Tải bản đầy đủ

Chỉ đạo dạy học các bài về nhân, chia số có nhiều chữ số với số có đến ba chữ số trong môn toán lớp 4

ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HẬU LỘC

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

CHỈ ĐẠO DẠY HỌC CÁC BÀI VỀ NHÂN, CHIA SỐ
CÓ NHIỀU CHỮ SỐ VỚI SỐ CÓ ĐẾN 3 CHỮ SỐ TRONG
MÔN TOÁN LỚP 4

Người thực hiện: Đỗ Thị Hoa
Chức vụ: Phó hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thành Lộc
Hậu Lộc - Thanh Hóa
SKKN thuộc môn : Quản lí

HẬU LỘC, NĂM 2019
môc lôc
Danh môc

Tran

g


1- MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN
2.1. Cơ sở lí luận
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2. 1. Thuận lợi
2.2.2. Khó khăn
2.2. 3. Kết quả thực trạng
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1. Chỉ đạo chặt chẽ việc khảo sát chất lượng, phân loại đối tượng
học sinh để làm cơ sở cho việc lựa chọn nội dung, phương pháp,
hình thức tổ chức dạy học, giáo dục
2.3.2. Chỉ đạo giáo viên giúp học sinh củng cố vững chắc các kiến
thức, kĩ năng cơ bản mà các em đã được học; đặc biệt là các bảng
cộng, bảng trừ không nhớ, có nhớ trong phạm vi 20; các bảng cửu
chương từ 2 đến 9.
2.3.3. Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học toán theo hướng
khuyến khích học sinh phát hiện và dạy học phân hóa
2.3.4. Giới thiệu với giáo viên một số cách “ước lượng thương” để
vận dụng khi dạy học sinh chia cho số có 2, 3 chữ số
2.3.5. Tổ chức chuyên đề Đổi mới phương pháp dạy học môn Toán
lớp 4, tập trung vào các bài có nội dung về nhân, chia số có nhiều
chữ số với số có 2,3 chữ số
2.3.6. Chỉ đạo đổi mới dạy học luyện tập toán theo hướng phân hóa
dựa vào năng lực của từng học sinh
2.3.7. Đổi mới cách dự giờ thăm lớp và kiểm tra chuyên môn đối
với giáo viên
2.3.8. Chỉ đạo công tác thi, kiểm tra đánh giá xếp loại học sinh công
bằng, khách quan và coi trọng khuyến khích sự tiến bộ của từng học
sinh
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
3. KẾT LUẬN

1
1
2
2
2
2
2
4
4
5
6
7
7
7

8
11
14
16
17
18
18
19


1- MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Ở bậc Tiểu học, cùng với môn Tiếng Việt, Môn Toán có một vị trí rất quan
trọng vì: Toán học với tư cách là môn khoa học nghiên cứu một số mặt của thế
giới thực, có một hệ thống kiến thức cơ bản và phương pháp nhận thức rất cần
thiết cho đời sống, sinh hoạt, lao động. Đó cũng là công cụ quan trọng để học
sinh học các môn học khác, để nhận thức thế giới xung quanh và để hoạt động
có hiệu quả trong thực tiễn. Bên cạnh đó Toán học còn là môn học giúp học sinh
rèn luyện và phát triển tư duy một cách rất tích cực. Thông qua việc học tập môn
Toán, học sinh sẽ được rèn luyện các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp,
so sánh, tương tự hóa, khái quát hóa, trừu tượng hóa, cụ thể hoá, đặc biệt hóa.
Các phẩm chất trí tuệ như: tính độc lập, tính linh hoạt, tính sáng tạo, tính tích
cực, tính chủ động,… của học sinh cũng được rèn luyện và phát huy hiệu quả
trong việc học tập môn Toán.
Trong chương trình Toán ở tiểu học, số học là nội dung trọng tâm của toàn
bộ quá trình dạy học toán từ lớp 1 đến lớp 5. Trong đó phép nhân, phép chia các
số tự nhiên là nội dung cơ bản, quan trọng trong nội dung số học. Bởi vì, nhiệm
vụ trọng yếu của môn toán Tiểu học là hình thành cho học sinh kĩ năng tính toán
- một kĩ năng rất cần thiết trong cuộc sống, lao động và học tập của học sinh. Vì
vậy giáo viên cần tìm hiểu, nghiên cứu để dạy tốt cho học sinh bộ môn này.
Giai đoạn lớp 4; 5 là giai đoạn cuối của bậc Tiểu học, là giai đoạn học
sinh học tập sâu hơn nên kiến thức và kĩ năng môn Toán cần trang bị cho học
sinh cũng đa dạng và phong phú hơn, các dạng toán cơ bản, điển hình, các kĩ
năng tính toán với số có nhiều chữ số,… đều được giới thiệu ở lớp 4. Bên cạnh
các dạng toán điển hình như: Tìm số Trung bình cộng, Tìm hai số khi biết tổng
và hiệu của hai số đó; Tìm hai số khi biết tổng (hiệu) và tỉ số của hai số đó,… thì
mạch kiến thức về nhân chia với số có nhiều chữ số cũng là nội dung trọng tâm,
cơ bản.
Qua thực tế chỉ đạo chuyên môn nói chung và chỉ đạo chuyên môn ở trường
Tiểu học Thành Lộc nói riêng, bản thân tôi nhận thấy việc dạy học nhân chia với
số có nhiều chữ số là một nội dung khó đối với giáo viên và học sinh. Khi học
các bài về nhân với số có nhiều chữ số, học sinh hay tính sai kết quả do đặt các
tích riêng, tính các tích riêng bị sai; đối với phép chia học sinh không biết tìm
thương của các lần chia, nhất là việc thực hiện chia số có nhiều chữ số cho số có
hai, ba chữ số. Thậm chí có những học sinh học lớp 5 rồi mà vẫn chưa biết thực
hiện nhân chia với số có 2, 3 chữ số.
Vậy hướng dẫn thế nào để học sinh thực hiện được phép nhân với số có
nhiều chữ số: việc đặt tính, tính các tích riêng, tích chung? Làm thế nào để học
sinh biết cách chia cho số có hai, ba chữ số, nhất là biết tìm đúng thương trong
các lần chia ? Làm thế nào để hình thành và rèn cho học sinh kĩ năng nhân chia
với số có nhiều chữ số một cách thành thạo?, … Luôn là những vấn đề mà mỗi
thầy cô giáo và bản thân tôi thấy trăn trở. Chính vì thế tôi đã chọn đề tài: "Chỉ
đạo dạy học các bài về nhân, chia số có nhiều chữ số với số có đến 3 chữ số
trong môn Toán lớp 4” làm nội dung nghiên cứu của mình.
1


1.2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Xác định các biện pháp nhằm cải tiến phương pháp dạy học Toán 4, trọng
tâm là các bài về nhân, chia số có nhiều chữ số với số có hai, ba chữ số theo
hướng phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh và giúp học sinh
rèn kĩ năng nhân, chia với số có nhiều chữ số thành thạo.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
- Nội dung và phương pháp dạy học Toán 4, tập trung vào những bài về nhân,
chia số có nhiều chữ số với số có hai, ba chữ số.
- Học sinh khối 4 của trường Tiểu học Thành Lộc – Hậu Lộc – Thanh Hóa.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tôi sử dụng 3 nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: đọc tài liệu, tra cứu, phân tích các tài
liệu khoa học, sách báo, hồ sơ có liên quan đến đề tài...
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra, khảo sát, phỏng vấn, trao
đổi, quan sát, tổng kết kinh nghiệm,...
- Các phương pháp bổ trợ: Toán học, thống kê,...
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1. Mục tiêu chung dạy học môn toán tiểu học
Mục tiêu dạy học môn toán tiểu học nhằm giúp học sinh:
- Có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học, các số tự nhiên, phân số,
số thập phân; các đại lượng thông dụng; một số yếu tố hình học và thống kê đơn
giản.
- Hình thành các kỹ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có nhiều
ứng dụng thiết thực trong đời sống.
- Góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lí
và diễn đạt chúng (nói và viết); cách phát hiện và cách giải quyết những vấn đề
đơn giản, gần gũi trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng; gây hứng thú học
tập toán; góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế
hoạch khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo.
2.1.2. Một số đặc điểm về cấu trúc nội dung, chương trình môn toán ở tiểu
học
Chương trình môn toán tiểu học đưa vào một số nội dung có nhiều ứng
dụng trong học tập và đời sống. Coi trọng công tác thực hành toán học, đặc biệt
là thực hành giải quyết vấn đề trong học tập và trong đời sống.
Chương trình được sắp xếp theo nguyên tắc đồng tâm hợp lí, mở rộng và
phát triển dần theo các vòng số, từ các số trong phạm vi 10, trong phạm vi 100,
1000, 100 000 đến các số có nhiều chữ số, phân số, số thập phân đảm bảo tính
hệ thống và thực hiện ôn tập, củng cố thường xuyên.
Dạy học số học tập trung vào số tự nhiên và số thập phân. Dạy học phân
số chỉ giới thiệu một số nội dung cơ bản và sơ giản nhất phục vụ chủ yếu cho
2


