văn.
Chẳng hạn, khi viết đoạn văn kể về người thân thì HS sẽ có nhiều bài làm khác
nhau, GV cần giúp HS chọn lựa từ ngữ cho phù hợp, khi kể về bố là thầy giáo
thì từ ngữ sử dụng phải khác với bài viết bố là bộ đội; viết về tình cảm của em
đối với cha mẹ, ông bà thì từ ngữ dùng phải khác với viết về tình cảm của mình
đối với bạn bè; viết về cảnh biển buổi sáng có thể dùng các từ đồng nghĩa như:
bình minh, hừng đông, sớm mai; viết về gia đình có các từ như đoàn tụ, sum
họp, quây quần…; để diễn tả mặt trời mùa hè có các từ: chói chang, gay gắt, đỏ
rực, như mâm lửa khổng lồ, như quả cầu lửa…GV cần chuẩn bị kỹ với mỗi bài
để hướng dẫn HS vận dụng các từ ngữ thích hợp vào bài viết.
+ Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh cách chọn từ ngữ sao cho phù hợp với
văn cảnh, với yêu cầu bài tập. Bên cạnh đó giáo viên cũng cần nhắc nhở học
sinh lưu ý giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết; không sử dụng từ ngữ địa
phương trong khi viết đoạn văn.
Ví dụ: - Khi viết đoạn văn kể về anh (chị, em) của mình, em Dương Thị Vân lớp
tôi đã viết như sau:
12


- Sau khi được cô giáo sửa lỗi, HS này đã hiểu vấn đề và từ đó không bao giờ bị
mắc lỗi như vậy nữa.
2.3.6. Hướng dẫn học sinh cách viết câu văn hay:
- Hướng dẫn HS viết câu theo các mẫu câu đã được học trong phân môn Luyện
từ và câu: “ Ai là gì?”, “ Ai làm gì?”, “ Ai thế nào?”
- Giáo viên khuyến khích HS dùng các câu văn có hình ảnh nhân hóa hoặc từ
ngữ so sánh sao cho phù hợp với câu văn cần miêu tả để bài văn sinh động hơn.
Chẳng hạn: Khi hướng dẫn học sinh làm bài kể ngắn về cây cối, GV có thể
hướng học sinh cách so sánh các bộ phận của cây và dùng các hình ảnh nhân
hoá để làm tăng tính sinh động, hấp dẫn cho đoạn văn. “Nhìn từ xa, cây bàng
trông như một cái ô xanh khổng lồ, lá bàng to như cái tai trâu,...”
2.3.7. Lập mạng từ chốt để dạy tốt dạng bài “kể ngắn”:
Chúng ta biết rằng tư duy trừu tượng của học sinh lớp 2 còn rất hạn chế. Việc
yêu cầu học sinh kể ngay một sự việc nào đó dù là ngắn cũng rất khó khăn với
các em. Bởi vì vốn từ của các em còn hạn chế và nhất là việc sắp xếp ý. Vì vậy
tôi tổ chức cho học sinh lập mạng từ chốt để phục vụ cho việc kể ngắn.
Ví dụ: Dạy bài Kể về gia đình em:
- Cuối tiết Tập làm văn trước, tôi dặn dò học sinh về nhà dựa vào câu hỏi gợi ý
lập mạng từ chốt (khoảng 4 – 5 từ). Trong tuần, trước khi học Tập làm văn, tôi
thường xuyên kiểm tra và nhắc nhở việc lập mạng từ chốt của học sinh.
- Ngoài việc tổ chức học sinh lập mạng từ chốt, tôi cũng lập một mạng từ chốt
và ghi vào bảng phụ để chuẩn bị cho tiết dạy. (Mạng từ chốt dạy bài Kể về gia
đình có 4 người là: bố, mẹ, chị và em; nông dân, cần cù, vui tính, học giỏi; yêu
quý, tự hào.)
13


