Tải bản đầy đủ

Một số kinh nghiệm giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp một

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
Như chúng ta đã biết, vấn đề “giáo dục kỹ năng sống” cho học sinh đang
được xem là một vấn đề cấp bách hiện nay, không chỉ trong nhà trường mà là
của toàn xã hội. Bởi có quá nhiều nguyên nhân từ cuộc sống của giới trẻ, cách
ứng xử cũng như sự hòa nhập và cách thể hiện bản thân của các em trong từng
tình huống khác nhau khiến chúng ta cần phải nghiêm túc nhìn nhận vấn đề này.
Chúng ta luôn nhắc đến những tình trạng như: trẻ em ngày nay sống quá ích kỷ,
lạnh lùng, vô cảm không quan tâm tới bất cứ vấn đề gì xung quanh các em.
Chính vì vậy một trong những nguyên lí giáo dục cơ bản của đất nước chúng ta
là giáo dục con người toàn diện. Như vậy, người giáo viên không phải vừa dạy
chữ vừa dạy cách làm người mà còn trang bị, cung cấp kiến thức về kỹ năng
sống cho học sinh. Đặc biệt đối với học sinh lớp 1, đây là đối tượng học sinh
đầu cấp Tiểu học, các em đang còn rất bỡ ngỡ trong môi trường mới. Hơn nữa,
giáo dục kĩ năng sống cũng là một trong năm nội dung của phong trào “Xây
dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Để thực hiện thành công nhiệm
vụ giáo dục giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, nếu giao phó trách nhiệm cho
nhà trường là không đủ; mà cần có sự phối hợp hiệu quả giữa “Nhà trường, gia
đình và xã hội”. Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh không phải là một sớm
một chiều mà đòi hỏi phải trải qua quá trình dài, kiên nhẫn và bằng cả tâm huyết
của người giáo viên. Ngoài ra, qua các kênh thông tin, đặc biệt là nhờ vào thực

tế, tôi nhận thấy kỹ năng sống của các em còn nhiều hạn chế. Hầu hết các em
lúng túng khi trả lời hoặc xử lý chưa tốt các tình huống thường gặp trong cuộc
sống, trong giao tiếp; đặc biệt các em học sinh lớp 1 kỹ năng tự bảo vệ trước
những vấn đề xã hội có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe và an toàn cuộc sống
như: kỹ năng nhận diện một vấn đề, cách xác định tình huống, cách từ chối, kỹ
năng xử lý mâu thuẫn, kỹ năng ra quyết định, tự chăm sóc sức khỏe... còn gặp
nhiều khó khăn. Để thực hiện thành công nhiệm vụ giáo dục kĩ năng sống cho
học sinh không thể không quan tâm đến công tác chủ nhiệm lớp. Người giáo
viên chủ nhiệm lớp vừa là thầy dạy học vừa là người cha, người mẹ và cũng có
lúc phải là người bạn tốt nhất của các em. Từ đó, có thể uốn nắn các em đi theo
đúng qui định giáo dục trong nhà trường, có những tác động tích cực đến các em
cũng như giúp các em điều chỉnh hành vi theo hướng tích cực có lợi nhất. Vì
vậy, việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua công tác chủ nhiệm lớp
ngày càng trở nên thiết yếu. Song việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phải
phù hợp với lứa tuổi, với đặc điểm tình hình riêng của từng lớp học, cấp học,
văn hóa của từng địa phương… sao cho học sinh cảm thấy gần gũi với cuộc
sống của bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội chứ không chỉ trên sách vở
hay những lời nói suông. Giáo viên từng bước hình thành cho học sinh thái độ tự
tin, yêu thương tôn trọng con người, yêu cái đúng, cái thiện, biết phân biệt đúng
sai và làm theo cái đúng, nhắc nhở các em hành động theo chuẩn mực đạo đức
và thói quen đạo đức. Từ nhận thức đó, là người giáo viên chủ nhiệm lớp 1, tôi
hết sức tâm đắc trong việc hướng dẫn và đào tạo các em thành “con người mới”
với đầy đủ các mặt “Đức - Trí - Thể - Mỹ”. Chính vì những lí do nêu trên và qua
1


thực tế giảng dạy cùng với những kinh nghiệm của bản thân đã tích lũy được
qua quá trình giảng dạy nhiều năm tôi mạnh dạn nghiên cứu và đưa ra
“ Một số kinh nghiệm giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1.”
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về giáo dục nâng cao kĩ năng sống cho học
sinh lớp 1, đưa ra một số giải pháp để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 1
nhằm góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh lớp 1 trường Tiểu học Thị trấn Hậu Lộc.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
Kinh nghiệm này được nghiên cứu trên một số phương pháp như sau:
- Phương pháp nghiên cứu các văn bản: Phân tích, nghiên cứu các tài liệu
có liên quan.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Quan sát, điều
tra, viết tổng kết kinh nghiệm.
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Phân tích số liệu thu được.
- Áp dụng một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh lớp 1.
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận:
Trong Luật giáo dục Việt Nam năm 2005, tại Điều 2 - Chương 3 đã quy
định như sau: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn
diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lí
tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách,
phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc ”. Hơn thế, giáo dục là quá trình bao gồm giáo dục và giáo
dưỡng. Trong giáo dục thì có giáo dưỡng, trong giáo dưỡng thì có giáo dục. Vậy
người giáo viên chủ nhiệm lớp có vai trò như thế nào trong công tác rèn luyện kĩ
năng sống cho học sinh? Làm thế nào để hai quá trình này tạo thành một mục
tiêu chung? Làm thế nào để những người chủ tương lai của đất nước có đủ đức
đủ tài? Làm thế nào để sự nghiệp giáo dục mang lại hiệu quả tốt? Đây chính là
trách nhiệm của toàn xã hội, của những người làm công tác giáo dục, của những
người làm công tác chủ nhiệm lớp, đặc biệt là người giáo viên chủ nhiệm lớp 1.
Trong thông tư số 41/2010/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2010 cũng đã nêu
rõ: Giáo viên chủ nhiệm là người có trách nhiệm thực hiện các chỉ tiêu, kế hoạch
nhà trường giao và từ giáo viên đến học sinh nhằm thực hiện có hiệu quả nguyên
lý giáo dục và mục tiêu giáo dục cấp học. Không những thế, giáo viên chủ
nhiệm còn phải rèn luyện cho học sinh về mặt đạo đức cũng như các mặt hoạt
động khác. Đối với bậc học Tiểu học, bậc học nền tảng cho sự phát triển nhân
cách và hình thành kiến thức, việc giáo dục kĩ năng sống đúng đắn cho các em
cần phải đặc biệt được xem trọng vì từ đó các em có được những suy nghĩ hành
động đúng đắn ngay từ ban đầu. Nhất là đối với đối tượng học sinh lớp 1, tất cả
2


mọi kiến thức, kỹ năng, hành vi, thái độ các em được tiếp nhận ở trường gần
như là mới và lạ lẫm với các em. Ở giai đoạn 6 năm đầu đời, tất cả vốn hiểu biết
và kinh nghiệm sống mà các em có được hầu như đều hình thành do thói quen
sống hàng ngày bằng phương pháp “thử sai”, cũng như do bắt trước người lớn
hoặc được người lớn tập cho nhiều lần thành thói quen. Tính bắt trước của trẻ
giống như là con dao hai lưỡi. Đa phần các em bắt trước các hành vi, lời nói,
việc làm tốt của người khác nhưng cũng không ít trường hợp các em làm theo,
nói theo cả những lời nói, việc làm chưa đúng mực. Chính vì vậy môi trường
sống xung quanh trẻ có ảnh hưởng rất lớn. Bên cạnh đó, hệ thần kinh của trẻ giai
đoạn này đang phát triển rất mạnh và dần hoàn thiện cả về trọng lượng và cấu
tạo, sự hoàn thiện này sẽ được giữ lại suốt cuộc đời. Tuy nhiên, do phát triển
mạnh nên đồng thời kéo theo xu hướng phản ứng mạnh ở các em, khả năng kìm
hãm (khả năng ức chế) của hệ thần kinh còn yếu, chính vì vậy mà các em dễ bị
kích thích. Thầy cô giáo và cha mẹ, người thân của các em cần chú ý đến đặc
điểm này để giúp trẻ hình thành tính tự chủ, lòng kiên trì, sự kìm hãm của bản
thân trước những kích thích của hoàn cảnh xung quanh, biết giữ gìn trật tự nơi
công cộng và trong lớp học. Khi trẻ bắt đầu tới trường - tham gia học tập ở
trường Tiểu học, là trẻ được bước chân vào một thế giới hoàn toàn khác. Các em
phải tiến hành hoạt động học - hoạt động nghiêm chỉnh có kỷ cương, nề nếp với
những yêu cầu nghiêm ngặt. Chuyển từ hoạt động chủ đạo là vui chơi sang hoạt
động chủ đạo là học tập; chắc chắn trẻ không tránh khỏi sự bỡ ngỡ vì thế phải
chuẩn bị cho các em tâm lí chuẩn bị sẵn sàng đi học. Ở tiểu học, do uy tín của
người thầy giáo nên các quan điểm, niềm tin, toàn bộ những hành vi cử chỉ của
người thầy thường là những mẫu mực cho hành vi của học sinh nói chung. Nó
ảnh hưởng sâu sắc đến thái độ và cách ứng xử của các em trong quan hệ với
người khác và với xã hội. Các em thường tin tưởng tuyệt đối ở nơi thầy, cô giáo
nên chúng thường bắt chước những cử chỉ tác phong của thầy, cô giáo mình. ở
trường các em còn được tiếp xúc với bạn bè, với tập thể nhóm bạn, tổ, lớp;
những hoạt động tập thể cũng ảnh hưởng không ít đến việc hình thành, phát triển
nhân cách và giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
Như vậy, vấn đề giáo dục học sinh trở thành những con người phát triển
toàn diện là nhiệm vụ hàng đầu biến các mục tiêu giáo dục thành hiện thực mà
người giữ vai trò quyết định thực hiện nhiệm vụ này chính là giáo viên chủ
nhiệm lớp.. Xác định được những yêu cầu trên, bản thân tôi nhận thấy rõ vai trò
của người giáo viên chủ nhiệm trong việc rèn kĩ năng sống cho học sinh.
2.2. Thực trạng:
2.2.1.Thuận lợi:
- Trong quá trình rèn kỹ năng sống cho học sinh luôn gắn liền với việc
thực hiện nội dung phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích
cực”. Bên cạnh đó nhà trường trong năm học qua đã đạt Chuẩn Quốc gia mức độ
2 nên thuận lợi trong việc thực hiện nội dung xây dựng môi trường giáo dục
sạch đẹp, an toàn cho trẻ.
- Được sự hỗ trợ nhiệt tình của Hội cha mẹ học sinh, của các tổ chức đoàn
thể trong và ngoài nhà trường.
3


