Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc góp phần huy động trẻ đến trường trong trường mầm non nga giáp

.
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN NGA SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
NUÔI DƯỠNG, CHĂM SÓC, GÓP PHẦN HUY ĐỘNG TRẺ
ĐẾN TRƯỜNG TRONG TRƯỜNG MẦM NON NGA GIÁP

Người thực hiện: Mai Thị Thủy
Chức vụ: Phó Hiệu Trưởng
Đơn vị công tác: Trường mầm non Nga Giáp
SKKN thuộc lĩnh vực: Quản lý

THANH HÓA, NĂM 2019


MỤC LỤC
NỘI DUNG


Trang

1. LỜI MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.3. Các giải pháp thực hiện.
Giải pháp1: Xây dựng kế hoạch chỉ đạo một cách chặt chẽ, khoa học.
Giải pháp 2: Từng bước triển khai thực hiện kế hoạch trong nhà
trường.
Giải pháp 3: Làm tốt công tác tham mưu với các cấp, các ban ngành
đoàn thể để nâng caochất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, góp phần huy
động trẻ ra lớp.
Giải pháp 4: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và phối kết hợp với phụ
huynh trong công tác tổ chức chăm sóc, nuôi dưỡng tại trường.
Giải pháp 5: Tăng cường công tác đầu tư mua sắm cơ sở vật chất phục
vụ cho công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.
Giải pháp 6: Tổ chức tốt công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ
theo chế độ sinh hoạt của trẻ ở trường mầm non.
Giải pháp 7: Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các hoạt động
phục vụ nuôi dưỡng, chăm sóc.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

1
1
2
2
2
3
3
4
5
5

17
18

3.1. Kết luận chung

18

3.2. Kiến nghị

19

* Tài liệu tham khảo
* Danh mục các đề tài sáng kiến kinh nghiệm đã được xếp loại

6
9
10
11
12
16


1. LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Như chúng ta đã biết: Bậc học mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống
giáo dục quốc dân, là chiếc nôi ban đầu để chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ.
“ Mục tiêu giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển thể chất, tình cảm, trí tuệ,
thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em
vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí,
năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù
hợp với lứa tuổi; khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền
tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời” [1 ]
Chính vì vậy mà việc quan tâm, chăm sóc cho trẻ em là trách nhiệm chung
của mọi cấp, mọi ngành và tất cả mọi nguời trong cộng đồng xã hội đặc biệt là
giữa gia đình và trường mầm non phải có sự phối kết hợp chặn chẽ, thường
xuyên, thống nhất về nội dung, phương pháp, hình thức chăm sóc, nuôi dưỡng
và giáo dục trẻ .
Sức khoẻ có liên quan mật thiết với sự phát triển con người. Sức khoẻ tốt
tạo điều kiện cho con người phát triển thể chất hài hoà, cân đối nói chung, phát
triển trí tuệ để học tập, lao động và tích tực tham gia vào các hoạt động khác nói
riêng. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy trí nhớ, sức chú ý, sự cần cù, độ dẻo
dai trong học tập phụ thuộc nhiều vào trạng thái chung của sức khoẻ và thể lực.
Trường mầm non thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ
từ 0- 6 tuổi nhằm hình thành và phát triển ở trẻ toàn diện về năm mặt nhân cách
và năm lĩnh vực phát triển, trang bị, cung cấp những kiến thức khoa học đơn
giản, chuẩn bị đầy đủ những tâm thế tạo tiền đề cần thiết cho trẻ bước vào
trường tiểu học một cách vưng vàng, tự tin.
Do đặc điểm cơ thể của trẻ từ 0 - 6 tuổi còn rất non nớt, sức đề kháng với
những tác động từ môi trường bên ngoài còn hạn chế nên đòi hỏi công tác chăm
sóc, bảo vệ sức khỏe cho trẻ luôn được đặt lên vị trí hàng đầu trong hệ thống các
nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ ở trường mầm non.
Trẻ em dưới 6 tuổi có rất nhiều nguy cơ bị suy dinh dưỡng. Nhu cầu năng
lượng và các chất dinh dưỡng của trẻ đang tuổi lớn và phát triển rất cao cho nên
cần được quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng, đảm bảo cho trẻ được ăn đủ chất, đủ
lượng, đủ thành phần dinh dưỡng đảm bảo khoa học theo quy định của từng độ
tuổi như chất Prôtít (Đạm), Lipít (Mỡ), Gluxít (Đường), VTM và chất khoáng.
Chế biến thức ăn, chế độ ăn phù hợp với từng độ tuổi, bày bàn ăn sạch, đẹp,
khoa học, tạo không khí bữa ăn ấm áp, thoải mái, giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết
xuất, trẻ ăn uống tốt giúp trẻ lớn nhanh và khỏe mạnh, phát triển cân đối, thì trẻ
mới tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, vui chơi ,tìm tòi khám phá các
sự vật hiện tượng xung quanh. Trẻ ở lứa tuổi mầm non " Học bằng chơi - Chơi
mà học".
Đúng như lời Bác Hồ kính yêu đã dạy "Trẻ em như búp trên cành - Biết
ăn, ngủ, biết học hành là ngoan " .
Công tác huy động trẻ đến lớp và tổ chức tốt về CS-ND-GD cho trẻ ở
trường mầm non. Đây là một nhiệm vụ rất quan trọng, nhằm đáp ứng mục tiêu
1


hình thành và phát triển toàn diện cho trẻ em về trí tuệ và thể lực ở những năm
đầu đời của con người, tạo nền móng nhân tài tương lai cho đất nước.
Chính vì vậy với vai trò của là Phó hiệu trưởng được giao nhiệm vụ phụ
trách công tác Nuôi dưỡng – Chăm sóc trẻ, tôi xác định nâng cao chất lượng
toàn diện chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ, đồng thời góp phần giảm tỉ lệ trẻ suy dinh
dưỡng xuống phần trăm thấp nhất để góp phần cùng với nhà trường hoàn thành
tốt nhiệm vụ, huy động trẻ đến trường ngày càng cao. Đó cũng là lý do mà năm
học 2018-2019 tôi đã đi sâu vào nghiên cứu “ Một số biện pháp nâng cao chất
lượng nuôi dưỡng, chăm sóc góp phần huy động tỷ lệ trẻ đến trường trong
trường MN Nga Giáp ” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Mục đích nghiên cứu:
+ Nhăm nâng cao chất lượng toàn diện về nuôi dưỡng, chăm sóc góp phần
huy động tỷ lệ trẻ đến trường MN.
+ Nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng sư phạm, việc
tổ chức các hoạt động CS-ND-GD trẻ cho giáo viên.
+ Nhằm nâng cao chất lượng toàn diện về các lĩnh vực giáo dục cho trẻ.
+ Tạo cho trẻ phát triển thể lực cân đối, hài hòa, phát huy tính tự lập, tự
phục vụ, tính tập thể.
3. Đối tượng nghiên cứu:
- Một số biện pháp nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc góp phần
huy động tỷ lệ trẻ đến trường MN
- Giáo viên, nhân viên và các cháu học sinh Trường MN Nga Giáp - Huyện
Nga Sơn - Thanh Hoá.
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: Lựa chọn, sưu tầm
các nguồn tài liệu có nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu, để vận dụng và
đưa ra các biện pháp tổ chức thực hiện cho phù hợp
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin.
Để tìm hiểu, nắm bắt đặc điểm, tình hình của trẻ, giáo viên đi điều tra từng hộ
gia đình, gặp gỡ, trao đổi với phụ huynh, ghi chép đầy đủ các thông tin về trẻ.
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Tổng hợp cụ thể từng tiêu chí, các
biểu bảng và điều chỉnh, xử lý số liệu phù hợp với nội dung đề tài
- Phương pháp trực quan, minh hoạ: Dùng trực quan ( vật thật, đồ chơi,
hành động mẫu…) cho trẻ quan sát, rèn luyện sự nhạy cảm của các giác quan,
thoả mãn nhu cầu tiếp nhận các thông tin
- Phương pháp tác động bằng tình cảm: Dùng cử chỉ vỗ về, gần gũi, cùng
với những điệu bộ, nét mặt, lời nói âu yếm để tạo cho trẻ những cảm xúc an
toàn, tin cậy thoả mẫn nhu cầu giao tiếp.
- Phưong pháp thực hành, trải nghiệm: Tổ chức cho trẻ hành động, thao
tác trực tiếp với đồ vật, đồ chơi, sử dụng các yếu tố chơi, các trò chơi đơn giản
thích hợp để kích thích trẻ hoạt động…
- Phương pháp dùng lời nói ( trò chuyện, kể chuyện, giải thích ): Sử dụng
lời nói, lời kể diễn cảm, câu hỏi gợi mở phối hợp cùng các cử chỉ, điệu bộ phù
hợp phù hợp nhằm khuyến khích trẻ tiếp xúc với đồ vật và giao tiếp với người
xung quanh…
2


