Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động khám phá khoa học cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi trường mầm non hoa lộc

PHÒNG
PHÒNG GIÁO
GIÁO DỤC
DỤC VÀ
VÀ ĐÀO
ĐÀO TẠO
TẠO HẬU
HẬU LỘC
LỘC

TRƯỜNG
TRƯỜNG MẦM
MẦM NON
NON HOA
HOALỘC
LỘC

SÁNG
SÁNG KIẾN
KIẾN KINH
KINH NGHIỆM

NGHIỆM

“MỘT
SỐBIỆN
BIỆNPHÁP
PHÁPNÂNG
NÂNGCAO
CAOCHẤT
CHẤTLƯỢNG
LƯỢNG HOẠT
HOẠT
MỘT SỐ
ĐỘNG KHÁM
KHÁM PHÁ
PHÁ KHOA
KHOA HỌC
HỌC CHO
CHO TRẺ
TRẺ MẪU
MẪU GIÁO
GIÁO 55 -- 66
ĐỘNG
TUỔI
TUỔITRƯỜNG
TRƯỜNGMẦM
MẦMNON
NONHOA
HOALỘC”.
LỘC

Người
thực
hiện:
Thị
Nhung
Người
thực
hiện:Hoàng
Hoàng
Thị
Nhung
Chức
vụ:
Giáo
viên
Chức vụ: Giáo viên
Đơn
vị vị
công
tác:
Mầm
Non
Hoa
Lộc
Đơn
công
tác:Trường
Trường
Mầm
Non
Hoa
Lộc
SKKN
thuộc
lĩnh
vực:
Chuyên
môn
SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn

HẬU
HẬU LỘC,
LỘC, NĂM
NĂM 2019
2019


MỤC LỤC
1.MỞ
ĐẦU............................................................................................................1
1.1. Lý do chọn đề tài............................................................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu......................................................................................2
1.3. Đối tượng nhiên cứu.......................................................................................2
1.4. Phương pháp nghiên cứu................................................................................2
1.5. Những điểm mới của SKKN..........................................................................2
2. NỘI
DUNG.......................................................................................................3
2.1. Cơ sở lý
luận...................................................................................................3
2.2.Thực trạng vấn đề............................................................................................4
2.3. Các biện pháp thực hiện.................................................................................6
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường.........................................................................17
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.......................................................................18
3.1. Kết luận........................................................................................................19
3.2. Kiến nghị......................................................................................................20


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Thu Hương ,Tuyển chọn trò chơi, bài hát, thơ ca, truyện, câu đố 5 - 6 tuổi
Của NXB giáo dục Việt nam.
2. Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Thị Mỹ Ngọc: Hướng dẫn thực hiện chương trình
giáo dục Mầm non cho trẻ 5 - 6 tuổi, Nhà xuất bản Hà nội
3. TS Hoàng Thị Oanh, Nguyễn Thị Xuân Giao, Giáo trình MTXQ, NXB Huế
2007
4. Hoàng Thị Dinh, Nguyễn Thị Thanh Giang, Bùi Thị Kim Tuyến: Hướng dẫn
thực hành áp dụng quan điểm giáo dục. Lấy trẻ làm trung tâm trong trường Mầm
Non. Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam.


PHỤ LỤC

Ảnh 1: Khuôn viên trường Mầm non Hoa lộc. ( Phụ lục 1)

Ảnh 2: Cô cùng trẻ đang sắp xếp đồ chơi.( Phụ lục 2)

Ảnh 3: Phụ huynh gom phế liệu. ( Phụ lục 3)

Ảnh 4: Vệ sinh phế liệu thu gom. ( Phụ lục 4)

Ảnh 5: Bộ đồ chơi lắp ghép sáng tạo. ( Phụ lục 5)

Ảnh 6: Hình thức hoạt động trải nghiệm theo nhóm.( Phụ lục 6)

Ảnh 7: Thí nghiện quan sát vật chìm nổi.( Phụ lục 7)


1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài.
Giáo dục mầm non là bậc học hết sức quan trọng, một mắc xích đầu tiên
trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện nhân
cách trẻ. Đến trường trẻ được học, được chơi, được tiếp xúc với nhiều bạn, được
sống trong tình thương của cô giáo, được khám phá thế giới bí ẩn xung quanh.
Vì thế trường mần non được xem như là tổ ấm thứ hai của trẻ. Trẻ mẫu giáo
“Học bằng chơi, chơi mà học”. Trẻ rất hiếu động, tò mò, ham muốn học hỏi,
thích tìm hiểu thế giới xung quanh. Trong khi chơi, trẻ thực sự học để lĩnh hội
các khái niệm ban đầu và các tri thức tiền khoa học. Qua đó hình thành nhân
cách ban đầu của một con người.
Theo kết quả nghiên cứu của ngành giáo dục mầm non là bậc học quan
trọng nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân. Chính vì vậy mục tiêu của giáo
dục mầm non là hình thành những cơ sở ban đầu tạo nền tảng cho sự hình thành
nhân cách và tư duy cho mỗi người. Qua đó giúp hình thành bước đầu phẩm
chất đạo đức, khuyến khích việc khám phá khoa học công nghệ trong thời đại
mới.
Hoạt động khám phá khoa học trong trường mầm non là một trong những
hoạt động quan trọng trong việc giáo dục trẻ ở lứa tuổi mầm non, có tác dụng
góp phần tích cực giáo dục toàn diện, cung cấp cho trẻ những biểu tượng ban
đầu của các sự vật hiện tượng về thế giới xung quanh, giúp trẻ hiểu biết sơ đẳng
về đặc điểm, tính chất, mối quan hệ và sự phát triển của thế giới xung quanh. Từ
đó giúp trẻ có tâm hồn trong sáng, nhân hậu, biết kính yêu những người có công
với đất nước, trân trọng và giữ gìn sản phẩm lao động, yêu quý và bảo vệ thiên
nhiên, bảo vệ và giữ gìn những truyền thống của dân tộc, góp phần hình thành ở
trẻ những xúc cảm, những kinh nghiệm của cuộc sống, giúp trẻ dễ dàng lĩnh hội
những nội dung của hoạt động vui chơi, lao động, học tập.
Ai cũng biết trẻ ở lứa tuổi mầm non rất thích tìm hiểu, khám phá thế giới
xung quanh, bởi thế giới xung quanh thật bao la rộng lớn, có biết bao điều mới
lạ hấp dẫn và còn có bao điều lạ lẫm khó hiểu, trẻ tò mò muốn biết, muốn được
khám phá. Trẻ thường đặt các câu hỏi ...ai..Cái gì?..Thế nào?...Làm sao? Để trả
lời những băn khoăn thắc mắc của trẻ hoạt động khám phá khoa học đã giúp trẻ
giải quyết những băn khoăn đó và qua tìm hiểu về thế giới xung quanh đã mang
lại cho trẻ nguồn biểu tượng vô cùng phong phú, đa dạng, sinh động, đầy hấp
dẫn với trẻ thơ, từ môi trường tự nhiên (cỏ cây, hoa lá, chim ….) đến môi trường
xã hội (công việc của mỗi người trong xã hội, mối quan hệ của con người với
nhau …) và trẻ hiểu biết về chính bản thân mình, vì thế trẻ luôn có niềm khao
khát khám phá, tìm hiểu về chúng.
Từ khi sinh ra trẻ đã có nhu cầu tìm hiểu, khám phá về thế giới xung
quanh, khi trẻ càng lớn lên thì nhu cầu đó ngày càng lớn, nhưng vì trẻ nhỏ chưa
có vốn kinh nghiệm, trẻ chưa thể tự khám phá được về thế giới xung quanh nên
người lớn phải giúp đỡ trẻ, phải tổ chức, hướng dẫn trẻ tham gia vào các hoạt
động nhằm cho trẻ làm quen, khám phá về môi trường xung quanh. Khi trẻ làm
quen với khám phá khoa học sẽ giúp trẻ tích lũy được vốn sống, vốn kinh
1


nghiệm, những kiến thức, kỹ năng, về tự nhiên và xã hội, giúp trẻ phát triển toàn
diện về các mặt: Đức – Trí – Thể - Mỹ và lao động cụ thể là:
Đối với phát triển trí tuệ: Khi trẻ làm quen với khám phá khoa học sẽ giúp
trẻ biết được tên gọi, cấu tạo, đặc điểm, tính chất, công dụng, cách sử dụng và
các mối quan hệ, liên hệ của các sự vật hiện tượng.
Đối với phát triển thể lực: Qua việc cho trẻ làm quen khám phá khoa học
rèn luyện cho trẻ có một số kỹ năng vận động, giúp trẻ có thể lực tốt.
Đối với thẩm mỹ: Khi cho trẻ làm quen với khám phá khoa học sẽ giúp trẻ
hiểu được cái đẹp trong tự nhiên, trong cuộc sống con người, từ đó trẻ biết yêu
cái đẹp, biết hướng tới cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp.
Đối với đạo đức: Qua việc làm quen với khám phá khoa học sẽ giáo dục
trẻ có lòng yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, yêu cây cỏ, con vật từ đó trẻ có ý
thức chăm sóc và bảo vệ thiên nhiên.
Đối với lao động: Qua việc làm quen với khám phá khoa học sẽ hình
thành và rèn luyện cho trẻ có một số kỹ năng lao động như nhặt lá, tưới cây.
Trên thực tế, giáo viên khi tổ chức hoạt động khám phá khoa học thường
chỉ chú trọng cho trẻ tìm hiểu các đặc điểm bề ngoài đơn thuần như: Tên gọi,
các bộ phận, màu sắc, hình dáng, công dụng của sự vật hiện tượng trong môi
trường xung quanh, chưa chú trọng việc cho trẻ trải nghiệm sử dụng các giác
quan trong quá trình quan sát và tìm hiểu sự thay đổi của các sự vật hiện tượng.
Trẻ thường chỉ được nhìn, nghe và trả lời, ít được sờ vào các đồ vật và làm thử
nghiệm. Đặc biệt các câu hỏi đặt ra trong quá trình quan sát thường chưa mang
tính tích cực, sáng tạo của trẻ. Từ đó dẫn tới chất lượng của hoạt động còn thấp
chưa mang lại kết quả như mục đích yêu cầu đề ra.
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động khám phá khoa học trong
trường mầm non nên tôi luôn trăn trở, tìm tòi, nghiên cứu để có những phương
pháp hay, hấp dẫn và phù hợp với yêu cầu của từng bài và từng chủ đề, để cố
gắng đưa giờ học đạt kết quả cao. Nên tôi đã quyết định chọn đề tài nghiên cứu
của mình là: "Một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động khám phá khoa
học cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trường Mầm non Hoa Lộc”.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Đề ra một số biện pháp tốt để nâng cao chất lượng phát triển nhận thức
hoạt động khám phá khoa học cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi trong trường Mầm non
Hoa lộc.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
32 cháu lớp 5 – 6 tuổi B. "Một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt
động khám phá khoa học cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trường Mầm non Hoa Lộc"
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
+ Phương pháp lý luận: Đọc tài liệu, khái quát hóa các nhận định độc lập.
+ Phương pháp thống kê toán học: Phương pháp tổng hợp và điều tra số liệu
+ Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo
dục, phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp trao đổi đàm thoại.
1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm:
Năm học 2017 - 2018 tôi làm sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp
nâng cao chất lượng hoạt động khám phá khoa học cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
2


