Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp giúp học sinh lớp 1 có kỹ năng giải toán có lời văn

MỤC LỤC
Nội dung

Trang

1. MỞ ĐẦU……………...........................................................................1
1.1. Lí do chọn đề tài.................................................................. ………...1
1.2. Mục đích nghiên cứu........................................................ …………..2
1.3. Đối tượng nghiên cứu.......................................................... ………...2
1.4. Phương pháp nghiên cứu.................................................. …………..2
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM…………………………..2
2.1. Cơ sở lí luận …………………………...............................................2,3
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.............3,4, 5
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.............. ……………5- 16
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường............................. ……………16,17
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ………………………………………........17
3.1. Kết luận……………………………………………………………..17
3.2. Kiến nghị……………………………………………………………17,18



1 . MỞ ĐẦU
1.1 . Lí do chọn đề tài
Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, chất lượng giáo
dục phụ thuộc nhiều vào kết quả đào tạo ở Tiểu học. Mục tiêu giáo dục tiểu học là

hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn lâu
dài về tình cảm,trí tuệ,thể chất và những kĩ năng cơ bản để học sinh học tiếp
các cấp học cao hơn,đào tạo các em phát triển toàn diện. Mỗi môn học ở Tiểu
học đều góp phần vào sự hình thành, phát triển nhân cách con người lao động mới.
Trong các môn học ở Tiểu học cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán chiếm một vị trí
vô cùng quan trọng. Các kiến thức kỹ năng của môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng
dụng trong đời sống, rất cần thiết cho người lao động. Môn toán ở bậc tiểu học sẽ
giúp các em có những kiến thức cơ bản ban đầu về toán học như: số tự nhiên, số
thập phân, phân số, các đại lượng thông dụng, một số yếu tố hình học và thống kê
đơn giản.Hình thành các kĩ năng toán học, đo lường và giải toán ứng dụng thực tế,
góp phần phát triển tư duy, khả năng suy luận hợp lý, cách diễn đạt lô gic, kích thích
trí tưởng tượng góp phần hình thành biện pháp tự học, làm việc có kế hoạch, khoa
học,chủ động, linh hoạt, sáng tạo và còn là công cụ giúp các em có kĩ năng sống và
học tốt các môn học khác.
Như chúng ta đã biết trong giai đoạn hiện nay, xu hướng chung của sự đổi mới
phương pháp dạy học ở bậc tiểu học, là làm sao để giáo viên không chỉ là người
truyền thụ kiến thức mà còn là người tổ chức, định hướng cho học sinh hoạt động,
để học sinh huy động vốn hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân vào việc chiếm
lĩnh tri thức mới. Hình thành cho học sinh cách học, để các em có một công cụ
vững chắc để các em bước vào đời .
Chương trình toán lớp một, quán triệt cơ sở tư tưởng toán học hiện đại trong
trường phổ thông, mang tính hiện đại , tính thực tiễn, tích hợp các nội dung bài học,
tinh giản kiến thức lí luận, tăng cường thực hành vận dụng, giải quyết vấn đề trong
học tập và đời sống. Bên cạnh đó giúp học sinh hình thành phương pháp tự học
tập, tự phát hiện vấn đề dựa trên đồ dùng trực quan, vốn sống để lĩnh hội kiến thức.
Hình thành và phát triển khả năng tư duy, khả năng giao tiếp và sự hợp tác của học
sinh. Chương trình phù hợp với nhận thức, sức khỏe của học sinhViệt Nam ở độ
tuổi lớp một.
Giải toán có lời văn ở tiểu học giúp các em biết vận dụng kiến thức đã học vào
các tình huống thực tế với những vấn đề thường gặp trong cuộc sống.
Đối với học sinh lớp một, tư duy lô gíc chưa phát triển, cơ bản mới là tư duy cụ
thể. Toán có lời văn lại là mảng kiến thức trìu tượng đối với học sinh nên việc lĩnh
hội, tiếp nhận tri thức giải các bài toán có lời văn đối với các em bước đầu gặp
nhiều khó khăn.. Các em chưa nắm vững được trình tự các bước để giải một bài
toán. Mặt khác một số em đọc chưa thông nên việc hiểu được yêu cầu của đề là rất
khó.
2


Do nhận thức về vấn đề trên như thế Năm học 2018-2019 với mong muốn
nâng cao chất lượng dạy học môn toán nói chung và mảng kiến thức giải toán có
lời văn nói riêng nên tôi đã chọn đề tài : “Một số kĩ năng Giúp học sinh lớp một
giải toán có lời văn.” để góp phần phát triển năng lực.tư duy độc lập cho các em .
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Từ thực tế dạy học toán ở lớp một tôi đã đi sâu vào nghiên cứu phương pháp
dạy dạng bài “giải Toán có lời văn’’ để giúp học sinh có thêm phương pháp học dễ
hiểu, dễ nắm bắt được nội dung kiến thức của bài hơn.
Học giải toán có lời văn, giúp các em luyện tập củng cố vận dụng các kiến
thức kĩ năng, thao tác thực hành đã được rèn luyện kĩ năng tính toán, suy nghĩ độc
lập, sáng tạo, linh hoạt khêu gợi khả năng quan sát, phỏng đoán, tìm tòi và có thể
coi việc học giải toán có một vị trí rất quan trọng .
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
- Kĩ năng giải toán có lời văn lớp một.
- Học sinh khối 1 cụ thể là học sinh lớp 1A trường Tiểu học Phú Lộc.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế.
- Phương pháp trắc nghiệm.
- Phương pháp trực quan.
- Phương pháp đàm thoại, gợi mở.
- Phương pháp luyện tập.
2. NỘI DUNG
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của công cuộc đổi mới đất nước, nên cần có
những con người lao động năng động, sáng tạo, sẵn sàng thích ứng với điều kiện
đổi mới đang diễn ra từng ngày. Một trong những quan điểm dạy học hiện đại đó là
tích cực hóa hoạt động học của học sinh trong quá trình dạy học. Trong dạy học
toán nói chung và dạy giải toán có lời văn nói riêng, giáo viên là người tổ chức,
hướng dẫn học sinh huy động những kiến thức đã được học để tiếp thu kiến thức
mới và vận dụng tốt để luyện tập thực hành. Điều này đòi hỏi giáo viên trong mỗi
tiết dạy phải tăng cường các yếu tố giải quyết các câu hỏi, các bài tập, tình
huống...để học sinh tìm ra tri thức và chiếm lĩnh tri thức đó.
Môn Toán ở Tiểu học có nhiệm vụ giúp học sinh:
- Hình thành hệ thống các kiến thức cơ bản, đơn giản, có nhiều ứng dụng trong đời
sống về số học các số tự nhiên, các số thập phân bao gồm cả cách đọc, cách viết, so
sánh các số tự nhiên....
- Có những đóng góp ban đầu, thiết thực về các đại lượng cơ bản như độ dài, khối
lượng thời gian, .... Biết sử dụng các dụng cụ để thực hành đo lường, biết ước
lượng các số đo đơn giản.
- Biết nhận dạng và bước đầu biết phân biệt một số hình học thường gặp.
3