dạy học số thập phân và một số ứng dụng trong thực tế. Các yếu tố đại số được
tích hợp trong số học, góp phần làm nổi rõ dần một số quan hệ số lượng và cấu
trúc của các tập hợp số.
Cấu trúc nội dung chương trình toán tiểu học trong đó số học là hạt nhân,
đóng vai trò như “cái trục chính” để các mạch kiến thức hình học, đo đại lượng,
giải toán, đại số, thống kê đơn giản phải “chuyển động” xung quanh nó, phụ
thuộc vào nó.
Mạch nội dung số học lại được chia làm 3 mảng lớn:
- Các vấn đề về đếm, đọc, viết, so sánh số như: hình thành khái niệm về số tự
nhiên, số thập phân; tính chất của dãy số tự nhiên, phân số, số thập phân. Hình
thành khái niệm về hệ đếm thập phân, hàng, lớp;…
- Các biện pháp tính: Cộng, trừ, nhân, chia số tự nhiên; cộng, trừ, nhân, chia
phân số và số thập phân; cộng, trừ, nhân, chia số đo thời gian
- Tính chất của các phép tính và dãy tính: tính chất giao hoán, tính chất kết hợp
của phép cộng và phép nhân; tính chất phân phối của phép nhân đối với phép
cộng, phép trừ; tính chất phân phối (phải) của phép chia đối với phép cộng; quan
hệ giữa các phép tính; vai trò của số 0 trong các phép tính cộng, trừ và số 1
trong các phép tính nhân, chia; …
Trong 3 mảng kiến thức của mạch kiến thức số học thì mảng “các biện
pháp tính” là quan trọng nhất vì nó vừa là trọng tâm của tuyến kiến thức số học
vừa là hạt nhân của toàn bộ chương trình Tiểu học. Trong mảng “các biện pháp
tính”, ta có thể coi cộng, trừ, nhân, chia số tự nhiên là chiếc chìa khóa vạn năng
để mở cửa vào những nội dung khác trong môn Toán Tiểu học. Nếu học sinh
không biết cộng, trừ, nhân, chia đối với số tự nhiên thì cũng sẽ không thể thực
hiện được đối với số thập phân, phân số, các số đo đại lượng, làm các bài về các
tính chất của phép tính, dãy tính cũng như việc giải toán,v.v.
2.1.3. Nội dung chương trình số học lớp 4:
a. Số tự nhiên. Các phép tính về số tự nhiên:
- Lớp triệu. Đọc, viết, so sánh các số đến lớp triệu. Giới thiệu lớp tỉ.
- Tính giá trị các biểu thức chứa chữ dạng: a + b; a – b; a x b; a : b; a + b + c;
a x b x c; (a + b) x c; a x (b + c)
- Tổng kết về số tự nhiên và hệ thập phân.
- Phép cộng và phép trừ các số có đến 5, 6 chữ số không nhớ và có nhớ tới 3 lần.
Tính chất giao hoán và kết hợp của phép cộng các số tự nhiên.
- Phép nhân các số có nhiều chữ số với số có không quá 3 chữ số, tích có không
quá 6 chữ số.
- Phép chia các số có nhiều chữ số cho số có không quá 3 chữ số, thương có
không quá 4 chữ số.
- Tính chất giao hoán và kết hợp của phép nhân các số tự nhiên. Quy tắc “Một số
nhân một tổng (hiệu), một tổng (hiệu) nhân một số, một tổng chia một số, một
số chia một tích, một tích chia một số”.
- Dấu hiệu chia hết cho 2, 3, 5, 9.
- Tính giá trị các biểu thức số có đến 4 dấu phép tính.
b. Phân số. Các phép tính về phân số:
3


- Giới thiệu khái niệm ban đầu về các phân số đơn giản. Đọc, viết, so sánh các
phân số; phân số bằng nhau.
- Phép cộng, phép trừ hai phân số có cùng hoặc không có cùng mẫu số (trường
hợp đơn giản, mẫu số của tổng hoặc hiệu không quá 100).
- Giới thiệu về tính chất giao hoán và kết hợp của phép cộng các phân số.
- Giới thiệu quy tắc nhân phân số với phân số, nhân phân số với số tự nhiên
(trường hợp đơn giản, mẫu số của tích có không quá 2 chữ số).
- Giới thiệu về tính chất giao hoán và kết hợp của phép nhân các phân số. Giới
thiệu quy tắc nhân một tổng hai phân số với một phân số
- Giới thiệu quy tắc chia phân số cho phân số khác 0, chia phân số cho số tự
nhiên khác 0.
- Thực hành tính: tính nhẩm về cộng, trừ hai phân số có cùng mẫu số, phép tính
không có nhớ, tử số của kết quả tính có không quá 2 chữ số; tính nhẩm về nhân
phân số với phân số hoặc với số tự nhiên, tử số và mẫu số của tích có không quá
2 chữ số.
- Tính giá trị các biểu thức có không quá 3 dấu phép tính với các phân số đơn
giản (mẫu số chung của kết quả tính có không quá 2 chữ số).
c. Tỉ số:
- Giới thiệu khái niệm ban đầu về tỉ số.
- Giới thiệu về tỉ lệ bản đồ.
d. Yếu tố thống kê:
- Lập bảng số liệu và nhận xét bảng số liệu
- Giới thiệu biểu đồ. Lập biểu đồ đơn giản.
Với nội dung số học lớp 4 như trên, học xong chương trình Toán 4, học
sinh sẽ hoàn thiện được biện pháp tính đối với số tự nhiên. Cho nên nếu các kiến
thức và kĩ năng tính toán hình thành và phát triển ở lớp 4 không hệ thống và bền
vững thì học sinh tiếp cận với “các biện pháp tính” nói riêng và nội dung toán ở
các lớp trên nói chung sẽ vô cùng khó khăn. Chính vì vậy dạy học các biện pháp
tính cho học sinh lớp 4, trong đó có dạy học phép tính nhân - chia với số có
nhiều chữ số là một nội dung khó và rất quan trọng.
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến
Từ năm học 2016-2017 đến nay tôi được về công tác tại trường Tiểu học
Thành Lộc, được phân công phụ trách chuyên môn chính ở khối 3,4,5. Khi thực
hiện nhiệm vụ tôi thấy có một số thuận lợi và khó khăn cơ bản sau:
2.2.1. Thuận lợi:
- Trường đã được công nhận trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia mức độ 2 vào
tháng 4/2017 nên cơ sở vật chất khang trang, điều kiện làm việc tốt, điều kiện đi
lại khá thuận lợi.
- Cán bộ quản lí nhà trường tâm huyết với việc đổi mới phương pháp dạy học –
giáo dục nên chất lượng dạy học, giáo dục của nhà trường luôn duy trì ổn định ở
mức cao.
- Bản thân là một Cán bộ quản lý trực tiếp chỉ đạo công tác chuyên môn và phụ
trách chính ở khối 3,4,5 nhiều năm liền nên việc nắm bắt tình hình học tập của
học sinh và những ưu điểm, hạn chế trong việc giảng dạy của từng giáo viên các
4


lớp rất sát sao, là điều kiện tốt để chỉ đạo việc đổi mới phương pháp dạy học
môn Toán lớp 4 nói chung và dạy học các bài về nhân chia số có nhiều chữ số
với số có 2,3 chữ số ở lớp 4 nói riêng đạt hiệu quả cao.
- Đội ngũ giáo viên của trường khá mạnh, đặc biệt đội ngũ giáo viên làm cốt cán
chuyên môn của trường có kiến thức chuyên môn và tay nghề vững vàng, có thể
tổ chức hiệu quả việc sinh hoạt chuyên môn tại tổ, khối.
2.2.2. Khó khăn:
a) Về phía học sinh:
- Kiến thức toán đã được trang bị ở các khối dưới có những giai đoạn chưa hệ
thống và chưa sâu nên khi kết thúc năm học, sau một kì nghỉ hè là các em quên
kiến thức rất nhiều, kể cả các bảng cộng, bảng trừ có nhớ, không nhớ trong
phạm vi 20; các bảng cửu chương từ 2 đến 9 cũng không còn nhiều em nhớ
được. Đây là những công cụ tính toán xuyên suốt cả quá trình học và cả cuộc
đời nhưng các em quên nên việc học nhân chia với số có nhiều chữ số gặp rất
nhiều khó khăn.
- Kĩ năng thực hiện phép tính nhân, chia của nhiều học sinh rất hạn chế, nhất là
kĩ năng thực hiện tính viết. Phép nhân và phép chia được đưa vào dạy từ lớp 2:
bảng nhân 2,3,4,5 và bảng chia cho 2,3,4,5. Ở lớp 3, học sinh học tiếp các bảng
nhân 6 ; 7 ; 8 ; 9 và bảng chia cho 6 ; 7 ; 8 ; 9; nhân số có hai, ba, bốn, năm chữ
số với số có một chữ số ; chia số có hai, ba, bốn, năm chữ số cho số có một chữ
số. Đến lớp 4, học sinh học nhân số tự nhiên với số tự nhiên có đến ba chữ số;
chia số tự nhiên có đến sáu chữ số cho số tự nhiên có đến ba chữ số; ….) nhưng
đến lớp 4 nhiều em vẫn chưa biết nhân chia số có nhiều chữ số với số có một
chữ số. Đầu năm học có những em đặt tính chia mà viết giống đặt tính nhân.
- Học sinh gặp nhiều khó khăn khi thực hiện phép chia nhất là phép chia cho số
có 2; 3 chữ số. Các em không biết làm thế nào để tìm được thương trong mỗi lần
chia, chưa tìm đúng số bị chia trong các lần chia từ lần thứ hai trở đi, kĩ năng
chia và nhân nhẩm rất hạn chế do các bảng cửu chương, bảng cộng, trừ trong
phạm vi 20 nhiều em không thuộc...
- Nhiều học sinh biết cách chia nhưng thực hiện rất chậm các lần chia vì để tìm
thương các em phải thử nhiều lần phép nhân một số với số chia rồi lấy số bị chia
ở từng lần chia trừ cho kết quả nếu số dư bé hơn số chia thì dừng lại. Làm như
vậy các em phải thử nhiều lần rất mất thời gian ảnh hưởng đến số lượng bài tập
cần thực hiện trong một tiết dạy học và hay sai sót, gây tâm lí chán nản cho
nhiều em.
b)Về phía giáo viên
- Nhiều giáo viên chưa chú ý nhiều đến việc đổi mới phương pháp dạy học để có
thể phát huy hết tính chủ động, sáng tạo của học sinh. Chưa chú ý rèn kĩ năng
tính toán cho học sinh mà mới chỉ chú ý vào việc hướng dẫn làm bài tập, chữa
bài tập (chú trọng vào việc nhận xét bài làm đúng, sai và việc trình bày đã đẹp
chưa). Chưa chú ý đến việc rèn kĩ năng trình bày bài làm bằng lời nói cho học
sinh.
- Giáo viên lên lớp nhiều khi chưa thực sự chú ý đến một số thủ thuật trong dạy
Toán, chưa mạnh dạn áp dụng một số sáng kiến của mình vào giảng dạy, còn
phụ thuộc vào sách thiết kế, sách giáo viên hay các bài soạn sẵn.
5