- Phương pháp đánh giá, nêu gương. Ở lứa tuổi nhỏ, người lớn khen, nêu
gương, kích lệ những việc làm, lời nói tốt của trẻ là chủ yếu, khuyến khích trẻ
tích cực tham gia vào các hoạt động…
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
2.1. Cơ sở lý luận:
“ Được đi học, được đến trường đó là một trong những Quyền của trẻ em
phải được hưởng. Trẻ được học, được ăn ngủ, vui chơi trong những năm tháng
tuổi thơ sẽ tạo một nền tảng vững chắc cho trẻ khi trưởng thành, điều này cho
thấy ý nghĩa lớn lao và tầm quan trọng của giáo dục mầm non và để giúp trẻ
hình thành, phát triển toàn diện về mọi mặt.[2 ]
Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng thực hiện vai trò chăm lo sức khỏe, tâm lý,
phát triển toàn diện của trẻ, tạo nên sự giáo dục đồng bộ trong nhà trường. Thời
gian trẻ ở trường được sống trong môi trường khép kín từ ăn, ngủ đến nghỉ ngơi,
vui chơi, … tăng cường tính tập thể, tính đoàn kết bạn bè, tình cảm cô - trò.
Để phát triển công tác chăm sóc,nuôi dưỡng ở trường mầm non, Sở giáo
dục và đào tạo Thanh Hóa đã có văn bản chỉ đạo cho các huyện đưa chỉ tiêu cụ
thể phù hợp với vùng miền, trong đó chú trọng chỉ tiêu và chất lượng chăm sóc
nuôi dưỡng trẻ đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.Với chỉ tiêu phòng GD&ĐT
đề ra, huy động trẻ bán trú phải đạt 95 - 100%. Như vậy về công tác chăm sóc,
nuôi dưỡng đã được đặt ngang tầm với công tác giáo dục.
Nghị quyết Đại hội Đảng Bộ xã Nga Giáp, Nghị quyết HĐND xã khoá
XVIII cũng đã chỉ rõ “ Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở cả 3 cấp học,
phát huy chất lượng trường chuẩn quốc gia”
Đối với trẻ mầm non, muốn có một cơ thể phát triển cân đối và toàn diện
thì cần phải có một chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ đủ, đúng theo
khoa học. Hơn đâu hết trường mầm non là nơi thực hiện nhiệm vụ cao cả đó để
trẻ có điều kiện phát triển toàn diện, thông qua chế độ sinh hoạt một ngày của
trẻ. Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ CS-ND-GD trẻ ở trường mầm non thì vấn đề
đầu tiên là phải huy động trẻ ăn, ngủ bán trú tại trường đạt tỷ lệ 100% .
Để phát triển tốt các lĩnh vực giáo dục cho trẻ mầm non nói chung và lĩnh
vực giáo dục phát triển thể chất nói riêng chúng ta cần dựa vào các đặc điểm
phát triển tâm - sinh lí trẻ: “ Trong sự phát triển toàn diện về các mặt của trẻ thì
đây là giai đoạn bắt đầu của mọi hoạt động. Do vậy trong quá trình tổ chức các
hoạt động CS-ND-GD, trẻ còn mắc một số hạn chế như: Vốn từ của trẻ chưa
phong phú, khả năng nhận thức, ngôn ngữ giao tiếp, sự chú ý, ghi nhớ có chủ
định, tính tích cực, chủ động tham gia vào các hoạt động còn hạn chế.Trẻ luôn
muốn ăn những thức ăn và làm theo ý của mình…vv” [3 ]
Công tác huy động và duy trì số lượng trẻ ăn bán trú tại trường mầm non
là cực kỳ quan trọng. Bởi trẻ sẽ được hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục theo khoa học, đây là yếu tố cần thiết cho sự phát triển toàn diện ở trẻ và
nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ ở trường mầm non.
- Chương trình giáo dục mầm non (Ban hành kèm theo Thông tư số
28/2016/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo) hướng dẫn rất kỹ về công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, ăn ngủ, vệ sinh cá
3


nhân cho trẻ theo từng độ tuổi đảm bảo đúng chế độ sinh hoạt một ngày của trẻ
ở trường mầm non.
- Căn cứ vào tài liệu hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục
mầm non từ 3-36 tháng tuổi, 3-4 tuổi, 4-5 tuổi, 5-6 tuổi theo Thông tư số 28 của
nhà xuất bản giáo dục Việt Nam: Hướng dẫn về thực hiện chế độ sinh hoạt một
ngày của trẻ ở các độ tuổi và nội dung nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe cho trẻ.
- Thực hiện tài liệu bồi dưỡng hè hàng năm, tài liệu bồi dưỡng thường
xuyên cán bộ quản lý và giáo viên mầm non hàng năm học của Bộ Giáo dục và
Đào tạo: “ Tổ chức tốt hoạt động bán trú, nuôi dưỡng ở trường mầm non sẽ giúp
trẻ phát triển tốt về thể lực cũng như trí tuệ, góp phần nâng cao chất lượng
chăm sóc, giáo dục trẻ tại các trường mầm non” .[3 ]
Như vậy qua đây chúng ta có thể khẳng định rằng: Việc tổ chức tốt hoạt
động CS-ND cho trẻ ở trường mầm non là một trong những nhiệm trọng tâm
trong năm học 2018 - 2019, góp phần quan trọng việc huy động trẻ ra lớp, giúp
trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt.
2.2. Thực trạng:
* Thuận lợi:
- Trường mầm non Nga Giáp đã được công nhận là trường mầm non đạt
chuẩn quốc gia mức độ 1, trường đạt kiểm định chất lượng giáo dục cấp độ 3, là
ngôi trường có khuôn viên, cảnh quan môi trường rộng rãi, thoáng mát, xanh,
sạch, đẹp, về cơ sở vật chất có đủ phòng học, phòng chức năng, về trang thiết bị
đồ dùng dạy học, đồ chơi trong nhà, đồ chơi ngoài trời tương đối đầy đủ để phục
vụ cho cô và cháu; Riêng đồ dùng về chăm sóc và nuôi dưỡng đảm bảo về số
lượng và chất lượng 100%.
- Về đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên là một hội đồng sư phạm đại đoàn
kết, có ý thức, trách nhiệm cao, nhiệt tình với công việc được phân công, 100%
đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên đạt trình độ chuẩn, trên chuẩn đạt 13/16= 81
%; Đảng viên 15/16= 93,6.%.
- Các cháu đến có nề nếp, ngoan, được CS-ND-GD theo nhóm, lớp đúng
chương trình và độ tuổi quy định.
- Cán bộ lãnh đạo địa phương, các cấp, các ngành và các bậc phụ huynh
đã thực sự quan tâm chăm lo cho ngành học và con em của mình.
* Khó khăn
- Trong thực tế hiện nay trong nhà trường vẫn còn một số phụ huynh
chưa hiểu và quan tâm đến vấn đề chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ theo khoa học, cũng
do điều kiện kinh tế của một số gia đình còn gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy
mà không cho trẻ ra lớp học đúng độ tuổi, đi học chuyên cần, thường xuyên, nên
việc huy động trẻ vào bán trú ở trường mầm non, chưa đạt kết quả cao.
Tỉ lệ trẻ huy động tháng 9 mới đạt: Nhà trẻ huye động 50/179 cháu điều
tra = 27,9%; Mẫu giáo huy động 196/ 215 cháu điều tra = 96,7%.
Tỉ lệ ăn bán trú tại trường 238/246 cháu đạt 96,7%.
- Một số giáo viên tuổi đời đã cao, GV mới vào ngành nên việc tiếp cận
với phương pháp mới, chương trình GDMN còn nhiều hạn chế. Đặc biệt là các
hình thức chăm sóc, tổ chức bữa ăn cho trẻ trên nhóm lớp.
4


* Kết quả của thực trạng: Từ những thực trạng trên, đầu năm học (Tháng
9/2018) Tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng chung của nhà trường, đội ngũ giáo
viên và trẻ. Kết quả:
+ Đối với nhà trường: Kết quả đánh giá công tác VSATTP đầu năm
học ( tháng 9 năm 2018)
( Xem phụ lục 1)
+ Đối với giáo viên: Kết quả đánh giá GDDD- VSATTT đối với từng
cán bộ giáo viên, nhân viên( tháng 9 năm 2018)
( Xem phụ lục 2)
+ Đối với trẻ: Tổng số 246 trẻ ( trong đó nhà trẻ 50 :MG: 196 )
TỔNG HỢP CÂN ĐO, KHÁM SỨC KHỎE CHO TRẺ THÁNG 9 NĂM HỌC 2018- 2019.

Bảng 1: Kết quả theo dõi biểu đồ tăng trưởng của trẻ.
Độ tuổi

Nhà trẻ
18-24T
25-36T
Tổng
Mẫu
giáo
3 tuổi
4 tuổi
5 tuổi
Tổng
Tổng
chung

Số trẻ
huy
động

Số
trẻ
ăn
bán
trú

Kết quả chăm sóc sức khoẻ
Cân nặng

Chiều cao

CN theo CD/ chiều cao

Kênh
SDD thể
Thừa cân
Kênh
SDD thể
BT
nhẹ cân
béo phì
BT
thấp còi
Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ Số Tỷ
Trẻ
%
Trẻ
%
Trẻ
%
Trẻ
%
Trẻ lệ %

12
38
50

10
35
45

12
36
48

49
73
74
196
246

46
73
74
193
238

47
71
68
186
234

Số
trẻ
theo
dõi

K
BT

Suy
DD
thể
GC

được

TL
SD
D
thể
GC
(%)

Thừa
cân,
béo
phì

0
0
0

96

0
2
2

0
5,3
4,0

0
0
0

0
0
0

12
38
50

100
100
100

0
0
0

0
0
0

12
36
48

12
36
48

0
0
0

0
0
0

95
97

2
2

5
3

0
0

0
0

91,9
94,9

5
9
11

6,7
4,6
4,8

1

1,4

0

0

1

0,4

47
69
73
189
239

95
97
98
96
99.
7

2
4
1
7
7

5
3
2
4
3

47
71
69
187
235

47
70
68
185
233

0
0
0
0
0

0
0
0
0
0

100
94.7

95,
1

0
0
0
0
1
1
2
2

Bảng 2: Kết quả chăm sóc, khám sức khỏe trẻ:

