Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi ở trường MN nga thành

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGA SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO
DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI
TRƯỜNG MẦM NON NGA THÀNH, HUYỆN NGA SƠN,
TỈNH THANH HÓA.

Người thực hiện: Phạm Thị Bảy
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường mầm non Nga Thành
SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn

THANH HÓA, NĂM 2019


MỤC LỤC
Tên đề mục

1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.3. Các giải pháp và tổ chức thực hiện
2.3.1: Tích cực tự học, tự tìm tòi, bồi dưỡng để không ngừng nâng
cao kỹ năng sư phạm, đúc rút kinh nghiệm và chia sẻ với đồng nghiệp
để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ đạt hiệu quả.
2.3.2: Lựa chọn các nội dung giáo dục kỹ năng sống phù hợp để dạy
trẻ trong các chủ đề.
2.3.3: Quan tâm chú trọng phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ.
2.3.4: Rèn kỹ năng thích nghi với cuộc sống sinh hoạt hàng ngày
trong môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh trẻ.
2.3.5: Thường xuyên rèn kỹ năng tự chăm sóc, tự phục vụ và bảo vệ
bản thân khi gặp những tình huống bất ngờ có thể xảy ra.
2.3.6: Tạo điều kiện để trẻ được thực hành trải nghiệm phát triển kỹ
năng hoạt động theo nhóm và khả năng hợp tác thông qua các hoạt
động và ngày hội ngày lễ của trẻ.
2.3.7: Tích cực phối kết hợp với phụ huynh, tạo các tình huống bất
ngờ để trẻ được thực hành trải nghiệm thường xuyên.
2.4. Hiệu quả các giải pháp.
3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận
3.2. Kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Danh mục sáng kiến
Phụ lục

Trang
1
1
2
2
2
2
2
3
4
4
6
8
10
12
13
17
18
19
19
20


1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài:
Như chúng ta đã biết giáo dục kĩ năng sống cho trẻ đang là nhu cầu cấp
thiết đối với thế hệ trẻ và đối với trẻ mầm non. Bởi đây là giai đoạn đặt nền
móng đầu tiên để trẻ tự tin bước vào cuộc sống và các cấp học phổ thông. Nếu
giáo dục kỹ năng sống tốt cho trẻ thì trẻ sẽ tích cực, chủ động, sáng tạo, tự tin,
vững vàng trước mọi thử thách. Từ đó, trẻ phát triển toàn diện và bền vững sau
này. Vì vậy, trong mục tiêu giáo dục và đào tạo ghi rõ hình thành cho trẻ những
cơ sở ban đầu của nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa: Khỏe mạnh,
nhanh nhẹn, phát triển hài hòa, cân đối, tự tin, sáng tạo, biết quan tâm, nhường
nhịn, giúp đỡ mọi người, biết yêu thích và giữ gìn cái đẹp, thông minh, ham hiểu
biết, thích khám phá, và trẻ em là niềm hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai
của dân tộc. Việc bảo vệ và chăm sóc trẻ em là trách nhiệm của xã hội và của
mỗi gia đình: “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” [1]. Giáo dục trẻ ngay từ lứa
tuổi mầm non, góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ sau
này. Bác Hồ nói: “Không có giáo dục thì không nói gì đến kinh tế văn hóa” [2].
Sản phẩm của giáo dục là con người mà con người là mục tiêu, động lực của sự
phát triển đất nước trong tương lai đó chính là thế hệ trẻ. Bậc học mầm non là
nền tảng vững chắc để phát triển thế hệ tương lai của đất nước.
Chính vì vậy, Việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ đóng một vai trò quan
trọng và rất cần thiết để hình thành và phát triển tâm hồn trẻ thơ một cách có
định hướng, giúp trẻ biết quý trọng bản thân mình, từ đó nuôi dưỡng những giá
trị cuộc sống, giúp trẻ cân bằng cuộc sống trong các lĩnh vực: Nhận thức, thể
chất, trí tuệ và thẩm mỹ, từ đó xây dựng cho trẻ những kỹ năng sống biết hòa
nhập với môi trường xung quanh.
Kỹ năng sống là những kỹ năng cần thiết cho hành vi đẹp, lành mạnh, là
chiếc chìa khóa vàng cho sự sống còn, sự phát triển và sự thành công của mỗi
con người. Có thể nói “Kỹ năng sống chính là phương tiện không thể thiếu để
giúp trẻ tích cực, chủ động, sáng tạo, tự tin vững vàng trước mọi khó khăn thử
thách” [3]. Dạy kỹ năng sống cho trẻ là dạy những thói quen sinh hoạt rất
thường ngày trong giao tiếp và ứng xử trẻ với con người và sự vật xung quanh
trẻ. Đó cũng là những cảm nhận, những cảm xúc của con người trước sự thay
đổi của môi trường xung quanh.
Là giáo viên mầm non tôi luôn quan tâm, gần gũi, động viên, khích lệ, nắm
vững những đặc điểm tâm sinh lý của trẻ. Thực tế tại lớp mẫu giáo (5 - 6 tuổi ),
Các cháu rất mạnh dạn, tự tin, thích đến trường lớp và thích tham gia vào các
hoạt động.... Song, để trẻ có kỹ năng sống tự tin trong môi trường tập thể thì còn
nhiều hạn chế: Chẳng hạn như kỹ năng giao tiếp với mọi người xung quanh; kỹ
năng học tập và làm việc theo nhóm bạn trong lớp, kỹ năng thích nghi với môi
trường mới còn nhiều bỡ ngỡ và quan trọng là kỹ năng tự giải quyết các vấn đề
thực tế, kỹ năng tự phục vụ của trẻ còn thiếu chủ động. Bởi trẻ được sự quan
tâm, nuông chiều, bao bọc rất lớn của bố mẹ.... Một số trẻ chưa tự mặc quần áo,
tự cất đồ dùng khi đến lớp, tự xúc ăn, đánh răng, rửa mặt.... Do đó, cần phải làm
1