- Một số ít chưa thực sự tìm tòi, sáng tạo trong việc vận dụng các phương pháp
dạy học để tìm ra cách thích hợp nhất trong dạy thực hiện nhân, chia số có
nhiều chữ số. Chưa trăn trở trước những khó khăn học sinh gặp phải trong giờ
học để tìm cách giúp học sinh khắc phục.
- Nghiệp vụ chuyên môn, năng lực của đội ngũ không đồng đều. Có những giáo
viên giảng dạy lớp 4 nhưng điều kiện về kiến thức cũng như nghiệp vụ chưa đáp
ứng tốt với yêu cầu công việc; tinh thần trách nhiệm có những thời điểm chưa
cao,…
2.2.3. Kết quả thực trạng
Năm học 2016-2017, tôi làm công tác chỉ đạo thi định kỳ cuối học kỳ 1,
khi kiểm tra công tác chấm, chữa bài của giáo viên và kết quả bài làm của học
sinh thì điều làm tôi chú ý là kỹ năng thực hiện nhân, chia số có nhiều chữ số
với số có 2,3 chữ số của học sinh lớp 4 rất hạn chế. Tôi đã kiểm tra từng bài,
phân tích, thống kê và thu được kết quả sau:
Sĩ số
học sinh
khối lớp 4

117

Kết quả thực hiện các phép tính
Phép tính

Phép nhân
Phép chia

Thực hiện
đúng
SL
TL %

80
78

Biết thực hiện nhưng
còn sai kết quả
SL
TL %

68,4
66,7

27
26

23,1
22,2

Chưa biết
thực hiện
SL
TL %

10
13

8,5
11,1

Đầu năm học 2017-2018, 2018-2019, tôi tiếp tục khảo sát chất lượng học
sinh lớp 4 với nội dung nhân, chia số có 2,3,4,5 chữ số với số có 1 chữ số. Sau
đó tôi chấm, phân tích từng bài, thống kê và thu được kết quả sau:
Năm học

2017-2018
2018-2019

Sĩ số
HS
lớp 4

76
100

Kết quả thực hiện các phép tính
Phép tính

Phép nhân
Phép chia
Phép nhân
Phép chia

Thực hiện
đúng
SL

TL%

52
54
75
72

68,4
71,1
75,0
72,0

Biết thực hiện
nhưng còn sai
kết quả
SL
TL%

14
13
20
19

18,4
17,1
20,0
19,0

Chưa biết
thực hiện
SL

TL%

10
9
5
9

13,2
11,8
5,0
9,0

Tôi nhận thấy kết quả của học sinh còn hạn chế là do những nguyên nhân
chủ yếu sau:
- Sau một thời gian nghỉ hè ít được củng cố, ôn tập nên kiến thức của học sinh
đã quên đi nhiều.
- Khả năng tiếp thu vận dụng kiến thức, kĩ năng nhân, chia của học sinh không
giống nhau và nhiều em rất hạn chế.
6


- Việc dạy của một số giáo viên lớp dưới chưa mang tính hệ thống; tinh thần
trách nhiệm với công việc của một bộ phận giáo viên có những thời điểm chưa
cao. Chưa chú ý rèn các kỹ năng theo yêu cầu tiết dạy và các thao tác tư duy cho
học sinh.
- Nội dung dạy về các biện pháp tính, kĩ thuật tính thường đơn điệu, khô khan và
khó đối với cả giáo viên và học sinh nhưng giáo viên lại ngại tìm tòi nghiên cứu
để đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học nên chưa tạo được sự hứng
thú cho học sinh. Từ đó việc tiếp thu kiến thức nặng nề và chưa sâu.
- Kĩ năng thực hiện phép chia của nhiều học sinh hạn chế vì các em chưa có kĩ
năng tìm đúng thương trong mỗi lần chia, nhất là chia cho số có 2,3 chữ số.
Thực tế kết quả của học sinh làm tôi rất băn khoăn, trăn trở và là lí do để
tôi tìm tòi, nghiên cứu tìm cách cải tiến chất lượng dạy nhân, chia với số có
nhiều chữ số ở lớp 4 nói riêng và cải tiến chất lượng về dạy “các biện pháp tính”
trong nhà trường tiểu học Thành Lộc nói chung.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1. Chỉ đạo chặt chẽ việc khảo sát chất lượng, phân loại đối tượng học
sinh để làm cơ sở cho việc lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ
chức dạy học, giáo dục
Trong các kì khảo sát chất lượng học sinh đầu năm học, tôi đã chỉ đạo
giáo viên bắt tay vào việc tìm hiểu hoàn cảnh gia đình học sinh để nắm được
những thuận lợi, khó khăn trong việc học tập của từng em. Ghi chép tỉ mỉ đặc
điểm tâm lí, sở trường của từng em. Tổ chức khảo sát chất lượng học sinh thực
sự nghiêm túc từ khâu coi thi, chấm thi đến việc tổng hợp và phân tích kết quả
đạt được. Lưu ý giáo viên trong khi coi thi cần tránh việc gây tâm lí căng thẳng
cho học sinh nhưng không để cho các em có cơ hội quay cóp. Khi chấm yêu cầu
giáo viên vận dụng hướng dẫn chấm linh hoạt và chú ý ghi chép những điểm đặc
biệt trong bài làm của học sinh. Yêu cầu giáo viên từng lớp và bản thân tôi cũng
vậy, lập một quyển sổ theo dõi ghi chép đầy đủ những ưu điểm nổi trội và những
lỗi mà từng học sinh mắc phải trong bài làm rồi ghi nhận xét tổng hợp về học
sinh đó, làm căn cứ cho việc chỉ đạo và thực hiện các biện pháp dạy học đến
từng đối tượng học sinh. Các công việc này tôi yêu cầu giáo viên thực hiện
thường xuyên mỗi lần kiểm tra, khảo sát chất lượng học sinh để việc rà soát,
phân loại học sinh được chính xác, làm cơ sở cho việc lựa chọn nội dung,
phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, giáo dục phù hợp và sát thực với
từng đối tượng học sinh.
2.3.2. Chỉ đạo giáo viên giúp học sinh củng cố vững chắc các kiến thức, kĩ
năng cơ bản mà các em đã được học; đặc biệt là các bảng cộng, bảng trừ
không nhớ, có nhớ trong phạm vi 20; các bảng cửu chương từ 2 đến 9.
Để nắm và vận dụng thành thạo một biện pháp tính, cần qua hai khâu cơ
bản: làm cho học sinh hiểu biện pháp tính và biết làm tính, luyện tập để tính
được đúng và thành thạo. Bất kì biện pháp tính mới nào cũng phải dựa trên một
số kiến thức, kĩ năng đã biết. Giáo viên cần nắm chắc rằng: để hiểu được biện
pháp mới, học sinh cần biết gì, đã biết gì, điều gì là mới. Cần xác định được các
kiến thức, kĩ năng cũ sẽ hỗ trợ cho kiến thức, kĩ năng mới như thế nào hay
7