Kết quả khám bệnh
Độ tuổi
Nhà trẻ
18-24T
25-36T
Tổng NT
Mẫu
giáo
3 tuổi
4 tuổi
5 tuổi
Tổng
MG
Tổng
chung


sạch

Tỷ
lệ
%

chuyên

12
38
50

100
100
100

11
36
46

49
73
74
196

100
100
100
100

246

100



Tỷ
lệ
%

Hô hấp

Sâu răng

Giun

Ngoài da

Tổng số trẻ
mắc bệnh

Số
trẻ

Tỉ
lệ
%

Số
trẻ

Tỉ lệ
%

Số
trẻ

Tỉ
lệ
%

Số
trẻ

Tỉ
lệ
%

Số
trẻ

Tỉ lệ%

94,7
92,0

1
2
3

8,3
5,2
6,0

0
0
0

0
0
0

0
1
1

0
2,6
2,0

1
0
1

8,3
0
2,0

2
3
5

16,6
7,9
10,0

47
71
73
191

95,9
97,2
98,6
97,4

1
0
0
1

2,0
0
0
0,5

2
5
7
14

0
0
0
7,1

0
0
1
1

0
0
0,5

0
0
0
0

0
0
0
0

3
5
8
16

6,1
6,8
10,8
8,2

237

96,3

4

1.6

14

5,7

2

0,8

1

0,4

21

8,5

cần

91.7

TL
thừa
cân,
béo
phì
(%)

5

0
1,4
1,5

1,1
0.8


Từ kết quả thực tế trên, nên tôi rất băn khoán, trăn trở. Chính vì vậy mà
tôi đã đi sâu vào nghiên cứu “Một số biện pháp nâng cao chất lượng nuôi
dưỡng, chăm sóc góp phần huy động tỷ lệ trẻ đến trường MN” để áp dụng chỉ
đạo trường mình vào năm học 2018-2019 đạt kết quả cao hơn.
3. Các giải pháp tổ chức thực hiện:
Giải pháp1. Xây dựng kế hoạch chỉ đạo một cách chặt chẽ, khoa học.
Xây dựng kế hoạch là một việc làm quan trọng đối với những người làm
công tác quản lý, xây dựng kế hoạch là sự sắp xếp có tính toán trước một cách
khoa học các chỉ tiêu, trình tự tiến hành các công việc cũng như việc phân công
con người và bố trí vật lực hợp lý để công việc đó tiến hành một cách chủ động,
đạt hiệu quả cao nhất. Tôi đã thực hiện như sau:
a. Thu thập và xử lý thông tin:
* Thông tin về thực trạng huy động trẻ vào bán trú năm học 2017 –
2018 và đầu năm học 2018-2019.
Trong năm học vừa qua mặc dù đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên cũng
đã quan tâm chăm lo đến công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, nhưng chưa có
nhiều biện pháp tích cực để huy động trẻ vào bán trú. Vì thế mà chưa đạt được
chỉ tiêu và kế hoạch của nhà trường cũng như phòng giáo dục đề ra đầu năm.
* Tìm hiểu thông tin về tình hình phụ huynh của các nhóm lớp.
Phân vùng điều tra về tình hình phụ huynh, nắm được kinh tế gia đình về
nhận thức, quan điểm của từng phụ huynh và những người có ảnh hưởng đến họ.
Để hoàn tất vấn đề này tôi cùng với các đồng chí trong ban giám hiệu
thống nhất phân công: một ban giám hiệu phụ trách một thôn cùng với giáo viên
ở địa bàn và am hiểu về địa bàn đó để tiến hành điều tra khảo sát phân loại đối
tượng, thông qua việc làm này để chúng tôi nắm được:
+ Số phụ huynh có điều kiện kinh tế thuận lợi để gửi con vào bán trú.
+ Số phụ huynh muốn gửi con vào bán trú nhưng do điều kiện kinh tế gia
đình khó khăn.
+ Số phụ huynh có điều kiện kinh tế tốt nhưng muốn chăm sóc con ăn ở nhà.
+ Số phụ huynh gửi con theo phong trào khi thích thì gửi, không thích thì
đưa về.
+ Những người có ảnh hưởng đến những phụ huynh đó là ai? Có thể là ông
bà nội, ngoại, cô, gì, chú, bác. Các phụ huynh với nhau và là những người nhất
là các bác, các anh ở cơ sở xóm, các ban ngành đoàn thể là những người thân
thuộc gần gủi hoặc là cô gì, chú, bác của các bậc phụ huynh đó. Từ đó để chúng
tôi có biện pháp tác động phù hợp về công tác vận động đạt hiệu quả cao.
b, Yêu cầu về công tác chăm sóc, nuôi dưỡng:
Năm học 2018 - 2019 là năm tiếp tục quán triệt và triển khai nghị quyết
đại hội Đảng các cấp, thực hiện tốt các phong trào thi đua “Xây dựng trường
học thân thiện, học sinh tích cực” và thực hiện chuyên đề “Nâng cao chất
lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ ở trường Mầm Non”. Trường Mầm Non Nga
Giáp quyết tâm thực hiện tốt nhiệm vụ năm học, trong đó yêu cầu về chỉ tiêu
huy động số lượng trẻ bán trú 100%, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân
và thể thấp còi xuống dưới 7%. Tôi đã xin ý kiến ban giám hiệu tổ chức họp hội
đồng sư phạm nhà trường chỉ đạo công tác tuyên truyền về nội dung năm học,
6


vận động 100% các bậc phụ huynh cho con ăn bán trú ở trường để giáo viên xác
định trước nhiệm vụ của mình, từ đó có cách tuyên truyền, đưa thông tin đến các
bậc phụ huynh bằng nhiều cách, và cũng thu thập được những phản ứng đa
chiều từ phía phụ huynh. Đây cũng là một thắng lợi lớn cho nhà trường trong
công tác xây dựng kế hoạch.
Khi đã có đầy đủ lượng thông tin đa chiều, chính xác, cũng như kết quả
điều tra khảo sát thực trạng của phụ huynh cùng với việc nghiên cứu tình hình
thực tế và cơ chế chính sách của địa phương, chỉ tiêu và nhiệm vụ của nhà
trường cần đạt trong năm học tới. Tôi tiến hành xây dựng kế hoạch chăm
sóc,nuôi dưỡng trẻ ngay từ đầu năm học 2018- 2019.
Ví dụ: Kế hoạch chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ năm học 2018- 2019.
( Xem phụ lục 3)
* Kết quả: 100% giáo viên thực hiện kế hoạch đã đề ra
Giải pháp 2: Từng bước triển khai thực hiện kế hoạch trong nhà trường.
* Triển khai kế hoạch qua hội đồng sư phạm nhà trường
Khi kế hoạch đã được phê duyệt, đầu tiên tôi tổ chức triển khai thực hiện
kế hoạch trước cuộc họp hội đồng sư phạm nhà trường. Ban giám hiệu phân tích
tình hình thực trạng của trường, của địa phương và yêu cầu nhiệm vụ năm học
2018 -2019, mục đích làm cho giáo viên thấm nhuần công tác tư tưởng để cùng
nhau bắt tay vào cuộc.
+ Trước hết cùng với nhà trường làm công tác tuyên truyền
+ Hy sinh về thời gian: Có thể đi sớm hơn, về muộn hơn và cùng ở lại với
giáo viên, các lớp để động viên trẻ ăn, dỗ dành trẻ trong những ngày đầu mới ra
quân.
+ Với những phụ huynh còn chưa thống nhất quan điểm, chưa ủng hộ chủ
trương thì giáo viên chủ nhiệm trực tiếp báo cáo kịp thời với nhà trường và cùng
làm công tác tuyên truyền vận động.
+ Giáo viên bàn bạc góp ý về các biện pháp huy động trẻ ăn bán trú.
+ Hiệu trưởng tập hợp các ý kiến, thống nhất các biện pháp và triển khai kế
họach.
Xác định tầm quan trọng của cuộc họp phụ huynh, phụ huynh nhất trí trong
cuộc họp thì coi như kế hoạch đã thành công được 90%. Vì vậy việc chuẩn bị
nội dung họp phụ huynh là vô cùng quan trọng.
* Chuẩn bị tốt nội dung họp phụ huynh và hình thức tổ chức khoa học,
sáng tạo nhằm đạt mục đích đề ra.
- Chuẩn bị tốt về nội dung họp phụ huynh:
+ Thành phần tham dự: Mời lãnh đạo địa phương, chủ tịch UBMTTQ xã,
CT hội phụ nữ,...
+ Đặt vấn đề trước với một số phụ huynh mà những năm trước đây họ đã
gửi con vào bán trú, họ luôn ủng hộ kế hoạch nhà trường xã để đến phần thảo
luận họ phát biểu trước và mượn tiếng nói của họ đế thuyết phục các phụ
huynh khác.
+ Phải xác định tư tưởng kiên định trong công tác điều hành cuộc họp vì rất
có thể sẽ xẩy ra nhiều tình huống: đa số phụ huynh phản ứng quyết liệt và đề
nghị theo phương án: ai có điều kiện thì gửi con bán trú như những năm trước,...
7