- Trường được trang bị hệ thống cơ sở vật chất đầy đủ, khang trang, trang
thiêt bị dạy học hiện đại đảm bảo cho yêu cầu giảng đạy và học tập.
- Giáo viên được quan tâm, hỗ trợ kịp thời từ phía Ban Giám Hiệu nhà
trường, từ Tổng phụ trách Đội, Đội cờ Đỏ, được các đồng nghiệp trong tổ khối
nhiệt tình đóng góp ý kiến, rút kinh nghiệm trong việc giảng dạy và giáo dục
cho học sinh.
- Đa phần học sinh ngoan, tích cực, chủ động sáng tạo trong các hoạt
động.
2.2.2. Khó khăn:
- Đa số các em kỹ năng sống còn hạn chế, các em còn nhút nhát, những
buổi đầu đến lớp không muốn rời xa người thân để vào học. Khi phát biểu các
em nói không rõ ràng, trả lời trông không, không tròn câu. Khả năng tư duy độc
lập của các em hạn chế, hầu hết các vấn đề các em đều nhờ vào sự gợi ý nhắc
nhở hoặc làm mẫu của cô giáo.
- Một số học sinh chưa làm chủ về hành vi và khả năng tập trung trong lớp
còn chưa đạt, chưa thực sự chú ý lắng nghe và tích cực làm việc theo nhóm. Các
em có nhiều biểu hiện chậm thích nghi, rụt rè, thiếu tự tin hoặc quá tự do trong
lớp phần lớn là những em có hoàn cảnh đặc biệt, các em chưa được dạy dỗ cẩn
thận hoặc là những em được bố mẹ quá nuông chiều, luôn thích làm, thích nói
theo ý mình và không nghe lời mọi người.
- Về phía giáo viên: Thông qua tiếp xúc và chia sẻ kinh nghiệm thì tôi
thấy việc rèn kĩ năng sống cho học sinh ở một số giáo viên còn hạn chế: có rất
nhiều giáo viên còn lúng túng về nội dung và biện pháp giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh, chưa thật sự gần gũi, thân thiện với học sinh. Việc rèn kĩ năng
sống qua việc tích hợp vào các môn học còn hạn chế. Rèn kĩ năng sống qua các
tiết sinh hoạt lớp, hoạt động giáo dục, vui chơi còn chưa sâu sát, mang tính hình
thức. Giáo viên khuyến khích động viên khen thưởng học sinh còn ít. Hơn nữa,
kỹ năng sống được hình thành qua một quá trình sống, rèn luyện, học tập trong
gia đình, nhà trường và ngoài xã hội. Nó là kết quả thu được sau một quá trình
trải nghiệm. Vì vậy, kỹ năng sống của mỗi người vừa có tính cá nhân, vừa có
tính xã hội và chịu ảnh hưởng của gia đình, cộng đồng, dân tộc. Sự tác động của
giáo viên dù rất quan trọng nhưng vẫn chỉ mang tính định hướng, lựa chọn làm
gì, làm như thế nào quyết định cuối cùng vẫn là ở các em.
- Một số phụ huynh chỉ quan tâm nhiều đến kiến thức mà ít quan tâm đến
nề nếp, tác phong của con mình trên lớp. Một số học sinh điều kiện hoàn cảnh,
kinh tế gia đình khó khăn nên phụ huynh ít có điều kiện quan tâm giáo dục các
em. Ngoài ra, một số phụ huynh trong lớp thì quá nuông chiều con cái khiến các
em ỷ lại, phụ thuộc vào người lớn, mỗi khi cáp các tình huống trong thực tế lúng
túng không biết xử lí như thế nào..
Tôi đã quan sát các em trong quá trình học tập, cách giao tiếp, cách nói,
cách các em tư duy, tham gia học tập, vui chơi, ứng xử với thầy cô và bạn bè, xử
lý các mâu thuẫn gặp phải đồng thời tham khảo ý kiến của các thầy cô giáo khác
cũng như ý kiến của gia đình các em và có đánh giá chung về kỹ năng sống của
lớp 1B tôi chủ nhiệm như sau:
4


SỐ HS

33

KỸ NĂNG TỐT

CÓ KỸ NĂNG

KỸ NĂNG CHƯA TỐT

SL

TL (%)

SL

TL (%)

SL

TL (%)

7

21

9

27

17

52

Từ những thuân lợi và khó khăn trên, là giáo viên chủ nhiệm lớp 1, bản
thân tôi đã tìm nhiều biện pháp rèn kỹ năng sống cho học sinh thông qua quá
trình giảng dạy và các hoạt động ngoài giờ lên lớp, sinh hoạt tập thể,... nhằm
hình thành các kĩ năng sống cần thiết cho các em.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
2.3.1. Giải pháp 1: Tạo môi trường học tập thân thiện, tích cực
Ngay từ khi nhận lớp, để tạo sự gần gũi và gắn kết giữa các thành viên
trong lớp, tôi sắp xếp nhiều thời gian cho học sinh được giới thiệu về bản thân,
động viên khuyến khích các em chia sẻ với nhau về những sở thích, ước mơ
tương lai cũng như mong muốn của các em. Bên cạnh đó tôi cũng cho các em
biết rõ những mong muốn của mình đối với các em. Đây là hoạt động giúp cô
trò hiểu nhau, đồng thời tôi muốn tạo một môi trường học tập thân thiện"
Trường là ngôi nhà thứ hai của các em ". Đây cũng là một điều kiện theo tôi là
rất quan trọng để phát triển khả năng giao tiếp của học sinh. Bởi học sinh không
thể mạnh dạn, tự tin trong một môi trường mà giáo viên luôn gò bó và áp đặt.
Chúng ta cần phải tạo cơ hội để các em tự nói nhiều hơn, nói những điều các em
nghĩ và các em thật sự muốn.
Tôi luôn gần gũi học sinh, thường xuyên tìm hiểu, quan sát mọi cử chỉ,
hành động, lời nói, thái độ của các em, không chỉ những biểu hiện trong học tập
mà ngay cả trong khi các em chơi, trò chuyện với bạn. Chú ý tới tất cả các biểu
hiện như: thái độ trước những bài khó, cách các em lắng nghe, trả lời, cách các
em bộc lộ suy nghĩ tình cảm, sự vui mừng khi hoàn thành bài hay được khen,
các em có dễ hòa đồng không, có kiên nhẫn không hay thường nổi nóng, các em
có linh hoạt sáng tạo không…. Việc làm này sẽ giúp chúng ta nắm được đặc
điểm tính cách của các em: mạnh dạn hay nhút nhát, thụ động, thích thể hiện hay
dễ mất kiểm soát… Cũng từ đó, nếu các em có những biểu hiện chưa phù hợp
hoặc gặp khó khăn, chúng ta có thể uốn nắn, giúp đỡ các em. Việc này thực ra
rất đơn giản nhưng yêu cầu chúng ta phải kiên trì và tâm huyết.
Như đã nói, đặc điểm tâm lý của các em là hiếu động và thích bắt trước, ở
trường thầy cô với các em lại luôn là hình mẫu lý tưởng nhất, chuẩn mực nhất.
Mọi vấn đề thầy cô giải quyết, mọi việc thầy cô làm, mọi điều thầy cô nói với
các em luôn là đúng. Đặc biệt với học sinh lớp 1, các em nghe, làm theo thầy cô
giáo còn hơn là ông bà, cha mẹ bảo ban, dạy dỗ …. Các em thường rất hay bắt
chước thầy cô của mình, từ nét chữ, lới nói đến cả cử chỉ điệu bộ và nhất là cách
ứng xử của cô trước các tình huống. Vì thế, bản thân giáo viên cần luôn chú ý
tới mọi cử chỉ, hành động. Luôn mẫu mực, cư xử hòa nhã, quan tâm và dạy bảo
các em tận tình. Trong mọi tình huống, mọi cử chỉ, mọi hành động giáo viên
luôn cần là tấm gương để học sinh noi theo. Từ đó hình thành kỹ năng sống tốt
nhất cho học sinh.
5