ngược lại dễ gây nhầm lẫn với các kĩ năng mới như thế nào. Do vậy, để chuẩn bị
cho học sinh học phép nhân và phép chia với số có 2;3 chữ số ở lớp 4, tôi đã yêu
cầu giáo viên củng cố, hệ thống và ôn tập các bảng cộng, trừ không nhớ, có nhớ
trong phạm vi 20; Các bảng cửu chương từ 2 đến 9; các kĩ năng cộng, trừ với số
có nhiều chữ số; kĩ năng nhân chia số có nhiều chữ số với số có 1 chữ số,…
Để việc ôn tập hiệu quả tôi đã chỉ đạo giáo viên các lớp 2,3,4 thực hiện
công việc này thường xuyên, liên tục trong quá trình giảng dạy. Vận dụng đổi
mới phương pháp dạy học trong quá trình dạy bài mới; trong các tiết dạy về các
bảng cộng, bảng trừ, bảng nhân, bảng chia tôi đã yêu cầu giáo viên sử dụng,
khai thác triệt để bộ đồ dùng dạy học toán trong việc hướng dẫn học sinh thành
lập và ghi nhớ các bảng cộng, bảng trừ, bảng nhân, bảng chia để các em ghi nhớ
kiến thức được lâu và bền vững.
Trong mỗi biện pháp tính có thể chứa nhiều kĩ năng bộ phận, trong đó có
những kĩ năng cũ và kĩ năng mới. Những kĩ năng cũ là những kĩ năng học sinh
đã được rèn luyện từ trước còn kĩ năng mới là kĩ năng học sinh chưa từng được
làm quen, chưa từng được rèn luyện. Trong số các kĩ năng mới thì kĩ năng khó
nhất, học sinh hay vướng mắc nhất gọi là kĩ năng cơ bản.
- Ví dụ: Kĩ năng nhân với số có 2 chữ số ở lớp 4 bao gồm các kĩ năng bộ
phận là:
a) Kĩ năng đặt tính,
b) Kĩ năng nhân với số có một chữ số (khi tính các tích riêng)
c) Kĩ năng viết các tích riêng và thực hiện phép cộng các tích riêng này.
Trong 3 kĩ năng bộ phận thì (a),(b) là kĩ năng cũ; (c) là kĩ năng mới.
Trong đó kĩ năng (c) là kĩ năng học sinh hay bị vướng khi nhân với số có 2 chữ
số. Do đó (c) được xác định là kĩ năng cơ bản của biện pháp nhân với số có 2
chữ số.
- Một ví dụ nữa: Kĩ năng cộng hai số thập phân bao gồm 3 kĩ năng bộ
phận:
a) Kĩ năng đặt tính.
b) Kĩ năng cộng hai số tự nhiên.
c) Kĩ năng đặt dấu phẩy ở tổng
Trong ba kĩ năng trên thì (b) là kĩ năng cũ, (a) và (c) là kĩ năng mới.
trong hai kĩ năng (a), (c) thì (a) là kĩ năng học sinh hay bị vướng hơn cả do đó
(a) được xác định là kĩ năng cơ bản của biện pháp cộng hai số thập phân.
2.3.3. Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học toán theo hướng khuyến khích
học sinh phát hiện và dạy học phân hóa
Tôi đã chỉ đạo giáo viên dạy học môn toán theo quan điểm “Lấy học sinh
làm trung tâm”. Tức là trong quá trình dạy học, giáo viên cần tổ chức các hoạt
động nhằm huy động mọi khả năng của từng học sinh, để học sinh tự tìm tòi,
khám phá ra những nội dung mới của bài học. Chuẩn bị các điều kiện và phương
tiện hoạt động để học sinh tự phát hiện ra các tình huống có vấn đề, tự mình
hoặc cùng các bạn trong nhóm, trong lớp lập kế hoạch để giải quyết vấn đề; phát
triển năng lực, sở trường của mỗi học sinh, tạo cho các em có niềm tin và niềm
vui trong học tập.
8


Chuẩn bị đủ đồ dùng để hướng dẫn học sinh thực hành và luyện tập dựa
vào nội dung của chương trình và từng bài học, phù hợp, vừa sức với từng đối
tượng học sinh trong lớp.
Chuẩn bị phương pháp và kế hoạch hướng dẫn học sinh: Lời nói phải rõ
ràng, dễ hiểu, các bước ngắn gọn. Cần chú trọng với các bài tập hướng dẫn thực
hành, chú ý kết hợp giữa thực hành và luyện tập.
Cẩn thận, mẫu mực trong việc chấm chữa bài làm của học sinh, giải đáp
thắc mắc chi tiết và kịp thời.
Khuyến khích giáo viên chủ động và sáng tạo trong công việc đồng thời
phải trân trọng mọi cố gắng, mọi sáng tạo dù còn nhỏ bé của từng học sinh. Giáo
viên là người tổ chức, điều khiển để học sinh tích cực, chủ động, sáng tạo chiếm
lĩnh tri thức. Giáo viên nói ít, giảng giải ít còn học sinh làm việc nhiều. Giáo
viên cần tổ chức các hoạt động dạy học để tất cả học sinh đều được làm việc
theo nguyên tắc “Dạy học thông qua các hoạt động bằng tay của bản thân từng
trẻ em”. Tôi đặc biệt lưu ý giáo viên chú ý đến “hoạt động bằng tay” của từng
học sinh trong các giờ học. Tức là tự bản thân từng em phải được thực hiện các
hoạt động (viết, tính toán, thực hành với các đồ dùng học tập, vẽ, đo, đếm, …)
để khám phá, chiếm lĩnh các nội dung của bài học chứ không chỉ dừng lại ở việc
quan sát bạn làm, nghe thầy cô giảng giải rồi ghi nhớ kiến thức của bài. Ví dụ
dạy bài toán lớp 3: Bảng nhân 6. Khi dạy học sinh thành lập phép tính “6 x 2
= ?”. Thay vì việc giáo viên biểu diễn cho học sinh quan sát thì yêu cầu học sinh
lấy trong bộ đồ dùng thực hành toán lớp 3 hai tấm bìa, mỗi tấm bìa có 6 chấm
tròn đặt lên bàn. Sau đó học sinh đếm xem có tất cả bao nhiêu chấm tròn vừa lấy
được (12 chấm tròn). Từ đó học sinh nêu nhận xét xem 6 chấm tròn được lấy 2
lần thì được bao nhiêu chấm tròn; rồi nhận xét “6 được lấy 2 lần” thì được bao
nhiêu? Từ đó các em sẽ viết được phép tính tương ứng như thế nào? …Như vậy
trong quá trình thành lập phép tính “6 x 2=?” như trên, học sinh đã được “hoạt
động bằng tay” nhiều và chính điều đó đã giúp cho việc phát hiện, ghi nhớ kiến
thức bền vững, hệ thống và rèn luyện, phát triển tư duy toán học cho các em.
Chỉ đạo giáo viên coi trọng cách dạy học toán theo hướng “khuyến khích
học sinh tự phát hiện”. Tức là giáo viên tổ chức cho học sinh các hoạt động tự
tìm tòi, tranh luận, thảo luận để tìm cách giải quyết vấn đề. Để giúp giáo viên
hiểu rõ vấn đề này tôi đã đưa ra phân tích một ví dụ cụ thể để giáo viên hiểu rõ
rồi sau đó yêu cầu giáo viên tùy từng bài cụ thể, tùy đối tượng học sinh và điều
kiện thực tế để vận dụng một cách linh hoạt và phù hợp. Tôi đã minh họa bằng
tiết 59, toán 4, bài “Nhân với số có hai chữ số” như sau:
Toán 4, tiết 59: Nhân với số có hai chữ số
Bước 1:
- Giáo viên nêu vấn đề: Tính “36 x 23 = ?”
Làm thế nào để các em tìm ra kết quả của phép nhân “36 x 23” ?
- Học sinh thảo luận và nêu ý kiến
- Giáo viên dựa vào ý của học sinh để giúp học sinh định hướng suy nghĩ:
+ Đây là phép nhân với số có hai chữ số, các em chưa học
+ Các em mới chỉ học nhân với số có một chữ số
9


+ Vậy các em có thể tìm cách quy về phép nhân với số có một chữ số mà các
em đã học.
Bước 2:
Học sinh tự nghĩ cách nhân theo hướng nêu trên, ghi vắn tắt vào giấy các
ý riêng của mình, các em có thể thảo luận nhóm để tìm cách làm. Giáo viên
quan sát, giúp đỡ học sinh.
Bước 3: Học sinh nêu cách làm
- Học sinh A: tách 36 = 9 x 4
36 x 23 = (9 x 4) x 23
= 9 x (4 x 23)
= 9 x 92
= 828
Trong cách A làm đã đưa về nhân với số có một chữ số học sinh đã được học.
- Học sinh B làm: Tách 23 = 8 + 8 + 7
36 x 23 = 36 x (8 + 8 + 7)
= 36 x 8 + 36 x 8 + 36 x 7
= 288 + 288 + 252
= 828
Trong cách làm của B đã vận dụng tính chất nhân một số với một tổng để
đưa về nhân với số có một chữ số.
- Học sinh C làm (Tương tự cách làm của B nhưng tách theo cách khác):
23 = 10 + 10 + 3
36 x 23 = 36 x (10 + 10 + 3)
= 36 x 10 + 36 x 10 + 36 x 3
= 360 + 360 + 108
= 828
Cách C làm áp dụng nhân một số với một tổng đưa về nhân nhẩm với 10
và nhân với số có một chữ số.
- Học sinh D làm: Biến đổi 36 = 40 – 4
36 x 23 = (40 – 4) x 23
= 40 x 23 – 4 x 23
= 920 – 92
= 828
Cách D làm áp dụng nhân một số với một hiệu để đưa về nhân với số tròn
chục và nhân với số có một chữ số.
- Học sinh E làm: Tách theo cấu tạo số 23 = 20 + 3
36 x 23 = 36 x (20 +3)
= 36 x 20 + 36 x 3
= 720 + 108
= 828
Cách E làm áp dụng nhân một số với một tổng đưa về nhân với số tròn
chục và nhân với số có một chữ số.
Với cách làm như trên, cách nào đúng cũng đều được khen và
khuyến khích học sinh tự tin với cách làm của mình. Nhưng giáo viên cần
hướng dẫn học sinh thảo luận để tìm ra cách hay nhất, ngắn gọn và dễ
10