trường Mầm non Hoa Lộc ". Nhận thấy kết quả thu lại đối với trẻ của năm học
trước chưa cao, tôi chưa đi sâu vào nghiên cứu các phương pháp, làm đồ dùng
đồ chơi sáng tạo, một số phương pháp còn nghèo, chưa trọng tâm đặc biệt trên
trẻ. Chính vì vậy để nâng cao chất lượng của hoạt động khám phá khoa học thật
sự lên một hoạt động góp phần vào sự phát triển toàn diện của trẻ 5 tuổi. Chính
vì vậy năm học 2018 – 2019 tôi tiếp tục nghiên cứu hoạt động khám phá khoa
học để tìm ra phương pháp, giải pháp hay của hoạt động khám phá khoa học đến
với trẻ một cách nhẹ nhàng mà trong năm học này đạt hiệu quả nhất.
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận.
Nhà tâm lý học lỗi lạc Jean Piaget sống tại Neuchâtel Thụy sĩ, đã giải
thích tính ham hiểu biết của trẻ và khát vọng hành động của trẻ trong môi trường
bởi quá trình tự điều chỉnh hay còn gọi là sự cân bằng. Trẻ từ 3 – 5 tuổi quá trình
tư duy của trẻ có nhiều thay đổi từ giai đoạn cảm giác – vận động đến giai đoạn
tư duy tiền thao tác, kèm theo tư duy tượng trưng để trẻ tìm hiểu các sự vật, hiện
tượng xung quanh.
Có lẽ ngay từ lúc cất tiếng khóc chào đời cho tới khi biết cầm nắm các vật
trên tay, hay khi trẻ biết bước những bước đi chập chững đầu tiên của cuộc đời,
trẻ đã muốn tìm hiểu và khám phá về thế giới xung quanh.
Xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, ở tuổi này ý thức đang được hình
thành, trẻ có khả năng so sánh mình với người khác. Trẻ đã được biết giới tính
của mình và biết phải thể hiện thế nào cho phù hợp với giới tính. Trẻ có thể lĩnh
hội các khái niệm sơ đẳng, có cách lập luận dần chính xác hơn.
Do khả năng tập trung, chú ý của trẻ lâu hơn, bền vững hơn, ghi nhớ của trẻ
có chủ định hơn nên khả năng khám phá sự vật, hiện tượng ở trẻ cũng tốt hơn
làm cho khối lượng trí thức về sự vật, hiện tượng của trẻ ngày càng phong phú
hơn. Đây là cơ sở để trẻ có thể tiến hành các thao tác so sánh những đặc điểm
giống nhau và khác nhau của một vài đối tượng, phân nhóm đối tượng theo một
hay vài dấu hiệu rõ nét.
Bên cạnh lối tư duy trực quan hình tượng đang phát triển mạnh mẽ ở trẻ 56 tuổi còn xuất hiện kiểu tư duy trực quan sơ đồ. Nhờ đó, trẻ có thể khám phá
các mối liên hệ bên trong sự vật, hiện tượng và giữa nó với môi trường xung
quanh. Hình thức tư duy mới này là bước đệm để chuyển từ kiểu tư duy trực
quan sơ đồ sang hình thức tư duy cao hơn - tư duy lô gíc. Như vậy trẻ đã biết
đánh giá bạn qua xúc cảm, tình cảm, hành động cụ thể của chúng và quan hệ bạn
bè đã thể hiện tương đối rõ ở lứa tuổi này.
Ở lứa tuổi mầm non tâm hồn trẻ rất ngây thơ và trong sáng “Học bằng chơi,
chơi mà học” thế giới xung quanh qua “Lăng kính chủ quan” của trẻ, tất cả đều
mới lạ “Với biết bao điều kỳ diệu” và “vì sao lại thế ?” hay “vì sao thế nhỉ ?”…
luôn là những câu hỏi thắc mắc, là những điều trẻ luôn khao khát muốn biết,
muốn tìm hiểu và khám phá.
Qủa thực, hoạt động khám phá khoa học có tầm quan trọng đặc biệt đối với
sự phát triển tâm lý của trẻ lứa tuổi mầm non nói chung và độ tuổi mẫu giáo 5 6 tuổi nói riêng. Vì vậy cho trẻ khám phá khoa học chính là tạo điều kiện, cơ hội
và tổ chức các hoạt động để trẻ tích cực tìm tòi phát hiện về các hiện tượng sự
3


vật xung quanh. Đây thực chất là quá trình tạo ra môi trường hoạt động, tạo ra
các tình huống và tổ chức các hoạt động cho trẻ tiếp xúc, trải nghiệm với các sự
vật hiện tượng của khám phá khoa học, qua đó trẻ hiểu biết về đặc điểm, tính
chất, các mối quan hệ, sự thay đổi và phát triển của chúng. Giúp trẻ học được
các kỹ năng quan sát, phân nhóm, phân loại, phán đoán giải quyết vấn đề, truyền
tải ý kiến của mình và đưa ra kết luận về các sự vật hiện tượng đã quan sát, tiếp
xúc. Hoạt động cho trẻ tiếp xúc tìm tòi, khám phá giúp trẻ được tiếp xúc với môi
trường tự nhiên và môi trường xã hội, từ đó trẻ lĩnh hội được những kiến thức sơ
đẳng, những hiểu biết, những kinh nghiệm để trẻ học cách làm người. Thông
qua hoạt động khám phá khoa học cô đưa trẻ đến thế giới thiên nhiên đa dạng
phong phú và hấp dẫn, giúp trẻ hiểu biết về xã hội đang đổi mới từng ngày, từng
giờ trong sự nghiệp và xây dựng tổ quốc, giúp trẻ luôn hướng tới cái thiện, ấn
tượng về cái đẹp và những cảm xúc chân thành, những phẩm chất tốt đẹp về
nhân cách con người.
Do đó cho trẻ hoạt động khám phá khoa học sẽ phát triển ở trẻ kỹ năng
nhận thức, kỹ năng xã hội đồng thời giáo dục thái độ ứng sử và thái độ khoa
học, trẻ biết cách học, cách nghĩ, cách hành động khám phá thế giới xung quanh
trẻ.
Chính vì thế tôi đã trăn trở suy nghĩ làm thế nào để đưa trẻ đến với hoạt
động khám phá khoa học một cách tự nhiên nhất, giúp trẻ tích cực tham gia vào
hoạt động. Đồng thời phát triển hoàn thiện hơn nữa những kỹ năng tư duy, tưởng
tượng, sáng tạo và phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
2.2. Thực trạng của vấn đề.
* Thuận lợi:
- Trường mầm non Hoa Lộc đã đạt chuẩn quốc gia vào tháng 1/2015 chính vì
vậy cơ sở vật chất được đảm bảo.
- Được sự quan tâm của Đảng bộ và nhân dân xã Hoa Lộc đã xây dựng khuôn
viên nhà trường khang trang, sạch đẹp.
- 100% cán bộ giáo viên nhà trường đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn.
- Năm học 2018 - 2019, được sự phân công của Ban giám hiệu trường Mầm non
Hoa lộc, tôi được dạy lớp 5 - 6 tuổi B. Với tổng số là 32 cháu.
- Các cháu đều ngoan ngoãn, chăm học, thân thiện với bạn bè và lễ phép biết
vâng lời cô giáo, bố mẹ.
- Nhà trường thường xuyên tạo điều kiện xây dựng các tiết mẫu, tổ chức dự giờ
thao giảng, sinh hoạt chuyên môn đều đặn theo chủ đề, để giáo viên được dự
giờ, trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp.
* Khó khăn:
- Nhận thức của trẻ không đồng đều, có trẻ mạnh dạn, có trẻ nhút nhát khi khám
phá và làm thí nghiệm, chậm tiếp thu khi chưa nêu ý kiến của mình khi tham gia
hoạt động.
- Góc thiên nhiên còn chưa sinh động.
- Đồ dùng vật mẫu, vật thật phục vụ hoạt động khám phá khoa học còn hạn chế.
Nên ảnh hưởng đến việc tiếp thu bài của trẻ.

4


- Một số trẻ còn nhút nhát không tích cực hoạt động, khả năng tiếp thu chậm.
Thậm chí có 1 vài trẻ có cá tính bướng bỉnh khi quan sát môi trường bên ngoài
không theo sự hướng dẫn của cô giáo.
- Vốn hiểu biết về hoạt động khám phá khoa học của trẻ còn nghèo nàn, đồ chơi
của trẻ cũng rất ít, nên dẫn đến thiếu những hình ảnh đẹp sinh động để trẻ dễ
quan sát, một số trẻ phát âm chưa rõ, chưa diễn tả được ý hiểu của mình đối với
người khác.
- Một số gia đình chưa quan tâm đến hoạt động khám phá khoa học của trẻ.
Từ thực trạng trên tôi đã tiến hành khảo sát trên trẻ ở lớp tôi chủ nhiệm,
kết quả đạt như sau:
* Khảo sát thực trạng:
*Bảng 1: Kết quả khảo sát thực trạng đầu năm.
Nội dung
TS
Đạt yêu cầu
Chưa đạt y/c
trẻ Tốt
Khá
TB
Yếu
Kém
ST %
Trẻ hứng thú
tham gia hoạt 32
động.
Trẻ phát âm,
nhận biết một số
đặc điểm của 32
các sự vật, hiện
tượng.