- Tổ chức cuộc họp: Báo cáo đánh giá tình hình năm học trước.
+ Triển khai phương hướng nhiệm vụ năm học 2018 - 2019
- Thông qua kế hoạch nhà trường, nhấn mạnh công tác chăm sóc, nuôi
dưỡng nhằm huy động số lượng trẻ ăn bán trú tại trường.
- Thông qua chế độ đóng góp tiền ăn: 14.000đ/ngày/trẻ với 3 phương án để
phụ huynh bàn bạc lựa chọn hình thức cho trẻ bán trú phù hợp với điều kiện gia
đình:
Phương án 1: Nạp tiền hoàn toàn 14.000đ/ngày
Phương án 2: Nạp 3Kg gạo/ tháng + đóng tiền 12.000đ/ngày
Phương án 3: Nếu gia đình làm nông nghiệp khó khăn nộp 1kg gạo/ngày/
cháu.
- Thông qua thực đơn theo mùa và quyết toán chế độ ăn hàng ngày của trẻ
cho phụ huynh biết để theo dõi và chăm sóc trẻ ở nhà cho phù hợp.
- Kiểm tra sức khỏe cho trẻ định kỳ có mời đại diện các phụ huynh nhóm
lớp đến dự để phụ huynh biết được trẻ được kiểm tra đứng, đủ theo từng kỳ.
- Động viên phụ huynh tham gia hỗ trợ kinh phí để nhà trường có kinh phí
đầu tư sữa chữa cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ cho việc tổ chức
bán trú.
- Hợp đồng với phụ huynh bán thực phẩm sạch như: Tôm, cua, cá, trứng,
gạo, rau cho nhà trường…vv
Ví dụ: Trong thảo luận:
- Trước hết mời những phụ huynh đã được đặt vấn đề phát biểu trước.
- Lãnh đạo địa phương phát biểu ý kiến, chỉ đạo.
Và quả thực những khó khăn chúng tôi lường trước đã xẩy ra, rất đông
phụ huynh không đồng tình vì họ cho rằng gia đình còn gặp nhiều khó khăn . Họ
đòi chủ trì biểu quyết ai đồng ý kế hoạch, ai không. Đến lúc này thì sức nóng
của hội nghị đã tăng lên đến đỉnh điểm. Tôi đã có lúc trong suy nghĩ bị “chùng”
lại nhưng với sự chuẩn bị kỹ lưỡng, xác định tư tưởng, kiên định với kế hoạch.
Tôi đã giải thích với phụ huynh như sau: Nếu như nhà trường bắt buộc 100% trẻ
ở lại bán trú chỉ với một hình thức nộp tiền thì sẽ có nhiều phụ huynh rất khó
khăn và không thể đủ điều kiện cho trẻ ở lại ăn trưa tại trường. Nhưng nhà
trường giáo viên đã vì sức khoẻ, vì sự phát triển của các cháu, vì cái chung của
nhà trường ổn định về nề nếp,chế độ sinh hoạt một ngày của trẻ , bởi trẻ về khi
đưa, đón giờ trưa thì ảnh hưởng chế độ ăn, ngủ của trẻ. Do vậy đề nghị phụ
huynh cố gắng thực hiện kế hoạch, còn những hộ nghèo, cận nghèo, gia đình
chính sách… sẽ được hỗ trợ kinh phí học tập, tiền ăn trưa từ chính sách của nhà
nước.
Với hình thức và cách làm thuyết phục như trên cuộc họp đã thành công,
mặc dù vẫn còn một số phụ huynh chưa đồng tình. Nhưng sau cuộc họp này việc
triển khai kế hoạch đã có thêm một hành lang pháp lý nữa. Đó là nghị quyết hội
nghị phụ huynh làm cơ sở cho việc thực hiện kế họach sau này đạt kết quả.
* Phân công nhiệm vụ cho cán bộ quản lý, giáo viên bám trụ địa bàn
trong quá trình triển khai thực hiện.
Sau khi đã tổ chức hội nghị phụ huynh, chúng tôi tiến hành ra quân đồng
bộ và thực hiện dứt điểm. Tôi xác định việc làm này rất khó khăn, những ngày
8


đầu xem như thực hiện một chiến dịch, vì tính chất quyết liệt đó mà chúng tôi
thực hiện đồng tâm cật lực, vì nếu không làm được điều này thì sẽ gây mất lòng
tin nơi phụ huynh, với địa phương về việc xây dựng kế hoạch nhà trường.
Tôi xác định số ít phụ huynh không đồng tình với kế hoạch trường lại là
phụ huynh có tính cách cá biệt. Nếu làm dứt điểm thì sẽ lấy đà để thực hiện tốt
kế họạch. Vì vậy tôi đã phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng giáo viên:
Hàng ngày tôi cập nhật thông tin, trong số trẻ chưa ở lại bán trú là con ai?
Thuộc xóm nào? Do điều kiện kinh tế hay nhận thức phụ huynh để từ đó có cách
động viên thuyết phục phụ huynh cho phù hợp.
Trong số phụ huynh chưa gửi con ở lại, nếu thấy phụ huynh nào khó thì
làm trước, từng ngày, từng ngày một, cứ như thế chúng tôi kiên trì bám trụ, lựa
thời điểm để gặp phụ huynh vào giờ đón và trả trẻ. Những trường hợp khó khăn
quá tôi trực tiếp gặp CTMTTQ, hội phụ nữ xã, xóm trưởng, hội trưởng hội phụ
huynh cùng trực tiếp làm công tác tư tưởng với phụ huynh.
Qua điều tra nắm được tình hình cụ thể của từng phụ huynh trong số này
phần đa là những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, có hoàn cảnh có 2 cháu học ở
trường mầm non, nên phụ huynh không mạnh dạn để con ở lại bán trú, những
phụ huynh đó họ ngại không đưa con đến trường sợ gặp cô giáo sẽ khó từ chối,
mà họ gửi con nhờ phụ huynh khác đón hoặc cho các anh, chị đón em. Trước
tình hình đó tôi lại nghĩ ngay đến phương án tiếp theo là phải đến từng hộ gia
đình trực tiếp gặp. Tôi và đồng chí giáo viên các nhóm, lớp tranh thủ thời gian
đến gặp gia đình vào những buổi trưa, buổi tối, và nhờ sự cộng tác của xóm
trưởng, ban thường trực hội phụ huynh cùng đến nhà để vận động. Sau mỗi ngày
chúng tôi lại tổng hợp kết quả về trường.
Đây là một thắng lợi mà tôi những người làm công tác quản lý hằng ấp ủ
bao năm. Nhìn những đứa trẻ ăn giỏi, ngủ ngon và cô giáo tất bật với công việc,
chăm lo cho các cháu ăn, ngủ, lòng tôi lại rộn lên vui sướng tột cùng. Tôi cảm
thấy an tâm hơn về giờ giấc, thời gian sinh hoạt của trẻ và tin rằng giờ đây sẽ là
điều kiện thuận lợi cho nhà trường thực hiện nâng cao chất lượng chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục trẻ.
Khi đã huy động được số lượng trẻ thì tôi lại nghĩ đến việc làm tiếp theo
là làm sao để đảm bảo duy trì số lượng bán trú thường xuyên và đẩy mạnh việc
nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ, tạo niềm tin cho các bậc phụ
huynh và nhân dân trong toàn xã.
* Kết quả: Tỷ lệ huy động trẻ ra trường đạt; Mẫu giáo 215/215 cháu điều
tra đạt 100%; Nhà trẻ 58/179 cháu điều tra đạt 32,4%, tăng lên 27 cháu so với
đầu năm. Tỷ lệ trẻ ăn bán trú tại trường là 273/273 = 100% .Phụ huynh luôn tin
tưởng và nhiệt tình ủng hộ.
Giải pháp 3: Làm tốt công tác tham mưu với các cấp, các ban ngành
đoàn thể để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng,chăm sóc, góp phần huy động
trẻ ra lớp.
Công tác tham mưu là một việc làm không thể thiếu đối với người cán bộ
quản lý. Muốn thực hiện tốt kế hoạch của nhà trường thì đầu tiên phải nói đến là
công tác tham mưu.
9


Dựa vào thực tế của nhà trường, của phụ huynh và của địa phương, việc
huy động trẻ vào bán trú để đạt chỉ tiêu của ngành, của trường là một việc làm
cấp bách cho việc xây dựng kế hoạch của năm học mới. Xác định được nội dung
tham mưu, sự đồng tình ủng hộ của các ban ngành, các cấp của toàn xã hội.
Ngay từ cuối năm học 2018- 2019. Tôi đã tham mưu với Hiệu trưởng, nội
dung tham mưu với những vấn đề sau:
- Về chỉ tiêu cần huy động, cách tổ chức thực hiện, các phương án đóng
góp, chế độ ăn cho trẻ (nạp tiền, nạp gạo)
- Về xây dựng bổ sung, tu sửa cơ sở vật chất, mua sắm trang thiệt bị phục
vụ cho công tác chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Về thời gian triển khai kế hoạch, cơ chế chính sách hỗ trợ động viên
khuyến khích những trẻ có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt.
Để thực hiện đạt mục tiêu các nội dung trên, tôi đã nghiên cứu kỹ các văn
bản về yêu cầu thực hiện nhiệm vụ năm học của ngành, của trường. Mặt khác tôi
trình kế hoạch xin ý kiến chỉ đạo của Hiệu trưởng, chuyên viên phòng GD&ĐT
về các phương án tổ chức cho trẻ ăn, định mức ăn của trẻ.
- Để có căn cứ gây niềm tin và thuyết phục đối với địa phương, tôi đã tìm,
và thu thập một số thông tin của một số địa phương trong huyện mà điều kiện
về cơ sở vật chất, điều kiên kinh tế địa phương, kinh tế phụ huynh tương đồng
với địa phương mình mà họ đã làm tốt công tác huy động trẻ vào ra lớp như:
mầm non Nga An, Mầm non Thị Trấn …
- Bước đầu thực hiện tôi gặp rất nhiều trở ngại, vì năm học 2017-2018
tiền ăn của trẻ là 12.000đ/ngày/ trẻ vì vậy năm học 2018-2019 dụ kiến nâng mức
tiền ăn của trẻ lên 14.000đ/ ngày/ trẻ nên một số phụ huynh ý kiến chế độ ăn cho
trẻ cao , không phù hợp, với điều kiện kinh tế của phụ huynh Nhưng tôi vẫn cứ
kiên trì thuyết phục và đưa ra lý do: Nếu như phụ huynh cho con ở lại bán trú
100% mà phải đóng tiền ăn cả tuần, cả tháng, thì có nhiều gia đình khó khăn sẽ
không lo nỗi và chắc chắn họ có những phản ứng không thống nhất với nhà
trường. Còn nếu thực hiện các phương án nộp tiền bữa một, nếu không có tiền
thì nộp 1 kg gạo/ ngày cho nhà trường, thì sẽ phù hợp với một số gia đình làm
nghề nông nghiệp, kinh tế khó khăn, chỉ cần phụ huynh chịu khó thì ai cũng có
thể làm được.
Xác định đây là năm đầu thực hiện sẽ gặp nhiều khó khăn cho một số hộ
gia đình có hoàn cảnh đặc biệt. Vì vậy chúng tôi tham mưu với quỹ vì người
nghèo, nhà trường, công đoàn, hổ trợ tiền tài liệu và một phần tiền học phí cho
những trẻ khó khăn và phương án này đã được lãnh đạo địa phương, các cấp,
các ngành đồng tình cao.
- Về thời gian: Xác định thời gian thực hiện kéo dài vì đây là việc làm
mới cần phải có thời gian để phụ huynh suy nghĩ cân nhắc để có các phản ứng
đa chiều, tạo nhiều nguồn thông tin cho nhà trường.
- Để hoàn tất công tác phối kết hợp với các ban, ngành, cán bộ xóm thì
vấn đề tham mưu trong các cuộc họp mở rộng của xã là rất quan trọng, chúng tôi
đã đăng ký phát biểu tại hội nghị của xã, trong đó nhấn mạnh công tác hoạt
động trẻ vào bán trú. Vì vậy khi địa phương giao chỉ tiêu vận động cho xóm, thì
cán bộ xóm, chi hội phụ nữ sẵn sàng đồng tình vào cuộc quyết liệt với mình.
10