thực hiện nhất. Đối với bài vừa trình bày ở trên thì cách làm hay nhất là
cách bạn E làm: cách tách 23 = 20 + 3 theo cấu tạo số. Cách tách theo
cấu tạo số này dễ áp dụng vì khi tách không cần phải ước lượng và tính
toán nhiều.Và từ đây giáo viên hướng dẫn để giúp học sinh tiếp cận với
cách thực hiện tính viết như sách giáo khoa đã trình bày.
Về dạy học phân hóa: Lâu nay chúng ta vẫn thường dạy học theo lối
đồng loạt. Tất cả các đối tượng học sinh trong lớp đều nghe chung một bài
giảng, đều làm một số bài tập như nhau, giáo viên cứ ước chừng theo lối bình
quân để giảng dạy, chữa bài. Tình trạng này một mặt làm cho các em học sinh
chậm cứ chậm mãi, các em có khả năng học tốt thì lại bị kìm hãm sự phát triển.
Để khắc phục tồn tại này tôi yêu cầu giáo viên chú ý dạy học phân hóa dựa theo
năng lực của từng học sinh. Ví dụ khi dạy luyện tập Toán, giáo viên cho học sinh
làm lần lượt các bài tập trong sách giáo khoa. Như vậy có thể trong cùng một
khoảng thời gian (20 phút chẳng hạn) có em làm được 4 bài tập, có em làm được
hai hoặc một bài tập. Nên để khắc phục vấn đề này, giáo viên cần quan sát và
hướng dẫn giúp đỡ những em làm chậm để các em có thể làm được hai bài tập,
có hệ thống bài tập dự phòng để cho những em học tốt có thể làm thêm trong giờ
học hoặc yêu cầu các em tìm thêm những cách làm khác của bài tập (nếu có), …
2.3.4. Giới thiệu với giáo viên một số cách “ước lượng thương” để vận dụng
khi dạy học sinh chia cho số có 2, 3 chữ số
Chia cho số có nhiều chữ số là một trong những phép tính khó nhất ở bậc
Tiểu học. Điểm mấu chốt của vấn đề là “Ước lượng các chữ số của thương” hay
còn gọi tắt là “ước lượng thương”. Thực tế của vấn đề này là tìm cách nhẩm
nhanh thương của phép chia một số có n hoặc (n + 1) chữ số cho số có n chữ số
với n =2 hoặc 3. Để làm việc này, ta thường cho học sinh “làm tròn” số bị chia
và số chia để dự đoán chữ số ấy. Sau đó nhân lại để thử. Nếu tích vượt quá số bị
chia thì phải rút bớt chữ số đã dự đoán ở thương, nếu tích còn kém số bị chia
quá nhiều thì phải tăng chữ số đã dự kiến. Như vậy, muốn ước lượng thương cho
tốt, học sinh phải thuộc các bảng nhân chia và biết nhân nhẩm trừ nhẩm nhanh.
Bên cạnh đó, các em cũng phải biết cách làm tròn số thông qua một số thủ thuật
thường dùng là che bớt chữ số. Nội dung phép chia trong chương trình toán 4 có
liên quan đến việc vận dụng kỹ năng ước lượng thương bao gồm:
- Chia cho số có hai chữ số.
- Chia cho số có ba chữ số.
Ở lớp 3 học sinh đã được học phép chia cho số có một chữ số, tuy nhiên
kiến thức chia còn rất đơn giản, số bị chia mới chỉ dừng lại ở 5 chữ số. Lên lớp 4
kiến thức liên quan đến phép chia được mở rộng và nâng cao rất nhiều. Học sinh
không chỉ thành thạo chia cho số có một chữ số với số bị chia có nhiều chữ số
mà các em còn phải nắm vững và thành thạo với phép chia cho số có 2 và 3 chữ
số. Việc các em thành thạo khi thực hiện phép chia còn giúp các em học tốt hơn
phép chia số thập phân ở lớp 5. Để giúp học sinh thành thạo và có kĩ năng thực
hiện phép chia tôi đã yêu cầu giáo viên hướng dẫn và rèn kĩ năng ước lượng
thương cho học sinh trong tất cả các tiết học từ bài mới cho đến bài luyện tập.
Tôi đã giới thiệu đến giáo viên các cách làm để hướng dẫn học sinh ước lượng
thương, cụ thể như sau:
11


a) Làm tròn giảm:
Nếu số chia và số bị chia có tận cùng là chữ số 1; 2 hoặc 3 (tức là bé hơn
5) thì ta làm tròn giảm tức là bớt đi 1; 2 hoặc 3 đơn vị ở số chia và số bị chia để
được số tròn chục. Trong thực hành, ta có thể hướng dẫn học sinh che bớt chữ số
tận cùng của số bị chia và số chia.
Ví dụ 1 : 92 : 23 = ?
Muốn ước lượng 92 : 23 = ? Ta làm tròn 92 → 90 ; 23 → 20, rồi nhẩm tính
9 chục chia 2 chục được 4, sau đó thử lại: 23 x 4 = 92 để có kết quả 92 : 23 được
4(*). Trên thực tế việc làm tròn: 92 → 90 ; 23 → 20 được tiến hành bằng thủ
thuật cùng che bớt hai chữ số 2 và 3 ở hàng đơn vị để có 9 chia 2 được 4 chứ ít
khi viết rõ như ở (*)
Ví dụ 2 : 568 : 72 = ?
Đối với phép chia số có 3 chữ số chia cho số có hai chữ số (phải lấy cả 3
chữ số của số bị chia, chia cho số có hai chữ số) ta có thể ước lượng thương như
sau:
- Ở số chia ta che chữ số 2. Ở số bị chia ta che chữ số 8. Ta còn phải tính
56 : 7 = ?
- Vì 56 : 7 được 8, nên ta dự đoán thương là 8.
- Thử : 72 x 8 = 576; 576 > 568. Vậy thương dự đoán là 8 là chưa phù hợp nên
giảm thương xuống một đơn vị còn 7 và thử lại: 72 x 7 = 504; 568 – 504 = 64;
64< 72, do đó: 568 : 72 được 7
Ví dụ 3 : 41535 : 195 = ?
41535 195
- Ở lần chia thứ nhất:
253 213
+ 415 : 195, ta làm tròn giảm bằng cách
585
che hai chữ số cuối cùng là 5 của hai số 415
000
và 195, còn 41 chia 19.
Ta tiếp tục làm tròn thành 40 chia cho 20;
40 chia cho 20 được 2.
+ Thử lại: 195 x 2 = 390; 415 - 390 = 25; 25 < 195, do đó: 415:195 được 2.
- Lần chia thứ hai:
+ 253 : 195, ta che hai chữ số cuối cùng là 3 và chữ số 5 còn 25 chia cho 19;
25:19 được 1.
+Thử lại : 195 x 1 =195; 253 – 195 = 58; 58 < 195, do đó 253:195 được 1.
- Lần chia thứ ba:
+ 585 : 195, ta che chữ số 5 ở cả số bị chia và số chia, ta được 58 chia cho 19. Ta
làm tròn thành 60 chia cho 20, 60 chia cho 20 được 3.
+ Thử lại : 195 x 3 = 585; 585 – 585 = 0, do đó 585 : 195 được 3.
- Như vậy : 41535 : 195 = 213
Cách 2:
- Lần chia thứ nhất 415:195 ta làm tròn giảm bằng cách che hai chữ số cuối của
số bị chia và số chia là 5 còn 41 chia cho 19, 41 chia cho 19 được 2.
+ Thử lại: 195 x 2 = 390; 415 - 390 = 25; 25<195 do đó 415 : 195 được 2.
- Lần chia thứ hai: 253 : 195 ta che bớt chữ số 3 và chữ số 5 ở tận cùng của mỗi
số được 25 chia cho 19; 25 chia cho 19 được 1.
+Thử lại : 195 x 1 =195; 253 – 195 = 58; 58 < 195, do đó 253:195 được 1.
12