ST %

ST

%

ST

%

ST %

5

15,6 5

15,6 20

62,5

2

6,25 0

0

4

12,5 5

15,6 20

62,5

3

9,4

0

0

Trẻ quan sát, so
sánh, phân loại 32 3
9,4 6
18,7 20
62,5 3
9,4 0
0
sự vật hiện
5
tượng đúng.
Trẻ biết dự đoán 32 3
9,4 6
18,7 20
62,5 3
9,4 0
0
và suy luận.
5
* Nguyên nhân: Qua khảo sát ở trên lớp cho thấy kết quả chưa đạt yêu cầu
còn cao, số trẻ đạt yêu cầu tỉ lệ tốt, khá còn thấp chưa tạo sự thõa mãn nhu cầu
và phát triển của trẻ vì.
+ Đối với cô:
- Phương pháp dạy của cô chưa linh hoạt, sáng tạo.
- Đồ dùng, đồ chơi, trang thiết bị phục vụ các hoạt động còn ít, độ thẩm mỹ chưa
cao.
- Bố mẹ trẻ đa phần làm nông nghiệp và công ty nên ít có thời gian cho trẻ trải
nghiệm nhiều về môi trường xung quanh.
- Các góc thiên nhiên chưa sinh động.
+ Đối với trẻ:
- Một số trẻ đang còn nói ngọng, chưa rõ ràng, phát âm chưa chuẩn.
- Trẻ trải nghiệm về khám phá khoa học của trẻ chưa được nhiều.
- Vốn hiểu biết về hoạt động khám phá khoa học của trẻ chưa sâu.
5


Từ kết quả trên bản thân tôi luôn suy nghĩ tìm ra những phương pháp,
biện pháp để khắc phục một số khó khăn tồn tại trên và phát triển khả năng
khám phá khoa học cho trẻ một cách có hiệu quả nhất.
2.3. Các biện pháp thực hiện:
* Biện pháp 1: Xây dựng môi trường học tập cho trẻ.
Thực hiện nội dung “ Xây dựng môi trường lấy trẻ làm trung tâm” trường
mầm non Hoa Lộc đã quy hoạch và thiết kế khuôn viên nhà trường phù hợp với
không gian, diện tích của trường mình như: Khu chơi vận động (cột bóng rổ,
thang leo, sân chơi bóng đá mini, ném còn, cầu côn...); khu vực chơi với đồ chơi
ngoài trời (cầu trượt, đu quay, bập bênh, nhà bóng...); khu vực chơi với đất, cát,
nước, đá, sỏi...; khu vực trẻ trồng rau, trồng cây và chăm sóc cây cối; khu chơi
với các nhân vật cổ tích, hay còn gọi là “Vườn cổ tích”; khu trồng cây thuốc
nam; khu “Sân khấu ngoài trời”; khu trồng cỏ, trồng hoa, trồng cây cảnh, cây ăn
quả, cây bóng mát trên sân trường; khu tạo sân cỏ... Hệ thống đường đi lối lại
trên sân; độ cao của hệ thống tường bao, độ rộng của cổng và biểu bảng nhà
trường đặt bảng tuyên truyền…đảm bảo hài hòa. Ngoài cây lâu năm cần trồng,
nhà trường trồng bổ sung cây xanh hàng năm.
Khuôn viên của trường rộng rãi, trang trí đẹp, đảm bảo độ an toàn cho trẻ
nhà trường: Không trồng loại cây có gai, độc… Bảng biểu ngoài sân, tủ đựng đồ
dùng cá nhân của trẻ cần được ghim, vít chặt chẽ.
Ảnh 1: Khuôn viên nhà trường. (Phụ lục 1)
* Đối với môi trường bên ngoài lớp học: Môi trường ngoài lớp học là yếu tố góp
phần tích cực trong các hoạt động nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục toàn
diện cho trẻ.
Ngay từ đầu năm học tôi trang trí khu vực bên ngoài lớp học, tôi làm
những bức tranh tuyên truyền cho các bậc phụ huynh mang nội dung chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục như:
Nội dung chăm sóc như phòng bệnh theo mùa và các bệnh thường gặp
như các bệnh: Viêm phổi, sốt vi rút, tả, suy dinh dưỡng, rối loại tiêu hóa…
Đối với nội dung nuôi dưỡng: Tôi làm biểu bảng cân đo theo giai đoạn để
phụ huynh đưa trẻ đến trường nhìn lên biểu bảng biết được con mình đang ở
mức độ cân nào để điều chỉnh, cùng phối hợp với giáo viên có biện pháp điều
chỉnh phù hợp để trẻ phát triển một cách tốt nhất.
Đối với nội dung giáo dục trẻ mẫu giáo có 5 lĩnh vực, mỗi lĩnh vực đảm
bảo nội dung cụ thể, cùng với các hoạt động của trẻ theo tháng, tuần, một ngày
của trẻ. Đối trẻ mẫu giáo một ngày của trẻ 9 hoạt động trong ngày cụ thể đó là:
Đón trẻ, thể dục sáng, điểm danh; học; chơi hoạt động góc; chơi ngoài trời; ăn
bữa chính; ngủ; ăn bữa phụ; chơi hoạt động theo ý thích; trả trẻ.
Ngoài ra tôi còn làm các tranh tuyên truyền khác thay đổi theo từng chủ
đề. Như đầu năm chủ đề “Bản thân” tôi treo tranh cơ thể bé để giáo dục trẻ biết
được cơ thể bé gồm các bộ phận và biết được chức năng các bộ phận đó và trẻ
biết các chăm sóc và bảo vệ cơ thể của mình.
* Đối với môi trường trong lớp:
Thực tế lớp tôi đã được nhà trường trang bị đồ dùng đồ chơi song vẫn còn
thiếu một số đồ dùng và không gian để trẻ thực hành còn chật hẹp. Trước yêu
6


cầu thực tế trong quá trình giảng dạy hoạt động khám phá khoa học. Tôi luôn
băn khoăn trăn trở muốn giờ học đạt kết quả cao thì yêu cầu giáo viên phải có
đầy đủ đồ dùng học tập và tạo ra môi trường học tập của trẻ phải thật tốt từ đó
tôi đã đặt ra cho mình kế hoạch làm đồ dùng đồ chơi, trang trí các góc lớp phục
vụ cho giảng dạy.
Ngay từ đầu năm học tôi mạnh dạn đề xuất với ban giám hiệu nhà trường
trang bị thêm cho các lớp các thiết bị đồ dùng dạy học như ti vi, bảng, tranh ảnh
lô tô, và một số các mô hình mô phỏng để phục vụ dạy học. Tôi đã xây dựng môi
trường học tập trong lớp đẹp hấp dẫn trẻ bằng cách tôi tìm hiểu yêu cầu của các
chủ đề căn cứ vào diện tích phòng học của lớp mình và đặc điểm tâm sinh lý của
lứa tuổi 5 - 6 tuổi để tạo môi trường đẹp xung quanh trẻ.
Trong lớp tôi sắp xếp không gian lớp học hợp lí: Gần gũi, quen thuộc với
cuộc sống thực hàng ngày của trẻ. Có sự phân chia giữa các góc rõ rệt, phù hợp.
Thiết kế các góc chơi phù hợp diện tích lớp, độ tuổi. Đảm bảo cho trẻ di chuyển
dễ dàng giữa các góc mà không va chạm vào nhau hoặc vấp ngã hay va chạm
vào đồ vật. Để gây ấn tượng cho trẻ tôi cùng trẻ sưu tầm thiết kế các hình ảnh ngộ
nghĩnh đáng yêu có mầu sắc đẹp, các góc lớp tôi đánh tên bằng các chữ in
thường, bố cục hợp lý và đặt tên thật ngộ nghĩnh phù hợp với tâm lý của trẻ cụ
thể:
- Mảng chủ đề tôi trang trí ở vị trí chính để trẻ dễ nhìn thấy, nội dung của các
mảng chủ đề thường tổng hợp các hình ảnh về chủ đề như: “Trường Mầm non”
có các nhánh như : Lớp học mà bé thích, Bé vui tết trung thu.
- Để gây hứng thú cho trẻ trong các góc tuỳ theo từng chủ đề mà tôi có thể
chuẩn bị mảng kiến thức và các đồ dùng nguyên vật liệu, phù hợp để trang trí
theo hình thức mở “Lấy trẻ làm trung tâm” Trẻ tự lấy đồ tháo ra lắp vào được,
các góc phù hợp với nội dung của góc đó.
+ Đối với lĩnh vực phát triển nhận thức (Góc làm quen với toán và khám phá
khoa học). Hai hoạt động này trang trí song song với nhau. Tôi bố trí góc phát
triển nhận thức xa với các góc động. Tôi trưng bày đồ dùng như sách, bút màu,
bút chì, ký hiệu vừa tầm với trẻ cho trẻ dễ lấy dễ cất, các tranh lô tô được phân
loại để vào các ô giá vừa dễ lấy vừa dễ tìm như lô tô con vật vào một ô, lô tô các
loại hoa quả vào một ô, đối với tranh đều có các ký hiệu tương ứng để trẻ dễ
nhận biết. Mặt khác các đồ dùng, đồ chơi liên quan đến các chủ đề, tôi sắp xếp
phía dưới bằng các hộp thùng sữa tôi bọc giấy ngoài màu đến chủ đề nào tôi
trưng bày sắp xếp ra chủ đề đó ra.
Ảnh 2: Cô cùng trẻ đang sắp xếp đồ chơi.( Phụ lục 2)
+ Đối với lĩnh vực phát triển ngôn ngữ (Góc văn học, làm quen chữ cái): Tôi bố
trí trên giá chủ yếu là sách vẽ về các con vật, cây cối, hoa, lá, quả và các loại
tranh ảnh vừa tầm với trẻ để trẻ dễ xem, với các đồ dùng dưới các dạng hột hạt,
sỏi, vỏ hến, vỏ ngao… tôi đều đựng vào các hộp và mỗi hộp đều gắn mác, kí
hiệu bằng các hình ảnh rõ ràng để trẻ dễ nhìn thấy và dễ lấy khi chơi.
+ Đối với góc nghệ thuật: Giấy màu, tranh ảnh cũ, sáp màu, màu nước, đất nặn,
vải vụn, len sợi, lá cây, vỏ hạt dưa…có giá treo tranh, giá đựng sản phẩm nặn, xé
dán. Khi trẻ thực hiện xong có thể tự tay mình treo lên giá có ký hiệu của mình.
7