gì để hình thành kỹ năng sống tốt nhất cho trẻ là điều mà bản thân tôi luôn băn
khoăn và suy nghĩ. Qua quá trình cho trẻ trải nghiệm tôi thấy trẻ rất hứng thú,
tích cực tham gia mọi hoạt động. Tôi quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu
giáo 5 - 6 tuổi Trường Mầm Non nga Thành, Huyện Nga Sơn, Tỉnh Thanh
Hóa”. Làm đề tài nghiên cứu trong suốt năm học qua.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Nhằm cải tiến không ngừng nâng cao chất lượng hình thành và củng cố cho
trẻ những kỹ năng cơ bản trong cuộc sống hàng ngày tại trường mầm non, từ đó
giúp trẻ có thêm vốn kinh nghiệm, được trải nghiệm, được tích lũy để làm cơ sở
cho trẻ có khả năng lĩnh hội những giá trị của cuộc sống, của con người giúp trẻ
được phát triển toàn diện về các mặt đức, trí, thể, mỹ....
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi, Trường Mầm Non
Nga Thành - Huyện Nga Sơn - Tỉnh Thanh Hóa.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, Tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp quan sát sư phạm.
- Phương pháp dùng lời.
- Phương pháp thực hành trải nghiệm tại nhóm lớp.
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu.
- Phương pháp phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận.
Dạy kỹ năng sống cho trẻ là một nội dung giáo dục vô cùng quan trọng và
cần thiết đối với chúng ta, dạy kỹ năng sống cho trẻ là nhằm giúp trẻ có những
kinh nghiệm trong cuộc sống sau này của trẻ, trẻ biết được những điều mình nên
làm và những điều mình không nên làm, trẻ biết được điều hay lẽ phải, biết được
cái thiện, cái ác hướng tới chân, thiện, mỹ. Khi trẻ đã có kỹ năng sống ngay từ
buổi đầu đời, sẽ là hành trang tiếp bước trong tương lai của trẻ.
Câu thành ngữ: “Tiên học lễ, hậu học văn” của cha ông ta từ ngàn xưa đã
để lại đến bây giờ vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn. Lễ phép là nét đẹp văn hóa
được đặt lên hàng đầu khi đánh giá về một con người. Trong thời đại hiện nay,
sự phát triển của kinh tế - xã hội đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối
với hệ thống giáo dục, đòi hỏi nền giáo dục phải đào tạo ra những con người
“Phát triển về trí tuệ, cường tráng về thể lực, phong phú về tinh thần, trong sáng
về đạo đức”[4]. Trong đó giáo dục kỹ năng sống là cốt lõi của nền tảng giáo dục.
Trẻ lứa tuổi mầm non là lứa tuổi đang hình thành và phát triển về mọi mặt,
đặc biệt với trẻ 5- 6 tuổi, nhận thức cũng như về mặt giao tiếp, khả năng làm
việc theo nhóm và ý thức tự biết tham gia vào các hoạt động cùng với các bạn
trong lớp còn nhiều hạn chế. Do sự phát triển nền kinh tế thị trường nhiều gia
đình không có thời gian để trò chuyện vui chơi cùng con hoặc hạn chế việc tiếp
xúc của con với mọi người xung quanh dẫn đến một số trẻ bị tự kỷ, thiếu tự tin,
2