- Lần chia thứ ba:
+ 585 : 195, ta che chữ số 5 ở cả số bị chia và số chia, ta được 58 chia cho 19;
58 chia cho 19 được 3.
+ Thử lại: 195 x 3 = 585; 585 - 585 = 0; do đó 585 : 195 được 3.
- Như vậy 41535 : 195 = 213.
b) Làm tròn tăng:
Nếu số chia và số bị chia có chữ số tận cùng là 7;8 hoặc 9 (tức là lớn hơn
5) thì ta làm tròn tăng tức là thêm 3; 2 hoặc 1 đơn vị vào số chia và số bị chia.
Trong thực hành, ta chỉ việc che bớt chữ số tận cùng của cả số bị chia và số chia
đồng thời thêm 1 đơn vị vào chữ số liền trước.
Ví dụ: Muốn ước lượng thương của 86 chia cho 17.
Ta làm tròn tăng bằng cách:
Tăng ở số bị chia 86 thêm 4 đơn vị và tăng số chia 17 thêm 3 đơn vị để
được 90 chia cho 20. Sau đó ta tiếp tục ước lượng bằng cách lấy 90 chia cho 20
được 4.
Như vậy: 86 : 17 được 4. Thử lại:17 x 4 =68; 86 – 68 = 18, số dư lớn hơn
số chia do đó phải tăng thương lên 1 đơn vị. Thương là 4 thêm 1 bằng 5 rồi thử
lại: 17 x 5 = 85 ; 86 – 85 = 1; 1 < 17 nên: 86 : 17 được 5
c) Làm tròn cả tăng lẫn giảm:
Nếu số chia tận cùng là 4; 5 hoặc 6 thì ta nên làm tròn cả tăng lẫn giảm rồi
thử lại các số trong khoảng hai thương ước lượng này.
Ví dụ 1 : 245 : 46 = ?
Bước 1 :- Làm tròn giảm số chia 46 được 4 (che chữ số 6)
- Làm tròn giảm số bị chia 245 được 24 (che chữ số 5)
- Ta có : 24 : 4 được 6
Bước 2 : - Làm tròn tăng 46 được 50 (che chữ số 6 và tăng thêm 1 vào chữ số
liền trước, 4 thành 5) rồi tiếp tục che chữ số 0 ở số chia và chữ số 5 ở số bị chia
24 : 5 được 4
Vì 4 < 5 < 6 nên ta thử lại với số 5
46 x 5 = 230 ; 245 – 230 = 15 ; 15 < 46, do đó 245 : 46 được 5
Trong thực tế, có thể trong một phép chia phải vận dụng và phối hợp cả ba
cách ước lượng thương (có thể ở số bị chia phải làm tròn giảm, số chia làm tròn
tăng) việc làm trên được tiến hành trong sơ đồ của thuật tính chia với các phép
thử thông qua nhân nhẩm và trừ nhẩm. Nếu học sinh chưa nhân nhẩm và trừ
nhẩm thành thạo thì lúc đầu có thể cho các em làm tính vào giấy nháp, hoặc tính
vào vở bằng bút chì, nếu sai thì tẩy đi rồi điều chỉnh lại.
Để việc làm tròn số được đơn giản, ta cũng có thể chỉ yêu cầu học sinh
làm tròn số chia theo đúng quy tắc làm tròn số, còn đối với số bị chia luôn cho
làm tròn giảm bằng cách che bớt chữ số (cho dù chữ số bị che có lớn hơn 5)
Việc này nói chung không ảnh hưởng mấy đến kết quả ước lượng. Chẳng hạn :
trong ví dụ 2 (568 : 72) nếu ta làm tròn số bị chia thành 56, số chia thành 7 (trên
thực tế là che bớt 8 và 2) thì kết quả ước lượng lần thứ nhất cũng là 8, vẫn giống
như kết quả ước lượng thương khi ta làm tròn số 568 thành 570, 72 thành 70.
Ví dụ 2 : Có thể ước lượng thương 5307 : 581 như sau:
13


Đối với trường hợp số bị chia là số có 4 chữ số chia cho số có 3 chữ số mà
ở lần chia thứ nhất phải lấy cả 4 chữ số của số bị chia chia cho số chia, ta làm
như sau:
- Ước lượng thương bằng cách:
+ Làm tròn số chia che bớt 2 chữ số tận cùng của số chia, vì chữ số hàng
chục của số chia là 8 lớn hơn 5 nên ta tăng chữ số 5 thêm 1 đơn vị thành 6.
+ Làm tròn số bị chia che bớt 2 chữ số tận cùng của số bị chia nhưng chữ
số hàng chục của số bị chia là 0 bé hơn 5 nên ta giảm 53 đi 3 đơn vị để được 50.
- Ta có: 50 : 6, ta ước lượng thương là 8. Thử lại: 581 x 8 = 4648 ; 5307 –
4648 = 659, 659 > 581. Vậy thương ước lượng là 8 là chưa đúng, ta tăng thương
thêm 1 đơn vị, 8 thêm 1 bằng 9 rồi thử lại: 581 x 9 = 5229 ; 5307 – 5229 = 78;
78< 581. Nên 5307 chia cho 581 được 9.
Vậy : 5307 : 581 được 9
2.3.5. Tổ chức chuyên đề Đổi mới phương pháp dạy học môn Toán lớp 4,
tập trung vào các bài có nội dung về nhân, chia số có nhiều chữ số với số có
2,3 chữ số
Ngay từ đầu năm học tôi yêu cầu các tổ lấy ý kiến đề xuất của giáo viên về
cách xây dựng kế hoạch bài học theo hướng đổi mới, khuyến khích giáo viên đề
xuất các bài, các chủ đề khó dạy để từ đó tôi có kế hoạch cụ thể cho việc tổ chức
chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học tại trường, bao gồm các công việc sau:
- Tổ chức cho giáo viên trao đổi về một kiểu giáo án mẫu (kế hoạch bài học)
theo tinh thần đổi mới.
- Chỉ đạo giáo viên vận dụng linh hoạt việc đánh giá tiết dạy theo hướng đổi mới
phương pháp dạy học.
- Chọn đối tượng thực nghiệm: lựa chọn bài dạy (thường là theo đề xuất của các
tổ chuyên môn hoặc giáo viên), lớp dạy, người dạy.
- Tổ chức cho đối tượng thực nghiệm chuẩn bị tiết dạy: Chỉ đạo một giáo viên
có năng lực chuyên môn vững vàng, xây dựng kế hoạch bài học theo hướng đổi
mới. Tổ chức cho giáo viên góp ý, bổ sung kế hoạch bài học trước khi dạy.
Chuẩn bị các đồ dùng, thiết bị cần thiết phục vụ cho tiết dạy.
- Tổ chức dự giờ, thảo luận, rút kinh nghiệm về tiết dạy.
Tổ chức rút kinh nghiệm riêng và chung cho các tiết thực nghiệm. Sau đó đưa
ra kết luận là những điểm thống nhất cơ bản khi dạy một dạng bài, một kiểu bài
ở một khối lớp nhất định để trên cơ sở đó giáo viên có thể vận dụng thuận lợi và
linh hoạt, sáng tạo trong lớp dạy của mình.
Ví dụ: Năm học 2017-2018, trên cơ sở đề xuất của giáo viên khối 4, tôi đã chọn
bài Bài 78: “Chia cho số có ba chữ số” để tổ chức dạy thực nghiệm. Tôi tổ chức
dạy thực nghiệm ở lớp 4B.
Tôi xin trình bày lại Kế hoạch bài học chi tiết của tiết dạy thực nghiệm tại
lớp 4B:
BÀI 78: CHIA CHO SỐ CÓ BA CHỮ SỐ
I. Mục tiêu: Giúp học sinh:
- Biết thực hiện phép chia số có bốn chữ số cho số có ba chữ số.
14


- Rèn kĩ năng ước lượng khi chia.
II. Đồ dùng dạy học:
- GV: SGK, phấn
- HS: SGK, vở Toán (ôly), bút
III. Hoạt động dạy học:
Hoạt động 1: Kiểm tra bài cũ
- Giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện phép chia: 4725 : 15=?
- 1 học sinh lên bảng thực hiện phép chia, lớp làm vào vở nháp
- Học sinh nêu cách làm.
- Học sinh nhận xét.
- Học sinh nêu các bước khi thực hiện chia cho số có hai chữ số.
Hoạt động 2: Giới thiệu bài
- GV đưa phép tính: 1944 : 162 = ?
- Học sinh nhận xét: đây là phép chia cho số có ba chữ số.
- GV nêu vấn đề và giới thiệu bài, ghi đầu bài.
Hoạt động 3: Hướng dẫn học sinh thực hiện chia cho số có 3 chữ số
1. Ví dụ:
a) 1944 : 162 = ?
- GV giới thiệu chia cho số có 3 chữ số cũng thực hiện tương tự như chia cho số
có 2 chữ số.
1944 162
- 1 học sinh lên bảng chia, lớp làm vào vở nháp.
0324 12
- Học sinh nhận xét cách làm của bạn.
000
- 2 Học sinh trình bày lại cách chia (học sinh nói đến đâu, chỉ cụ thể trên phép
tính đến đó).
- Học sinh trình bày cách ước lượng thương trong mỗi lần chia theo gợi ý của
giáo viên, giáo viên có thể ghi nhanh lên bảng một số thông tin quan trọng, mấu
chốt trong phần trình bày cách ước lượng thương của học sinh. Ví dụ:
+ Lần chia thứ nhất: 194 : 162, lấy 19:16 được 1, thử: 1 x 162 = 162; 194 –
162 = 32; 32< 162, do đó 194 : 162 được 1
+ Lần chia thứ hai: 324 : 162, lấy 32 : 16 được 2, thử: 2 x 162 = 324; 324 =
324, do đó 324 : 162 được 2.
- Học sinh rút ra 2 bước làm của chia cho số có ba chữ số.
Bước 1: Đặt tính,
Bước 2: Chia theo thứ tự từ trái sang phải.
b) 8469 : 241 = ?
- 1 học sinh lên bảng chia, lớp làm vào vở nháp.
8469 241
- Học sinh nhận xét cách làm của bạn.
1239 35
- 2 học sinh trình bày lại cách chia
034
- Học sinh nêu cách ước lượng thương, tương tự ví dụ a), giáo viên có thể ghi
nhanh một số thông tin quan trọng khi học sinh nêu cách ước lượng thương
trong mỗi lần chia. Ví dụ:
+ Lần chia thứ nhất: 846 : 241.