Những nguyên vật liệu này tôi sắp xếp ở góc tạo hình và luôn để ở các trạng thái
mở giúp trẻ dễ lấy, dễ sử dụng khi vào hoạt động.
+ Riêng góc xây dựng tôi ưu tiên không gian rộng, thuận tiện cho trẻ vận động.
Góc phân vai và góc xây dựng tôi bố trí cạnh nhau và cuối lớp vì tôi muốn tạo
sự liên kết giữa 2 góc để trẻ có thể giao lưu với nhau.
+ Ngoài các góc trên còn có góc bé đến lớp, góc thiên nhiên và còn nhiều góc
khác nữa. Tùy theo từng chủ đề tôi trưng bày và sắp xếp sao cho phù hợp với
chủ đề, đồ dùng, đồ chơi phong phú sinh động, đẹp mắt, bố trí hợp lý, khoa học,
trẻ dễ lấy, dễ tìm, dễ cất.
Qua cách bố trí, sắp đặt các mảng, các góc chơi hợp lí ở lớp mình tôi nhận
thấy trẻ hoạt động tích cực hơn, có hiệu quả hơn. Trẻ được trao đổi, giao lưu với
nhau thoải mái mà không ảnh hưởng đến các góc khác. Trẻ có không gian riêng
yên tĩnh để hoạt động. Thỏa mãn nhu cầu hoạt động và sáng tạo của trẻ.
Sau khi xây dựng môi trường học tập tôi nhận thấy lớp học khang trang
sắp xếp bố cục ở các góc gọn gàng, trang trí vừa tầm mắt trẻ. Tôi bố trí số lượng
trẻ hoạt động trong các góc phù hợp với không gian của góc, những vị trí không
gian nhỏ hẹp thì nên có số lượng trẻ ít hơn. Mặt khác tôi bố trí các góc tương
đồng hoạt động tĩnh xa hoạt động động. Các góc làm theo hình thức mở cho trẻ
và bổ sung đồ dùng đồ chơi theo từng chủ đề, tôi thấy trẻ hứng thú tham gia hoạt
động có đồ dùng đồ chơi đưa vào sử dụng trong các tiết học đã giúp trẻ được
quan sát tri giác các đồ vật một cách trực tiếp từ đó trẻ hiểu biết nhiều, quan sát
tốt, tìm rất nhanh các vật mẫu mà cô đưa ra, so sánh và phân loại rõ ràng, ngôn
ngữ phát triển tốt, tư duy của trẻ nhanh nhẹn và chính xác hơn.
* Biện pháp 2: Làm đồ dùng, đồ chơi và cách sử dụng đồ dùng, đồ chơi,
vật thật, trong các hoạt động.
Đồ dùng, đồ chơi chính là phương tiện không thể thiếu trong mọi sinh
hoạt của trẻ hằng ngày góp phần thúc đẩy sự phát triển nhân cách toàn diện của
trẻ. Đối với trẻ thơ thế giới riêng của trẻ không thể thiếu đồ dùng, đồ chơi. Đồ
dùng, đồ chơi là cầu nối giữa trẻ với thế giới xung quanh, nơi mà trẻ thơ thả tâm
hồn vào đó, bộc bạch những tình cảm của mình và chỉ có đồ dùng đồ chơi mới
lôi cuốn trẻ, tạo hứng thú cho trẻ vào hoạt động học tập. Muốn cho trẻ hoạt động
hiệu quả, tích cực thì ngay từ đầu năm học tôi đã lên kế hoạch cho việc làm đồ
dùng, đồ chơi phục vụ ở các hoạt động trên lớp, tôi lên kế hoạch rất rõ ràng, cụ
thể cho việc làm đồ dùng, đồ chơi. Trước tiên tôi rà soát lại đồ dùng, đồ chơi
trong lớp, những đồ chơi nào có thể mua sắm, những đồ chơi nào cần làm bổ
sung thì tôi bổ sung từ từ theo từng chủ đề, đồ chơi nào cần thiết bổ sung trước.
Nhận thức được tầm quan trọng đó ngay từ đầu năm họp phụ huynh, nhà
trường cùng giáo viên chủ nhiệm, phổ biến tuyên truyền cho các bậc phụ huynh
thu gom phế liệu ở các nhóm lớp về việc thực hiện kế hoạch làm đồ dùng, đồ
chơi để phục vụ cho các hoạt động của cô và trẻ ở trên lớp từ các nguyên vật
liệu có sẵn thu gom từ phụ huynh như: Bình xì dầu, comfort, nước rửa bát, hộp
vỏ ngao, nắp chai c2, vỏ sữa chua, vải vụn..Với nguồn vật liệu phong phú và đa
dạng mà tôi thu nhập được, tôi suy nghĩ làm thế nào đây để tạo được hình dáng
đồ chơi thật lạ mắt dễ làm đối với trẻ.
8


Ảnh 3: Phụ huynh gom phế liệu. (Phụ lục 3)
Sau khi thu gom nguyên vật liệu tôi tập hợp các nguyên vật liệu lại rồi phân
loại, lau chùi vệ sinh, chọn các vật liệu sạch, đảm bảo an toàn, tận dụng các vật
liệu phổ biến, rẻ tiền. Vật liệu có màu sắc đẹp, kích thước vừa phải với tầm tay
trẻ. Vì thế tôi chỉ đưa ra sau đây một số cách làm đồ chơi hết sức đơn giản, dễ
làm đối với trẻ mà vẫn có tác dụng giáo dục cao cho trẻ như:
Ảnh 4: Vệ sinh phế liệu thu gom. (Phụ lục 4)
Ví dụ 1: Bảng toán học số lượng
- Nguyên liệu : Bìa catton, vỏ ngao, hến, len, trấu, hạt đỗ, màu nước, lịch treo
tường cũ.
- Cách làm: Quét keo sữa lên mặt bìa catton, trấu rải đều làm nền. Lấy màu
nước vẽ lên mặt trấu thành bức tranh tùy thích ( nền trời, mặt đất, bãi cỏ…)
+ Dùng vỏ ngao gắn thành hình con bướm, dùng len làm râu, hạt đỗ đen làm
mắt.
+ Dán số lượng con bướm lên ( tùy theo số lượng cần học)
+ Cắt tờ lịch cũ có chữ số 1, 2, 3…gắn phía dưới mỗi con bướm (gắn theo cách
xếp tương ứng 1 - 1)
- Cách sử dụng: Với bảng này chúng ta có thể sử dụng trong giờ làm quen với
toán hoặc sử dụng trong giờ hoạt động góc, chơi thời điểm đón trả trẻ. Trẻ sử
dụng loại đồ chơi này sẽ được thỏa mãn nhu cầu về vui chơi, về nhận thức:
Nhận biết các nhóm có số lượng bao nhiêu, chữ số ứng với nhóm số lượng, thao
tác đếm, xếp tương ứng 1-1.
Ví dụ 2: Làm các đồ chơi lắp ghép sáng tạo chủ đề: Phương tiên giao thông,
động vật.
- Nguyên liệu: Màu nước, bút chì, bút lông, băng dính trắng nhỏ, que kem.
- Cách làm: Vệ sinh các que kem, 10 que kem xếp ngay ngắn dính vào các mặt
sau. Sau đó dùng bút chì vẽ các hình xe máy, ô tô.. lên các que kem, tiếp đó tô
màu nước lên các hình xe vừa vẽ, ghi số thứ tự từ 1- 10 trên đầu mỗi que kem,
chờ cho màu khô tháo băng dính ra và đảo lộn các que kem. Nhiệm vụ của trẻ
phải nhận biết được số thứ tự để sắp xếp tạo thành các bức tranh các loại phương
tiện giao thông.
- Cách sử dụng: Dùng trong hoạt động góc: Lắp ghép các phương tiện giao
thông và áp dụng chơi trò chơi tĩnh hoạt động học.
Ảnh 5: Bộ đồ chơi lắp ghép sáng tạo. (Phụ lục 5)
Qua việc làm đồ dùng, đồ chơi tận dụng những nguyên vật liệu thiên nhiên
và phế liệu để làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ hoạt động đây là một việc làm rất có
ý nghĩa, vừa tiết kiệm được tiền mua sắm nguyên vật liệu, tạo ra những đồ dùng,
đồ chơi mang tính sáng tạo, phong phú vừa làm tăng số lượng đồ dùng, đồ chơi
cho trẻ, mà còn ứng dụng vào các hoạt động học trên lớp, hoạt động vui chơi và
dùng trang trí lớp. Tận dụng được nguyên vật liệu thừa, dễ tìm có sẵn, không tốn
nhiều tiền. Trẻ tham gia thực hiện cùng cô một cách dễ dàng ở mọi nơi, mọi lúc
mà hiệu quả sử dụng lại khá cao. Đồng thời góp phần làm giảm thiểu lượng rác
thải, giảm chi phí cho công tác vệ sinh môi trường.
9


Song song với đồ dùng trực quan tự tạo, đồ dùng không thể thiếu được đó
là tri giác trực tiếp cho trẻ thực hành và trải nghiệm vật thật. Trải nghiệm bằng
vật thật một trong những phương pháp giáo dục mang lại hiệu quả cao nhất đối
với trẻ khi tổ chức hoạt động khám phá là phương pháp thực hành và trải
nghiệm. Thông qua các thao tác nhìn, sờ, ném, ngửi. Trẻ dễ dàng lĩnh hội nắm
bắt và khắc sâu kiến thức. Khi tổ chức hoat động khám phá khoa học thiếu
những thao tác thực hành trải nghiệm thì trẻ không tập trung, chú ý và sẽ không
khắc sâu được kiến thức hoặc mau quên.Vì trẻ mẫu giáo có sự tưởng tượng chưa
phong phú, kinh nghiệm sống của trẻ còn ít nên tôi thường xuyên sử dụng các
vật thật để dạy trẻ. Khi cho trẻ được tiếp xúc với vật thật thì tôi nhận thấy trẻ
hứng thú và nắm bắt kiến thức một cách rõ ràng nhất. Tạo điều kiện cho trẻ thực
hành trải nghiệm với sự vật hiện tượng, chính là cho trẻ làm quen với sự vật hiện
tượng xung quanh một cách trực tiếp như nhìn, sờ, nếm, ngửi.
* Nếm: Là hoạt động giúp trẻ cảm nhận được vị ngọt, nặm, chua chát..của
sự vật, giúp trẻ nhận biết được đặc điểm bên trong của sự vật một cách chính
xác hơn.
Ví dụ 1: Chủ đề: “ Thực vật – tết mùa xuân” Đề tài: “Tìm hiểu một số loại
quả”
Khi tìm hiểu về quả cam tôi dùng quả cam thật cho trẻ quan sát và trải
nghiệm, cho trẻ nếm.
- Đây là quả gì? Nhìn xem quả cam có hình gì? Màu gì?
- Hãy sờ xem vỏ của chúng có đặc điểm gì? Tôi bổ cam và cho trẻ nếm thử vị
của cam sau đó hỏi trẻ về vị của cam (có trẻ nói chua, trẻ nói ngọt) từ đó tôi giải
thích “Qủa cam chưa chín có vị chua, còn quả cam chín có vị ngọt” khi được trải
nghiệm thực tế thì trẻ đã nắm vững những kiến thức tôi muốn truyền đạt. Qua
bài tìm hiểu một số loại quả về quả cam tôi không những đã cho trẻ tìm hiểu một
cách tổng quát về quả cam mà còn dạy trẻ kĩ năng bổ cam và vứt rác đúng nơi.
* Ngửi: Là hoạt động cảm nhận được từ cơ quan mũi.
Ví dụ 2: Chủ đề: “ Thực vật – têt mùa xuân” Đề tài “ Tìm hiểu một số loại
hoa”
Khi dạy về các loại hoa. Tôi cho trẻ quan sát hoa hồng, hoa cúc và nhận
xét được đặc điểm của mỗi loại hoa. Sau đó cô lần lượt cho trẻ ngửi hoa và nhận
xét mùi hương của mỗi loại hoa.
Ngoài việc tạo cơ hội cho trẻ trực tiếp trải nghiệm với đồ thật vật thật,
thông qua hoạt động khám phá tôi còn thường xuyên cho trẻ tham gia trải
nghiệm tìm hiểu các hiện tượng thông qua hoạt động thực hành thí nghiệm, thí
nghiệm đơn giản luôn tạo cho trẻ sự hứng thú, kích thích trẻ tích cực hoạt động,
phát triển ở trẻ tính tò mò, ham hiểu biết, thích khám phá, tìm tòi, phát triển óc
quan sát, phán đoán và các năng lực hoạt động trí tuệ.
Qua việc tạo các điều kiện cho trẻ tiếp xúc các sự vật hiện tượng và môi
trường xung quanh trải nghiệm bằng các vật thật, tôi thấy nhận thức của trẻ được
mở rộng, khả năng quan sát, tri giác của trẻ phát triển tốt đa số trẻ thể hiện được
tính tích cực chủ động khi quan sát đối tượng trong quá trình quan sát trẻ tỏ ra
nhanh nhẹn linh hoạt, kỹ năng sống của trẻ được tích lũy và vốn từ của trẻ trở
nên phong phú hơn khả năng diễn đạt tốt hơn.
10