2.3.2. Giải pháp 2: Làm tốt công tác chủ nhiệm lớp
Khi được nhà trường phân công nhiệm vụ dạy lớp 1 trong năm, bản thân
tôi đã nhận thức được rằng: Công tác chủ nhiệm lớp 1 là một trong những nhiệm
vụ cực kỳ khó khăn nếu thực hiện đầy đủ và có trách nhiệm các yêu cầu, nhiệm
vụ của người giáo viên chủ nhiệm. Người giáo viên chủ nhiệm phải tham gia các
hoạt động dạy học, phải rèn luyện đạo đức, tác phong sư phạm, đây vừa là trách
nhiệm vừa yêu cầu cần thiết trong việc giáo dục học sinh.
Để làm tốt công tác chủ nhiệm trước hết phải xây dựng được hình tượng
cô giáo trong lòng học sinh, được học sinh tin yêu quý trọng; Người giáo viên
chủ nhiệm trước hết phải thực hiện tốt những nhiệm vụ của một nhà giáo nói
chung, đó là mẫu mực về đạo đức, tác phong, gương mẫu trong việc chấp hành
pháp luật và những quy định của nhà nước, nắm vững đường lối, chủ trương,
quan điểm, lý luận giáo dục và biết vận dụng sáng tạo vào thực tiển giáo dục thế
hệ trẻ, làm tốt công tác giáo dục, trang bị tri thức khoa học, phát triển trí tuệ của
học sinh. Đồng thời, giáo viên chủ nhiệm có trách nhiệm giáo dục cho học sinh
những phẩm chất đạo đức, rèn luyện năng lực để các em trở thành những công
dân tốt mai sau.
* Tìm hiểu đặc điểm tình hình lớp:
Khi nhận lớp, tôi đã tìm hiểu các thông tin về hoàn cảnh, đặc điểm tâm
sinh lý, nhân cách, những ưu điểm, hạn chế của từng học sinh. Sau đó trao đổi
cụ thể với từng phụ huynh để hiểu hơn về học sinh. Từ đó tôi tìm cách khắc
phục những tồn tại mà học sinh đang mắc phải làm ảnh hưởng đến việc học tập
và rèn luyện của các em, động viên để các em phát huy các mặt mạnh. Chính
nhờ sự gần gũi, nắm bắt tình hình kịp thời của học sinh và bằng cách xử lý kịp
thời nhanh chóng, hợp lý sự chuyển biến tốt của học sinh thể hiện rất rõ, tạo sự
phấn khởi trong học sinh giúp các em có hướng phấn đấu đi lên. Nhờ vào việc
nắm bắt đặc điểm tình hình của lớp tốt nên bước đầu tôi đã có được những thuận
lợi trong công tác chủ nhiệm, nắm bắt các thông tin kịp thời từ phụ huynh và
học sinh giúp tôi xây dựng được một kế hoạch chủ nhiệm phù hợp, sát tình hình
thực tế và có tính khả thi cao. Qua đó thống nhất với phụ huynh được các biện
pháp giáo dục kỹ năng sống tốt nhất cho học sinh.
* Xây dựng kế hoạch chủ nhiệm:
Kế hoạch chủ nhiệm là bước thiết kế lộ trình thực hiện nội dung giáo dục
mang tính khoa học, giúp cho giáo viên chủ nhiệm lớp tiến hành tổ chức, giáo
dục học sinh một cách chủ động, có mục đích rõ ràng.
Để lớp có nề nếp tốt, ngay từ đầu năm học tôi đã lên kế hoạch cho cả năm
học, từng tháng, từng tuần dựa trên kế hoạch của nhà trường và của bộ phận
chuyên môn. Việc xây dựng và lập kế hoạch này giúp tôi có tầm nhìn xa, bao
quát hơn trong công tác chủ nhiệm. Kế hoạch chủ nhiệm cần xác định rõ mục
tiêu, chỉ tiêu các mặt giáo dục học sinh theo từng tháng, học kì, cả năm học và
đặc biệt đưa ra những biện pháp cụ thể nhằm đạt mục tiêu đề ra, phải được quán
triệt đến tất cả phụ huynh trong lớp ở buổi họp Cha mẹ học sinh đầu năm học.
Sau mỗi học kỳ đều phải tổ chức đánh giá rút kinh nghiệm cụ thể và lập phương
hướng hoạt động trong học kỳ 2. Những biện pháp giáo dục phải phù hợp với
6


đặc điểm riêng của lớp, của từng học sinh trên cơ sở các thông tin đã thu thập.
Chú trọng việc giáo dục toàn diện và đồng thời cũng nâng cao, phát huy những
điểm mạnh của các em để từng bước nâng cao chất lượng giáo dục. Vì thế dựa
trên sự tìm hiểu và nắm bắt đội ngũ học sinh, dựa vào kế hoạch nhà trường tôi
lập kế hoạch rất tỷ mỉ sát thực và phù hợp với tình hình của lớp mình chủ nhiệm.
* Xây dựng nội quy lớp học:
Giáo viên nêu nhiệm vụ chính của năm học, nhắc lại nhiệm vụ của học
sinh trong Điều lệ trường tiểu học. Để xây dựng được nội quy lớp học tốt thì tôi
đã giúp các em xây dựng bộ máy tổ chức lớp tốt, tôi căn cứ trên các thông tin đã
cập nhật để bầu chọn cán sự lớp. Đội ngũ cán bộ lớp không những chỉ có học
sinh tiêu biểu mà còn có cả một số em hiếu động ở trong lớp để các em có ý
thức tự giác, biết sửa chữa bản thân, hầu hết các em đều có tiến bộ và trở thành
những học sinh gương mẫu. Sau đó tôi hướng dẫn cho ban cán sự lớp điều hành
các bạn trong lớp nêu ý kiến để thống nhất và xây dựng thành nội quy của lớp,
viết và trang trí nội quy lớp. Việc làm này hết sức có ý nghĩa, đó là: Học sinh
được tham gia, được cung cấp thông tin, được bày tỏ ý kiến của mình, ý kiến
của các em được lắng nghe và tôn trọng. Giúp các em hiểu, tôn trọng và thực
hiện tốt nội quy do chính các em đề ra. Giúp các em rèn kĩ năng giao tiếp, bày tỏ
ý kiến và tham gia quá trình ra quyết định. Phát huy tinh thần tập thể, nâng cao
tinh thần trách nhiệm cho học sinh. Làm tốt điều này, chúng ta đã khơi dậy sự tự
tin trong mỗi em học sinh. Khi đó các em sẽ đạt tới nhiều đỉnh cao trong học
tập. Để việc này đạt kết quả cao hơn, bản thân tôi không bao giờ bắt các em tuân
thủ các nội quy đó xuyên suốt trong cả năm học. Tôi linh động cho các em sau
từng tháng thảo luận để thay đổi nội dung nào đã thực hiện được và thay thế
bằng nội dung khác cần phải thực hiện.
* Xây dựng nề nếp học tập và ý thức tự quản trong giờ học:
- Tập trung duy trì thói quen thực hiện tốt nề nếp sinh hoạt:
Đây là công tác đóng vai trò quan trọng có thể quyết định đến học tập và
mọi phong trào của lớp vì lớp học có trật tự, có nề nếp tốt thì học sinh mới chú ý
nghe giảng và hiểu bài được. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên
trong việc giúp học sinh lĩnh hội hết các kiến thức của tiết học. Ngay từ khi nhận
lớp, tôi đã cho các em học nội quy của trường và của lớp. Tôi phân tích kỹ để
các em hiểu nội quy đó. Nội quy học sinh là những quy định về nề nếp, kỉ cương
về trường học nên có tác dụng giáo dục đạo đức, ý thức cho học sinh. Trong quá
trình lên lớp, học sinh phải trật tự thì tôi mới bắt đầu tiết học, tuyệt đối không có
tình trạng thầy nói - trò nói, không ai nghe ai. Tuy nhiên, trong công tác này
luôn phải nghiêm khắc nhưng cũng cần phải nhẹ nhàng với các em, học ra học,
chơi ra chơi. Tôi luôn dành nhiều phần lớn thời gian cho các em tổ chức các
hoạt động thảo luận, đặt vấn đề, giải quyết vấn đề trong tiết học. Qua đó phát
huy tính tích cực và rèn kĩ năng nói, kĩ năng trình bày ý kiến trước đám đông,
trước tập thể lớp. Ngay từ buổi học đầu tiên của năm học, tôi đã đưa ra các yêu
cầu thi đua giữa các tổ và các cá nhân để các em cùng thi đua, phấn đấu. Luôn
duy trì đều đặn hoạt động thi đua giữa các tổ, các cá nhân, có khen và động viên
kịp thời các em. Bên cạnh đó, tôi luôn giáo dục các em ý thức giữ gìn môi
7