- Đến giờ Tập làm văn, tôi cho các em cầm mạng từ chốt để kể. Đối với học sinh
khá giỏi, tôi khuyến khích các em thoát ly mạng từ chốt để kể tự nhiên hơn. Đối
với học sinh yếu, không lập được mạng từ chốt, tôi cho các em nhìn vào mạng
từ chốt của giáo viên để kể.
- Qua các tiết dạy, tôi thấy biện pháp này đạt hiệu quả tốt và thực sự rất cần thiết
vận dụng vào thực tế dạy học.
2.3.8. Hướng dẫn học sinh cấu trúc khi viết một đoạn văn:
Để giúp học sinh làm được một bài Tập làm văn đủ ý theo đúng yêu cầu
của đề bài, viết các câu văn rõ ràng, mạch lạc. Giáo viên cần giúp học sinh nắm
vững các bước khi viết đoạn văn, gồm:
- Câu mở đầu: Giới thiệu đối tượng cần viết. (Có thể diễn đạt bằng một câu.)
- Phát triển đoạn văn: Kể về đối tượng: Có thể dựa theo gợi ý, mỗi gợi ý có thể
diễn đạt 2,3 câu tùy theo năng lực học sinh.
- Câu kết thúc: Có thể viết một câu thường nói về tình cảm, suy nghĩ, mong ước
của em về đối tượng được nêu trong bài hoặc nêu ý nghĩa, ích lợi của đối tượng
đó đối với cuộc sống, với mọi người.
Ví dụ: Khi dạy bài: Tả ngắn về loài chim - Tuần 22, tôi hướng dẫn cho HS tả về
Chim bồ câu theo các bước:
Bước đầu GV đưa ra hệ thống câu hỏi gợi ý để dẫn dắt, gợi ý, hướng dẫn HS
viết được đoạn văn theo yêu cầu:
- Câu mở đầu : Giới thiệu về chim bồ câu.
Hỏi: Con vật em định tả là con vật gì?
Gợi ý trả lời: Loài chim mà em thích nhất là chim bồ câu.
- Phát triển đoạn văn: Tả về chim bồ câu
Hỏi: Hình dáng bên ngoài của nó ra sao (nó to hay nhỏ, lông nó màu gì)? Thói
quen của nó như thế nào ?
Gợi ý trả lời: Chim bồ câu là một loài chim rất đẹp và gần gũi với con người.
Lông nó màu trắng hoặc màu trắng pha đen. Chim bồ câu có đôi cánh rộng, bay
vút cao trên bầu trời. Bồ câu rất thích ăn vừng và lúa, nó di chuyển rất nhanh
nhẹn.
- Câu kết thúc: Tình cảm của em đối với loài chim này.
Hỏi: Em có thích con vật đó không? Hằng ngày em chăm sóc con vật đó như thế
nào?
Gợi ý trả lời: Em thích chim bồ câu vì chúng là những con vật hiền lành, dễ
thương. Hằng ngày em thường cho nó ăn và lấy nước cho nó uống.
14


Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần giúp cho HS hiểu về nhiều cách diễn
đạt để bài làm các em được phong phú, tránh tình trạng dạy học sinh viết theo
bài làm văn mẫu của GV và các bài văn mẫu trong sách. Cần chủ động hình
thành kĩ năng từng bước ở từng thời điểm thích hợp. Không nên áp đặt và đòi
hỏi các em phải thể hiện được ngay kĩ năng mới được hình thành. GV phải kiên
nhẫn, luôn ôn tập, củng cố và lặp lại kiến thức cho HS trong suốt năm học,
giúp HS có được nền móng tốt cho việc học Tập làm văn ở các lớp trên.
2.3.9. Tổ chức cho học sinh thực hành - luyện tập:
- Hình thức này giúp học sinh thường xuyên được thực hành luyện nói và viết
trong tất cả các tiết học Tập làm văn. Nhờ đó kĩ năng này của các em ngày được
nâng cao và hoàn thiện hơn. Rèn cho các em khả năng nói và viết qua các bài
tập trong một tiết học sao cho trôi chảy, mạch lạc, lời nói, câu văn thể hiện quá
trình quan sát, tư duy, sáng tạo và tình cảm của các em đối với đối tượng mà đề
bài yêu cầu.
- Để thực hiện tốt vấn đề này, GV nắm vững các dạng đề tập làm văn ở lớp 2 để
tổ chức cho HS luyện tập thực hành. GV cần hệ thống, lựa chọn, ghi nhớ các từ
ngữ phù hợp với đề tài để chuẩn bị cho bài tập làm văn sắp tới. Tôi luôn nói với
các em sự cần thiết phải lựa chọn những từ ngữ đã học và phù hợp để vận dụng
vào bài tập làm văn, khơi gợi và kích thích tinh thần học tập của các em.
Các bước thực hành:
* Làm miệng từng câu hỏi :
+ Tổ chức trả lời miệng từng câu hỏi:
Giáo viên tổ chức cho học sinh trả lời miệng từng câu hỏi bằng nhiều ý kiến
khác nhau trong nhóm, trong toàn lớp. Học sinh bổ sung, sửa chữa câu trả lời
của bạn. GV ghi các từ ngữ làm điểm tựa cho từng câu trả lời lên bảng (từ nối ý,
từ ngữ gợi hình ảnh).
Ví dụ: Bài Tập làm văn Tuần 25:
a. Tranh vẽ cảnh gì?
Gợi ý: - Tranh vẽ cảnh biển buổi sáng.
- Cảnh biển buổi sớm mai thật đẹp.
b. Sóng biển như thế nào?
- Sóng biển nhấp nhô từng đợt.
- Sóng biển dập dềnh.
c. Trên mặt biển có những gì ?
15