* Biện pháp 3: Linh hoạt, sáng tạo trong hoạt động khám phá khoa
học theo quan điểm “ Lấy trẻ làm trung tâm”.
Tổ chức hoạt động luôn đặt trẻ vào trung tâm của quá trình giáo dục, có
nghĩa là tạo tất cả mọi cơ hội để có thể cho trẻ tự tham gia vào các hoạt động
như trải nghiệm, giao tiếp, suy nghĩ, trao đổi với bạn với cô. Giáo viên là người
chủ động, sáng tạo, hướng dẫn, gợi mở giúp trẻ tìm hiểu kiến thức hoặc giải
quyết các tình huống trong quá trình hoạt động.
Tùy vào từng nội dung, tôi đã cung cấp kiến thức cho trẻ dưới nhiều hoạt
động khác nhau:
- Hoạt động trải nghiệm: Khi tổ chức hoạt động phát triển nhận thức cho trẻ tìm
hiểu về “ Các loại quả”. Trước tiên tôi cho trẻ quan sát đĩa quả, với những miếng
được cắt trên đĩa tôi cho trẻ nếm thử một vài loại quả. Sau đó tôi sử dụng câu
hỏi mở để khuyến khích trẻ tự nói lên hiểu biết của mình về nhóm thực hành
trang trí đĩa trái cây theo suy nghĩ của trẻ. Tôi đã gây hứng thú trực tiếp cho trẻ
bằng trải nghiệm (Quan sát, ngủi, nếm). Trẻ được khuyến khích và chủ động nói
ra những điều mình cảm nhận để nói lên nhận xét cá nhân. Tôi khuyến khích trẻ
nói ra càng nhiều, càng tốt có thể đầy đủ hay chưa đầy đủ, đúng hay chưa đúng
không quan trọng mà chỉ cần trẻ dám nói và được nói ra. Nhờ đó mà trẻ rất tự
tin nói ra những điều mình suy nghĩ. Qua hoạt động tôi muốn trẻ được tự điều
chỉnh hiểu biết của mình qua các câu trả lời của bạn qua trực tiếp được nhìn quả.
- Hoạt động giao tiếp: Trẻ được chia sẻ với bạn và bạn bè và học từ mọi người.
Ví dụ 1: Trong chủ đề giao thông “ Tìm hiểu một số phương tiện giao
thông đường bộ” Con biết gì về các ô tô con? Khi tham gia giao thông người đi
bộ chấp hành những luật lệ an toàn giao thông gì? Chỉ với những câu hỏi như
vậy trẻ của tôi đã trả lời hăng hái và sôi nổi không mang tính gò bó.
+ Trong hoạt động ngoài trời: Tôi cho trẻ tham quan vườn cây ăn quả, chơi trò
chơi vận động để trẻ được chia sẻ với bạn và học hỏi cách chơi từ bạn.
- Hoạt động suy nghĩ: Trẻ suy nghĩ và vận dụng những điều đã lĩnh hội được vào
việc giải quyết các tình huống.
Ví dụ 2: Chủ đề: Thực vật – Tết mùa xuân. Tìm hiểu một số loại rau, củ.
Tôi thưởng cho mỗi nhóm một hộp quà trong đó có chứa các loại rau, củ trẻ
nhận hộp quà mang về đội của mình mở ra thảo luận từng nhóm: “ Nhóm con có
loại rau gì? Con biết gì về quả bí?.. Sau tôi cho từng nhóm nói lên suy nghĩ hiểu
biết về loại rau của nhóm của mình, và nhóm khác bổ sung nếu thiếu ý.
Ảnh 6: Hoạt động trải nghiệm dưới hình thức theo nhóm. ( Phụ lục 6)
- Hoạt động trao đổi: Trẻ biết diễn đạt chia sẻ suy nghĩ và mong muốn của mình.
Khi thực hiện tổ chức hoạt động giáo dục lấy trẻ làm trung tâm tôi luôn lấy
các phương pháp cũ làm nền móng cho mình, có nghĩa là không loại bỏ hoàn
toàn phương pháp cũ mà về cơ bản vẫn phải tuân thủ các bước trong suốt tiến
trình của hoạt động học, vẫn phải dựa trên cơ sở phương pháp đặc trưng của các
lĩnh vực. Tôi chỉ thay đổi hình thức lấy trẻ làm trung tâm dựa trên sự hiểu biết,
hứng thú nhu cầu của trẻ mà tôi đưa ra nội dung bài dạy, kiến thức sao cho phù
hợp với trẻ, không gò bò, áp đặt trẻ theo đúng tính chất: “ Học bằng chơi, chơi
mà học” của trẻ mầm non.
11


Ví dụ 3: Khi tổ chức hoạt động khám phá khoa học. Chủ đề “ Động vật”
Chủ đề nhánh “Những con vật sống trong rừng”. Tôi không cho trẻ xem hình
ảnh từng bộ phận và trả lời câu hỏi theo hình thức cũ, mà tôi tổ chức cho cả lớp
tham gia một cuộc thi giữa các đội thi với nhau và nhiệm vụ của các đội sẽ xem
một đoạn phim ngắn và tự thảo luận để trả lời các câu hỏi của cô đưa ra. Trong
hoạt động tạo sản phẩm tôi chỉ đặt câu hỏi và gợi ý để trẻ suy nghĩ và cùng trẻ
tạo ra sản phẩm theo suy nghĩ của trẻ.
Qua hình thức tổ chức linh hoạt, sáng tạo hoạt động khám phá khoa học
“Lấy trẻ làm trung tâm”. Tôi nhận thấy trẻ được nói lên ý của mình, không gò
bó, ép buộc. Tạo một tâm thế thoải mái khi tham gia vào hoạt động. Vì vậy các
giờ hoạt động đạt kết quả rất tốt.
*Biện pháp 4: Tổ chức hoạt động khám phá khoa học ở mọi lúc, mọi
nơi dưới nhiều hình thức.
* Tổ chức hoạt động khám phá khoa học ở mọi lúc, mọi nơi.
Như chúng ta đã biết lứa tuổi mầm non rất dễ nhớ, nhưng cũng mau quên.
Vì vậy tổ chức hoạt động khám phá khoa học ở mọi lúc, mọi nơi là rất cần thiết.
Giờ đón trẻ: Trò truyện hướng cho trẻ vào đề tài khám phá khoa học. Từ
đó gợi cho trẻ những hiểu biết về sự vật mà trẻ sắp được làm quen.
Hoạt động có chủ đích như hoạt động âm nhạc: Khi dạy trẻ hát bài hát
“Bầu và bí” tôi có thể cho trẻ đọc một bài thơ, rồi trò chuyện với trẻ về bài thơ
liên quan đến chủ đề hướng trẻ vào nội dung bài hát.
Hoạt động góc: Qua các góc chơi trẻ được củng cố vốn hiểu biết của mình
về thế giới xung quanh như góc học tập trẻ biết phân loại theo 2 - 3 dấu hiệu
chẳng hạn: Cây ăn quả, Cây lấy gỗ - Cây ăn rau, cây lấy hoa…
Hoạt động dạo chơi, thăm quan: Tôi có thể cho trẻ dạo chơi trong trường,
quan sát thời tiết, bầu trời, thiên nhiên, các hoạt động của vạn vật... Khi hướng
dẫn trẻ dạo chơi thăm quan, tôi cần định hướng rõ mục đích, nội dung cho trẻ
làm quen, địa điểm thăm quan thuận lợi cho việc đi lại, tiếp xúc hoạt động của
trẻ. Thông qua hoạt động dạo chơi thăm quan sẽ mở rộng hơn hiểu biết của trẻ
về thế giới xung quanh, cô giáo cần tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc, tiếp cận với
môi trường sống, các mối quan hệ giữa con người với con người, con người với
thiên nhiên, với cuộc sống xã hội. Nhằm rèn luyện kỹ năng thao tác hành động
với đối tượng, giáo dục những phẩm chất đạo đức thẩm mỹ cho trẻ, kỹ năng hoạt
động làm quen với khám phá khoa học cho trẻ.
Giờ trả trẻ: Tôi trao đổi phụ huynh tình hình học tập, sức khỏe tính cách
của trẻ, những gì trẻ làm được còn những gì trẻ chưa làm được tôi trao đổi với
phụ huynh cùng nhau tháo gỡ động viên trẻ kịp thời. Mặt khác tôi trao đổi với
phụ huynh về bài học ngày mai khi có hoạt động khám phá khoa học để phụ
huynh về nhà cho trẻ tìm hiểu thêm, đến lớp trẻ đỡ bỡ ngỡ và tiếp thu bài một
cách tự tin hơn.
* Thay đổi các hình thức hoạt động.
Với đặc điểm tâm lý “Học bằng chơi, chơi mà học”. Trẻ 5 - 6 tuổi tư duy
của trẻ là tư duy trực quan hành động, trẻ tri giác dưới đồ vật, sự vật qua các
hình ảnh, vật thật và nếu tổ chức cho trẻ tri giác quan sát các sự vật dưới nhiều
hình thức khác nhau thì trẻ hứng thú học tập và tiếp thu bài học tốt hơn, bằng
12