Địa phương xã Nga Giáp luôn quan tâm và ưu tiên cho công tác giáo dục
trong đó có những gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Chính vì vậy người cán bộ
quản lý phải biết tranh thủ, vận dụng tối đa sự chỉ đạo sát sao và sự đồng tình
ủng hộ của các ngành, các cấp trong toàn xã, bởi việc huy động trẻ vào bán trú ở
địa phương Nga Giáp không đơn thuần là sự nổ lực của nhà trường là có thể làm
được. Bởi vậy công tác tham mưu phải được đưa lên hàng đầu, và đây là một
việc làm thường xuyên và bất kỳ lúc nào cần sự chỉ đạo của lãnh đạo địa phương
trong việc xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch của nhà trường.
*Kết quả: Tôi đã thực hiện tốt công tác tham mưu với hội phụ nữ xã, xóm
và các ban nghành trong xã đồng thời cùng với các xóm trưởng đôn đốc, hỗ trợ
vận động phụ huynh. Phụ huynh đã đồng tình thống nhất phương án 1 nâng mức
tiền ăn của trẻ lên 14.000đ/ ngày, vượt kế hoạch đề ra và đã đạt 100% so với quy
định
Giải pháp 4: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và phối kết hợp với phụ
huynh trong công tác tổ chức chăm sóc, nuôi dưỡng tại trường.
Như ta đã biết trẻ em là hạnh phúc, tương lai của gia đình và của xã
hội . từ trước tới nay,gia đình luôn giữ vai trò hàng đầu là yếu tố quyết định,
đối với việc chăm sóc giáo dục trẻ trong độ tuổi mầm non. Chính vì thế Luật
giáo dục 2005 cũng đã nêu rõ nhà trường và gia đình phối kết hợp cùng kết
hợp để chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tạo môi trường thuận lợi để trẻ phát triển tốt
hơn, theo các lĩnh vực phát triển trong chương trình giáo dục mầm non.
Ngay từ đầu năm học tôi lên kế hoạch nội dung tuyên truyền cho nhà
trường và chỉ đạo giáo viên căn cứ vào kế hoạch của nhà trường để lên kế hoạch
nội dung tuyên truyền ở nhóm, lớp mình cho phù hợp.
Ban giám hiệu chịu trách nhiệm làm công tác tham mưu để thu hút tối đa
mọi nguồn lực. Trước hết tích cực tham mưu với cấp uỷ Đảng, chính quyền và
các đoàn thể để đưa chủ trương, mục tiêu , kế hoạch của trường về công tác huy
động trẻ bán trú ở trường Mầm Non đến từng cán bộ, Đảng viên và nhân dân.
Ví dụ: Gắn chỉ tiêu thi đua xóm, bình xét gia đình văn hoá,…
Để nâng cao nhận thức cho các bậc phụ huynh về tầm quan trọng của việc
cho trẻ ở lại bán trú, trẻ sẽ được chăm sóc, ăn ngủ theo khoa học, phù hợp với
đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, tạo điều kiện cho trẻ phát triển toàn diện về thể
chất và trí tuệ. Chúng tôi đã chỉ đạo cho mỗi giáo viên là một tuyên truyền viên
tích cực. Tuyên truyền ở mọi lúc mọi nơi và bằng nhiều hình thức phong phú
Ví dụ: Qua các góc tuyên truyền của nhóm, lớp, trực tiếp với phụ huynh,
thông qua các bậc phụ huynh với nhau: Nhằm làm cho số phụ huynh có tư tưởng
tiến bộ ủng hộ chủ trương kế hoạch của nhà trường, tuyên truyền cho những phụ
huynh có tư tưởng chậm tiến.
- Chỉ đạo viết bài truyền thông vào giờ đón trẻ, trả trẻ tại trường.
- Để mở rộng phạm vi tuyên truyền tôi kết hợp đài phát thanh của xã tuyên
truyền trên hệ thống truyền thanh. Ngoài ra tôi cùng với giáo viên ở từng địa bàn
luôn tranh thủ hoà nhập vào các cuộc họp xóm, họp phụ nữ để tuyên truyền
trong các tổ chức để mọi phụ huynh thấm nhuần và gửi con vào bán trú (Vấn đề
này đã được chúng tôi đề cập ở giải pháp 2)
11


- Mặt khác tôi cùng với các đồng chí trong ban giám hiệu, thường xuyên tổ
chức giao lưu văn nghệ, thể dục, thể thao với các đoàn thể trong xã, các xóm,
tạo nên sự gắn bó thân tình, từ đây sẽ thuận lợi hơn cho công tác tuyên truyền.
- Công tác tuyên truyền được thực hiện xuyên suốt từ lúc xây dựng kế
hoạch cho đến lúc triển khai và tổng kết kế hoạch.
- Khi đa số các bậc phụ huynh đã đồng tình gửi con, nhưng còn một số ít
gia đình ở Hanh gia và Ngoại 3, tôi và một giáo viên chủ nhiệm đến tận hộ gia
đình để động viên họ gửi con vào bán trú.
* Kết quả : 100% các gia đình đồng ý cho con ăn bán trú tại trường
Giải pháp 5: Tăng cường công tác đầu tư mua sắm cơ sở vật chất phục
vụ cho công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.
Cơ sở vật chất là điều kiện thiết yếu để tổ chức các hoạt động chăm sóc
nuôi dưỡng trẻ ở trường Mầm Non, Bởi vậy ngay từ cuối năm học 2017 -2018
tôi tham mưu với Hiệu trưởng thành lập đoàn kiểm kê toàn bộ cơ sở vật chất,
trang thiết bị, đồ dùng nhà trường, nắm được tình hình cụ thể về đồ dùng phục
vụ cho công tác chăm sóc nuôi dưỡng trên theo yêu cầu, tiêu chuẩn của ngành.
Từ đó tôi đề nghị với Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch tu sửa, mua sắm bổ sung
cơ sở vật chất, đồ dùng phục vụ cho công tác bán trú.
Kế hoạch mua sắm: Mua sắm bổ sung đồ dùng bán trú gồm: chiếu,
chăn,xạp giường… Mua sắm bổ sung đồ dùng nhà bếp gồm: Tủ nấu cơm bằng
ga, Hệ thống bếp ga dây dẫn ga công nghiệp, máy xay thức ăn, xoong nồi, bát I
nốc, đĩa, thìa, đóng lưới chắn côn trùng khu sơ chế …mua sắm bổ sung đồ dùng
vệ sinh, thùng đựng nước, thau, xô, khăn cho trẻ…vv

Hình ảnh: Tủ cơm ga và hệ thống khu sơ chế.
- Tu sửa cơ sở vật chất: Tu sửa hệ thống điện nước, nền nhà bếp, khu sơ chế
Biện pháp:
- Tham mưu với UBND xây dựng tu sửa những hạng mục lớn
- Làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục, kêu gọi sự ủng hộ của các tổ chức,
cá nhân, các bậc phụ huynh.
- Nhà trường thực hiện chi tiêu đúng mục đích, tiết kiệm, bảo quản tốt cơ
sở vật chất.
12


* Kết quả: Nhà trường cùng với Ban chấp hành phụ huynh và chính quyền
địa phương đã tu sửa hệ thống điện nước, nền nhà bếp, bếp nấu, khu sơ chế…
mua tủ cơm, giá bát, giá phơi khăn, giá để cốc, bát, thìa, khăn mặt... đầy đủ để
nhà trường thực hiện tốt công tác cho trẻ ăn bán bán trú đạt kết quả cao
Giải pháp 6: Tổ chức tốt công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ
theo chế độ sinh hoạt của trẻ ở trường mầm non.
* Công tác chăm sóc- nuôi dưỡng:
- Làm tốt công tác xây dựng thực đơn theo ngày, tuần, tháng, mùa.
Là quản lý song tôi luôn tìm tòi nghiên cứu học hỏi để làm sao bảo đảm chế
độ ăn cho trẻ đạt yêu cầu về năng lượng và cân đối các chất theo quy định chuẩn
của từng độ tuổi. Chỉ đạo xây dựng thực đơn phải căn cứ vào số tiền đóng góp của
phụ huynh.Đảm bảo số lượng và chất lượng bữa ăn, hợp đồng mua thực phẩm sạch
sẵn có ở địa phương, phụ huynh, GV. Xây dựng thực đơn cho trẻ nhà trẻ ăn 2 bữa
chính, 1 bữa phụ/ ngày, MG ăn 1 bữa chính, 1 bữa phụ/ ngày .
Ví dụ: Xây dựng thực đơn chuẩn
( Xem phụ lục 4)
- Chỉ đạo công tác mua, sơ chế, chế biến, nấu và chia thực phẩm
Ngay từ đầu năm học tôi cùng với tổ trưởng tổ nuôi dưỡng đi tham khảo thị
trường để tìm hiểu giá cả và chất lượng thực phẩm ở các cửa hàng, các phụ
huynh, GV, để đặt và làm hợp đồng mua thực phẩm sạch cho toàn trường như
hợp đồng: Mua gạo nếp, đậu các loại thịt, tôm, cá, nghêu, rau, trứng, chuối, sữa,
… Ngoài ra chú trọng việc chọn mua thực phẩm phải tươi ngon, nhằm đảm bảo
vệ sinh an toàn thực phẩm cũng như giá cả hợp lý.
Cùng với công tác chọn mua thực phẩm thì việc chế biến tực phẩm sao cho
phù hợp, phải đảm bảo từ khâu chuẩn bị, sơ chế đến chế biến theo quy trình 1
chiều từ bẩn đến sạch, từ sống đến chín. Chế biến phải phù hợp với độ tuổi,
khẩu vị ăn của trẻ để trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất và dễ tiêu hoá.
Để đảm bảo khẩu phần ăn cho trẻ thì việc chia thực phẩm cũng là việc làm
quan trọng. Vì vậy yêu cầu phải chính xác trong việc chia thực phẩm đủ số
lượng cho các nhóm, lớp.