không mạnh dạn khi tham gia các hoạt động cùng các bạn trong lớp và trẻ có thể
còn chưa tự mình làm một số việc đơn giản như tự thay quần áo, đánh răng, rửa
mặt....Vì vậy, “Việc dạy kỹ năng sống cho trẻ đang trở thành vấn đề cấp bách và
cần thiết trong hệ thống giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng” [5].
Từ những cơ sở lý luận trên là một giáo viên phụ trách lớp 5 - 6 tuổi, Bản
thân tôi nhận thấy rằng phải tìm tòi, học hỏi, đúc rút kinh nghiệm, nâng cao chất
lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Nhằm phát triển khả năng giao tiếp, khả
năng thích nghi với cuộc sống sinh hoạt, với môi trường tự nhiên và xã hội. Trẻ
biết tự phục vụ và tự bảo vệ bản thân, biết giải quyết những vấn đề cần thiết mà
trẻ cần làm. Từ đó nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ góp phần thực
hiện nhiệm vụ giáo dục chung của nhà trường.
2.2. Thực trạng của vấn đề:
Quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở lớp tôi
gặp những thuận lợi và khó khăn sau:
a. Thuận lợi:
- Trường mầm non Nga Thành nằm trong vùng có điều kiện kinh tế tương
đối ổn định. Nhân dân phần lớn sinh sống bằng nghề sản xuât nông nghiệp, kinh
doanh, Nên trường được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất.
- Ban giám hiệu cũng như đồng nghiệp luôn cố gắng hoàn thành tốt mọi kế
hoạch của nhà trường trong việc nâng cao sự phát triển nhận thức của trẻ với các
hoạt động của trẻ ở trường nói chung và giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở lớp nói
riêng.
- Trẻ đi học chuyên cần, trẻ khỏe mạnh nhanh nhẹn, tích cực tham gia vào
các hoạt động của lớp.
- Bản thân là một giáo viên trẻ, tôi nắm vững chuyên môn, có nhiều năm
kinh nghiệm giảng dạy, luôn nhiệt tình, yêu nghề mến trẻ, tâm huyết với nghề
ham học hỏi nâng cao chuyên môn nghiệp vụ.
- Đa số phụ huynh rất quan tâm đến việc học tập của các cháu, trong đó sự
phối kết hợp chặt chẽ giữa giáo viên và phụ huynh trong việc giáo dục kỹ năng
sống cho trẻ luôn được phụ huynh ủng hộ và thống nhất cao.
b. Khó khăn:
Bên cạnh nhưng thuận lợi nêu trên trong quá trình giáo dục trẻ tôi còn gặp
không ít những khó khăn sau:
- Trang thiết bị hiện đại chưa được đầu tư đầy đủ và đồng bộ.
- Số lượng trẻ nam trong lớp tương đối đông chiếm 2/3 tổng số trẻ cả lớp nên
việc rèn các kỹ năng sống cho trẻ sẽ gặp nhiều khó khăn.
- Trẻ bị ảnh hưởng bởi cuộc sống hiện đại như: Internet, tivi, các trò chơi
điện tử...
- Trẻ được sống trong môi trường quá bao bọc khiến trẻ quen dựa dẫm,
không có tính tự lập, ích kỷ, lãnh cảm với môi trường xung quanh.
- Trẻ chưa biết tự bảo vệ mình trước những tình huống nguy hiểm và nơi
nguy hiểm.
3