- Từng đoàn thuyền nối đuôi nhau chạy vào bờ cát.
- Mấy con thuyền đang căng buồm ra khơi đánh cá.
d. Trên bầu trời có những gì ?
- Mặt trời đỏ ối đang nhô lên, mấy đám mây bông bềnh trôi, từng đàn hải âu bay
lượn rập rờn.
- Mặt trời tỏa nắng rực rỡ, mây lững lờ trôi, đàn hải âu đang chao lượn trông thật
đẹp .
+ Hướng dẫn học sinh nhận xét, sửa chữa về từ, câu:
Khi nhận xét, sửa chữa những câu văn dùng từ chưa đúng, chưa phù hợp với đối
tượng kể, tả trong bài viết của HS, GV cần cung cấp và gợi ý để các em có thể
chọn từ phù hợp để thay thế các từ và câu văn cũ.
GV hướng dẫn HS nhận biết những vấn đề sau:
- Câu văn viết ra đã đủ hai bộ phận chưa: Bộ phận nào trả lời cho câu hỏi Ai?
( hoặc cái gì?/ con gì)?, bộ phận nào trả lời cho câu hỏi Là gì? (hoặc Làm gì?/
Thế nào? ( Đó chính là đảm bảo về hình thức cấu tạo.)
- Người đọc, người nghe có hiểu nội dung chưa? ( Đảm bảo về mặt nghĩa. )
Ví dụ: Khi học bài Tập làm văn tuần 10: Dựa theo lời kể bài 1 hãy viết một
đoạn văn ngắn ( từ 3 đến 5 câu) kể về ông bà và người thân của em.
Bài làm của học sinh Lê Văn Đạt: Nhà em có nuôi một ông nội đã lên 60
tuổi. Một hôm ông dẫn em đi chơi, ông bảo em mang bim bim ra ăn. Ông cho
em một lon nước ngọt, uống xong ông hỏi cháu có ăn xúc xích không? Em bảo
cháu không ăn. Thế là hai ông cháu đi về.
Qua bài viết trên, ta thấy học sinh viết theo ý hiểu bằng ngôn ngữ của mình
cho nên câu văn chưa giàu hình ảnh, đôi khi rất ngây thơ, ngộ nghĩnh và chưa
phù hợp, cách dùng từ chưa đúng.( yêu cầu HS chỉ ra những từ dùng chưa đúng:
nuôi, lên)
Tôi hướng dẫn học sinh cách sửa đoạn văn bằng cách dùng từ và cách sắp
xếp câu hợp lí và hay hơn:
Ông em nay đã ngoài sáu mươi tuổi rồi. Ông thường dẫn em đi chơi.
Ông mua cả nước ngọt, bim bim cho em. Buổi tối ông còn kể chuyện cổ tích cho
em nghe. Em rất yêu quý ông và mong cho ông sống lâu trăm tuổi.
+ Hướng dẫn học sinh sắp xếp các câu trả lời theo một trật tự hợp lí để hoàn
chỉnh bài làm miệng:
Ví dụ: Khi kể về một loài chim mà em thích, HS Lê Xuân Hải Dương kể như
sau:
16