15


++ Cách 1: lấy 8 : 2 được 4; thử: 4 x 241 = 964; 964 > 846 nên giảm thương
đi 1 đơn vị còn 3; 3 x 241 = 723; 846 - 723 = 123; 123 < 241, do đó 846 : 241
được 3
++ Cách 2: 84 : 24; làm tròn thành 80 :20; 80 : 20 được 4 (sau đó thử và giảm
thương tương tự như cách 1 để có thương ở lần chia thứ nhất là 3).
+ Lần chia thứ hai:1239 : 241. Lấy 12 : 2 được 6; thử: 6 x 241= 1446>1239
nên ta giảm thương vừa tìm được đi 1 đơn vị còn 5. Thử 5 x 241 =1205; 1239 –
1205 = 34; 34 < 241, do đó 1239 : 241 được 5
- So sánh hai ví dụ a) và b) để nhận ra điểm khác nhau.
- Học sinh nêu lại các bước thực hiện chia số có ba chữ số.
Hoạt động 4: Luyện tập:
4.1. Hướng dẫn học sinh tự học:
- Giáo viên nêu bài tập cần làm: bài 1- cột b, bài 3 (SGK trang 86).
- Học sinh làm vào vở ô ly, giáo viên hướng dẫn giúp đỡ học sinh.
- Mời 1 học sinh lên bảng làm bài 1 (mời chỉ để mình học sinh đó nghe thấy)
4.2 Hướng dẫn học sinh chữa bài:
Bài 1: (Giáo viên quan sát thấy khi học sinh làm xong, mời các em dừng bút
chữa bài tập)
- Học sinh nhận xét cách làm của bạn.
- HS nêu cách làm và nêu cách ước lượng thương trong một số lần chia.
- Học sinh nhận xét thương của hai phép chia vừa thực hiện.
Bài 3:
- 2 học sinh đọc đề toán.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích đề bài và tóm tắt bài toán.
- Giáo viên gợi ý cho học sinh biết: muốn biết cửa hàng nào bán hết sớm hơn
thì trước hết ta phải đi xem mỗi cửa hàng bán hết số vải trong bao nhiêu ngày.
- 1 học sinh lên bảng làm, lớp làm vào vở ô li.
- Học sinh nhận xét bài làm của bạn, đọc bài làm của em trong vở.
- Giáo viên giúp học sinh củng cố quy trình giải của bài toán.
IV. Củng cố - dặn dò:
- Nhận xét giờ học. Dặn học sinh chuẩn bị cho bài sau
2.3.6. Chỉ đạo đổi mới dạy học luyện tập toán theo hướng dạy học phân hóa
dựa theo năng lực của từng học sinh
Trước đây, trong việc dạy luyện tập toán thường là việc làm của giáo viên
và học sinh nhằm giúp các em giải quyết các bài tập trong tiết học. Để đổi mới
phương pháp trong dạy luyện tập thực hành, tôi đã yêu cầu giáo viên hướng dẫn
học sinh phương pháp tự học, củng cố kiến thức, rèn kĩ năng và rèn luyện các
phẩm chất như tính độc lập, tự tin, sáng tạo trong công việc. Trong tiết dạy luyện
tập tôi thường yêu cầu giáo viên làm các công viêc sau:
- Định hướng nhiệm vụ học tập cho học sinh (nêu các bài tập cần làm).
- Để học sinh tự làm việc trong một khoảng thời gian nhất định (chú ý đảm bảo
tất cả mọi học sinh được làm việc).
- Tổ chức chữa bài: Khi tổ chức chữa bài chú ý tận dụng tối đa thời gian tự học
của học sinh để giúp các em rèn luyện tính tích cực, chủ động. Thay vì nói to
trước lớp khi muốn mời học sinh lên bảng làm bài, giáo viên nên đến gần, nói
16


vừa đủ cho học sinh đó nghe, học sinh được mời nhẹ nhàng lên bảng trình bày
bài làm (tức là khi học sinh trình bày bài lên bảng lớp vẫn là thời gian làm việc
cá nhân của từng học sinh), chỉ khi học sinh đó làm bài xong trên bảng mới yêu
cầu tất cả học sinh trong lớp dừng bút để chữa bài.
Khi chữa xong 1 bài tập, yêu cầu học sinh tiếp tục thực hiện các bài tập
tiếp theo. Như vậy, trong một thời điểm có em mới làm xong bài tập 1 thì có
những em đã làm đến bài tập 2, 3. Những em làm xong, có thể yêu cầu các em
tự kiểm tra bài, tìm cách giải khác hoặc ra một bài toán tương tự rồi làm bài.
- Tổ chức cho học sinh củng cố kiến thức và khai thác bài toán: Củng cố cách
làm.
Trong khi dạy luyện tập tôi yêu cầu giáo viên vận dụng triệt để việc dạy
học phân hóa theo năng lực của từng học sinh. Tức là chúng ta chấp nhận trong
cùng một khoảng thời gian như nhau nhưng khối lượng và hiệu quả công việc
khác nhau: có em làm được 4 bài tập, có em làm được 2 bài tập, có em làm được
1 bài tập hoặc chưa xong một bài tập nào,… Để khắc phục tình trạng này yêu
cầu giáo viên soạn thêm một số bài tập để học sinh học tốt có thể làm thêm khi
các bạn khác còn đang làm bài tập của tiết học.
Như vậy với cách tổ chức thực hành luyện tập như đã trình bày, trong
quá trình học toán tất cả các học sinh đều được tham gia rèn các kỹ năng. Học
sinh được hoạt động đúng khả năng, độc lập, sáng tạo, tự giác. Giáo viên không
làm thay mà chỉ là người chỉ đạo, người hướng dẫn các hoạt động học tập của
học sinh, vì thế các kiến thức kỹ năng các em chiếm lĩnh được khá hệ thống và
bền vững.
2.3.7. Đổi mới cách dự giờ thăm lớp và kiểm tra chuyên môn đối với giáo
viên
Hoạt động kiểm tra, dự giờ thăm lớp là một hoạt động thường xuyên trong
công tác quản lí nhằm tìm kiếm thông tin ngược cho quá trình quản lí chỉ đạo và
điều hành công việc trong nhà trường. Gần đây việc dự giờ, kiểm tra giờ dạy của
giáo viên đã được chia sẻ và nhận được rất nhiều ý kiến. Bản thân tôi nhận thấy
việc dự giờ thăm lớp hay kểm tra giờ dạy của giáo viên đều là hoạt động quan
trọng, cần thiết không thể thiếu trong quá trình quản lí, chỉ đạo chuyên môn ở
trường Tiểu học. Nhưng thực hiện công việc này như thế nào cho hiệu quả lại là
vấn đề mà chúng ta nên quan tâm. Để phát huy tác dụng và hiệu qủa trong việc
dự giờ dạy của giáo viên tôi đã thực hiện như sau:
Trước hết, tôi tiến hành trao đổi với giáo viên về mục đích ý nghĩa của
hoạt động này
Xây dựng kế hoạch cho cả năm học và công bố kế hoạch công khai, rộng
rãi trong nhà trường. Hàng tháng nhắc lại kế hoạch trong phiên họp triển khai kế
hoạch tháng và ghi chép trên bảng tin.
Dự giờ giáo viên theo cả hai hình thức có báo trước hoặc đột xuất. Nhưng
dù theo hình thức nào thì cũng đề nghị giáo viên thực hiện theo hướng “dạy thật,
học thật” chứ không phải “diễn”. Tôi muốn giáo viên làm như vậy để khi dự,
người dự nắm bắt được những vướng mắc khó khăn thật sự của giáo viên, học
sinh là gì? Để từ đó có biện pháp giải quyết kịp thời, phù hợp nhằm cải tiến chất
lượng.
17