Hình ảnh: Nhân viên nuôi dưỡng đang chế biến thực phẩm
13


* Chỉ đạo tốt công tác tổ chức bữa ăn và chăm sóc trẻ ngủ, vệ sinh
Như chúng ta đã biết: chăm sóc nuôi dưỡng là rất cần thiết, luôn đi đôi với
nhau. Bởi trong CS-ND có dạy, trong dạy có CS, ND, một cơ thể khoẻ mạnh
mới có điều kiện phát triển trí tuệ. Như người ta nói “trí tuệ phát triển trong cơ
thể khoẻ mạnh”. Chính vì thế mà chúng tôi những người làm công tác quản lý
phải lên kế hoạch chỉ đạo sát đúng, phù hợp để tất cả trẻ phải được chăm sóc
theo khoa học từ bữa ăn đến giấc ngủ.
Hơn ai hết cô giáo chủ nhiệm phải là người nắm bắt đặc điểm tâm,
sinh lý của từng trẻ để có cách chăm sóc trẻ cho phù hợp như: Tạo cảm giác ăn
ngon miệng, ăn hết suất và có thói quen lễ phép, vệ sinh trong giờ ăn thì cô giáo
phải biết tạo tình huống gây hứng thú cho trẻ như: Trước giờ ăn hoặc chờ chia
cơm cô cho trẻ đọc thơ có nội dung về giáo dục, lễ giáo như ăn biết mời…hay
giữ vệ sinh trong khi ăn hoặc giới thiệu các món ăn cho trẻ biết mỗi món ăn
cung cấp cho chất gì và có lợi cho cơ thể như thế nào? Nếu thiếu chất dinh
dưỡng thì có hại gì cho cơ thể từ đó tạo cảm giác ăn ngon miệng cho trẻ cũng
như kích thích một số trẻ ăn yếu.
Ngoài ra cô cần chú ý chăm sóc riêng đối với những trẻ kém ăn, ăn chậm,
động viên khuyến khích cho trẻ ăn hết xuất.
Ví dụ: Tôi chỉ đạo và hướng dẫn GV tổ chức cho trẻ rưa tay bằng xà
phòng dưới vòi nước chảy trước khi ăn (theo 7 bước)
Bước 1: Làm ướt hai bàn tay bằng nước sạch. Thoa xà phòng vào lòng bàn
tay. Chà xát hai lòng bàn tay vào nhau.
Bước 2: Dùng ngón tay và lòng bàn tay này cuốn và xoay lần lượt từng
ngón của bàn tay kia và ngược lại.
Bước 3: Dùng lòng bàn tay này chà xát chéo lên mu bàn tay kia và ngược
lại.
Bước 4: Dùng đầu ngón tay của bàn tay này miết vào kẽ giữa các ngón
của bàn tay kia và ngược lại.
Bước 5: Chụm 5 đầu ngón tay của tay này cọ vào lòng bàn tay kia bằng
cách xoay đi, xoay lại.
Bước 6: Xả cho tay sạch hết xà phòng dưới nguồn nước sạch. Lau khô tay
bằng khăn hoặc giấy sạch.

Hình ảnh: Trẻ đang rửa tay tại lớp
14


. Tổ chức một bữa ăn trên nhóm, lớp cho trẻ
+ Bước chuẩn bị trước khi ăn:
Chuẩn bị khăn mặt, bát, thìa, cốc uống nước đủ cho số lượng trẻ
trước khi chia thức ăn, cô giáo phải rửa tay bằng xà phòng, quần áo đầu
tóc, gọn gàng. Cô chia thức ăn và cơm ra từng bát, trộn đều cho trẻ ăn ngay, khi
thức ăn còn nóng không để trẻ ngồi đợi lâu.
+ Trong khi ăn: Cần tạo không khí vui vẻ, thoái mái,nói năng dịu dàng,
động viên trẻ ăn hết xuất của mình.
Cần quan tâm, chăm sóc đối với trẻ mới đến lớp. Nếu thấy trẻ ăn kém, cần
tìm hiểu nguyên nhân, báo cho nhà bếp, chăm sóc trẻ tốt hơn. Đối với trẻ xúc
cơm chưa thạo, ăn châm, hoặc biếng ăn, cô giáo có thể giúp trẻ xúc động viên
trẻ ăn nhanh hơn.Trong khi trẻ ăn phòng tránh trẻ hóc, sặc
+ Sau khi ăn: Trẻ dọn xếp bát, thìa mình vừa ăn vào nơi quy đinh, lau bàn cất
bàn ghế đúng nơi quy định uống nước lau miệng, lau tay, sau khi ăn, đi vệ sinh.

Hình ảnh: Giờ ăn trưa của trẻ tại lớp
. Tổ chức cho trẻ ngủ
Trước khi trẻ ngủ, cô bố trí cho trẻ ngủ sạch sẽ, yên tĩnh, thoáng mát về
mùa hè, ấm áp về mùa đông, phòng ngủ phải giảm ánh sáng bằng cách đóng bớt
một số cửa sổ và tắt bóng đèn.
Trong khi trẻ ngủ. Cô giáo trực quan sát, phát hiện, sử lý kịp thời các tình
huống sảy ra trong khi ngủ.
Về mùa hè cô dùng quạt điện chú ý tốc độ vừa phải, Mùa đông cô phải đủ
ấm cho trẻ, sau khi ăn xong không ép trẻ ngủ ngay, ..
Sau khi trẻ thức dậy, cô không cho trẻ dậy ngay mà cho trẻ tỉnh hẳn rồi làm
các động tác nhẹ nhàng trước khi ngồi dây. nhắc nhở tre khi tỉnh giấc nhè nhàng
cất gôi, xếp chăn, chiếu….
15


Chỉ đạo cho giáo viên rèn cho trẻ có kiến thức, kỹ năng, thói quen, rửa tay
trước khi ăn, sau khi đi vế sinh… và súc miệng, đánh răng sau khi ăn đối với trẻ
mẫu giáo. Với trẻ nhà trẻ làm vệ sinh cho trẻ và tập cho trẻ đi vệ sinh trước khi
đi ngủ để trẻ ngủ ngon giấc.

Hình ảnh: Giờ ngủ trưa của trẻ tại lớp
* Kết quả: 100% nhân viên thực hiện tốt từ khâu chọn TP, sơ chế, chế biện,
chia TP. GV tổ chức tốt bữa ăn, giấc ngủ và các thao tác vệ sinh cho trẻ.
Giải pháp 7: Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các hoạt động phục
vụ nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ.
Công tác kiểm tra là một hoạt động quản lý thường xuyên của BGH và là
một yêu cầu về đổi mới công tác quản lý hiện này. Kiểm tra là chức năng của
nhà quản lý, giúp nhà QL phát hiện được thiếu sót, hạn chế, bất cập trong thực
hiện nhiệm vụ của các tổ chuyên môn và GV, NV. Qua kiểm tra để biết rõ kế
hoạch, mục tiêu đề ra thực tế đã dạt được đến đâu, như thế nào. Từ đó tìm ra
biện pháp trong công tác chỉ đạo, điều hành, đôn đốc, khắc phục, động viên,
giúp đỡ, uốn nắn và điều chỉnh cho phù hợp, nhằm nâng cao năng lực nghiệp vụ
cho đội ngũ GV,NV và chất lượng toàn diện về CS-ND-GD trẻ.
Đối với việc nuôi dưỡng trẻ ở trường mầm non việc kiểm tra của người
quản lý là hết sức cần thiết vì đây là công việc hết sức tỷ mỹ, dễ sai sót và có
những sai sót khó phát hiện. Vì vậy cần có kế hoạch kiểm tra, sử dụng nhiều
hình thức kiểm tra (định kỳ, đột xuất…) và phải phối hợp với các lực lượng
khác trong trường như công đoàn, thanh tra, kế toán để tiến hành kiểm tra và để
tạo niềm tin cho phụ huynh.
Ví dụ: Kiểm tra bộ phận cô nuôi: Kiểm tra khâu chọn mua thực phẩm,
khâu chế biến thực phẩm và sự công bằng trong chia thức ăn cũng như giờ ăn đã
đúng với quy định chưa, việc lưu mẫu thức ăn có thường xuyên không? Công
khai tài chính có hợp lý không?
+ Kiểm tra giáo viên về việc tổ chức bữa ăn cho trẻ và hướng dẫn trẻ vệ
sinh cũng như việc chăm sóc trẻ ngủ.
16