- Biết cách giải và trình bày bài giải với những bài toán có lời văn. Nắm chắc, thực
hiện đúng quy trình bài toán.
- Thông qua những hoạt động học tập toán để phát triển đúng mức một số khả năng
trí tuệ và thao tác tư duy quan trọng nhất như: so sánh, phân tích, tổng hợp...
- Hình thành phong cách học tập và làm việc có suy nghĩ, có kế hoạch, có kiểm tra,
có tinh thần hợp tác, độc lập, sáng tạo, có ý chí vượt khó khăn, cẩn thận, kiên trì, tự
tin. Và như chúng ta đã biết việc giải toán có lời văn ở lớp một là chương trình
hoàn toàn mới và khó. Việc hoạt động học tập đối với các em còn mới mẻ. vì thế
qua nhiều năm giảng dạy, tôi thấy trong quá trình dạy học toán ở lớp một gặp rất
nhiều khó khăn cho học sinh đặc biệt là giải toán có lời văn. Trong mạch kiến thức
toán ở tiểu học thì kiến thức giải toán có lời văn là mạch kiến thức khó nhất đối với
học sinh và càng khó khăn hơn đối với học sinh lớp một.Trước tình hình đó, là một
giáo viên, tôi suy nghĩ rằng mình phải tìm ra một số biện pháp giảng dạy phù hợp
nhằm khắc phục những tồn tại của học sinh, đồng thời giúp bản thân tích lũy thêm
một số kinh nghiệm trong giảng dạy. Tôi đã mạnh dạn nghiên cứu và thử nghiệm
nhằm giúp các em giải tốt các bài toán có lời văn. Bởi vì: Đối với lớp một thì vốn
từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng tư duy logic của các em còn rất hạn
chế. Nhiều khi với một bài toán có lời văn, các em có thể thực hiện đúng phép tính
nhưng không trả lời hoặc lí giải là tại sao em lại đặt được phép tính như vậy. Thực
tế cho thấy học sinh thực sự lúng túng khi giải một bài toán có lời văn. Một số em
chưa biết tóm tắt bài toán, chưa biết phân tích đề toán để tìm ra đường lối giải. chưa
biết tổng hợp để trình bày bài giải...vv, mà làm bài một cách rập khuôn, bắt chước.
2.2 . THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU :
Trong quá trình giảng dạy ở tiểu học đặc biệt là dạy học sinh lớp một, tôi nhận
thấy hầu như giáo viên nào cũng phàn nàn khi dạy đến phần giải toán có lời văn ở
lớp một. Nguyên nhân là do trẻ mới bắt đầu được tiếp xúc làm quen với dạng toán này
mà tư duy của các em chưa có sự logic mới chỉ dừng lại ở cụ thể, trực quan sinh động.
Cho nên khi gặp dạng toán này các em vô cùng lúng túng, với các thao tác tư duy như
quan sát, so sánh, phân tích...quả là một thử thách không nhỏ trong khi nhiều em đọc
chưa thông, viết chưa thạo, nhiều em đang còn phải đánh vần từng chữ dẫn đến đọc được
đề bài nhưng không hiểu được đề bài nói gì. Vì vậy để các em đọc và hiểu được đề toán
và giải được bài toán có lời văn là vô cùng khó khăn.
Năm học 2018 - 2019 tôi được ban giám hiệu phân công chủ nhiệm lớp 1A với
28 học sinh, đa số các em có bố mẹ làm nông nghiệp nên việc quan tâm kèm cặp
cho các em học tập còn hạn chế, một số phụ huynh thì chưa hiểu cách giải và cách
trình bày một bài toán giải có lời văn như thế nào, cho nên việc hướng dẫn con em
mình cũng gặp nhiều khó khăn. Vì vậy việc hướng dẫn học sinh lớp một học tập và
rèn luyện kĩ năng giải toán có lời văn đòi hỏi giáo viên phải kiên trì tỉ mỉ, tận tâm, tận
lực với các em, tránh nôn nóng. Qua thực tế tôi rút ra một số nhận định sau:
*Về phía giáo viên:
4


- Giáo viên yêu nghề, hăng say với nghề nghiệp, tận tâm, tận lực với học sinh,
gần gũi với học sinh khi hướng dẫn các em học tập và vui chơi. Tuy nhiên vẫn còn
một số hạn chế:
- Việc dạy học còn thiên về truyền thụ kiến thức theo kiểu áp đặt, chưa chú ý
phát huy tính tích cực, chủ động phát hiện kiến thức ở học sinh.
- Trong quá trình dạy, giáo viên chưa chú trọng đến việc phân tích đề bài, xác
định từ khóa mấu chốt của bài toán mà giáo viên chỉ yêu cầu học sinh đọc đề bài,
gọi học sinh lên bảng làm rồi nhận xét đúng, sai.
- Giáo viên chưa chuẩn bị tốt cho học sinh khi dạy những bài trước. Đối với
những bài nhìn hình vẽ viết phép tính thích hợp, hầu như học sinh đều làm đúng
phép tính nên giáo viên chủ quan, ít nhấn mạnh hoặc không chú ý lắm mà chỉ tập
trung vào đặt phép tính và tính kết quả mà quên mất rằng đó là những bài toán làm
bước đệm, bước khởi đầu của dạng toán có lời văn sau này.
- Một số giáo viên chưa linh hoạt trong việc lựa chọn hình thức dạy học, vì thế
chưa tạo được hứng thú học toán cho học sinh.
*Về phía học sinh:
- Do đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi lớp một, tư duy mới chỉ ở giai đoạn đầu hình
thành và phát triển mang tính trực quan là chủ yếu. Mà mạch kiến thức giải toán có
lời văn lại tương đối trìu tượng nên học sinh gặp nhiều khó khăn.
- Việc đọc trơn ở một số em chưa tốt cộng với các em chưa hiểu rõ ý nghĩa các
thuật ngữ toán học trong bài toán nên còn nhầm lẫn.
- Nhiều em không biết tóm tắt bài toán, lúng túng khi nêu câu lời giải nên có khi
lại nêu lại câu hỏi của bài toán.
- Một số em sức khỏe chưa đảm bảo, quá nhỏ so với những em cùng lứa tuổi,
một số em đọc còn chưa thông nên việc lĩnh hội tri thức gặp nhiều khó khăn. Nhiều
em thiếu sự quan tâm của gia đình đối với việc học của các em vì bố mẹ các em đi
làm ăn xa, phó mặc cho cô giáo, phó mặc cho ông bà ở nhà.
Từ những khó khăn trên tôi đã tìm tòi nghiên cứu đưa ra một số biện pháp giúp
các em không những đọc thông, viết thạo mà còn giúp các em học tốt môn toán,
biết trình bày bài toán giải đúng quy cách và khoa học hơn.
Kết quả của thực trạng:
Ngay từ những ngày đầu của học kỳ 2, sau khi học sinh được tiếp cận với dạng
toán giải có lời văn, tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng học sinh với mong muốn
nâng cao chất lượng dạy học môn toán, nhất là mảng kiến thức giải toán có lời văn,
tôi đã tiến hành khảo sát kiểm tra chất lượng học sinh lớp mình phụ trách năm học
2018 - 2019. Tôi ra đề khảo sát cho học sinh như sau:
Đề toán: Có 5 con gà, có thêm 4 con gà đang chạy tới. Hỏi có tất cả bao nhiêu
con gà?
- Sau khi khảo sát chất lượng tôi thu được kết quả sau:

5


Lớp

Sĩ số

1A

28

Viết câu lời
giải đúng
SL
%

Viết đúng
phép tính
SL
%

Viết đúng đáp
số
SL
%

Trình bày bài
đủ và đúng
SL
%

7

9

6

6

25

32

21.5

21.5

Với chất lượng ban đầu như vậy, tôi suy nghĩ, trăn trở tìm tòi giải pháp nhằm
nâng cao tỉ lệ học sinh hoàn thành, giảm tối thiểu tỉ lệ học sinh chưa hoàn thành.
2.3. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
Để thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ của vấn đề trên. Tôi đã tìm hiểu sưu tầm,
tham khảo tài liệu liên quan đến việc giải toán có lời văn như sau:
* Nghiên cứu kỹ nội dung chương trình lớp một đặc biệt là nội dung mạch kiến
thức giải toán có lời văn ở lớp một.
* Các giải pháp cụ thể cho hoạt động học tập theo các mức độ khác nhau.
- Hướng dẫn học sinh giải toán theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học
sinh.
- Sử dụng hệ thống câu hỏi phát huy được tính tích cực của học sinh.
- Chú trọng đến việc rèn kỹ năng giải toán có lời văn cho học sinh.
2.3.1. Nghiên cứu kỹ nội dung chương trình môn toán ở lớp một và đặc biệt là
mạch kiến thức giải toán có lời văn ở lớp một.
a. Trong chương trình toán lớp một, giai đoạn đầu học sinh còn đang học chữ
nên chưa đưa ngay “ Bài toán có lời văn”. Mặc dù đến tuần 23 học sinh mới được
chính thức học cách giải “ Bài toán có lời văn”. Song chúng ta đã ngầm chuẩn bị từ
xa cho việc làm dạng toán này ngay tứ bài phép cộng trong phạm vi 3.( Bài luyện
tập tuần 7).
- Bắt đầu từ tuần 7 đến tuần 16 trong hầu hết các tiết dạy về phép cộng trong phạm
vi (không quá) 10 đều có các bài tập thuộc dạng “nhìn tranh nêu phép tính”. Ở đây
học sinh làm quen với việc:
+ Xem tranh vẽ.
+ Nêu bài toán bằng lời.
+ Nêu câu trả lời.
+ Điền phép tính thích hợp (với tình huống trong tranh).
-Từ tuần 17, học sinh được làm quen với việc đọc tóm tắt rồi nêu đề toán bằng lời.
Sau đó nêu cách giải và tự điền số, phép tính thích hợp vào dãy 5 ô trống. Ở phần
này không còn tranh vẽ nữa.
- Việc ngầm chuẩn bị cho học sinh có tiền đề giải toán có lời văn là chuẩn bị cho
học sinh cả về cách viết câu lời giải và phép tính. Chính vì vậy ngay sau các bài tập

6


“ Nhìn tranh điền phép tính thích hợp”. Chúng ta cần phải đặt thêm những câu hỏi
để học sinh trả lời miệng.
- Tiếp theo trước khi chính thức học “ Giải toán có lời văn”. Học sinh được học
dạng bài nói về cấu tạo của một bài toán có lời văn gồm 2 thành phần chính. Đó là
cái “đã biết”, và cái “phải tìm”. Vì vậy có thể nêu mục tiêu của tiết này là chỉ giới
thiệu cho học sinh hai bộ phận của một bài toán:
+ Những cái đã biết.( Dữ kiện)
+ Cái phải tìm.( Câu hỏi)
Loại bài này giúp các em hiểu sâu hơn về cấu tạo của “bài toán có lời văn.”
b. Các loại toán có lời văn trong chương trình chủ yếu là hai loại toán “Thêm bớt”; “Tìm tất cả- còn lại”
- Bài toán “Thêm”.
Ví dụ: “ Lúc đầu, tổ em có 6 bạn. Sau đó thêm 3 bạn nữa. Hỏi tổ em có tất cả
mấy bạn?”
- Bài toán “ Bớt”.
Ví dụ : An có 8 quả bóng, An thả 3 quả bóng bay đi. Hỏi An còn lại mấy quả
bóng?
- Bài toán “ Bớt”.Dạng tìm số hạng
Dạng này khá phổ biến, đôi khi có bài biến tấu một chút, dạng này ít vì hơi
khó.
Ví dụ: Lớp 1A có 28 bạn, trong đó có 13 bạn nam. Hỏi lớp 1A có bao nhiêu
bạn nữ?
Các bài toán ở lớp một phải đảm bảo tính cập nhật, Gắn liền và gần gũi với
cuộc sống xung quanh đối với học sinh. Từ nội dung trên với những yêu cầu cần
đạt đối với học sinh lớp một là các em bước đầu biết vận dụng các kiến thức kĩ
năng của môn toán để giải quyết các vấn đề đơn giản thường gặp.
Việc giải và trình bày các bài giải theo đúng quy trình giải toán có lời văn giúp
học sinh phát triển các năng lực tư duy( so sánh, lựa chọn, phân tích, tổng hợp, trừu
tượng hóa, khái quát hóa, phát triển trí tưởng tượng) cho học sinh.
Học giải toán ở lớp một còn là tiền đề để học sinh học tốt việc giải các dạng
toán cơ bản ở các lớp trên.
2.3.2 Giúp học sinh chuẩn bị cho việc học giải toán.
Đây là bước đầu các em được học giải toán, nên ở học kì 1 chủ yếu tôi giúp học
sinh thực hiện các thao tác xem tranh vẽ, tập phát biểu bài toán bằng lời, tập nêu
câu trả lời và điền phép tính thích hợp ( với tình huống trong tranh)
* Giai đoạn 1: Quan sát tranh, nêu phép tính thích hợp. ( Được bắt đầu từ tiết 27:
luyện tập đến tiết 61: luyện tập)
+ Ở giai đoạn đầu tiên này học sinh được thường xuyên làm quen với dạng
toán quan sát tranh nêu phép tính thích hợp. Tôi hiểu đó chính là yêu cầu: tập biểu
thị tình huống trong tranh bằng 1 phép tính thích hợp.
Ví dụ : Sau khi xem tranh vẽ SGK trang 63.
7