Trong quá trình dự giờ tôi đặc biệt chú ý đến các hoạt động và khả năng
tiếp thu, chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng của học sinh trong giờ học. Tôi ghi chép
nhanh những ưu điểm nổi bật và những tồn tại, hạn chế cần khắc phục của học
sinh. Tổ chức nhận xét ngay sau khi giờ dạy kết thúc để tất cả học sinh đều biết
lớp có những ưu điểm và tồn tại gì. Nhận xét giờ dạy được trình bày trước học
sinh bao giờ tôi cũng “khen” trước và “chê” sau. Khi dự giờ tôi chú ý phát hiện,
chắt chiu từng tiến bộ, thành công rất nhỏ của mỗi học sinh để đưa ra những
nhận xét phù hợp, sát thực, độc đáo, mới mẻ và mang tính giáo dục. Tôi nhận
thấy học sinh rất hứng thú với các nhận xét mà tôi đưa ra nên những tồn tại chỉ
ra được khắc phục rất hiệu quả. Và việc làm này của tôi được giáo viên rất ủng
hộ.
2.3.8. Chỉ đạo công tác thi, kiểm tra đánh giá xếp loại học sinh công bằng,
khách quan và coi trọng khuyến khích sự tiến bộ của từng học sinh
Chỉ đạo giáo viên thực hiện việc đánh giá, xếp loại học sinh theo đúng các
văn bản chỉ đạo của ngành: Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT, ngày 28/8/2014;
Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT, ngày 22/9/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều
của quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo thông tư
số 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng bộ Giáo dục
và Đào tạo. Lưu ý giáo viên thực hiện tốt việc đánh giá thường xuyên và đánh
giá định kỳ; coi trọng, phát hiện và động viên kịp thời những tiến bộ dù là rất
nhỏ của từng học sinh để tạo cho các em sự tự tin và niềm vui trong học tập.
Tôi đặc biệt chú ý chỉ đạo việc chữa bài và nhận xét bài của giáo viên đối
với học sinh. Khi chấm bài cần chữa cụ thể và nêu lời nhận xét phù hợp, tinh tế
và có tính khích lệ, động viên và mang tính giáo dục cao. Lời nhận xét của giáo
viên cần nêu được những thành công hoặc những tiến bộ (nhất là những tiến bộ
mới) của học sinh đồng thời nêu ra được những tồn tại hạn chế cần khắc phục.
Ví dụ: “Em đã làm đúng và nhanh bài tập, rất đáng khen; tuy nhiên phần trình
bày bài cần cẩn thận và chữ viết cần rõ ràng hơn”. Hoặc: “Em đã làm được
một việc quan trọng là biết cách ước lượng thương khi chia, nhưng em cố gắng
viết nhanh hơn một chút cho kịp thời gian nhé!”, v.v.
Tổ chức công tác thi, kiểm tra nghiêm túc, khách quan, công bằng; đánh
giá đúng chất lượng giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh để hoạt động
dạy học giáo dục của nhà trường phát triển theo hướng “học thật – thi thật – lên
lớp đúng chuẩn”.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Sau khi áp dụng các biện pháp như đã trình bày ở trên trong hai năm học:
2017-2018, 2018-2019 tôi nhận thấy:
2.4.1. Về phía giáo viên.
Qua tìm tòi, nghiên cứu, vận dụng các phương án dạy theo hướng tích cực hóa
hoạt động học tập của học sinh vào thực tế dạy học tôi thấy:
* Đối với bài dạy hình thành kiến thức mới
Nhờ sự chủ động của người dạy, cách tổ chức các hoạt động cho người
học một cách nhịp nhàng, đồng bộ nên dẫn dắt học sinh nắm kiến thức cơ bản
nhanh hơn, kiến thức trọng tâm được khắc sâu hơn.
* Đối với bài dạy luyện tập thực hành
18


Chủ yếu là giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh hoạt động và giúp đỡ
học sinh những vướng mắc. Nên cách làm này giúp giáo viên có thời gian quan
tâm đến từng đối tượng học sinh được nhiều hơn. Mặt khác, học sinh được luyện
tập, thực hành nhiều (tận dụng tối đa thời lượng tiết học cho việc luyện tập, thực
hành của học sinh), nắm bài nhanh hơn, sâu hơn, các em rất hứng thú học tập.
2.4.2. Về phía học sinh
Do được hoạt động độc lập, tích cực, chủ động nên học sinh nắm kiến
thức kĩ năng cơ bản của bài khá nhanh và vận dụng vào luyện tập thực hành
cũng như tính toán hàng ngày tốt.
Kết quả dạy nhân chia số có nhiều chữ số với số có 2,3 chữ số ở lớp 4 đối
với từng năm học thu được như sau:
* Năm học 2017-2018 (Thời điểm kiểm tra cuối năm học):
Sĩ số học
Kết quả thực hiện các phép tính
sinh lớp
Phép tính
Thực hiện
Biết thực hiện nhưng
Chưa biết
4
đúng
SL
TL %

76

Phép nhân
Phép chia

75
73

98,7
96,1

còn sai kết quả
SL
TL %

1
2

1,3
2,6

* Năm học 2018-2019 (Thời điểm kiểm tra cuối học kì 1):
Sĩ số học
Kết quả thực hiện các phép tính
sinh lớp
Phép tính
Thực hiện
Biết thực hiện nhưng
4
đúng
SL
TL %

còn sai kết quả
SL
TL %

thực hiện
SL
TL%

0
0

0
0

Chưa biết thực
hiện
SL
TL %

Phép nhân
95
95,0
5
5,0
0
0
Phép chia
93
93,0
7
7,0
0
0
So sánh với bảng số liệu được nêu ở phần thực trạng ta thấy kết quả đã
được nâng lên rõ rệt, Điều này khẳng định tính đúng đắn của các giải pháp mà
tôi đã chọn.
100

3. KẾT LUẬN
Qua quá trình thực nghiệm đề tài tôi nhận thấy: Để nâng cao hiệu quả chỉ
đạo dạy học nhân, chia số có nhiều chữ số với số có 2,3 chữ số ở lớp 4, người
cán bộ quản lý cần phải:
1. Tạo sự thống nhất trong công tác chỉ đạo, triển khai đầy đủ các văn bản chỉ
đạo của ngành, lấy các văn bản đó làm những căn cứ quan trọng để xây dựng kế
hoạch chỉ đạo sát đúng, phù hợp với đặc điểm tình hình nhà trường, học sinh và
đội ngũ.
2. Xây dựng kế hoạch chỉ đạo cụ thể, tập trung vào những việc làm có tính chất
trọng tâm để đảm bảo tính hiệu quả của kế hoạch, như: rà soát thống kê bài dạy;
tăng cường tổ chức chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học; thường xuyên
kiểm tra việc vận dụng chuyên đề vào thực tế giảng dạy để rút kinh nghiệm về
công tác chỉ đạo cũng như công tác giảng dạy của giáo viên.
19


3. Động viên giáo viên tích cực bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, tham gia tích
cực, nghiêm túc các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học môn Toán do
trường, cụm chuyên môn tổ chức; tự bồi dưỡng các kiến thức Toán học cho bản
thân.
4. Chỉ đạo giáo viên tích cực vận dụng việc Đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng tập trung vào người học và dạy học phân hóa theo năng lực của từng học
sinh. Coi trọng việc ôn tập, củng cố các kiến thức, kĩ năng cơ bản nhất là việc
dạy học cộng, trừ, nhân, chia trong bảng cũng như việc dạy học các biện pháp
tính.
5. Đổi mới việc dự giờ thăm lớp, kiểm tra giờ dạy của giáo viên theo hướng nhẹ
nhàng, thực chất, chú trọng việc rút kinh nghiệm về cách tổ chức các hoạt động
dạy học của giáo viên và việc tham gia các hoạt động nhằm chiếm lĩnh kiến thức
và phát triển các kĩ năng theo yêu cầu tiết dạy của học sinh.
Với quá trình thực hiện đề tài như đã trình bày, tôi đã thu được một số kết
quả nhất định. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, thực nghiệm đề tài, do
trình độ và kinh nghiệm bản thân còn nhiều hạn chế, do thời gian có hạn nên đề
tài chắn chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự góp
ý của các bạn bè đồng nghiệp, các thầy, cô giáo đã và đang tham gia nghiên cứu
về khoa học giáo dục nói chung và trực tiếp quản lí, dạy môn Toán lớp 4 nói
riêng để tôi có điều kiện tích lũy thêm kinh nghiệm bổ ích cho mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn các em học sinh lớp 4, các thầy cô giáo của
trường Tiểu học Thành Lộc đã giúp tôi thực hiện đề tài.
Thành Lộc, ngày 04 tháng 3 năm 2019
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ:
Người thực hiện:
Tôi xin cam đoan đề tài này
là của tôi, không sao chép đề tài
của người khác.

Đỗ Thị Hoa

20


DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH XẾP LOẠI
TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên: Đỗ Thị Hoa
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thành Lộc – Hậu Lộc
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11

Kết quả xếp loại
Cấp
Cấp
huyện
tỉnh

Tên đề tài – Sáng kiến kinh nghiệm

Năm học

Kinh nghiệm BD khả năng lập luận cho
học sinh trong các giờ học Toán trên lớp
Kinh nghiệm “góp phần phát triển khả
năng tư duy cho học sinh” trong các giờ
học Toán
Kinh nghiệm rèn luyện và phát triển khả
năng tư duy cho học sinh trong các giờ
học Toán
Một số biện pháp quản lý nhằm nâng
cao chất lượng dạy học ở trường Tiểu
học Lộc Sơn
Một số biện pháp tổ chức bồi dưỡng học
sinh giỏi ở trường Tiểu học Lộc Sơn
Một số biện pháp nhằm nâng cao chất
lượng dạy và học ở trường Tiểu học Lộc
Sơn
Một số biện pháp quản lí nhằm nâng cao
chất lượng dạy và học ở trường Tiểu học
Lộc Sơn
Kinh nghiệm chỉ đạo đổi mới phương
pháp, nâng cao chất lượng dạy học môn
Toán tại trường Tiểu học Lộc Sơn
Kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi
lớp 5
Kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi
lớp 5
Chỉ đạo dạy học chủ đề “Vật chất và
năng lượng” môn Khoa học lớp 4

1997-1998

B

1998-1999

A

2001-2002

B

2004-2005

C

2005-2006

B

2006-2007

B

2007-2008

B

2009-2010

C

2011-2012

B

2013-2014

B

2015-2016

A

B

C


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Sách giáo khoa toán 4
2. Sách giáo viên Toán 4
3. Tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên giáo viên Tiểu học chu kỳ III (20032007). Tập 2. Nhà XB Giáo dục ấn hành năm 2005
4. 200 câu hỏi – đáp về dạy toán ở tiểu học. Tác giải Phạm Đình Thực.
Nhà xuất bản giáo dục ấn hành.
5. Một số vấn đề về Nội dung và Phương pháp dạy học môn Toán Tiểu
học (Tài liệu BDTX chu kì 1997-2000 ) do Bộ Giáo dục và Đào tạo ấn
hành.
6. SKKN của bản thân năm 2013-2014, năm 2015-2016.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×