- Trước hết kiểm tra về khâu chuẩn bị bàn ăn, khăn lau, nước uống, phản
ngủ, chăn, chiếu, gối có đảm bảo cho trẻ không?
- Kiểm tra việc chăm sóc trẻ ăn có tốt không? Trẻ có ăn hết suất không? Có
lồng giáo dục vào bữa ăn chưa? Đã có biện pháp hay chăm sóc với những trẻ ăn
chậm hay kén ăn chưa? Giáo viên đã có thủ thuật hay sáng kiến gì để trẻ ngủ
nhanh, ngủ sâu, ngủ đủ giấc chưa?
Sau những lần kiểm tra chúng tôi ghi lại những kết quả chính để theo dõi
tiếp quá trình thực hiện công việc tiếp theo. Những kết quả này cũng là cơ sở để
đánh giá thi đua khen thưởng hay kỹ luật.
Kiểm tra là công việc đã khó, kiểm tra việc nuôi dưỡng trẻ lại càng khó
hơn. Chính vì vậy đòi hỏi người cán bộ quản lý phải có nhiều kinh nghiệm về kỹ
năng kiểm tra và kinh nghiệm thực tế trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.
Kiểm tra càng kỹ càng phát hiện ra những sai sót dù nhỏ nhất. Vì vậy người
quản lý luôn đi sát thực tế để nắm vững công việc của từng bộ phận có nhiều
kinh nghiệm, có ích cho công tác kiểm tra của mình.
Kết quả: 100% tổ chuyên môn, giáo viên thực hiện tốt nhiệm vụ từ khâu
chọn thực phẩm, tổ chức cho trẻ ăn, ngủ,vệ sinh đúng, đủ, khoa học, không để
sảy ra ngộ độc thực phẩm trong nhà trường.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Sau một năm tôi đã áp dụng những giải pháp nêu trên vào trong công tác
chỉ đạo, cuối năm học 2018-2019 đã đạt được kết quả như sau:
* Đối với nhà trường:
+ Kết quả đánh giá công tác VSATTP nhà trường (tháng 4 năm 2019)
( Xem phụ lục 5)
+ Kết quả đánh giá GDDD- VSATTT đối với từng cán bộ giáo viên, nhân
viên (tháng 4 năm 2019)
( Xem phụ lục 6)
+ Kết quả trên trẻ: Tổng số 273 (trong đó nhà trẻ 58 :MG: 215 )
Độ
tuổi

18-24T
25-36T
Tổng

Số trẻ
huy
động

Số
trẻ
ăn
bán
trú

Bảng 1: Kết quả theo dõi biểu đồ tăng trưởng của trẻ.
Kết quả chăm sóc sức khoẻ
Cân nặng

Chiều cao

Kênh
SDD thể
Thừa cân
Kênh
SDD thể
BT
nhẹ cân
béo phì
BT
thấp còi
Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ Số Tỷ
Trẻ
%
Trẻ
%
Trẻ
%
Trẻ
%
Trẻ lệ %
Nhà trẻ

17

17

17

100

0

0

0

17

41

41

40

100
98,
3

1

0,5

0

39

58

58

CN theo CD/ chiều cao

57

1

1,7

0

0

56

Số
trẻ
được

theo
dõi

K
BT

Suy
DD
thể
GC

TL
SD
D
thể
GC
(%)

Thừa
cân,
béo
phì

0
0
0

0
0
0

TL
thừa
cân,
béo
phì
(%)

2

0

41

41

96,
6

2

3,4

58

58

0
0
0

63

63

0

0

0

0

0
0
0

0
0
0

0
0
0

0
0
0

0

0

0

0

100

0

0

17

17

0
0
0

Mẫu giáo
4 tuổi
5 tuổi
Tổng

74

71

95,9

3

4.1

0

69

93,2

5

10.
6
6.8

75

75

75

0

0

0

75

0

75

215

209

6

2,8

0

203

12

5,6

209

70
68
185

Tổng

273

273

266

7

2.6

0

259

100
94.
4
94,9

0

215

0
97.
2
97,4

14

5,1

266

233

3 tuổi

66

66

63

95.5

3

4.5

0

59

89.4

7

74

71

17


chung

Bảng 2: Kết quả chăm sóc, khám sức khỏe trẻ:

Kết quả khám bệnh
Độ tuổi


sạch

Tỷ
lệ
%

18-24T
25-36T
Tổng NT

17
41
58

100
100
100



Hô hấp

cần

Tỷ
lệ
%

Số
trẻ

17
38
55

82,4
92,8
94,8

0
0
0

chuyên

Tỉ
lệ
%

Sâu răng

Giun

Ngoài da

Tổng số trẻ
mắc bệnh

Số
trẻ

Tỉ lệ
%

Số
trẻ

Tỉ
lệ
%

Số
trẻ

Tỉ
lệ
%

Số
trẻ

Tỉ lệ
%

0
0
0

0
0
0

0
0
0

0
0
0

0
0
0

0
0
0

0
0
0

0
0
0

Nhà trẻ
0
0
0

Mẫu giáo
3 tuổi
4 tuổi
5 tuổi
Tổng
MG
Tổng
chung

66
74
75

100
100
100

64
72
74

97
97,3
98,7

0
0
0

0
0
0

2
5
7

0
0
0

0
0
0

0
0
0

0
0
0

0
0
0

0
0
0

0
0
0

215

100

210

97,7

0

0

14

0

0

0

0

0

14

6,5

273

100

265

97,1

0

0

14

5,1

0

0

0

0

14

5,1

Qua thời gian thực hiện công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ ở trường, chúng
tôi thấy trẻ khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, hoạt bát, thể lực phát triến tốt, cơ thể phát
triển cân đối hài hoà, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng xuống còn dưới 7% và cuối
năm giảm xuống dưới 3,% so với đầu năm.
* Đối với bản thân: Đã nâng cao được năng lực chuyên môn, nghiệp vụ,
kiến thức, kỹ năng sư phạm. Tích luỹ được một số hình thức, biện pháp chỉ đạo
phù hợp với thực tế của từng đối tượng trẻ, giáo viên, nhà trường, địa phương…
* Đối với đồng nghiệp: Là một trong những tài liệu để cho các đồng
nghiệp có thể sử dụng để tham khảo và ứng dụng vào trong quá trình chỉ đạo và
tổ chức thực hiện ở đơn vị mình cho phù hợp.
* Đối với nhà trường: Qua một năm áp dụng những giải pháp trên, chất
lượng nuôi dưỡng, chăm sóc của nhà trường tăng lên rõ rệt, số cháu ra lớp ngày
càng đông, cuối năm học đã tăng lên 27 cháu so với đầu năm. Công tác vệ sinh
an toàn thực phẩm được các đoàn kiểm tra đánh giá tốt. SKKN của tôi được Hội
đồng khoa học trường đánh giá cao, dùng làm tài liệu lưu tại trường và được nhà
trường triển khai cho hội đồng sư phạm cùng tham khảo, học tập, rút kinh
nghiệm.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
* Kết luận chung:
Như chúng ta đã biết trẻ ở lứa tuổi mầm non, các cháu rất cần sự chăm sóc
thương yêu, gần gủi và quan tâm đến tre, một cách thật thà không tính toán. Cho
nên với tấm lòng mến trẻ, coi con trẻ như con của mình mà cô giáo là người mẹ
thứ 2 của trẻ. Chính vì thế côluôn luôn bên trẻ vui đùa cùng trẻ, trẻ em như một
tờ giấy trắng, luôn tin tưởng vào cô, cô luôn là niềm tin vững chắc của trẻ luôn
18


yêu thương tạo không khí, vui tươi phấn khởi cho trẻ để trẻ thích đển trường,
đến lớp. Con người ta cần ăn để mà sống là một trong nhu cầu thiết yếu nhất của
con người, nhưng ăn như thế nào? Ăn uống phải khoa học ăn đủ lượng đủ chất,
định lượng kalo phù hợp với từng độ tuổi từng giai đoạn vì vậy đối với trẻ mầm
non chúng ta phải chú ý nhất về vấn đề ăn, ngủ, vệ sinh của trẻ vì trẻ đang trên
đà phát triển toàn diện nên chúng ta là nhà giáo dục cần phải cung cấp cho trẻ
nhiều hành trang để trẻ vững bước hơn.
* Bài học kinh nghiệm: Để làm đươc công tác huy động số lương trẻ vào
bán trú đạt kết quả như đã nêu trên, Bản thân tôi đã rút ra được những kinh
nghiệm sau:
- Làm tốt công tác tham mưu, chú ý Phương án tham mưu bằng văn bản
các giải pháp mang tính cụ thể.
- Xây dựng kế hoạch cụ thể rõ ràng, bám chắc vào tình hình thực tiễn của
nhà trường, địa phương và của phụ huynh.
- Làm tốt công tác tuyên truyền huy động mọi nguồn lực cùng tham gia vào
công tác huy động số lượng trẻ vào bán trú.
- Xác định được thời điểm để tổ chức thực hiện đồng loạt, dứt điểm và
quyết liệt.
- Đẩy mạnh việc nâng cao chất lượng chắm sóc nuôi dưỡng trẻ ở trường
mầm non.
Trên đây là những kinh nghiệm của bản thân về công tác huy động trẻ vào
bán trú, sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, phạm vi nghiên cứu còn hạn hẹp.
Rất mong nhận được sự góp ý của hội đồng khoa học các cấp!
* Kiến nghị:
Đề xuất với Phòng giáo dục thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng,
chuyên đề về thực hiện công tác nuôi dưỡng và VSATTP cho các cán bộ quản lý
và giáo viên đi học tập .
Đề nghị BGH nhà trường tham mưu với các cấp lãnh đạo địa phương mua
sắm bổ sung thêm trang thiết bị, đồ dùng phục vụ trẻ ăn bán trú đảm bảo theo
quy định
Trong quá trình thực hiện đề tài này chắc chắn không thể tránh khỏi những
thiếu sót. Rất mong được sự quan tâm đóng góp ý kiến của Ban giám hiệu nhà
trường và các đồng nghiệp , giúp tôi thực hiện tốt về hơn kinh nghiệm quản lý,
huy động trẻ ăn bán trú tại trường nói riêng và các nhiệm vụ khác nói chung.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Nga Giáp, ngày 06 tháng 4 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN
của mình viết, không sao chép
nội dung của người khác.
Người viết
Mai Thị Thủy
19