- Hướng dẫn học sinh nêu: Trên cành cây có 3 con chim đang đậu. Thêm 2
con bay đến đậu. Hỏi trên cành cây có tất cả mấy con chim?
- Học sinh tập nêu câu trả lời: Trên cành cây có tất cả 5 con chim.
* Cho nhiều học sinh tập nêu. Học sinh khá, giỏi nêu trước, học sinh trung bình và
học sinh yếu nêu sau, để dần tạo cho các em có kỹ năng nhìn tranh nêu đề toán
cũng như cách trả lời yêu cầu của bài toán. Tôi nhấn mạnh vào từ: “có, thêm, có
tất cả” để học sinh dần hiểu được: “ thêm” có nghĩa là: “cộng” Sau đó các em hiểu
và tự viết phép tính thích hợp vào ô trống: 3 + 2 = 5
- Tương tự như vậy cho đến hết tiết 61: Luyện tập trang 85.
và qua giai đoạn 1 học sinh của tôi đã hình thành tốt kĩ năng khi làm dạng bài tập
như trên. Đó là:
- Xem tranh vÏ.
- Nªu bµi to¸n b»ng lêi.
- Nªu c©u tr¶ lêi
- §iÒn phÐp tÝnh thÝch hîp víi t×nh huèng trong tranh.
Đây không chỉ là chuẩn bị cho học sinh bước lấy đà làm nền tảng cho việc
“ Giải toán có lời văn ” mà còn rèn luyện kĩ năng diễn đạt cho học sinh, nên bước
đầu tôi cho vài học sinh khá giỏi nêu trước sau đó tôi khuyến khích, động viên các
em học trung bình, học yếu trả lời lại. Khi các em đã làm quen được rồi, tôi lại
khuyến khích, động viên các em học trung bình, học yếu nêu trước, khi các em nêu
được thì cổ vũ các em bằng những lời khen cùng với những tràng vỗ tay của các
bạn giúp các em mạnh dạn và tự tin. Đối với học sinh lớp một, bước đầu để các em
làm quen với giải toán có lời văn thì trực quan để thu hút sự chú ý của các em là
một điều cực kỳ quan trọng. Mặt khác trực quan cũng là một kiểm chứng thực tế cụ
thể. Vì vậy trước khi cho các em nêu câu trả lời thì tôi thường cho các em quan sát
thật kỹ tranh và một số gợi ý của giáo viên.Việc làm trên đây góp một phần không
nhỏ vào việc giúp các em có một lượng kiến thức và kỹ năng làm tiền đề cho việc
giải toán có lời văn ở học kì 2.
* Giai đoạn 2: Tuần 16: ( Từ tiết 62 trang 87 đến hết tiết 83 trang 113) Từ giai
đoạn này, học sinh không quan sát tranh để nêu phép tính thích hợp nữa mà chuyển
sang: “ Viết phép tính thích hợp” dựa vào tóm tắt bài toán.
Bài 3( b) trang 87: Có : 10 quả bóng

Cho: 3 quả bóng
Còn : . . . quả bóng?
Tương tự như ở giai đoạn 1. Tôi tiếp tục cho học sinh đọc nhiều lần tóm tắt
bài toán rồi căn cứ vào thuật ngữ: “Có, cho, còn” để tiếp tục hướng dẫn học sinh:
“ cho” là bớt đi và từ “còn” có nghĩa là sau khi cho đi thì còn lại là bao nhiêu?
Nên chúng ta phải thực hiện phép tính trừ vào ô trống.

8


10

-

3

=

7

Như vậy ở giai đoạn này học sinh đã quen dần với cách nêu bài toán, câu trả lời
bằng miệng. Rèn luyện thành thạo kĩ năng này sẽ rất thuận lợi khi học sinh bước
vào giai đoạn học: “ giải toán có lời văn”
*Giai đoạn 3: - Từ (tiết 84: bài toán có lời văn) trang 115 đến cuối năm học sinh
chính thức học, rèn luyện giải bài toán có lời văn.
* Giúp học sinh nhận biết cấu tạo làm quen với các bài toán có lời văn.
Tiết 84: Bài toán có lời văn. Học sinh được học với đề toán chưa hoàn thiện. Tiếp
tục sử dụng kĩ năng quan sát tranh, học sinh đã rất thành thạo ở giai đoạn 2 vậy nên
hoàn thiện nốt đề bài toán là điều không khó đối với học sinh lớp tôi.Tôi đã giúp
học sinh hiểu mỗi bài toán có lời văn ( đề toán) thường có hai phần đó là những cái
đã cho ( đã biết ) và những cái phải tìm ( chưa biết ).
Đây là một trong những điểm mới trong chương trình toán 1. Nên học sinh cần
nắm vững mỗi bài toán có lời văn ( đề toán) thường có hai phần đó là những cái đã
cho ( đã biết ) và cái phải tìm ( chưa biết). Tôi cho học sinh nhận biết các thành tố
nói trên thông qua các dạng bài tập cụ thể.
2.3.2 Hướng dẫn học sinh thực hiện giải bài toán theo 4 bước giải toán ở tiểu
học.
Việc dạy học sinh lớp một thực hiện giải bài toán có lời văn là con đường hình
thành và phát triển trình độ tư duy của học sinh, đó là sự phát hiện vấn đề, giải
quyết vấn đề, tự nhận xét, so sánh, phân tích, tổng hợp, rút ra quy tắc với dạng tổng
quát nhất.
Để đạt được hiệu quả cao, người giáo viên phải biết tổ chức, hướng dẫn cho học
sinh hoạt động theo định hướng nhất định, dưới sự trợ giúp đúng mức của giáo viên
để mỗi học sinh được khám phá, phát hiện và giải quyết bài toán thông qua việc
thiết lập giữa cái “đã biết” và cái “phải tìm”. Giữa kiến thức mới và kiến thức đã
học. Điều quan trọng là dạy cho các em nắm được dạng toán, phương pháp giải bài
toán chứ giáo viên không làm thay, không áp đặt cách giải. Khuyến khích học sinh
tìm ra nhiều cách giải và hình thành cho học sinh thói quen không dừng lại ở việc
bằng lòng với kết quả đạt được mà phải cố gắng hơn nữa để tìm ra giải pháp tốt
hơn cho mỗi bài toán giải của mình.
a.Bước 1: Hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu nội dung đề bài, tóm tắt bài
toán, phântích xác định các dữ kiện của bài toán để tìm các thuật ngữ toán học.
Vì vốn ngôn ngữ của các em còn hạn chế nên rất ảnh hưởng đến việc đọc đề toán.
Hơn nữa lời văn của bài toán được kết hợp bởi ngôn ngữ tự nhên, ngôn ngữ toán
học và ngôn ngữ kí hiệu. Vì vậy khi dạy cần hướng dẫn cho học sinh đọc đúng, đọc
hiểu bài toán, cần phải củng cố và bổ sung vốn từ vựng thường dùng bằng ngôn
ngữ, thuật ngữ và kí hiệu toán học một cách chính xác đó là một số từ khóa quan
9