trường xung quanh xanh, sạch, đẹp giúp cho chúng ta có sức khoẻ tốt, hướng
dẫn các em cụ thể cả việc đi vệ sinh đúng nơi quy định, vứt rác đúng chỗ và
thường xuyên thu gom rác để đốt tránh gây ô nhiễm môi trường. Tôi luôn đề cao
tinh thần tự quản của các em, khen ngợi những tập thể cá nhân có ý thức tự quản
tốt, từ đó giúp các em có ý thức học tập lẫn nhau để cùng tiến bộ. Tôi luôn dành
thời gian cho các em bình bầu thi đua giữa các tổ, các cá nhân vào các tiết sinh
hoạt cuối tuần. Các tổ và cá nhân xuất sắc được tuyên dương, khen thưởng trước
tập thể lớp và khen thưởng trong giờ chào cờ của tuần tiếp theo.
- Tập trung duy trì, rèn nề nếp học tập:
Ngay từ đầu năm học, tôi điều tra để phân loại học sinh, từ đó có biện
pháp giảng dạy cho phù hợp với từng đối tượng, luôn ưu tiên đến các học sinh
tiếp thu chậm trong lớp, dành cho các em này những câu hỏi đơn giản để các em
cảm thấy tự tin khi phát biểu ý kiến. Tôi cũng luôn tạo ra trong lớp một không
khí thi đua học tập tốt, sôi nổi trong mọi tiết dạy. Duy trì phong trào thi đua “Đôi
bạn cùng tiến”….
Khi xếp chỗ ngồi, tôi luôn chú ý xếp xen kẽ học sinh tiếp thu chậm với
học sinh năng khiếu để các em tự giúp đỡ nhau trong học tập, cuối tuần luôn có
bình bầu đôi bạn nào tiến bộ nhất trong tuần đó để tuyên dương. Duy trì nề nếp
kiểm tra bài đầu giờ và kiểm tra bài của nhau trong các tiết dạy giúp giáo viên
tiết kiệm được thời gian và hướng các em vào mục tiêu tự đánh giá kết quả của
mình. Luôn có kế hoạch kèm cặp các em chưa đạt chuẩn, thường xuyên gọi các
em nhút nhát để các em tự tin và mạnh dạn hơn. Phát động phong trào thi đua
học tập giữa các tổ, nhóm, cá nhân có tiến hành tổng kết tuyên dương, khen
thưởng nhằm khuyến khích tinh thần học tập tiến bộ của các em.
- Tập trung duy trì, rèn nề nếp tự quản:
Thực chất của việc xây dựng nề nếp tự quản là quá trình từng bước
chuyển hóa tâm huyết, nhiệt tình của thầy cô thành ý thức tự quản tự giác đầy
trách nhiệm và thích thú của trò, tức là biến lớp học của những cá nhân học sinh
thành một tập thể học sinh biết tự quản dưới sự lãnh đạo của giáo viên chủ
nhiệm lớp và ban cán sự lớp. Tôi luôn chú trọng việc phải lấy học sinh làm trung
tâm trong các hoạt động để giáo dục ý thức tự giác của các em, hình thành cho
các em kĩ năng tự quản. Giáo viên chủ nhiệm không chỉ có nhiệm vụ thông qua
dạy chữ để dạy người mà còn cần phải thông qua việc dạy các em làm người tốt
để học chữ tốt. Các học sinh tiếp thu chậm được lên bảng thường xuyên làm
những bài tập bắt đầu từ đơn giản trước. Từ đó, các em có ý thức tự học và ham
học hơn. Với hình thức xây dựng “ Đôi bạn cùng tiến”, các em học sinh năng
khiếu đã giúp đỡ các em học sinh tiếp thu chậm vào những lúc ở nhà, giảng bài
cho bạn vào những giờ ra chơi. Học sinh gắn bó với nhau hơn. Đó cũng là yếu tố
hình thành nhân cách tốt cho các em.
Tôi đã giáo dục học sinh ý thức giờ nào việc nấy, biết chú ý nghe bạn nói,
biết lắng nghe thầy cô giảng bài. Có ý thức xây dựng bài trong các giờ học, tôi
không quên tạo phong trào thi đua giữa các tổ, cá nhân. Phong trào thi đua này
được tiến hành liên tục tuần nối tuần, suốt trong cả năm học. Với hình thức khen
thưởng, động viên kịp thời là một yếu tố vô cùng quan trọng không thể thiếu vì
8


đó là động lực giúp các em cố gắng, nỗ lực hơn. Ngoài ra, đối với những học
sinh vi phạm nội quy, tôi sẽ đổi chỗ ngồi, gặp riêng em để tâm sự hoặc trao đổi
với cha mẹ học sinh, tuyệt đối không phê bình học sinh trước lớp và dưới cờ.
Để rèn tính tự quản, tôi giao trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ lớp tự quản lý, điều
hành lớp ở những tiết sinh hoạt lớp. Sau khi vận dụng giải pháp này, tôi thấy các
em học sinh lớp 1B đã phát huy được tính tự giác rất cao của ban cán sự lớp nói
riêng và các thành viên trong lớp nói chung. Trong mọi hoạt động hàng ngày,
không em nào không nảy sinh ý thức muốn tự khẳng định mình và tìm cách hòa
mình với tập thể. Xây dựng nề nếp lớp tự quản dựa trên nội quy của trường, lớp
giúp các em có cơ hội để được nuôi dưỡng, rèn luyện và phát triển.
* Nâng cao chất lượng giờ sinh hoạt lớp:
Cùng với việc xây dựng cho học sinh có nề nếp về học tập, tự quản tôi
còn hướng đến tập trung bồi dưỡng, rèn luyện học sinh nâng cao chất lượng giờ
sinh hoạt lớp.
Để làm tốt công tác chủ nhiệm thì giáo viên chủ nhiệm cần phải tổ chức
tốt giờ sinh hoạt lớp, tổ chức làm sao cho học sinh thích học từ đó sẽ giáo dục
học sinh học tốt hơn. Muốn tổ chức tốt tiết sinh hoạt lớp trước hết giáo viên chủ
nhiệm cần phải có kĩ năng tổ chức giờ sinh hoạt lớp. Để giờ sinh hoạt lớp được
thành công, phát huy vai trò của Ban cán sự lớp, đảm bảo sự công bằng cho mọi
thành viên trong lớp, bản thân tôi luôn chú trọng các nội dung sau:
Trong những giờ sinh hoạt lớp, tôi luôn chuẩn bị các nội dung cần chuyển
đến các em, đặc biệt là các nội dung, kế hoạch của nhà trường trong buổi họp
giao ban ( thứ sáu hằng tuần). Để giờ sinh hoạt lớp thu hút được sự quan tâm của
học sinh cả lớp thì hình thức tổ chức giờ sinh hoạt lớp cũng rất quan trọng, tránh
đơn điệu, nhàm chán, không hứng thú với học sinh. Bản thân tôi luôn thân mật
và gần gũi với các em, không quá nghiêm khắc và luôn đặt mình vào vị trí của
học sinh. Tôi luôn hướng dẫn và tập cho các em cùng nhau tổ chức và tham gia.
Ví dụ: Trong tiết sinh hoạt lớp, tôi luôn hướng dẫn lớp trưởng và ban cán
sự lớp điều hành tiết sinh hoạt. Các em được thảo luận, được nêu ý kiến nhận xét
khách quan về các bạn trong lớp. Sau đó học sinh xếp loại từng bạn trong tuần,
tháng.
Với học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng, việc các em
được khen trước bạn bè, được cô giáo động viên kịp thời đúng lúc sẽ là động lực
rất lớn giúp các mạnh dạn, tự tin và hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập. Để động
viên, khuyến khích học sinh thực hiện tốt việc rèn luyện các kĩ năng, ngay trong
các tiết sinh hoạt ban cán sự lớp theo dõi và báo cáo lại cho giáo viên để các em
bình chọn những bạn thực hiện tốt, khen thưởng cho những em chăm ngoan, đạt
nhiều thành tích cao trong học tập và rèn luyện. Đây là một hình thức động viên
về tinh thần rất giá trị và hiệu quả. Các em sẽ nhanh nhẹn hơn, có đạo đức tốt
hơn, mạnh dạn hơn trong giao tiếp, tự tin hơn trong cuộc sống.
2.3.3. Giải pháp 3: Hướng dẫn học sinh tham gia xây dựng trường, lớp
thân thiện.
Trong những năm qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phát động phong trào
thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” rộng khắp trên cả
9