Những ngày đi học em cảm thấy nhớ nó. Mỏ nó hót rất hay. Em rất thương
nó vì nó đẹp. Bộ lông nó mượt. Con vẹt rất thích thú.
Ta có thể hướng dẫn học sinh cách sửa đoạn văn hợp lí và hay hơn:
Nhà em nuôi một chú vẹt rất đẹp. Chú có bộ lông mượt mà. Chú hót rất hay.
Khi đi học em rất nhớ chú, nên khi về đến nhà là em chạy ngay lại chơi với chú.
Chú tỏ ra rất thích thú.
* Làm miệng cả bài:
Một số em làm miệng cả bài.
* Viết đoạn văn hoàn chỉnh:
- Hướng dẫn học sinh viết liền mạch các câu trả lời thành một đoạn văn.
- Lưu ý cách trình bày đoạn văn. ( Chữ đầu đoạn văn phải viết cách lề, các câu
trong đoạn văn viết liền mạch. )
2.3.10. Giới thiệu những đoạn văn hay để học sinh học tập:
Giáo viên giới thiệu những đoạn văn hay của HS những năm học trước hoặc
những bài văn giáo viên sưu tầm được nhằm kích thích tinh thần học tập của HS.
(Lưu ý HS các đoạn văn này chỉ để tham khảo, học hỏi về cách dùng từ, viết
câu, viết đoạn văn và những hình ảnh ngộ nghĩnh, sinh động trong các bài viết
chứ không được viết giống hệt các đoạn văn này).

17


Ví dụ: * Đoạn văn ngắn viết về một loài cây mà em yêu thích của HS Dương
Thị Bảo Ngọc năm học 2017 - 2018:

* Đoạn văn ngắn viết về một mùa mà em yêu thích của HS Hồ Lê Bảo Anh năm
học 2017 - 2018:

18


* Đoạn văn ngắn viết về một con vật mà em yêu thích của HS Dương Ngô Linh
Chi năm học 2016 - 2017:

2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
19


- Trong học kì I năm học 2018 - 2019, tôi đã áp dụng các biện pháp trên và nhận
thấy học sinh có tiến bộ khá rõ rệt. Các em đã có khả năng viết được đoạn văn
tương đối tốt, biết cách dùng từ, đặt câu, diễn đạt đúng và phù hợp với yêu cầu
của đề bài. Thật vui hơn khi thấy các em đã làm bài một cách chủ động, không
phụ thuộc vào bài hướng dẫn mẫu của cô giáo. Các giờ học diễn ra sôi nổi, nhẹ
nhàng, thu hút được sự chú ý của học sinh.
- Một số em đã biết viết câu văn sinh động, có hình ảnh so sánh, nhân hóa: Hà
My, Thùy Trang, Gia Hưng, Diễm Quỳnh, Mai Thảo, Gia Hưng
- Một số học sinh đầu năm còn nhút nhát giờ đã biết trả lời câu hỏi một cách rõ
ràng, trả lời thành câu, giao tiếp với bạn bè trong lớp cởi mở, tự tin hơn rất
nhiều: Tuấn Linh, Yến Nhi, Tú Anh, Duyên.
- Trong lớp còn lại 2 học sinh: Công Thông, Kiên Đô viết đoạn văn chưa đạt yêu
cầu, sự tiến triển của các em còn chậm so với các học sinh khác trong lớp. - Tuy
rằng trong thời gian còn ngắn, đây mới chỉ là kết quả hết sức khiêm tốn. Việc
giúp học sinh làm văn tốt là một quá trình lâu dài, song với những kết quả bước
đầu, nếu tiếp tục rèn luyện sang học kì II, các em sẽ có kỹ năng làm văn đúng,
đạt yêu cầu.
Kết quả kiểm tra Tập làm văn cuối học kì 1, năm học 2018- 2019:
Sĩ số
37 em