trọng như: “ Thêm, và, cả, tất cả...” Hoặc “ Bớt, bay đi, cho, biếu, tặng,ăn mất, còn
lại...” có thể kết hợp thêm trực quan để hỗ trợ.
Để giúp học sinh dễ hiểu đề bài toán, giáo viên cần gạch chân các từ khóa then
chốt trong đề bài. Khi gạch chân nên dùng phấn màu để học sinh nắm bắt dễ dàng
hơn. Trong giai đoạn đầu, giáo viên nên giúp học sinh tìm hiểu đề toán bằng cách
đàm thoại “ Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì?” và dựa vào câu trả lời của học
sinh để viết tóm tắt, sau đó cho học sinh dựa vào tóm tắt nêu lại đề toán. Đây là
cách tốt nhất giúp học sinh ngầm phân tích đề toán.
Ví dụ 1: Bài 3 ( Trang 118- Toán 1)
Bài toán: Đàn vịt có 5 con dưới ao và 4 con trên bờ. Hỏi đàn vịt có tất cả bao
nhiêu con?
Với bài này tôi yêu cầu học sinh:
- Quan sát tranh minh họa SGK.
- Đọc đề bài toán.
- Trả lời câu hỏi:
+ Bài toán cho biết gì? ( Đàn vịt có 5 con dưới ao)
+ Bài toán còn cho biết gì nữa?( Và 4 con ở trên bờ)
+ Bài toán yêu cầu tìm gì? Hoặc hỏi gì?( Đàn vịt
có tất cả mấy con?)
Tôi gạch chân các dữ kiện, yêu cầu của bài toán. Sau đó hướng đẫn học sinh
hoàn thiện tóm tắt của bài toán. Lúc này học sinh chỉ cần dựa vào việc trả lời câu
hỏi: Bài toán cho biết gì và bài toán hỏi gì là hoàn thiện tóm tắt.
Dưới ao:
5 con vịt.
Trên bờ:
4 con vịt.
Có tất cả:.......con vịt?
Yêu cầu nhiều học sinh đọc lại tóm tắt
- Đối với dạng toán trong đề bài không có từ “ Thêm” “ Bớt” học sinh khó xác
định tôi hướng dẫn học sinh như sau:
Ví dụ 3: Bài 4 (Trang 173 SGK toán 1)
Bài toán: Vừa gà, vừa vịt có tất cả 10 con, trong đó có 3 con gà. Hỏi có mấy con
vịt?
Sau khi học sinh đọc đề toán, giáo viên hướng dẫn học sinh làm rõ câu hỏi sau:
+ Bài toán cho biết gì? (Có tất cả 10 con vừa gà vừa vịt.)
+ Có mấy con gà? ( Có 3 con gà.)
+ Bài toán yêu cầu tìm gì? Hoặc hỏi gì? ( Có mấy con vịt.)
Tôi gạch chân các dữ kiện, yêu cầu của bài toán và thao tác trên đồ dùng trực
quan. Đưa mô hình 10 con gồm 3 con gà và 7 con vịt cho học sinh quan sát. Sau đó
giáo viên hỏi học sinh:
- để tìm được số vịt ta phải làm phép tính gì? Nếu học sinh không nhận ra thì
giáo viên phải nói và chỉ vào mô hình cho học sinh nhận ra. Mặc dù trong bài này
có cụm từ “ Tất cả” nhưng nó lại ở phần “ Cho biết” chứ không phải ở phần bắt ta
10


“ Đi tìm” vì vậy đối với bài này chúng ta làm phép tính trừ. Điều quan trọng là giáo
viên giúp học sinh phân biệt được đâu là dữ kiện, đâu là ẩn số của bài toán để học
sinh tìm ra cách giải.
b.Bước 2: Hướng dẫn học sinh tìm câu lời giải và phép tính
* Hướng dẫn học sinh tìm câu lời giải:
Để có câu lời giải ngắn gọn, phù hợp đi kèm với phép tính đúng thì phải đảm bảo
các yêu cầu sau:
- Câu lời giải phải đảm bảo mục đích yêu cầu cần tìm.
- Câu phải đúng ngữ pháp.
- Từ ngữ trong câu phải phù hợp với thuật ngữ toán học.
- Phép tính phải đúng, phù hợp.
Khi hướng dẫn học sinh tìm câu lời giải, giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ quy
trình phải làm . Tức là để có được câu lời giải hợp lý thì chúng ta sẽ dựa vào câu trả
lời của câu hỏi: Bài toán yêu cầu tìm gì?
Ở phần này giáo viên có thể lấy nhiều ví dụ cụ thể, sau đó cứ cho một em trả lời
câu hỏi bài toán yêu cầu tìm gì thì gọi em khác dựa vào câu trả lời của bạn để đặt
câu lời giải. Có thể lúc đầu các em còn diễn đạt câu lời giải chưa đầy đủ, chưa rõ
ràng thì giáo viên bám vào phần bài toán “hỏi” và chỉ cho học sinh thấy những chỗ
còn thiếu hay những chỗ chưa rõ ràng trong câu lời giải của các em. Từ đó từng
bước uốn nắn dần cho chọc sinh.
Ví dụ : Bài toán (Trang 117 SGK toán 1)
Bài toán: Nhà An có 5 con gà. Mẹ mua thêm 4 con gà. Hỏi nhà An có tất cả
mấy con gà?
Để giúp học sinh đặt được câu lời giải cho bài toàn trên, tôi đã yêu cầu học sinh
xác định rõ bài toán hỏi gì? Và học sinh sẽ xác định được bài toán hỏi: “ Nhà An
có tất cả mấy con gà”
Sau khi học sinh xác định được bài toán hỏi gì thì tôi nhấn mạnh cho học sinh:
Bài toán hỏi cái gì thì ta trả lời cái đó. Dùng câu hỏi gợi mở cho học sinh tìm câu
lời giải hợp lí.
Vậy ở bài toán này hỏi: “ Nhà An có tất cả mấy con gà” thì ta trả lời như thế
nào? Tôi cho nhiều học sinh trả lời miệng.
- Như vậy sẽ có rất nhiều câu trả lời khác nhau. Từ việc trả lời của học sinh, giáo
viên ghi bảng một số câu trả lời khác nhau của học sinh sau đó giáo viên phân tích,
giải thích cho các em hiểu câu lời giải nào hợp lí, câu lời giải nào chưa hợp lí, chưa
hợp lí ở chỗ nào, vì sao lại chưa hợp lí. Và hướng dẫn cho học sinh cách chọn câu
lời giải như sau:
- Nhà An có tất cả là.
- Nhà An có tất cả số con gà là.
- Số con gà của nhà An có tất cả là.
Chúng ta có thể chọn một trong 3 câu lời giải trên đều được. Sau đó hướng dẫn
cho các em cách tìm câu lời giải nhanh và hợp lí.
11