kinh nghiệm giảng dạy của bản thân tôi thấy nếu một tiết học đơn thuần cô chỉ
cung cấp kiến thức cô đưa tranh ra cho trẻ quan sát, đàm thoại và cung cấp kiến
thức cho trẻ thì tiết học trẻ học buồn chán, trẻ không tập trung, nhưng cũng tiết
học đó mà thay đổi hình thức dạy dưới các dạng trò chơi hay các hình thức thi
đua trẻ học tốt hơn. Nhất là hoạt động khám phá khoa học thì yêu cầu cần phải
chuẩn bị tốt các điều kiện như đồ dùng dạy học và không gian để trẻ được thực
hành và trải nghiệm nhiều. Xuất phát từ tình hình trên tôi luôn luôn đặt ra cho
mình là phải luôn đổi mới các hình thức tổ chức và các thủ thuật khác nhau khi
cho trẻ hoạt động khám phá khoa học. Tuỳ vào mỗi yêu cầu bài dạy tôi tổ chức
các tiết học dưới các hình thức khác nhau. Như với bài cho trẻ quan sát các con
vật, các cây, các loại hoa quả thì tôi có thể chuẩn bị bằng vật thật hoặc tranh ảnh
và tổ chức dưới các dạng trò chơi để trẻ vừa chơi vừa quan sát tri giác các sự vật
hiện tượng một cách tốt nhất.
Trong tiết học khám phá khoa học tôi lồng ghép tích hợp các hoạt động
học khác như toán, âm nhạc, tạo hình, văn học để trẻ thêm hứng thú, củng cố lại
các hoạt động học trước ghi nhớ tốt hơn.
Mặt khác đối với các giờ hoạt động khám phá khoa học không thể không
thiếu các trò chơi để tạo hứng thú, củng cố lại kiến thức của trẻ như:
Trò chơi học tập: Được sử dụng rất nhiều trong quá trình hướng dẫn trẻ
làm quen với họat động khám phá khoa học để củng cố, bổ sung và mở rộng
những hiểu biết của trẻ về các sự vật và hiện tượng xung quanh.
Ví dụ 1: Chủ đề: Trường mầm non. Đề tài. "Lớp học bé thích (Đồ dùng, đồ
chơi của bé)", tôi đã sử dụng trò chơi "Chiếc túi kỳ lạ". Tôi giới thiệu cái túi kỳ
lạ và các đồ chơi hấp dẫn trong cái túi đó. Tôi lần lượt cho trẻ thò tay vào túi,
yêu cầu không được nhìn vào túi và lấy đồ chơi theo yêu cầu của cô, khi lấy phải
giơ tay lên cho cả lớp kiểm tra. Tôi thấy trẻ rất hứng thú thi nhau giơ tay lên
chơi.
Sử dụng trò chơi sáng tạo: Làm tái hiện lại những hình ảnh trong lao
động hay cuộc sống sinh hoạt của con người.
Ví dụ 2: Trong trò chơi bác sĩ, cô giáo, gia đình. Trong quá trình chơi, tôi
cần theo dõi kiểm tra giúp trẻ thể hiện được ý đồ, vận dụng những hiểu biết
trong cuộc sống vào trò chơi một cách sáng tạo như: Bác sỹ thì biết khám bệnh,
phát thuốc cho bệnh nhân… Cô giáo biết chăm sóc, dạy trẻ học…
Sử dụng câu đố: Đây cũng là một loại hình nghệ thuật hấp dẫn trong quá
trình cho trẻ làm quen với khám phá khoa học kích thích trẻ tập trung chú ý,
phát triển ngôn ngữ, óc quan sát của trẻ.
Ví dụ 3: Quan sát " Con vịt” tôi đọc câu đố:
" Con gì hai cánh
Mà lại biết bơi
Ngày xuống ao chơi
Đêm về đẻ trứng? Là con gì ”(Trẻ trả lời con vịt)
Cô đưa tranh con vịt quan sát : Cô tổ chức cho trẻ quan sát theo nhóm để
mỗi trẻ đều được tiếp xúc hoặc được nhìn rõ đối tượng quan sát, tập trung vào
đặc điểm cấu tạo: Hình dáng, sinh sản, thức ăn, môi trường sống, ích lợi… con
vịt kêu như thế nào? Cho trẻ quan sát các con vật khác tôi lại thay đổi thủ thuật
13


như chơi trò chơi đoán tranh, đoán tiếng kêu của con vật. Khi tìm hiểu xong tôi
cho trẻ chơi trò chơi con gì biến mất rồi cho trẻ so sánh: Cấu tạo thức ăn, sinh
sản của các con vật, cuối cùng cô có thể cho trẻ chơi với tranh lô tô (trẻ tìm
nhanh theo yêu cầu của cô) và trò chơi “ Về đúng chuồng” tùy từng bài dạy.
Thông qua việc thay đổi tiết học dưới nhiều hình thức tôi thấy tiết học có
hiệu quả hơn, tiết học trở nên sôi nổi và trẻ hứng thú học bài hơn. Cùng với việc
linh hoạt, sáng tạo trong hình thức tổ chức, đổi mới và nâng cao chất lượng
trong phương pháp giảng dạy, tôi nhận thấy cần tạo điều kiện cho trẻ được tiếp
xúc nhiều hơn với môi trường xung quanh. Việc nâng cao chất lượng hoạt động
khám phá khoa học mọi lúc, mọi nơi dưới nhiều hình thức. Tôi nhận thấy trẻ
khắc sâu được kiến thức ở các hoạt động trước mà trẻ đã được học, tạo cho trẻ
một tâm thế thoải mái ở các giờ học tiếp theo.
* Biện pháp 5: Xây dựng góc bé với thiên nhiên.
Góc thiên nhiên là nơi dành cho các hoạt động chăm sóc cây như: Lau lá,
tưới cây, nhặt cỏ, chơi với sỏi, cát, nước... Mặt khác đây cũng là nơi dành cho
các hoạt động thực hành, thăm quan dạo chơi của trẻ. Ở trường tôi góc “Bé thiên
nhiên” được xây dựng theo khối lớp, 2 lớp 5 tuổi chung nhau một góc. Chúng
tôi đặt vị trí ngay sát cạnh lớp để trẻ dễ đi lại và gần gọn. Vì vậy ở góc thiên
nhiên tôi đã trồng nhiều cây xanh như: Cây lấy hoa, cây thuốc nam, cây làm
cảnh, treo nhiều các giỏ cây cảnh, dàn dây leo, làm bể nước bằng các lốp cũ
hỏng bỏ đi. Tất cả các cây ở góc thiên nhiên đều được chúng tôi gắn nhãn mác,
các cây gần gũi với trẻ để trẻ dễ nhận biết. Tại đây trẻ được tự tay chăm sóc cây,
tỉa lá khô, lau lá cây, tưới cây quan trọng hơn là trẻ được quan sát, được trải
nghiệm, được thực hành, được ngắm, được sờ, được hằng ngày tưới cây, nhặt
cỏ, và chứng kiến sự phát triển của cây theo thời gian. Nhờ vậy mà trẻ biết cây
lớn lên là nhờ vào những yếu tố nào từ đó giúp trẻ biết tự lao động, trẻ hiểu
được ý nghĩa lợi ích của chúng, giúp trẻ thêm yêu thiên nhiên hơn và có trách
nhiệm với thiên nhiên quanh ta.
Ví dụ 1: Chủ đề “Thực vật tết và mùa xuân”: Cô có thể cho trẻ quan sát
cây hoa hồng:
- Con có nhận xét gì về cây hoa hồng? ( Các bộ phận,là, hoa, thân, màu sắc..)
- Muốn cho cây nhanh lớn và ra nhiều hoa thì các con cần phải làm gì?
Mặt khác góc thiên nhiên không chỉ có cây xanh mà còn thiết kế bể cá
cảnh nuôi các loại động vật sống dưới nước như: Cá, cua, ốc, tôm...Và chính đôi
bàn tay của trẻ sẽ hằng ngày cho cá ăn, chăm sóc cá và biết được các hoạt động
của cá như : Bơi, ăn mồi... như thế nào?
Ví dụ 2: Thí nghiệm về vật nổi vật chìm dưới nước.
* Chuẩn bị:
- Đồ dùng: Các mẫu gỗ, bi sắt đường kính 3 - 4cm, thìa inox, cục nam châm,
một miếng xốp, giấy, chậu đựng nước sạch.
- Đồ chơi: Thuyền giấy, lá mít trẻ đã gấp, bóng nhựa, đồ chơi nhựa.
Tiến hành: Cho trẻ tự lấy đồ chơi đã chuẩn bị sẳn thả vào chậu nước và yêucầu
trẻ nhận xét vật nào chìm? vật nào nổi tại sao?