Hoàn thành Tốt
Số lượng
Tỉ lệ
11 em
29,7 %

Hoàn thành
Số lượng
Tỉ lệ
24 em
64,8 %

Chưa hoàn thành
Số lượng Tỉ lệ
2 em
5,4 %

3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
3.1. Kết luận:
Tập làm văn là phân môn thực hành Tiếng Việt. Dạy Tập làm văn chính là
dạy một kĩ năng giao tiếp. Để đạt kết quả cao trong quá trình giảng dạy phân
môn Tập làm văn lớp 2, đòi hỏi người giáo viên phải kiên trì, vượt khó, tìm tòi,
học hỏi, sáng tạo, nghiên cứu tài liệu hướng dẫn học sinh và điều chỉnh các hoạt
động cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của lớp mình phụ trách. Cụ thể là:
- Dạy học phân môn Tập làm văn nên lồng ghép, tích hợp với các môn học khác
để mở rộng thế giới kiến thức cho học sinh và vừa có tính ôn tập vừa cung cấp
thêm cho các em vốn kiến thức để hỗ trợ đắc lực cho phân môn Tập làm văn.
- Giáo viên phải nắm chắc mục tiêu, phương pháp giảng dạy bộ môn, vận dụng
linh hoạt, sáng tạo các hoạt động sao cho phù hợp với từng bài dạy cụ thể để hỗ
trợ kịp thời tới từng nhóm, từng cá nhân học sinh trong mỗi nhóm.
20


- Giáo viên nên gợi ý, tổ chức hướng dẫn học sinh cùng tham gia giải quyết
những vấn đề chung, cùng trao đổi để nêu ý kiến riêng hoặc giúp các em tìm
nhiều ví dụ làm phong phú thêm vốn sống, vốn Tiếng Việt của học sinh.
- Giáo viên nên yêu thương, quan tâm, giúp đỡ tới tất cả các đối tượng học sinh
trong lớp, đặc biệt những em nhút nhát, thao tác chậm, hướng dẫn học sinh thực
hiện từng thao tác nhỏ nhất khi các em tham gia hoạt động.
- Ngôn ngữ trình bày, diễn đạt của giáo viên cần ngắn gọn, trong sáng và súc
tích, sử dụng những hình ảnh, từ ngữ, cách nói gần gũi với các em.
- Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần quan sát, theo dõi thái độ của học sinh
nhằm thu nhận những thông tin ngược từ phía học sinh để từ đó điều chỉnh hoạt
động dạy học trên lớp.
- Giáo viên cần khéo léo, khuyến khích, động viên, khen thưởng kịp thời đối với
những học sinh có tiến bộ; phát huy được khả năng phát triển tư duy; tạo không khí
lớp học sôi nổi, hào hứng.
- Phải thường xuyên trao đổi với cha mẹ học sinh để tạo điều kiện thuận lợi phục
vụ cho việc học tập của các em và để khắc phục những nhược điểm mà học sinh
còn mắc phải .
- Ngoài ra, giáo viên phải không ngừng học hỏi các đồng chí đồng nghiệp, đọc
thêm tài liệu để nâng cao chất lượng dạy học .
3.2. Đề xuất, kiến nghị:
Từ những kết quả đạt được trong quá trình nghiên cứu và áp dụng vào thực
tiễn, tôi xin đề xuất một số ý kiến nhằm khắc phục những tồn tại, góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh:
* Đối với cấp trên:
- Tổ chức nhiều chuyên đề “Đổi mới phương pháp dạy học” hơn nữa cho các
giáo viên cùng học tập.
- Khuyến khích giáo viên sử dụng giáo án điện tử trong quá trình giảng dạy.
- Trang bị thêm một số tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh.
- Nhà trường cùng địa phương tạo điều kiện cơ sở vật chất cho các em học tập
tốt hơn.
* Đối với giáo viên :
- Thường xuyên tìm tòi học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp, nghiên cứu các
tài liệu, sách giáo khoa… để nâng cao tay nghề.
- Thường xuyên kiểm tra đánh giá việc đọc của học sinh và ghi nhận kết quả
học tập của các em dù là một tiến bộ rất nhỏ.
21


* Đối và phụ huynh:
- Mua đủ sách giáo khoa cho các em, động viên khuyến khích cho các em đọc
thêm truyện, sách, báo…
- Thường xuyên quan tâm tới việc học ở học của các em.
Trên đây là một số kinh nghiệm mà tôi đã nghiên cứu và vận dụng trong
quá trình giảng dạy thực tế của lớp mình. Tuy kết quả bước đầu chưa cao lắm,
nhưng với sự nhiệt tình và nỗ lực theo khả năng, tôi cũng đã tích lũy được một
số bài học thực tiễn. Rất mong được nhận ý kiến đóng góp của Ban giám hiệu
cùng các bạn đồng nghiệp, để việc giảng dạy bộ môn Tập làm văn trong nhà
trường ngày càng nâng cao chất lượng, giúp học sinh học tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG
NHÀ TRƯỜNG

Thiệu Dương, ngày 26 tháng 3 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Người thực hiện

Hàn Thị Hòa

22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×