nước. Ở trong môi trường đó, các em được học tập và sinh hoạt trong một bầu
không khí thân thiện, gần gũi như ở gia đình, điều đó góp phần giúp các em
hứng thú trong học tập và đem lại hiệu quả cao trong giáo dục. Trường học, lớp
học được các em coi như ngôi nhà chung, ngôi nhà thứ hai của mình và để các
em thấy được: “ Mỗi ngày đến trường là một ngày vui ”. Bản thân các em thêm
yêu trường, yêu lớp, gắn bó với ngôi nhà chung đó. Lớp học thân thiện gắn bó
chặt chẽ với việc phát huy tính tích cực của học sinh, tăng cường giáo dục các kĩ
năng sống cho các em. Trong môi trường phát triển toàn diện đó, học sinh hứng
thú học tập, biết rèn luyện kỹ năng và phương pháp học tập, trong đó đặc biệt là
phát huy khả năng tự tìm hiểu, khám phá, tư duy sáng tạo. Chính vì vậy, để giáo
dục kĩ năng sống cho học sinh thành công tôi luôn quan tâm đến việc trang trí
“Lớp học thân thiện”. Để việc làm trên đạt hiệu quả tôi đã làm các công việc
sau:
* Tăng cường công tác trang trí lớp học:
Môi trường học tập xanh, sạch đẹp, an toàn, thân thiện là yếu tố rất quan
trọng góp phần thu hút trẻ đến trường, đến lớp, góp thêm cho lớp học một luồng
không khí thân thiện, thoải mái, sinh động, hăng say trong giờ học, rèn luyện kỹ
năng sống cho học sinh. Các khẩu hiệu trong lớp học mang tính giáo dục cao:
“Dạy tốt - Học tốt”, “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”, nội quy học sinh,
năm điều Bác Hồ dạy,…Xây dưng đủ các góc học tập, các biểu bảng, biểu mẫu
đúng quy định. Xây dựng “ Tủ sách thân thiện” để tạo điều kiện cho các em ham
đọc sách, mở rộng hiểu biết, phát triển khả năng đọc cho các em. Rèn kỹ năng
sống có trách nhiệm, có ý thức bảo quản tài sản chung, có thói quen sống gọn
gàng, ngăn nắp.

Trang trí Lớp học.

* Tham gia trồng và chăm sóc cây xanh: Theo tôi, ngoài nhiệm vụ học
tập thì các em cũng phải được tham gia trồng và chăm sóc cây xanh, khuôn viên
của nhà trường. Bởi lẽ một trường học, một lớp học xanh mát, ngập tràn sắc màu
thiên nhiên sẽ giúp các em có một tâm trạng vui tươi nhẹ nhàng với mỗi ngày
đến lớp. Chăm sóc cây đầu giờ học đó cũng là cách rèn kĩ năng sống cho học
sinh. Giáo viên luôn theo dõi, nhắc nhở, động viên các em phấn khởi tự giác
trong việc chăm sóc các chậu cây xanh của lớp mình để mỗi ngày luôn xanh
tươi. Để thực hiện phong trào này, giáo viên còn huy động mọi năng lực của học
10


sinh để hoàn thành vườn hoa nhỏ của lớp. Việc trang trí lớp học giúp cho các em
biết yêu và tạo ra sự gần gũi thân thiện, biết yêu cái đẹp, giúp các em có ý thức
gìn giữ trường lớp của mình. Tạo cho các em sự thoải mái hứng thú trong học
tập. Qua đó giáo dục các em tinh thần trách nhiệm đối với tập thể lớp cũng như
giáo dục các em tinh thần đoàn kết, sự cần cù, tính khéo léo và yêu lao động của
các em.
* Xây dựng môi trường Học tập thân thiện:
Để xây dựng được môi trường Học tập thân thiện học sinh tích cực, bản
thân tôi đã áp dụng phương pháp giảng dạy theo hướng “Lấy người học làm
trung tâm” thực sự là phương pháp giảng dạy “thân thiện” với người học vì
người ta quan niệm người thầy chỉ là người tổ chức hoạt động và giúp đỡ học
sinh tiếp thu kiến thức. Học trò thực sự là nhân vật trung tâm trên lớp học.
Người thầy là người nêu vấn đề và cùng học trò tranh luận cho tới khi học trò
hiểu thấu đáo vấn đề đó. Phương pháp giảng dạy này đã tạo nên nhu cầu tự học
tự nghiên cứu bên ngoài lớp học và rèn luyện cho người học thói quen đào sâu
suy nghĩ về một vấn đề nào đó. Dần dần học trò sẽ hình thành thói quen suy
nghĩ một cách chủ động, độc lập sáng tạo và biết chia sẻ những suy nghĩ của
mình với người khác.
Đặc biệt tôi luôn gắn nội dung lí thuyết với kĩ năng thực hành qua các
môn học như môn Thủ công, đạo đức.. để tăng hiệu quả bài học và giúp các em
nắm nội dung bài học một cách dễ dàng hơn từ thực tế, tăng cường kĩ năng sống,
kĩ năng làm việc theo nhóm cho các em. Có thể nói đây là những tiết học mà các
em rất thích thú, qua đó tôi dạy cho các em kĩ năng tự chiếm lĩnh kiến thức, kĩ
năng thực hành trên lí thuyết để không xa rời thực tế.
Ví dụ: Khi dạy môn Đạo đức ở bài 9: “Lễ phép, vâng lời thầy giáo, cô
giáo ” (Vở bài tập đạo đức trang 33), tôi đã giáo dục các em cần lễ phép, lắng
nghe và làm theo lời thầy giáo, cô giáo dạy bảo: các em cần chào hỏi thầy cô khi
gặp gỡ hay chia tay, nói năng nhẹ nhàng, dùng hai tay khi trao hay nhận vật gì
đó từ thầy cô, phải thực hiện theo lời dạy bảo của thầy cô mà không được làm
trái.
Thầy cô như thể mẹ cha
Vâng lời, lễ phép mới là trò ngoan.
Để học sinh tích cực trong học tập, tôi đã chú trọng đến việc đổi mới hình
thức dạy học, có các biện pháp cụ thể để xây dựng được môi trường thân thiện
ngay trong lớp học, làm sao để tạo cho học sinh sự hứng thú, có nhu cầu nhận
thức và chủ động tích cực trong việc học tập của mình. Bên cạnh đó tôi luôn tạo
điều kiện cho các em có môi trường hoạt động để phát huy được năng lực và
cách xử lý mọi tình huống trong cuộc sống như:
- Xây dựng nhóm bạn cùng tiến: Tôi chia lớp thành 3 tổ và trong mỗi tổ các em
tự phân chia công việc cho các thành viên để xây dựng “ nhóm bạn cùng tiến” ,
những học sinh tiếp thu nhanh kèm và giúp đỡ những học sinh tiếp thu chậm để
các bạn học sinh học chậm không bị tự ty, mặc cảm và thụ động hơn trong học
tập, mạnh dạn hơn trong giao tiếp và cùng hòa đồng khi tham gia các hoạt động
tập thể.
11