Cách 1:
- Gạch chân chữ “hỏi” trong đề bài.
- Bỏ chữ “hỏi” đầu câu hỏi và dấu chấm hỏi ở cuối câu.
- Thay chữ “mấy” bằng chữ “là và dấu hai chấm”.
Cách 2:
- Gạch chân chữ “hỏi” trong đề bài.
- Bỏ chữ “hỏi” đầu câu hỏi và dấu chấm hỏi ở cuối câu.
- Thay chữ “mấy” bằng chữ “số”.
- Thêm vào cuối câu lời giải chữ “là và dấu hai chấm”.
Cách 3:
- Gạch chân chữ “hỏi” trong đề bài.
- Bỏ chữ “hỏi” đầu câu hỏi và đảo từ con gà ở cuối câu hỏi thêm chữ
“số” lên đầu câu lời giải.
* Hướng dẫn học sinh viết phép tính:
Ví dụ : Bài toán (Trang 117 SGK toán 1)
Bài toán: Nhà An có 5 con gà. Mẹ mua thêm 4 con gà. Hỏi nhà An có tất cả
mấy con gà?
-Trước hết tôi cho các em nắm được khái niệm của từ “ Tất cả” có nghĩa là gộp cả
lại.
- Vậy muốn biết nhà An có tất cả mấy con gà ta làm phép tính gì?( Làm phép tính
cộng.)
- Lấy mấy cộng với mấy? ( Lấy 5+ 4 = 9). Giáo viên nhấn mạnh. 5+4= 9 (con gà)
và từ con gà chính là tên đơn vị của phép tính.
- Như vậy nhà An có tất cả mấy con gà? (9 con gà)
Cho nhiều học sinh nhắc lại và lưu ý học sinh : Bài toán hỏi cái gì thì tên đơn vị
là cái đó và tên đơn vị chúng ta cho vào ngoặc đơn.
Ví dụ: Hỏi có tất cả mấy bông hoa? Thì tên đơn vị là (bông hoa).
Hỏi có tất cả có mấy quả bóng thì tên đơn vị là (quả bóng.)
* Hướng dẫn học sinh viết đáp số:
Tôi cho học sinh biết: Đáp số chính là kết quả của phép tính mà chúng ta vừa
tính được.
Ví dụ: Chúng ta vừa làm phép tính:
5+4=9(con gà)
Đáp số: 9con gà
Lưu ý học sinh: tên đơn vị ở phần đáp số không cần đóng ngoặc đơn.
Biết tìm ra cách giải đúng là khó đối với học sinh rồi, nhưng trình bày bài giải
như thế nào cho đúng, đẹp và khoa học cũng không phải dễ đối với các em. Vì vậy
ngay từ những bài đầu tiên, giáo viên phải hướng dẫn tỉ mỉ, cụ thể, chi tiết từ cách
viết câu lời giải đến phép tính và cuối cùng là đáp số.
c.Bước 3: Hướng dẫn học sinh cách trình bày một bài toán giải có lời văn.
Tôi hướng dẫn các em trình bày bài toán giải có lời văn theo 4 bước như sau:
- Viết từ “Bài giải” ở giữa trang giấy và gạch chân.
12


- Viết câu lời giải sao cho từ “Bài giải” nằm ở giữa câu lời giải.
- Phép tính viết lùi vào so với câu lời giải 2 ô của vở học sinh.
- Đáp số viết lùi vào so với phép tính 1 ô của vở học sinh và gạch chân.
Bài giải
Nhà An có tất cả là số con gà là.
5 + 4 = 9 ( Con gà )
Đáp số : 9 Con gà
- Cho học sinh đọc lại bài toán vài lượt.
- Giáo viên chỉ từng phần bài giải, nêu lại để nhấn mạnh.
- Khi giải bài toán cần qua 4 bước.
Bước 1:- Viết ( Bài giải )
Bước 2:- Viết câu lời giải
Bước 3:- Viết phép tính ( Tên đơn vị trong dấu ngoặc đơn )
Bước 4:- Viết đáp số ( Tên đơn vị không cần trong dấu ngoặc đơn )
Giáo viên cần giải thích cho học sinh nắm được:
Nếu lời giải ghi: “ Nhà An có tất cả số con gà là” thì phép tính có thể ghi: 5+4=9(
con) vì trên lời giải đã ghi đầy đủ danh số. Và tại sao từ “ con gà” lại được đặt
trong dấu ngoặc đơn? Đúng ra thì về mặt toán học thì 5+4 chỉ bằng 9 thôi
( 5+4=9) chứ 5+4 không thể bằng 9 con gà được. Do đó nếu viết: “5+4=9 con gà”
là sai. Vì vậy để có kết quả bằng 9 con gà thì ta phải viết đầy đủ như sau: “ 5 con gà
+ 4 con gà = 9 con gà.” Song cách viết phép tính với các đơn vị đầy đủ như vậy khá
phiền phức và dài dòng, gây khó khăn và tốn nhiều thời gian đối với học sinh lớp
một cho nên người ta ghi tên đơn vị “ con gà” ở trong dấu ngoặc đơn để chú thích
cho số 9 đó. Như vậy cách viết 5+4=9 (con gà) là phù hợp.
d.Bước 4: Kiểm tra đánh giá bài làm của học sinh.
- Trong việc dạy và học toán, việc kiểm tra đánh giá là rất quan trọng và cần thiết.
Việc này giúp học sinh nhận ra bài làm của mình đúng hay sai. Đúng ở khâu nào,
sai ở khâu nào để từ đó tìm ra cách sữa chữa và khắc phục. Tôi làm như sau:
Sau khi học sinh làm bài xong, tôi cho học sinh đọc lại đề toán, yêu cầu học sinh
kiểm tra số liệu, Kiểm tra phần tóm tắt, kiểm tra câu lời giải, kiểm tra phép tính,
kiểm tra đáp số. Kết quả cuối cùng có phù hợp, có đúng với yêu cầu của bài toán
không? Từ đó rút ra cách giải hợp lí bằng cách học sinh tự đánh giá so sánh bài làm
của mình với bài làm của bạn hoặc bạn đánh giá và chỉ ra chỗ sai của mình.
Cuối cùng giáo viên là người kiểm tra đánh giá và chốt kết quả sau mỗi bài để
đảm bảo các yêu cầu về kiến thức, kĩ năng cơ bản, trọng tâm của bài học.
2.3.4.Phát huy tối đa việc sử dụng đồ dùng dạy học giúp học sinh tiếp thu kiến
thức một cách tích cực, chủ động, sáng tạo.
Học sinh tiểu học, mà nhất là học sinh lớp một, tư duy của các em chủ yếu còn
đang ở giai đoạn trực quan sinh động, cụ thể. Chính vì vậy việc sử dụng đồ dùng
trực quan trong dạy học sẽ giúp các em hiểu bài nhanh hơn, ghi nhớ tốt hơn và
thiết lập được mối quan hệ giữa các dữ kiện trong đề toán nhanh hơn, rõ ràng hơn,
các em tìm được cách giải bài toán dễ dàng hơn.
13