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chương trình giáo dục mầm non (Ban hành kèm thông tư số 17/ 2009/
TT- BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng bộ Giáo dục và Đào tạo
và Thông tư số 28/2016/TT-BDGĐT ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Bộ trưởng
Bộ GD&ĐT sửa đổi, bổ sung một số nội dung của chương trình giáo dục mầm
non); NXB Giáo dục Việt Nam (Xuất bản tháng 8/2017): “Mục tiêu giáo dục
mầm non là giúp trẻ em phát triển thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình
thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một;
hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và
phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa
tuổi; khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho
việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời” [1 ] trang 3
2. Giáo trình Giáo dục học trẻ em của NXB GDVN; biên Trịnh Dân- Đinh
Văn Vang: “Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc
dân có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và
phát triển nhân cách con người”[1]. Trang1. “Hoạt động với đồ vật là hoạt
động của trẻ với thế giới đồ vật dưới sự hướng dẫn của người lớn, nhằm lĩnh
hội chức năng của đồ vật và phương thức sử dụng tương ứng. Từ đó trẻ lĩnh hội
được những kinh nghiệm lịch sử- xã hội chứa đựng trong các đồ vật , làm cho
hoạt động của đồ vật của trẻ ngày càng giống với cách sử dụng của người lớn.”
[16].
3. Giáo trình Tâm lý học trẻ em của NXB GDVN; Tác giả Nguyễn Ánh
Tuyết “Trong sự phát triển toàn diện về các mặt của trẻ thì đây là giai đoạn bắt
đầu của mọi hoạt động. Do vậy trong quá trình tổ chức các hoạt động CS-NDGD, trẻ còn mắc một số hạn chế như: Vốn từ của trẻ chưa phong phú, khả năng
nhận thức, ngôn ngữ giao tiếp, sự chú ý, ghi nhớ có chủ định, tính tích cực, chủ
động tham gia vào các hoạt động còn hạn chế.Trẻ luôn muốn ăn những thức
4, Hướng dẫn thực hiện chương trình GDMN


PHỤ LỤC 1: KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM ĐẦU
NĂM HỌC( THÁNG 9 NĂM 2018)
Tổng điểm: 100 điểm
Điểm
quy
định

Điểm
tự
cho

1- Công tác quản lý, triển khai thực hiện các hoạt động của BGH:
- Có kế hoạch triển khai chuyên đề trong năm và các năm tiếp theo
- Tổ chức thực hiện theo đúng kế hoạch và nề nếp.
- Tập huấn cho 100% số giáo viên về dinh dưỡng và VSATTP
- 100% nhóm, lớp có góc tuyên truyền giáo dục cha mẹ với nội dung
dinh dưỡng sức khoẻ và VSATTP.
- Cứ 20 % số nhóm, lớp không có góc tuyên truyền - trừ 1 điểm.
- 100% số nhóm lớp thực hiện tốt nội dung tuyên truyền phổ biến kiến
thức về dinh dưỡng và sức khoẻ cho các bậc cha mẹ.
- Cứ 20 % số nhóm, lớp thực hiện chưa tốt trừ 1 điểm.
- Tổ chức sinh hoạt chuyên đề và tham quan học tập.
- Đảm bảo VSATTP ( Theo bảng kiểm đánh giá về VSATTP trong các
cơ sở DGMN ) - Khá 12đ
- Đầu tư CSVC cho chuyên đề đạt hiệu quả tốt
- Có tổ chức sưu tầm, biên soạn, sáng tác trò chơi, câu đố, thơ ca hò
vè, truyện có nội dung giáo dục dinh dưỡng và sức khoẻ.
- Sưu tầm tuyển chọn thực đơn tốt phục vụ cho bữa ăn của trẻ
- Tổ chức tham gia các hội thi về dinh dưỡng và sức khoẻ.
2- Kết quả nhóm lớp:
- 100% nhóm lớp đạt loại khá tốt (Cứ 10% nhóm lớp không đạt khá
tốt trừ đi 4 điểm ).
3- Điểm khuyến khích:
- Bếp đảm bảo quy trình 1 chiều, sạch đẹp, đảm bảo vệ sinh ATTP
- 100% số nhóm lớp có đủ đồ dùng, đồ chơi giáo dục dinh dưỡng và
sức khoẻ
- Tự làm đồ dùng, đồ chơi giáo dục dinh dưỡng
- ít nhất 1 giáo viên có SKKN liên quan tới nội dung hoạt động chủ đề
được công nhận từ cấp Huyện trë lªn
- Có ít nhất 1 giáo viên giỏi cấp Huyện chuyên đề dinh dưỡng và vệ
sinh ATTP trở lên.

50
2
2
2

2
2
2

5

5

5

5

2

2

15

15

9

9

2

1

2
4
40

2
4

40

36

10
2

2

2

2

2

2

2

2

0

0

Tổng điểm :

100

91

Nội dung

Xếp loại:

Tốt


PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ GDDD- VSATTT ĐỐI VỚI
TỪNG CÁN BỘ GV, NHÂN VIÊN ( THÁNG 9 NĂM 2018)

TT

Họ và tên

1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
14
15
16
17
18
19
20

Vũ Thị Từ
Mã Thị Nguyệt
Mai Thị Thành
Nguyễn T Đào
Vũ Thị Hiền
Trịnh Thị Nụ
Lê Thị Ngọc
Trịnh T Hường
Ng Thị Mức
Mai Thị Hường
Trịnh T Nguyên
Mai Thị Thìn
Nguyễn Thị Phượng
Mai Thị Mùi
Trịnh Thị Anh
Nguyễn T Mai
Mai Thị Thủy
Nguyễn Thị Hoa
Tổng cộng
Tỷ lệ

Điều
kiện
thực
hiện
(25
điểm)

Nội dung,
phương
pháp tổ
chức thực
hiện
GDDD
của GV(35
điểm)

Tổ
chức
tại
nhóm
lớp
(15
điểm)

Kết
quả
nhóm
lớp
(25
điểm)

Tổng
điểm
(100
điểm )

25
24
24
24
24
24
24
23
24
24
24
24
23
24
24
24
24
24

32
27
28
27
28
27
27
26
29
28
27
28
27
26
27
27
26
26

15
14
14
15
14
14
14
14
15
14
14
14
15
14
14
15
14
14

25
25
25
24
25
25
25
24
25
25
25
25
25
24
25
24
24
24

97
90
92
90
91
90
90
87
93
91
91
91
90
88
90
90
88
88

Tốt
90
điểm
trở lên

Xếp loại
Kh¸
TB
70- 89
điểm

5069
điểm

x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
14
70

x
x
5
25

1
5

Yếu
< 50
điểm


PHỤ LỤC 3:

KẾ HOẠCH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG TRẺ
NĂM HỌC 2018- 2019

Căn cứ công văn số 28/SGD&ĐT-GDMN ngày 14 tháng 9 năm 2017 V/v
Hướng dẫn thực hiện chuyên môn cấp học Mầm non từ năm học 2018 - 2019
Căn cứ công văn số 01/PGDĐT-GDMN ngày 20 tháng 9 năm 2017 "Về
việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ GDMN năm học 2018 - 2019 của phòng
Giáo dục và Đào tạo Huyện Nga Sơn
Căn cứ vào kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học 2018 - 2019 trường mầm
non Nga Giáp xây dựng kế hoạch thực hiện công tác chăm sóc - nuôi dưỡng trẻ
năm học 2018- 2019 trong trường như sau,
I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH.
1/ Thuận lợi:
- Được sự quan tâm và chỉ đạo của phòng Giáo dục và đào tạo Huyện Nga
sơn sự quan tâm của trạm y tế xã Nga Giáp trung tâm y tế Huyện Nga sơn
- Đội ngũ cán bộ giáo viên trong trường nhiệt tình, tận tụy với nghề, có ý
thức trách nhiệm trong công việc.
- Cơ sở vật chất thiết bị đồ dùng đảm bảo. Có môi trường chăm sóc, giáo
dục tốt, ổn định trong nhiều năm.
- Phụ huynh quan tâm đến công tác chăm sóc - nuôi dưỡng trẻ của nhà
trường.
- 100% trẻ đến trường ăn bán trú tại trường.
- Trường có 01 nhân viên y tế nên hỗ trợ công tác chăm sóc, theo dõi sức
khỏe cho trẻ được tốt hơn.
2/ Khó khăn:
- Cơ sở vật chất đã có xong diện tích không phù hợp với số lượng từng khu.
Nhà bếp khu trung tâm quá nhỏ so với tổng số học sinh hiện có: 233 trẻ/16m2
- Một số phụ huynh còn bận rộn chưa quan tâm đến kiến thức dinh dưỡng
cho trẻ.
II. NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM
1. Nâng cao chất lượng nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe trẻ, đảm bảo vệ
sinh an toàn thực phẩm cho trẻ. Đảm bảo an toàn tuyệt đối về thể chất và tinh
thần, phòng trách tai nạn thương tích cho trẻ: 100%.
2. 267/267đạt 100 % trẻ được khám sức khoẻ định kỳ 2 lần/năm và cân, đo
theo dõi sức khoẻ 3 lần/năm với trẻ nhà trẻ 24 tháng tuổi trở lên và trẻ mẫu giáo.
Giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân xuống dưới 7 %; Thể thấp còi
xuống dưới 7%
Rèn 100% trẻ có thói quen vệ sinh cá nhân sạch sẽ, các hành vi ứng xử
phù hợp với các hoạt động.
3. Bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cô nuôi trong nhà
trường biết cách phòng chống dịch bệnh, biết cách phòng tránh tai nạn thương
tích và sơ cứu tại chỗ khi trẻ sảy ra tai nạn.
4. Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý chỉ đạo chăm sóc
nuôi dưỡng.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×