- Các em học sinh Tiểu học rất thích tham gia các trò chơi. Chính vì vậy
trong các tiết học tôi thường tổ chức cho các em tham gia vào các trò chơi để
giúp các em rèn luyện thể chất, sự khéo léo, trở nên nhanh nhẹn hoạt bát, tạo sự
hoà đồng, thân thiện, đoàn kết... Những phút vui chơi thoải mái, lành mạnh sẽ
giúp các em thêm hào hứng để học tập và sống hồn nhiên hơn. Hơn nữa, việc
vui chơi lành mạnh còn tạo ra nhiều đức tính tốt đẹp, hạn chế những tật xấu,
đồng thời rèn luyện thể chất và tâm hồn các em theo chiều hướng tốt hơn. Từ đó
các em được rèn luyện trí thông minh, kĩ năng nhanh nhẹn, thể hiện được kĩ
năng quản lí thời gian và kĩ năng đảm nhận trách nhiệm qua các việc làm cụ thể.
* Rèn kĩ năng sống hiệu quả qua việc tích hợp vào các môn học:
Để hình thành những kiến thức và rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh
qua các môn học, tôi vận dụng nhiều phương pháp dạy phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo của học sinh như: thực hành giao tiếp, trò chơi học tập,
phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, phương pháp tổ chức hoạt động nhóm,
phương pháp hỏi đáp,…Thông qua các hoạt động học tập, được phát huy trải
nghiệm, rèn kĩ năng hợp tác, bày tỏ ý kiến cá nhân, đóng vai,…học sinh có được
cơ hội rèn luyện, thực hành nhiều kĩ năng sống cần thiết.
Ví dụ: Ở môn Tiếng Việt, tất cả các bài Tập đọc đều có phần luyện nói theo chủ
đề như: Tự giới thiệu; Bé và bạn bè; Mai sau khôn lớn; Vâng lời cha mẹ; Giúp
đỡ cha mẹ; Nghề nghiệp của cha mẹ; Những người bạn tốt; Sức khỏe là vốn quý
nhất. Các tình huống giao tiếp cụ thể được lồng ghép trong quá trình dạy, học.
Tôi chỉ gợi mở sau đó cho các em tự nói một cách tự nhiên hoàn toàn không gò
bó áp đặt.
Tôi thường xuyên tổ chức cho các em luyện nói theo nhóm và luân phiên
các thành viên của các nhóm để nhằm mục đích giúp tất cả các em có thể giao
tiếp trực tiếp với nhau, Khuyến khích các em còn nhút nhát nói nhiều hơn, bước
đầu là nói một, hai câu ngắn sau đó dần dần hướng dẫn các em nói nhiều hơn,
diễn đạt suy nghĩ cụ thể, rõ ràng và thuyết phục hơn. Bên cạnh đó không quên
hướng dẫn cho các em luyện nghe. Các em cần chú ý lắng nghe cô và các bạn,
suy nghĩ về những thông tin được đưa ra là đúng hay sai, mình có như thế
không, mình sẽ nói thế nào về vấn đề ấy… Sau khi học sinh trình bày bài nói, tôi
thường hỏi một số câu hỏi nhỏ để kiểm nghiệm mức độ nhận thức vấn đề nghe
được của các em, sau thời gian quen dần, tôi định hướng cho các em cách hỏi
lẫn nhau để kiểm tra thông tin cũng như khích lệ bạn.
Ví dụ khi dạy chủ đề nói: "Bé Tự giới thiệu", tôi đưa ra nội dung: “Em
hãy nói về bản thân em và làm quen với mọi người”. Sau vài lời khuyến khích
đầu tiên, tôi tổ chức cho các em đứng thành vòng tròn tự giới thiệu về tên và sở
thích của từng em và làm quen với các bạn xung quanh. Lúc đầu các em rất ái
ngại không tự tin khi nói về mình nhưng tôi nhắc nhở những điều cần chú ý
trong khi giao tiếp, cộng thêm một môi trường hoà đồng, thân thiện các em đã
thực hiện rất tốt, không còn những cái nhìn ái ngại. Thay vào đó là những cánh
tay tự tin cùng câu nói chắc gọn: “Mình tên là gì, mình học ở đâu, mình thích và
không thích điều gì....”
12


Hoạt động luyện nói cuối bài đọc được tổ chức như một cuộc nói chuyện
nhỏ giữa các bạn với nhau. Ví như khi học sinh nói về chủ đề: Mai sau khôn lớn,
giúp đỡ cha mẹ, bạn có hay làm nũng bố mẹ không… Sau khi đưa gợi ý về nội
dung và cách nói, tôi chia lớp thành các nhóm 4 để các em tự kể lại với các bạn.
Các em thường tỏ ra rất hào hứng mỗi khi được nói cho bạn mình nghe. Có
nhiều khi do quá phấn kích, có em nói to hoặc nói rất nhiều, cần phải theo dõi và
uốn nắn các em ngay.
Hoạt động luyện nói cho học sinh lớp 1 là một nội dung rèn kỹ năng sống
cụ thể và thiết thực nhất trong chương trình dạy học. Làm tốt việc này, chúng ta
đã giúp các em rèn luyện rất nhiều các kỹ năng như: kỹ năng nhận thức, tư duy,
giao tiếp, tự khẳng định, tự tin, hợp tác, làm việc nhóm, bày tỏ cũng như kiềm
chế cảm xúc….
Không chỉ rèn kỹ năng sống cho học sinh qua hoạt động luyện nói mà ta
có thể rèn kỹ năng sống cho các em qua việc dạy Tập đọc, Kể chuyện. Như khi
dạy các bài Tập đọc: “Mèo con đi học”, giúp các em rèn kĩ năng tự nhận thức,
xác định giá trị, phê phán, vượt qua khó khăn… Hoặc khi kể các câu chuyện:
Rùa và Thỏ, Cô bé trùm khăn đỏ, Bông hoa cúc trắng, Dê con nghe lời mẹ… các
em được giáo dục và rèn có hiệu quả các kỹ năng như tự nhận thức, tư duy phê
phán, sự cảm thông, tự tin, bảo vệ bản thân, vượt qua khó khăn đạt mục tiêu…
Các kĩ năng được phát triển từ dễ đến khó. Sau bài học giới thiệu bản thân
là những bài học như khám phá bản thân, tư duy hiệu quả và đặc biệt kĩ năng
làm việc đồng đội. Tôi luôn tạo không khí thân thiện, áp dụng việc đổi mới
phương pháp tạo điều kiện cho các em mạnh dạn, tự lập, tự khẳng định và phát
huy mình hơn qua việc học nhóm.
Ví dụ: Đối với môn Tự nhiên và Xã hội: Khi dạy bài: "Ăn uống hằng
ngày", cho học sinh thảo luận nhóm và lên thực đơn cho các bữa ăn trong một
ngày: Sáng, trưa, tối dưới sự trợ giúp của giáo viên. Sau khi học sinh nhận xét
thực đơn của nhau, học sinh sẽ khắc sâu kiến thức về một bữa ăn đầy đủ cần
đảm bảo các chất.
Thông qua các bài: “Vệ sinh thân thể; Hoạt động và nghỉ ngơi; Ôn tập con
người và sức khoẻ; Trời nắng, trời mưa...” giáo dục các em hiểu rằng thân thể
sạch sẽ giúp cho chúng ta khoẻ mạnh, biết những việc nên làm và không nên
làm để cơ thể luôn sạch sẽ, có ý thức tự giác làm vệ sinh cá nhân hằng ngày, tự
giác thực hiện nếp sống vệ sinh, khắc phục những hành vi có hại cho sức khoẻ.
Biết tham gia các hoạt động và nghỉ ngơi một cách hợp lí để có sức khoẻ tốt. Có
ý thức bảo vệ sức khoẻ khi đi dưới trời nắng, trời mưa.
Ở bài: "An toàn khi ở nhà ": các em được đóng vai xử lí tình huống khi có
tai nạn khi ở nhà như: Cầm dao nhọn cắt quả bị chảy máu, trông em giúp mẹ
nhưng em đến gần bếp lửa... Các nhóm sẽ thảo luận nhóm sau đó lên thể hiện,
những em còn lại quan sát và có nhận xét đối với những tình huống mà các bạn
mình vừa xử lí để rút ra kĩ năng cấp cứu khi có những trường hợp xấu xảy ra.
Ví dụ: Khi dạy môn Đạo Đức:
Bài 1: Em là học sinh lớp Một rèn kỹ năng tự giới thiệu họ tên, quyền
được đi học của mình, kỹ năng giao tiếp trong cuộc sống.
13


Bài 2: Gọn gàng sạch sẽ: Rèn kỹ năng biết ăn mặc gọn gàng sạch sẽ, biết
gữ vệ sinh cá nhân đầu tóc quần áo gọn gàng trong mọi lúc mọi nơi.
Lựa chọn các phương pháp dạy thích hợp với từng bài dạy gây hứng thú
học tập cho học sinh. Không rập khuôn máy móc, không áp đặt tình huống, cần
sáng tạo theo từng tiết dạy. Qua từng bài tập trò chơi, kể chuyện theo tranh, quan
sát tranh và trả lời câu hỏi, đánh giá và tự đánh giá hành vi của bản thân và
những người xung quanh, các bài tập tô màu, đóng vai theo tranh theo tình
huống v.v ... Học sinh tự khám phá và chiếm lĩnh kiến thức mới, kỹ năng mới
giáo viên kết luận hành vi đạo đức đúng.
Dạy bài: "Cảm ơn, xin lỗi " , có thể tổ chức cho các em trao đổi :
- Em nói lời cảm ơn, xin lỗi khi nào?
- Bạn đã cảm ơn em về điều gì? Em cảm thấy như thế nào khi được bạn
cảm ơn, xin lỗi?... qua đó các em sẽ bộc lộ những suy nghĩ của mình. Các em
được sắm vai các tình huống cần nói lời cảm ơn, xin lỗi. Chú ý nhắc nhở học
sinh luôn nhớ nói lời cảm ơn khi được giúp đỡ, được tặng quà hoặc nói lời xin
lỗi khi làm sai, làm phiền người khác…
Hướng dẫn các em thực hiện hành vi qua các trò chơi, sắm vai, đố vui,
nêu ý kiến của mình để củng cố ghi nhớ hành vi đã học. Giáo viên khuyến khích
những em tính cách nhút nhát tham gia vào trò chơi.
Chú ý nhắc nhở các em thực hành hành vi đã học qua các giờ học. Trong
các giờ học, học sinh chưa có cử chỉ thể hiện đúng hành vi đạo đức như: Đưa
sách vở cho cô đưa bằng một tay không biết nói lời ''thưa'', ''gửi''. Giáo viên sửa
lại hành vi đúng cho các em thể hiện lễ phép với thầy cô giáo và người trên.
Thực hành bài 2: Gọn gàng sạch sẽ: Khi đến lớp giáo viên chú ý nhắc nhở
các em quần áo đầu tóc gọn gàng, sách vở đồ dùng ngăn nắp. Giáo viên quy
định cách sắp xếp đồ dùng sách vở trong ngăn bàn, chỗ treo cặp rõ ràng, cụ thể,
vị trí mũ, ô, quần áo... Một vài ngày đầu giáo viên phân công các tổ trưởng theo
dõi kiểm tra, cuối mỗi giờ học giáo viên nhận xét tuyên dương những em đã
thực hiện tốt trước lớp, giáo viên giúp đỡ động viên những em còn lúng túng
chưa thật gọn gàng. Dần dần hành vi trở thành thói quen gọn gàng của các em.
2.3.4. Giải pháp 4: Thường xuyên củng cố các mối quan hệ thân thiện
Trong môi trường giáo dục, chúng ta cần phải xây dựng cho được các mối
quan hệ giữa thầy và trò, trò với trò, thầy với phụ huynh và mối quan hệ giữa
Gia đình, nhà trường và xã hội.... Giáo dục cũng giống như một mạng lưới các
mối quan hệ, nó đòi hỏi tất cả mọi người phải phối hợp với nhau để tạo ra kết
quả tốt nhất. Những gì làm cho giáo dục trở nên tốt đẹp hơn chính là các mối
quan hệ tích cực, hợp tác và tôn trọng lẫn nhau. Nhận thức được tầm quan trọng
đó bản thân tôi đã thực hiện một số biện pháp sau:
* Xây dựng hộp thư thân thiện:
Tạo điều kiện cho các em mạnh dạn nói lên những suy nghĩ của mình về
thầy cô, bạn bè, các mối quan hệ hằng ngày, góp phần thực hiện tốt việc rèn kỹ
năng sống cho các em. Từ đó giáo viên hiểu các em, cải thiện tốt mối quan hệ
thầy - trò. Sau đó giáo viên nắm bắt để giải đáp thắc mắc, những suy nghĩ của
các em học sinh. Đồng thời qua hộp thư thân thiện giúp học sinh có thói quen
14