Ví dụ: Để hướng dẫn học sinh cách giải bài toán:
Nhìn tranh vẽ, nêu tóm tắt bài toán, rồi giải bài toán đó.( Bài toán 2 trang
152- SGK toán 1).
Tôi hướng dẫn học sinh như sau:
Bước 1: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề toán:
Sau khi học sinh đọc đề toán, giáo viên dùng mô hình con thỏ để minh họa
cho đề toán.
- Giáo viên yêu cầu học sinh : Phân tích đề, tìm hiểu các dữ kiện đã cho. Tóm tắt
( số con thỏ ở trong vòng tròn và số con thỏ đang chạy đi). Tìm hiểu dữ kiện cần
tìm( Số con thỏ còn lại.)
- Giáo viên hướng dẫn học sinh dựa vào mô hình để học sinh xác lập mối quan hệ
giữa cái đã cho và cái cần tìm bằng cách thao tác dịch chuyển các con Thỏ mô hình.
Bước 2: Hướng dẫn học sinh cách tóm tắt và cách giải:
* Giáo viên chỉ vào mô hình trên bảng và đặt câu hỏi:
- Có tất cả bao nhiêu con thỏ? ( 8 con)
- Mấy con chạy đi? ( 3 con)
- Dạng bài này ta phải đặt câu hỏi như thế nào? ( Hỏi còn lại bao nhiêu
con thỏ?)
Bước 3: Hướng dẫn học sinh trình bày và tóm tắt bài giải:
Tóm tắt
Có:
8 con thỏ.
Chạy đi: 3 con thỏ.
Còn lại: ....con thỏ?
Bài giải
Số con thỏ còn lại là:
8 – 3 = 5( con thỏ)
Đáp số: 5 con thỏ.
Bước 4: Hướng dẫn học sinh nhận xét,so sánh, đối chiếu kết quả bài toán:
- Học sinh nhận xét bài làm.
- Học sinh so sánh kết quả với mô hình trên bảng.
Cách làm trên giúp học sinh dễ dàng nhận biết được kết quả bài làm của mình là
đúng hay sai.
Việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học không những giúp học sinh dễ
hiểu bài, nắm bắt nhanh kiến thức cần lĩnh hội mà còn tạo hứng thú học tập
cho các em, tiết học trở nên nhẹ nhàng, thoải mái hơn. Tuy nhiên không phải vì thế
mà chúng ta có thể sử dụng trực quan một cách tràn lan, thiếu khoa học mà khi sử
dụng cần phải khéo léo, chính xác, đúng lúc, đúng chỗ. Trực quan đưa ra cần phải
đảm bảo được tính chính xác, tính khoa học, và tính thẩm mĩ mới đạt hiệu quả cao
trong tiết học.
2.3.3.Sử dụng trò chơi học tập.
14


Đặc thù của học sinh tiểu học mà đặc biệt là học sinh lớp một, các em rất thích
các hoạt động sôi nổi như được tham gia các hoạt động ngoại khóa, các buổi sinh
hoạt tập thể. Đặc biệt trong các tiết học các em được tham gia các trò chơi. Các em
vừa được chơi vừa được tiếp thu kiến thức là một điều vô cùng thú vị đối với các
em, nó kích thích hứng thú học tập, khiến các em vừa dễ nhớ, vừa nhớ lâu và khắc
sâu được kiến thức, tạo cho các em có được tâm thế học tập thoải mái, tiếp thu kiến
thức một cách nhẹ nhàng. Chính vì thế trong các tiết dạy tôi thường sử dụng các trò
chơi học tập. Đặc biệt là ở môn toán mà chủ yếu là các bài toán giải. Các trò chơi
mà tôi thường hay sử dụng đó là: “ Trò chơi tiếp sức” “ ai nhanh, ai đúng” .
“ tìm nhà vô địch.” “ Thi giải toán nhanh”. “ Đọc nhanh bài giải.”...
Ví dụ: Khi dạy xong bài “ Luyện tập” (trang 121- SGK toán 1) Tôi đã tổ chức
cho các em chơi trò chơi “ Đọc nhanh bài giải” như sau:
+ Mục đích chơi: Rèn kĩ năng giải bài toán về “phép tính cộng”
+ Chuẩn bị: Mô hình ô tô, bông hoa, quả cam...
+ Luật chơi và cách chơi:
Giáo viên gắn lên bảng hàng trên 5 quả cam. Hàng dưới 2 quả cam. Hoặc hàng
trên 4 bông hoa, hàng dưới 6 bông hoa. Hoặc hàng trên 6 ô tô, hàng dưới 3 ô tô....
- Học sinh thi đọc nhanh bài giải.
- Em nào trong thời gian nhanh nhất giải đúng sẽ được tuyên dương.
- Giáo viên tổng kết trò chơi.
Ví dụ 2: Khi dạy bài luyện tập chung (trang 152 - SGK Toán 1). Tôi đã tổ chức trò
chơi “ Tìm nhà vô địch” ở phần củng cố bài như sau:
+ Mục đích chơi: Rèn kĩ năng giải bài toán về “phép tính cộng và phép tính trừ”
+ Chuẩn bị: Giáo viên viết sẵn tóm tắt lên tờ giấy kẻ ô li 2 bài toán có lời văn, một
bài phép cộng và một bài phép trừ. Một bức tranh, phô tô làm 2 bản cho hai đội.
hai bản này được úp xuống theo hàng ngang ( Để học sinh không nhìn thấy được đề
bài trước khi tính giờ).
Đề1:
Có : 18 quả bóng

Cho: 5 quả bóng
Còn : . . . quả bóng?
Đề2:

: 15 bông hoa
Thêm : bôn g hoa
Có tất cả : ... bông hoa?
Đề 3:

15


+ Luật chơi và cách chơi:
- Hai đội đứng thành hàng ngang theo các bài đã được sắp xếp.
- Khi giáo viên hô bắt đầu thì tất cả 3 học sinh của mỗi đội lật tờ giấy có ghi đầu
bài lên, đoc kĩ và giải nhanh chóng theo yêu cầu đã đặt ra trong đề bài. Hcoj sinh
nào làm xong , nộp bài cho giáo viên rồi về chỗ ngồi. Giáo viên đánh dấu những
bài nộp trước thời gian quy định. Khi giáo viên hô hết giờ thì tất cả phải dừng tay.
Nếu học sinh của đội nào còn viết tiếp là phạm luật không được tính điểm. Mỗi bài
giải đúng và đúng thời gian quy định là 10 điểm. Mỗi bài giải đúng mà nộp trước
thời gian quy định thì được cộng thêm điểm thưởng. Mỗi bài nộp sau thời gian quy
định không tính điểm.
+ Tổng kết trò chơi: Đội nào có số điểm nhiều hơn là đội vô địch và được thưởng
mỗi bạn một cái bút hoặc một quyển vở.
- Sau mỗi lần các em được chơi trò chơi thì tất cả các em đều vô cùng thích
thú.Các em được tham gia chơi thì hào hứng, quyết tâm. Những em không tham gia
ngồi cổ vũ nhiệt tình, sôi nổi đánh giá, nhận xét các bạn giúp các em nhớ lâu hơn,
khắc sâu hơn các dạng toán mà các em đã được học. Qua đó tôi rút ra được một
điều, tổ chức trò chơi toán học cho học sinh, không những tạo hứng thú học tập,
khắc sâu được kiến thức, tạo được sự phấn đấu, ganh đua trong học tập mà còn tạo
cho các em có thêm kĩ năng giao tiếp. Nhiều em không còn rụt rè, nhút nhát nữa mà
giao tiếp rất tự nhiên.
2.3.5. Giúp học sinh củng cố về “ Giải toán có lời văn ”
Đây là giai đoạn mà học sinh đã thành thạo kĩ năng giải toán. Thời gian giải
một bài toán diễn ra nhanh gọn hơn, chất lượng cao hơn.
16