14


- Kết quả: Qua thí nghiệm này giúp trẻ hiểu những đồ vật làm từ những nguyên
liệu nặng sắt, thép, nhôm… như bi sắt, bát, thìa inox, ….thì chìm, những đồ vật
làm từ nguyên liệu nhẹ: Gỗ, xốp, giấy, nhựa,….thì nổi trên nước.
Ảnh 7: Thí nghiện quan sát vật chìm nổi. ( Phụ lục 7)
* Tóm lại: Thiên nhiên rất quan trọng đối với đời sống của mỗi chúng ta
đặc biệt là lứa tuổi mầm non. Góc thiên nhiên là một hình ảnh thu nhỏ của thế
giới thiên nhiên bên ngoài. Ở đây trẻ có thể được trải nghiệm nhìn, được quan
sát, được nắm, được sờ, được chăm sóc và được nhìn thấy sự phát triển của
chúng. Như vậy đã gây được sự hứng thú và giúp trẻ biết suy luận, phân tích và
biết phán đoán, trẻ hiểu được rằng mọi sự vật luôn có sự thay đổi và những thay
đổi này liên quan đến nhau. Vì vậy góc thiên nhiên là giúp trẻ tìm hiểu trước khi
tiếp xúc những gì mình chưa biết và củng cố những gì đã biết từ đó đúc rút, thực
hành và trải nghiệm.
* Biện pháp 6: Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy.
Phương pháp dạy học bằng công nghệ thông tin trong giáo dục mầm non
tạo ra một môi trường dạy học tương tác cao, sống động, hứng thú và đạt hiệu
quả cao của quá trình dạy học đa giác quan cho trẻ.
Khi sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy. Bài giảng giới
thiệu cho trẻ mang tính chân thực phong phú, có thể cho trẻ làm quen với những
hiện tượng tự nhiên, xã hội mà trẻ khó có thể tự bắt gặp trong thực tế. Vì có
những hình ảnh mà ta không thể cho trẻ xem bằng một bức tranh vẽ thông
thường như: Mưa rơi, sấm sét, nước chảy..). Những hình ảnh động đã diễn tả lại
mọi hoạt động của các sự vật, hiện tượng với màu sắc đẹp của hình ảnh đã lôi
cuốn trẻ, giúp trẻ hứng thú tham gia vào việc khám phá kiến thức và khắc sâu
kiến thức cho trẻ.
Ví dụ 1: Chủ đề “Phương tiện giao thông” Đề tài: Một số phương tiện
giao thông đường bộ. Tôi đã sử dụng một số hình ảnh phương tiện giao thông
như (ô tô, xe máy, xe buýt, tàu hỏa, xe đạp..) cho trẻ quan sát từng loại phương
tiện giao thông, đặc điểm cấu tạo, tiếng còi, động cơ, tốc độ của các phương tiện
giao thông một cách sống động. Khi trẻ được quan sát những hình ảnh cụ thể
gần gũi với trẻ lúc này trẻ có thể nhận xét bằng cách hiểu của mình một cách tự
tin và có thể bắt chiếc còi của các loại phương tiện giao thông một cách dễ dàng.
Đặc biệt những chủ đề mang tính chất trừu tượng như chủ đề động vật,
hiện tượng tự nhiên, Quê hương đất nước Bác Hồ…tôi cho trẻ xem vi deo, hình
ảnh chân thật để cung cấp kiến thức cho trẻ.
Ví dụ 2: Chủ đề: “Hiện tượng tự nhiên” Đề tài: Tìm hiểu về mùa hè. Với
đề tài này trẻ khó bắt gặp tôi đưa một số hình ảnh mưa, gió, sấm chớp, lũ lụt cho
trẻ quan sát. Hay chủ đề “Thế giới động vật” Đề tài. “Một số con vật sống trong
gia đình”. Ngoài cho trẻ quan sát các con vật thật trên màn hình như con gà, con
chó, con lợn, con mèo,con trâu… trẻ còn biết được một số đặc điểm, cấu tạo của
từng bộ phận tiếng kêu các con vật, nơi sống, thức ăn, sinh sản. Khi trẻ quan sát
và nhận xét xong, tôi củng cố cho trẻ hiểu bằng cách làm hiệu ứng vào các bộ
phận của từng hình ảnh cụ thể bài giảng cho trẻ hiểu. Qua bài giảng trẻ khắc sâu
được kiến thức, hứng thú và hăng say học bài một cách thoải mái.
15


Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ
có những ưu việt lớn so với cách giảng dạy truyền thống. Trẻ hào hứng, chủ
động và sáng tạo trong giờ học, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ.
Thông qua những giờ học có áp dụng công nghệ thông tin, sử dụng những
hành vi đẹp, hình ảnh đẹp sống động, những kỹ năng sống được chuyển tới trẻ
một cách nhẹ nhàng và sống động, góp phần hình thành ở trẻ nhận thức về cái
đẹp, biết yêu quý cái đẹp, mong muốn tạo cái đẹp trong cuộc sống và những kỹ
năng sống cần thiết đối với lứa tuổi mầm non.
* Biện pháp 7: Bồi dưỡng học sinh cá biệt.
Được sự phân công của Ban giám hiệu nhà trường ngay từ đầu năm tôi
đứng lớp 5 tuổi B, với tổng số 32 cháu. Do đặc điểm phát triển tâm sinh lý của
mỗi trẻ không giống nhau, một số cháu do thể lực yếu dẫn đến nhận thức còn
chậm, còn thực hiện theo hành vi tự do, tiếp thu lời nói của cô rất mơ hồ chưa
hình tượng hóa sự việc một cách có hệ thống.
Là một giáo viên tôi nghĩ nhất thiết phải có chất lượng đồng đều, từ
những trẻ có nhận thức tốt cũng cũng như những trẻ kém về trí tuệ tôi đều quan
tâm dạy dỗ. Đa số trẻ lớp tôi đều là những cháu có nhận thức tốt và hiếu động
ham học hỏi. Song bên cạnh đó còn có vài cháu có những biểu hiện khác thường
không giống các bạn khác ở trong lớp hay còn gọi là trẻ “Cá biệt” những trẻ này
thường có những biểu hiện như: Nhút nhát, rụt rè, hay khóc không thích tham
gia vào các hoạt động cùng bạn, lười ăn, phản ứng chậm hay trẻ quá hiếu động,
tự do cười nói trong giờ học, giờ ăn, không làm theo sự hướng dẫn của cô, hay
quăng vứt đồ chơi và tranh giành đồ chơi với bạn, không nghe lời cô giáo, ông
bà, bố mẹ.
Thực tế ở lớp tôi 32 cháu hầu hết các cháu đều ngoan ngoãn, còn một vài
cháu được gọi là “Cá biệt”. Trong đó đặc biệt có 2 cháu đó là cháu Phạm xuân
Hiếu và cháu Trương Đào Đức Hải là 2 cháu mà tôi đáng quan tâm nhất. Cháu
Phạm xuân Hiếu sinh ra trong một gia đình bố mẹ đều là nghề giáo nhưng cháu
rất nhút nhát. Mỗi hoạt động trên lớp cháu đều làm được nhưng chưa bao giờ
chủ động làm khi cô nói cháu mới giám tham gia, không xung phong xây dựng
bài, hoạt động sách vở cô phát chỉ để đấy không làm khi cô đến cầm tay thì làm
còn cô đi thì cháu lại ngồi khoay tay, mặt khác sức khỏe của cháu lại kém ăn
uống không tự mình phục vụ mà toàn nhờ sự giúp đỡ của cô và các bạn. Nhận
thấy điều đó ngay từ đầu tôi xếp cho cháu lên bàn đầu để cho cháu dễ tiếp thu,
dễ thấy và xếp cho cháu ngồi một bạn nhanh nhẹn, thường xuyên cho cháu tham
gia vào giờ hoạt động nhóm để cho cháu tự nói lên ý mình khi tham gia nhóm,
tôi thường tạo tình huống cho trẻ tự nói, ngoài ra tôi khuyến khích khen ngợi
cháu kịp thời. Và đến thời điểm hiện nay cháu đã gần như hòa đồng, nói chuyện
hay chơi cùng các bạn, tự mình làm sách vở của mình dưới sự hướng dẫn của cô
giáo. Và cháu cảm thấy thích đến trường.
Bên cạnh cháu Xuân Hiếu là cháu Trương Đào Đức Hải, cháu có một độ
bướng bỉnh và độ lỳ cao. Mỗi lần tôi cho cả lớp cùng tham gia tổ chức hoạt động
ngoài trời hết giờ hoạt động cháu nhất khoát không vào toàn ở lại sau cùng. Với
sự bướng bỉnh của cháu như vậy tôi rút kinh nghiệm vẫn cho cháu ở lại và vào
sau cùng các bạn, tôi động viên cháu các giờ hoạt động sau chúng mình cùng
16


khám phá tiếp, tôi phân tích giảng giải cho cháu hiểu. Cứ nhiều buổi như vậy tôi
thấy cháu đã nhận ra mình phải tuân theo hết giờ vào lớp cùng cô và các bạn,
cháu ngoan ngoãn và nghe lời cô các bạn chứ không bướng bỉnh nữa.
Qua một học kỳ tôi thấy 2 cháu đã tiến bộ lên rõ rệt, tự giác hòa đồng
cùng với các bạn trong lớp, tham gia làm sách, giơ tay tham gia ý kiến trong các
hoạt động, các cháu nhanh nhẹn lên rất nhiều, không còn nhút nhát, sợ sệt nữa.
Đặc biệt những cháu bướng bỉnh giờ các cháu đã ngoan ngoãn hòa đồng cùng cô
và các bạn trong lớp. Chình vì vậy các giờ hoạt động của lớp tôi trở nên sổi nổi,
vui vẻ và đạt kết quả trên trẻ cao.
* Biện pháp 8: Công tác phối kết hợp với phụ huynh.
Để nâng cao chất lượng hoạt động của trẻ trong trường mầm non thì sự
phối kết hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường là một việc làm hết sức cần
thiết, tôi thấy rằng tất cả mọi khó khăn trong học tập không thể thiếu được vai
trò giải quyết khó khăn của phụ huynh, vì thế ngay từ đầu năm học để phụ
huynh hiểu thêm về các hoạt động của trẻ trong trường mầm non, trường tôi đã
tổ chức họp phụ huynh và tuyên truyền sâu rộng đến các bậc phụ huynh. Bởi
như chúng ta vẫn thường dạy trẻ: “Lúc ở nhà mẹ cũng là cô giáo, khi đến trường
cô giáo như mẹ hiền”. Hai người mẹ đó rất quan trọng đối với trẻ và sự kết hợp
của hai người mẹ là rất cần thiết. Vì thế để phối hợp giáo dục trẻ với các bậc phụ
huynh, đầu năm tôi tổ chức mời phụ huynh đến họp để bàn bạc trao đổi về
phương pháp giáo dục trong năm học mới và rút ra kinh nghiệm từ năm học cũ.
Tôi lên kế hoạch cụ thể của hoạt động khám phá khoa học và đưa ra trước các
bậc phụ huynh để họ nắm bắt được chương trình mà tôi dạy trẻ. Đối với trẻ mần
non dễ nhớ lại mau quên, nếu không được luyện tập thường xuyên thì sau ngày
nghỉ sẽ quên lời cô dậy.
Bản thân tôi là một giáo viên cũng là một cộng tác viên tuyên truyền của
nhà trường ngoài việc tuyên truyền các chuyên đề của nhà trường giao về lớp.
Tôi đã làm tốt công tác tuyên truyền tới các bậc phụ huynh như thường xuyên
trao đổi về tình hình sức khoẻ của trẻ, tình hình học tập của trẻ đặc biệt qua các
buổi đón trả trẻ, tôi đã trao đổi với các bậc phụ huynh về trang thiết bị đồ dùng
đồ chơi mà nhà trường đã cấp, nhu cầu lớp còn thiếu những gì từ đó vận động
các bậc phụ huynh cùng tham gia đóng góp thêm các loại đồ dùng như: Có phụ
huynh đã sưu tầm các loại tranh ảnh về các con vật hoa quả, một số danh lam
thắng cảnh để ủng hộ, có bậc phụ huynh đã ủng hộ các cây cảnh, cây hoa, lốp xe
và một số loại cây ăn quả để trồng ở vườn trường và trang trí góc thiên nhiên,
khu vận động bên ngoài. Qua tìm hiểu về nghề nghiệp của bố mẹ trẻ tôi đã nắm
được nghề của bố mẹ trẻ từ đó tôi có kế hoạch gặp gỡ và trao đổi nhờ các bậc
phụ huynh sưu tầm những vật liệu hỏng bỏ đi để gom lại mang về làm đồ chơi
như bố cháu Tuấn Kiệt làm nghề sửa chữa điện tử nhờ bác sưu tầm những cục
mam châm những hòn bi sắt để cho trẻ làm thí nghiệm, bác Tùng làm thợ mộc
nhờ bác sưu tầm các khối gỗ để làm đồ chơi xếp nhà, xếp ô tô...Hàng ngày trước
khi dạy một bài tìm hiểu nào tôi thường xuyên trao đổi với các bậc phụ huynh về
bài học ngày hôm nay về nhà các bậc phụ huynh cùng trò chuyện với trẻ về bài
học hoặc có thể cung cấp cho trẻ một số kiến thức để cho trẻ học tập tốt hơn.
17