quan tâm đến người khác, tập thói quen viết thư cho nhau thông qua đó rèn kỹ
năng viết cho các em.
* Xây dựng mối quan hệ học sinh và học sinh:
Trong lớp giáo viên phải thường nhắc nhở các em phải xưng hô sao cho
đúng là bạn bè, không được xưng “ mày, mi, tao, bà, …” , không nói tục, không
dùng vũ lực với bạn, luôn giữ thái độ nhẹ nhàng thân tình, sẵn sàng động viên,
giúp đỡ những bạn không may gặp hoàn cảnh khó khăn, giúp đỡ nhau trong học
tập cũng như lúc vui chơi, không chia bè phái trong lớp, không nên ghét bạn mà
nên hòa đồng và là bạn tốt của nhau sau khi đã nói chuyện xong với bạn.
* Xây dựng tốt mối quan hệ: Gia đình - Nhà trường - Xã hội:
Có ba nhân tố chính trong việc giáo dục học sinh đó là: Gia đình, nhà
trường và xã hội. Trong đó, gia đình và nhà trường là hai môi trường mang tính
trực tiếp quyết định đến sự hình thành nhân cách của các em.
Gia đình luôn là chỗ dựa vững chắc cho các em, giúp các em vượt qua
mọi khó khăn để vươn lên trong cuộc sống. Chính vì thê tôi quyết tâm “ nối nhịp
cầu giáo dục” với cha mẹ các em, đi đến thống nhất các giáo dục an toàn, hiệu
quả nhất. Để làm tốt việc này, đầu năm học, dưới sự chỉ đạo của nhà trường, tôi
đã tổ chức cuộc họp cha mẹ học sinh và cùng đề ra kế hoạch biện pháp thực hiện
để có sự phối hợp nhịp nhàng giữa gia đình và nhà trường. Trong buổi họp phụ
huynh đầu năm tôi đã nêu rõ cho phụ huynh biết những quy định mà lớp cũng
như trường, đề nghị cha mẹ học sinh phối hợp thực hiện nghiêm túc nhằm đạt
hiệu quả giáo dục như mong muốn. Vì vậy tôi luôn chú trọng phát huy tác dụng
của sổ liên lạc lớp, thông qua sổ liên lạc thông báo với phụ huynh mọi hoạt động
của học sinh trong từng tháng, từng kì. Các em rất phấn khởi tự tin vào bản thân
khi sự phấn đấu của mình được bố mẹ, thầy cô và tâp thể lớp ghi nhận. Tôi còn
hướng dẫn phụ huynh nhắc nhở con em mình thực hiện hành vi theo từng bài
học. Đó là những kỹ năng giao tiếp trong cuộc sống thể hiện đúng và lễ phép với
người trên như: đi học và học về biết chào ông, bà, bố, mẹ, anh, chị, em, cách
chào đúng nói vừa đủ nghe, lễ phép. Biết tự giới thiệu họ tên của mình, họ tên
bố mẹ, người thân. Đầu tóc, quần áo gọn gàng. Biết lễ phép. Các kỹ năng tự
phục vụ, lao động. Biết giúp đỡ ông bà cha mẹ; đảm bảo an toàn cho bản thân...
Vì vậy, việc kết hợp thường xuyên, thông báo kịp thời từng đợt thi đua cho phụ
huynh để phụ huynh yên tâm phấn khởi về con em mình và có sự quan tâm thiết
thực.
2.3.5. Giải pháp 5: Giáo dục kĩ năng sống thông qua hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp:
Kỹ năng sống không thể được hình thành chỉ trên lý thuyết, cần phải có
quá trình thực hành, phải trải qua thực tế, các kỹ năng sẽ dần hình thành và
thành thói quen sống. Tham gia các hoạt động tập thể là cơ hội tốt để học sinh
trải nghiệm. Đó là qua các buổi hoạt động ngoài giờ lên lớp của trường, lớp:
Đội, Sao nhi đồng, ban Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp tham gia đầy đủ
các hoạt động do nhà trường như: Tổ chức các hoạt động kỷ niệm ngày 20/11,
kỷ niệm ngày 22/12, kỷ niệm ngày 8/3, ... Thông qua các hoạt động này, tôi có
thể lồng ghép giáo dục kĩ năng sống: hợp tác, hoà nhập, kỹ năng lãnh đạo cho
15


học sinh lớp mình thông qua cách phân công nhiệm vụ cho từng cá nhân trong
lớp, phát huy tinh thần chủ động, tích cực của các em để lớp mình chủ nhiệm có
thể đem lại thành tích cao. Đồng thời khuyến khích học sinh tham gia các buổi
vệ sinh sân trường, chăm sóc bồn hoa cây cảnh. Qua đó, học sinh được rèn các
kỹ năng lao động, ý thức trách nhiệm với công việc, được hoạt động trong
nhóm. Học sinh còn được rèn kỹ năng sống thông qua những buổi tuyên truyền
về phòng tránh tai nạn giao thông, tai nạn học đường, nói không với ma túy và
các tệ nạn xã hội. Phải phòng ngừa, ngăn chặn những tệ nạn xã hội trong học
sinh là điều ai cũng nhận thấy được, nhưng vấn đề là ở sự quyết tâm cao, là các
biện pháp thiết thực, cụ thể và hiệu quả từ trong mỗi gia đình, mỗi nhà trường và
rộng ra hơn nữa là ý thức trách nhiệm của toàn xã hội. Gia đình, nhà trường, xã
hội hãy cùng nhau góp sức để các em vững tin hơn trong cuộc sống.
Rèn kỹ năng sống cho học sinh kết hợp với rèn học sinh thực hiện các nề
nếp hàng ngày.
Ví dụ: Yêu cầu đi học đúng giờ: buộc học sinh phải có thói quen dậy sớm,
có tác phong nhanh nhẹn (rèn kỹ năng khắc phục khó khăn để đạt mục tiêu);
Yêu cầu xếp hàng ra vào lớp thẳng hàng, ngay ngắn, không xô đẩy nhau trong
hàng (rèn cho học sinh kỹ năng kiềm chế bản thân, kỹ năng vận động, gây ảnh
hưởng); Yêu cầu học sinh đến lớp phải có đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập ( rèn
cho học sinh kỹ năng tự kiểm tra, xây dựng kế hoạch).
.