Ở giai đoạn này giáo viên chỉ nêu nhiệm vụ cho học sinh tìm hiểu nội dung của
các bài toán cụ thể, học sinh làm việc một cách chủ động theo lệnh của giáo viên,
giáo viên đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn các hoạt động đúng khả năng,
độc lập, sáng tạo, tự giác, tạo điều kiện để học sinh được hoạt động học tập tích
cực, có như thế thì kiến thức mà các em chiếm lĩnh được mới thực sự bền vững.
2.3.6.Phối hợp chặt chẽ với phụ huynh học sinh:
Trong dạy và học ở các nhà trường, việc phối kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường,
gia đình và xã hội là vô cùng quan trọng. giúp chúng ta thường xuyên liên hệ trao
đổi thông tin đa chiều giữa gia đình và nhà trường, nắm bắt thông tin kịp thời để có
biện pháp phù hợp giúp đỡ các em trong học tập. Từ đó thúc đầy được ý thức trong
việc học tập của học sinh.
2.3.7. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, với đồng nghiêp và nhà trường.
Sau khi tiến hành một số giải pháp “ Giải toán có lời văn” cho học sinh. Tôi ra đề
kiểm chứng xem chất lượng giải toán của các em đạt ở mức nào? Tôi đã ra đề cho
học sinh làm như sau:
Mai và Lan hái được 59 bông hoa.Riêng Lan hái đươc 36 bông hoa. Hỏi Mai hái
được bao nhiêu bông hoa?
a. Về phía giáo viên:
Qua tìm tòi nghiên cứu, vận dụng các phương pháp dạy toán có lời văn theo
hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh vào thực tế giảng dạy tôi thấy:
Nhờ sự chủ động của người dạy, cách tổ chức hợp lí các hoạt động cho người
học một cách nhịp nhàng, đồng bộ nên dẫn dắt học sinh nắm kiến thức cơ bản
nhanh hơn, kiến thức trọng tâm được khắc sâu hơn. Còn đối với bài luyện tập thực
hành thì giáo viên chủ yếu là giao nhiệm vụ cho học sinh hoạt động. Vai trò của
giáo viên lúc này là giúp học sinh tháo gỡ những vướng mắc và quan tâm nhiều
hơn đến học sinh yếu. Nhờ vậy học sinh được thực hành nhiều nên nắm bài nhanh
hơn, sâu hơn, có hứng thú học tập hơn.
b. Về phía học sinh:
Do được hoạt động tích cực, chủ động nên học sinh nhận biết rõ được các thông
số của bài toán “cái đã biết, cái chưa biết, cái cần tìm” của đề bài ra. Các em đã
giải được các bài toán tương đối chính xác và nhanh.
Đây là kết quả sau khi áp dụng “ Một số giải pháp giúp học sinh lớp một có kĩ
năng giải toán có lời văn”. Vào quá trình dạy-học môn toán lớp một.

17


Sĩ số

28

Kết quả
Trình bày đủ và
đúng
26

92,8%

Viết sai lời giải
1

3.6%

Viết sai đáp số
1

3.6%

Nhìn vào bảng tổng hợp kết quả trên ta thấy, chất lượng học sinh trình bày đủ
và đúng được tăng lên rõ rệt.Học sinh còn mắc sai sót khi giải toàn giảm đáng kể.
Hầu hết các em nhìn vào bài toán nêu được tóm tắt, nhìn vào tóm tắt hiểu nội dung
bài toán. Biết cách trình bày bài giải. Các em tư duy được nhiều câu lời giải khác
nhau. Đa số các em nắm được dạng toán. Đặc biệt 100% các em nắm được các
bước giải.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1.Kết luận
Qua việc tìm tòi áp dụng các biện pháp dạy học giải toán có lời văn như trên,
tôi đã thu được một kết quả rất khả quan. Tôi nhận thấy, muốn học sinh học tốt môn
toán, đặc biệt là giải toán có lời văn thì mỗi giáo viên cần:
Giáo viên phải có cái nhìn tổng quát về chương trình, đặc biệt là phần giải
toán có lời văn ở lớp một. Từ đó chủ động xây dựng kế hoạch bài học, đề ra các
biện pháp giảng dạy cụ thể, phù hợp với từng nội dung dạy học và từng đối tượng
học sinh, tránh gò ép, bắt buộc, để phát huy được sự sáng tạo của học sinh.
Cần tăng cường việc rèn kĩ năng giải toán cho các em, đồng thời xây dựng hệ
thống bài tập phù hợp cho học sinh luyện tập. Giáo viên nên hướng dẫn, giao nhiệm
vụ cho học sinh tự tìm ra cách giải quyết bằng cách tự nhận dạng bài và tự
tìm ra cách giải. Từ đó rèn tính độc lập sáng tạo cho học sinh thì kết quả học tập
mới cao.
Người giáo viên phải có khả năng vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học phù
hợp với từng đối tượng học sinh; biết cách tổ chức giờ học một cách hợp lí tạo
không khí thoải mái, cởi mở đối với học sinh khi học tập. Đối với từng bài học cụ
thể, giáo viên phải khắc sâu kiến thức trọng tâm cơ bản của bài học ấy để học sinh
hiểu và nắm được bài ngay tại lớp.
Giáo viên phải kiên trì, chịu khó hướng dẫn các em, không nóng vội.
Cần chú ý đến đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp một để có biện pháp hướng
dẫn các em học tập phù hợp.
Quá trình dạy học phải là một quá trình kiên trì- tỉ mỉ- cụ thể - dễ hiểu. Vì thế
học sinh phải được luyện tập, thực hành nhiều để các em chiếm lĩnh kiến thức bằng
chính hoạt động có ý thức của mình.
18


Đặc biệt đối với lớp một trong quá trình dạy học là một quá trình tỉ mỉ , kiên trì,
học đâu chắc đấy, không nên nóng vội . Thực hiện ôn tập, củng cố thường xuyên,
liên tục , thời gian học sinh luyện tập thực hành phải nhiều. Bên cạnh đó giáo viên
phải tổ chức các hoạt động học tập phải sinh động, hấp dẫn, có nội dung gắn bó với
đời sống thực tế của các em. Không những thế giáo viên còn động viên khuyến
khích các em, chấm chữa bài thường xuyên, liên tục để có biện pháp giúp đỡ học
sinh học tập đúng đối tượng.
Trên đây là toàn bộ nội dung nghiên cứu “ Giúp học sinh lớp một có kĩ năng
giải toán có lời văn” đã được áp dụng vào thực tế giảng dạy của tôi và đã có
chuyển biến tốt về chất lượng học sinh. Xong bản thân còn nhiều hạn chế nên nội
dung nghiên cứu không tránh khỏi những hạn chế nhất định. Vì vậy, tôi rất mong sự
góp ý chân thành của hội đồng sáng kiến các cấp để nội dung sáng kiến kinh
nghiệm được đầy đủ và chất lượng hơn.
3.2.Kiến nghị:
- Đối với nhà trường cần tổ chức các chuyên về dạy giải toán có lời văn cho
các khối để giáo viên được học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau.
- Cung cấp thêm tài liệu, giáo trình để giáo viên tham khảo.
Xin trân trọng cảm ơn!

XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GIÁO DỤC VÀ
ĐÀO TẠO

Hậu Lộc, ngày 05 tháng 05 năm 2019
Tôi xin cam đoan, đây là Sáng kiến
kinh nghiệm của mình viết, không sao
chép của người khác.
Người thực hiện

Nguyễn Thị Vân

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×