Đặc biệt tôi trò truyện với phụ huynh một số cháu có biểu hiện “Cá biệt” để phụ
huynh phối kết hợp ở nhà và cô ở lớp để cháu hòa đồng cùng cô và các bạn.
Như vậy với biện pháp trên tôi đã giúp phụ huynh nhận thức đúng đắn về
tầm quan trọng của hoạt động khám phá khoa học. Từ đó tôi đã khuyến khích
phụ huynh mua thêm một số tranh ảnh, sách, bút vẽ cho trẻ học ở nhà. Nhắc nhở
phụ huynh động viên khuyến khích trẻ kịp thời khi trẻ có sự cố gắng.
2.4. Hiệu quả sau khi áp dụng các biện pháp linh hoạt :
+ Đối với giáo dục:
- Số trẻ ngày càng tiến bộ và đạt kết quả cao được thể hiện qua bảng sau:
* Bảng 2: Kết quả khảo sát sau khi áp dụng các biện pháp đã chọn.
Nội dung
TS
Đạt yêu cầu
Chưa đạt y/c
trẻ
Tốt
Khá
TB
Yếu
Kém
ST
Trẻ hứng thú tham gia
hoạt động.
32
Trẻ phát âm, nhận biết
được một số đặc điểm 32
của các sự vật hiện
tượng.
Trẻ so sánh phân loại 32
sự vật hiện tượng.
Trẻ biết dự đoán và
suy luận
32

%

ST

%

ST

%

ST % ST %

10 31,25 10 31,25 12 37,5

0

0

0

0

9

28

10 31,25 13 40,6

0

0

0

0

9

28

10 31,25 13 40,6

0

0

0

0

8

25

10 31,25 14 43,7 0 0 0 0
5
Nhìn vào bảng trên kết quả sau khi thực hiện áp dụng các biện pháp nâng
cao chất lượng hoạt động khám phá khoa học cho trẻ 5 - 6 tuổi, cho thấy tỉ lệ
chưa đạt yêu cầu không còn nữa số lượng trẻ hứng thú tham gia hoạt động tăng
lên rõ rệt. Trẻ hứng thú tham gia vào hoạt động khám phá khoa học hơn. Hoạt
động khám phá khoa học không còn tẻ nhạt, khô khan đối với trẻ mà trẻ tích cực
tham gia hoạt động phát huy tính sáng tạo và khả năng tư duy khi khám phá
khoa học cụ thể trẻ có tiến bộ rõ rệt trong từng hoạt động. Trẻ có kỹ năng quan
sát, so sánh, phân loại tốt, hiểu biết rộng về tự nhiên cũng như xã hội.
+ Đối với bản thân: Bản thân tôi linh hoạt, tự tin hơn khi tiến hành hoạt
động, bên cạnh đó tôi được trau dồi kiến thức, kỹ năng, nghệ thuật chăm sóc và
giảng dạy trẻ.
Cần có lòng say mê khám phá khoa học, mong muốn tìm hiểu về các sự
vật hiện tượng lòng ham hiểu biết của cô giáo phải được thể hiện trong mọi hoạt
động để làm gương cho trẻ lôi cuốn trẻ vào các hoạt động khám phá, tìm hiểu về
môi trường xung quanh.
Mặt khác cô cần nắm vững những kiến thức cơ bản về khoa học tự nhiên
và khoa học xã hội, nắm vững nội dung chương trình và có kỹ năng sử dụng linh
hoạt các phương pháp, luôn có ý thức trong việc đổi mới phương pháp, hình
thức tổ chức cho trẻ khám phá khoa học theo hướng tích cực các hoạt động của
trẻ và “Lấy trẻ làm trung tâm”.
18


+ Đối với đồng nghiệp: Với các đồng chí đồng nghiệp có thể học hỏi đúc
rút kinh nghiệm đưa vào hoạt động khám phá khoa học để ngày càng mang lại
kết quả cao trong quá trình giảng dạy.
+ Đối với nhà trường: Sáng kiến kinh nghiệm được nhân rộng và được
đồng nghiệp đúc rút kinh nghiệm đưa vào bài dạy để đạt được kết quả cao.
Những biện pháp tôi đã áp dụng trong sáng kiến phù hợp với điều kiện
của lớp tôi nhà trường và địa phương.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận.
Thông qua việc áp dụng “Một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động
khám phá khoa học cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi Trường Mầm non Hoa Lộc”. Tôi
thấy các cháu lớp tôi đã tiến bộ lên rất nhiều. Qua kết quả thu được ở trên so đầu
năm và cuối năm tiến bộ rõ rệt, các cháu đã tập trung và thích học hoạt động
khám phá khoa học, tích cực tự giác gần như cả lớp, các cháu mạnh dạn tự tin.
Các cháu cảm nhận hoạt động khám phá khoa học không còn tẻ nhạt, khô khan
đối với trẻ mà trẻ tích cực tham gia hoạt động phát huy tính sáng tạo và khả
năng tư duy khi khám phá khoa học cụ thể trẻ có tiến bộ rõ rệt trong từng hoạt
động. Trẻ có kỹ năng quan sát, so sánh, phân loại tốt, hiểu biết rộng về tự nhiên
cũng như xã hội.
Cho trẻ làm quen với khám phá khoa học là môi trường để dẫn dắt trẻ hoà
nhập vào cuộc sống, có cơ hội cho trẻ gần gũi với thế giới xung quanh, nhằm
tích luỹ cho trẻ những tri thức, những ấn tượng tốt đẹp về thiên nhiên về cuộc
sống xã hội, phong phú đa dạng. Nhằm hình thành ở trẻ những phương pháp suy
nghĩ, thái độ, quan hệ tích cực, cách ứng sử đúng đắn với thế giới xung quanh
qua đó mà trẻ học làm người.
Tích cực chủ động tìm tòi học hỏi, sưu tầm các nguyên vật liệu khác nhau để
xây dựng môi trường cho trẻ sạch đẹp, an toàn, thân thiện nhằm thực hiện tốt
chương trình giáo dục mầm non và phong trào thi đua “ Xây dựng môi trường lấy
trẻ làm trung tâm”
Tổ chức tốt môi trường cho trẻ học tập trong, ngoài lớp. Xây dựng được mối
quan hệ thân thiện giữa giáo viên với giáo viên, giữa giáo viên và trẻ nên đoàn kết,
gắn bó với phụ huynh trong việc tuyên truyền phối hợp nâng cao chất lượng chăm
sóc và giáo dục trẻ.
Tạo cho trẻ tâm thế vui tươi thoải mái để cảm nhận được vẻ đẹp của thiên
nhiên, có cảm xúc với cái đẹp trong cuộc sống, bồi dưỡng một số kỹ năng cơ
bản cần thiết như: Nhận biết, phân biệt, so sánh, phát triển vốn từ cho trẻ để tạo
ra sản phẩm trẻ yêu thích. Đây là tiền đề đầu tiên, là yếu tố cần thiết để giúp trẻ
tự tin học tốt các hoạt động ở độ tuổi tiếp theo đặc biệt trong hoạt động khám
phá khoa học trẻ hoạt động tích cực hơn, bản thân trẻ được tự nhận xét, trao đổi,
trẻ trở lên năng động, sáng tạo và đạt được những kết quả đáng khích lệ.
Đối với bậc phụ huynh đã nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc cho
trẻ làm quen với hoạt động khám phá khoa học, tạo điều kiện cùng phối hợp với
cô giáo để được làm quen với hoạt động khám phá khoa học của trẻ đạt hiệu quả
cao nhất. Đó cũng đã góp phần nâng cao chất lượng hoạt động cho trẻ làm quen
với khám phá khoa học.
19


3.2.Kiến nghị.
* Kiến nghị với nhà trường:
Ban giám hiệu cần tham mưu tích cực hơn nữa về xây dựng cơ sở vật
chất: Phòng học, phòng đa năng, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học. Xây
dựng môi trường bên ngoài như “Góc thiên nhiên” phong phú và đa dạng để trẻ
được học và trải nghiệm.
* Đề nghị với phòng giáo dục:
Cần tăng cường hơn nữa các lớp tập huấn, bồi dưỡng về các hoạt động
khám phá khoa học trong trường mần non.
Trên đây là một số biện pháp, kinh nghiệm mà tôi đã thực hiện để nâng
cao chất lượng giáo dục hoạt động khám phá khoa học. Tôi xin mạnh dạn trình
bày với hội đồng khoa học, với các bạn đồng nghiệp. Bản thân tôi rất mong
được sự đóng góp ý kiến của hội đồng khoa học, các bạn đồng nghiệp để từ đó
rút ra được kinh nghiệm sâu sắc hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA HĐKH NGÀNH

Hoa lộc, ngày 4 tháng 3 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh
nghiệm của mình, không sao chép nội
dung của người khác.
Người viêt
Hoàng Thị Nhung

20


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Thu Hương ,Tuyển chọn trò chơi, bài hát, thơ ca, truyện, câu đố 5 - 6 tuổi
Của NXB giáo dục Việt nam.
2. Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Thị Mỹ Ngọc: Hướng dẫn thực hiện chương trình
giáo dục Mầm non cho trẻ 5 - 6 tuổi, Nhà xuất bản Hà nội
3. TS Hoàng Thị Oanh, Nguyễn Thị Xuân Giao, Giáo trình MTXQ, NXB Huế
2007
4. Hoàng Thị Dinh, Nguyễn Thị Thanh Giang, Bùi Thị Kim Tuyến: Hướng dẫn
thực hành áp dụng quan điểm giáo dục. Lấy trẻ làm trung tâm trong trường Mầm
Non. Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam.

21


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×