Buổi sinh hoạt ngoài giờ lên lớp

Văn nghệ chào mừng 20/11 (Lớp 1B)

Hội thi Rung chuông vàng

Chúng em với An toàn giao thông

2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường:
Sau thời gian áp dụng các biện pháp rèn kỹ năng sống cho học sinh thì
cách xưng hô, lời nói, cử chỉ của các em từng bước thay đổi. Các em đã bạo dạn
hơn, tự tin hơn, mạnh dạn nói chuyện, trao đổi với cô giáo và các bạn, biết nhắc
nhở bạn khi bạn chưa thực hiện đúng hành vi đã học. Các em yêu thích các môn
học, thích chơi sắm vai, nói to rõ ràng, biểu đạt tốt, giờ học nhẹ nhàng, sôi nổi.
Tổ chức lớp học có nề nếp, các em đoàn kết chan hoà, vui vẻ, cởi mở trong giao
tiếp. Các em đã có ý thức tự vệ sinh cá nhân sạch sẽ, gọn gàng, biết giữ gìn đồ
dùng sách vở, sắp xếp sách vở gọn gàng, ngăn nắp. Biết yêu quý mọi người
trong gia đình, đoàn kết giúp đỡ bạn bè. Nói năng lễ phép, biết cảm ơn khi được
giúp đỡ, biết xin lỗi khi làm phiền lòng người khác, biết chào khi gặp mặt, tạm
biệt khi chia tay. Thực hiện tốt an toàn giao thông. Có ý thức chăm sóc, bảo vệ
hoa, cây xung quanh trường và nơi công cộng. Tự giác và tích cực hơn trong các
hoạt động học tập cũng như hoạt động ngoài giờ. Có trách nhiệm với việc làm
của mình và công việc chung. Biết tránh những người lạ, không để cho người lạ
tiếp. Điều quan trọng là qua các hoạt động đó tôi đã phát huy được khả năng,
16


năng lực vốn có của các em, rèn luyện cho các em các kĩ năng sống quan trọng
như trong phần nội dung sáng kiến tôi đã trình bày. Qua việc vận dụng các
phương pháp trên một cách tích cực: không khí ở lớp luôn hồ hởi, thích thú, các
em tỏ ra say mê và tích cực chủ động chiếm lĩnh kiến thức. Các em ngày càng
năng động hơn, tư duy của các em phát triển hơn nhiều so với đầu năm. Ngoài
ra, các em còn biết lập những kế hoạch học tập ở lớp, ở nhà và cả kế hoạch giúp
đỡ những bạn học chậm. So với đầu năm học những học sinh thụ động nhút
nhát, các em đã dần tự tin hơn, mạnh dạn hơn khi giao tiếp với bạn bè. Trong
các giờ học, các em đã có ý kiến phát biểu với thầy cô, với bạn bè. Với bạn bè
các em luôn biết quan tâm, chia sẻ và giúp đỡ nhau trong học tập. Tất cả học
sinh đều được tạo mọi điều kiện khuyến khích khơi dậy tính tò mò, phát triển trí
tưởng tượng, năng động, mạnh dạn, tự tin, rèn luyện phù hợp với khả năng. Hầu
hết các em đều có thói quen lao động tự phục vụ, được rèn luyện kĩ năng tự lập,
nhận thức và vận động nhỏ... Xuất phát từ thực tiễn của lớp và nhiều năm làm
công tác chủ nhiệm cũng như qua quá trình thực hiện các biện pháp giáo dục kĩ
năng sống cho học sinh thông qua công tác chủ nhiệm, tôi thấy học sinh trong
lớp có chuyển biến rõ rệt về nề nếp và chất lượng học tập của học sinh cũng
được nâng lên. Điều này được thể hiện qua chất lượng giữa học kì 2 cụ thể như
sau:
SỐ HS

33

KỸ NĂNG TỐT

CÓ KỸ NĂNG

KỸ NĂNG CHƯA TỐT

SL

TL (%)

SL

TL (%)

SL

TL (%)

17

52

15

45

1

3

Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh không phải là công việc “một sớm,
một chiều” mà đòi hỏi phải có quá trình, kiên nhẫn và bằng cả tâm huyết và ở
mọi lúc, mọi nơi, thực hiện càng sớm càng tốt đối với trẻ em. Để tiếp tục quá
trình giáo dục, rèn kỹ năng sống cho học sinh cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa
gia đình và nhà trường. Đồng thời môi trường sống lành mạnh, xã hội văn minh
cũng là yếu tố thúc đẩy hình thành những kỹ năng tốt.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh là một việc làm hết sức cần thiết của
xã hội, các em không chỉ biết học giỏi về kiến thức mà còn phải được tôi luyện
những kỹ năng sống qua đó tạo cho các em một môi trường lành mạnh, an toàn,
tích cực, vui vẻ. Việc giáo dục kỹ năng sống ngay từ lớp nhỏ sẽ rút ngắn thời
gian để trang bị cho các em vốn kiến thức, kỹ năng, giá trị sống để làm hành
trang bước vào đời. Nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh trong nhà trường chính là các thầy cô giáo; đối với cộng
đồng thì đó là các bậc phụ huynh, ông bà, họ hàng thân thích, những người lớn
tuổi. Việc chăm sóc và giáo dục trẻ em, bồi dưỡng trẻ em trở thành công dân tốt
của đất nước là một công việc vô cùng quan trọng mà mỗi giáo viên, mỗi gia
17


đình, nhà trường và toàn xã hội phải cùng có trách nhiệm. Giáo dục kĩ năng sống
cho học sinh thông qua công tác chủ nhiệm là một trong những nội dung giáo
dục quan trọng. Có được kĩ năng sống sẽ giúp các em học sinh tự tin bước vào
cuộc sống tương lai. Tăng cường rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh chính là
nâng chất lượng nguồn lực đáp ứng yêu cầu hội nhập hiện nay. Thấy được sự
cần thiết, cấp bách của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thì người giáo
viên chủ nhiệm phải xác định được nội dung, biện pháp trong công tác giáo dục
kĩ năng sống thông qua công tác chủ nhiệm để định hướng cho các em cách
sống, cách tu dưỡng, cách rèn luyện đạo đức để trở thành người có ích cho gia
đình và xã hội. Với nhận thức đó tôi tin rằng việc giáo dục kĩ năng sống cho học
sinh thông qua công tác chủ nhiệm lớp có vai trò rất lớn trong việc nâng cao
chất lượng cũng như hình thành nhân cách cho học sinh. Vai trò của giáo viên
chủ nhiệm khi tham gia công tác giáo dục không chỉ là nắm được những chỉ số
của quản lí hành chính đơn thuần như tên, tuổi, số lượng, hoàn cảnh gia đình của
học sinh, trình độ học sinh về học lực, phẩm chất đạo đức mà còn phải dự báo
xu hướng, tổ chức giáo dục, dạy học phù hợp điều kiện khả năng của từng học
sinh. Vì vậy trong quá trình dạy học lớp 1B, tôi luôn vận dụng các biện pháp
trên một cách linh hoạt. Nhờ áp dụng các biện pháp trên một cách linh hoạt mà
tôi luôn giữ mối quan hệ gần gũi với học sinh, khuyến khích các em nói ra
những gì mình nghĩ để tất cả các giờ học đều thoải mái, vui tươi và sôi nổi hơn.
Có thể khẳng định, đến nay các em học sinh lớp 1B đã có nhiều tiến bộ trong
phát triển năng lực và phẩm chất.
3.2. Kiến nghị:
* Với giáo viên: Để phù hợp với giai đoạn hiện nay tôi nghĩ mỗi giáo viên
chủ nhiệm cần đổi mới nội dung, phương pháp và kĩ năng thực hiện công tác
chủ nhiệm như sau:
- Giáo viên cần hiểu đúng về vai trò, tầm quan trọng của việc rèn kỹ năng
sống cho học sinh.
- Nắm được mục tiêu giáo dục nói chung, mục tiêu lớp học, kế hoạch
nhiệm vụ giáo dục dạy học của năm học.
- Hiểu được đặc điểm tâm lí, trình độ hiểu biết, vốn sống của học sinh
Tiểu học nói chung và đặc biệt là học sinh lớp 1 nói riêng.
- Luôn taoh được môi trường giáo dục thân thiện, hòa đồng và tin cậy.
- Có kế hoạch nghiên cứu đặc điểm gia đình và đặc điểm của từng học
sinh của lớp chủ nhiệm.
- Cần năng động, sáng tạo, luôn cập nhật thông tin thường xuyên để có
biện pháp giáo dục phù hợp với từng giai đoạn hiện nay.
- Phối kết hợp chặt chẽ với gia đình, Đội TNTP Hồ Chí Minh và nhà
trường trong công tác giáo dục, rèn kỹ năng sống cho học sinh.
- Kết hợp chặt chẽ với Ban giám hiệu nhà trường và giáo viên bộ môn.
- Giáo viên thường xuyên trao đổi, liên hệ với cha mẹ học sinh để phối
hợp cùng giáo dục các một cách toàn diện nhất.
- Giáo viên phải biết duy trì và phát huy những nề nếp tốt, khắc phục
những mặt còn hạn chế của học sinh trong lớp.
18


Ngoài ra, giáo viên chủ nhiệm phải luôn là tấm gương sáng cho học sinh
noi theo.
* Với các cấp lãnh đạo: Cần tổ chức hội thảo trao đổi kinh nghiệm về
biện pháp rèn kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học để giáo viên có điều kiện trao
đổi học hỏi lẫn nhau nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.
Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân, trong việc “Giáo dục kĩ
năng sống cho học sinh lớp 1” rất mong các đồng chí, đồng nghiệp tham khảo và
đóng góp thêm ý kiến.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Xác nhận của
Thủ tưởng đơn vị

Hậu Lộc, ngày 05 tháng 3 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Người viết

Hoàng Thị Thu

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×