- Trong giao tiếp còn thiếu tự tin, khả năng thuyết phục chưa mạnh dạn:
Nói nhỏ, nói trống không, chưa biết nói lời cảm ơn, xin lỗi…
- Phần lớn bố mẹ của các cháu làm ruộng chú trọng vào phát triển kinh tế,
lo làm giàu nên việc quan tâm đến con em còn hạn chế. Bên cạnh đó vì mục tiêu
của giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 nên số con trong mỗi gia đình ít đi, trẻ ngày càng
được nuông chiều thái quá khiến cho việc rèn kỹ năng sống cho trẻ bi lệch lạc.
Một số các cháu do bố mẹ đi làm xa phải sống ở nhà với ông bà nên việc giáo
dục rèn luyện các cháu về kỹ năng sống và giao tiếp còn hạn chế.
c. Kết quả thực trạng:
Với thực trạng trên, để áp dụng các giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ
tôi đã tiến hành khảo sát theo các nội dung về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở
lớp (5 - 6 tuổi). Cụ thể như sau:
Bảng 1: Kết quả khảo sát đầu năm học 2018 - 2019:( Tháng 9 năm 2018 )
(Xem phụ lục I. )
Từ kết quả khảo sát trên cho thấy kỹ năng sống của trẻ trong môi trường
mầm non còn có những hạn chế nhất định. Tôi đã có kế hoạch và đề ra các giải
pháp sau:
2.3. Các giải pháp và tổ chức thực hiện:
Khi xây dựng một toà nhà cao tầng thì việc xử lý nền móng là hết sức quan
trọng. Mà nền móng ngôi nhà lại là phần nằm sâu trong lòng đất, người ta chỉ
nhìn thấy những tầng cao ở trên. Chỉ có người xây dựng, người có chuyên môn
mới thấy rõ tầm quan trọng, giá trị đích thực của nền móng đó. Bậc học mầm
non cũng được coi như nền móng của ngôi nhà nhân cách trẻ. Ngôi nhà nhân
cách ấy sẽ không phát triển bền vững nếu không được giáo dục kỹ năng sống.
Do vậy tôi thấy cần phải có một số giải pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả dạy
kỹ năng sống cho trẻ như sau:
2.3.1: Tích cực tự học, tự tìm tòi, bồi dưỡng để không ngừng nâng cao
kỹ năng sư phạm, đúc rút kinh nghiệm và chia sẻ với đồng nghiệp để giáo dục
kỹ năng sống cho trẻ đạt hiệu quả.
Để thực hiện rèn kỹ năng sống cho trẻ đạt kết quả tốt. Trước hết giáo viên
mầm non không chỉ nghiên cứu nắm vững mục đích yêu cầu của từng hoạt động,
từng nhóm kỹ năng sống mà giáo viên còn cần phải nắm chắc được các phương
pháp và biện pháp thực hiện giúp trẻ lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng,
không bị gò bó, áp đặt, giúp trẻ hiểu bài sâu và vận dụng những điều đã học vào
thực tế hàng ngày của trẻ. Vì vậy, để giúp trẻ 5 - 6 tuổi lớp tôi có được những kỹ
năng sống cơ bản đó thì sự nhiệt tình, sáng tạo và yêu nghề đòi hỏi tôi phải
không ngừng đọc và nghiên cứu kỹ chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ mầm
non 5 - 6 tuổi.
- Tham gia các đợt kiến tập và các chương trình chuyên đề do phòng tổ chức.
- Tìm đọc tham khảo biện pháp dạy kỹ năng sống cho trẻ trên sách báo, tạp chí
mầm non, Sách phương pháp giáo dục giá trị kỹ năng sống, Sách hướng dẫn các
hoạt động phát triển ngôn ngữ và giao tiếp cho trẻ mầm non theo bộ chuẩn phát
4


triển trẻ 5 tuổi, Sách bé thực hành các tình huống giáo dục kỹ năng sống dành
cho trẻ mẫu giáo.
- Xem các chương trình truyền hình như: Bố ơi mình đi đâu thế, Quà tặng cuộc
sống, Cuộc sống quanh ta trên các kênh truyền hình như VTV3 hàng tuần.
Qua kiểm tra, đánh giá đầu năm có rất nhiều trẻ còn chưa biết chào cô,
chào khách, chưa có kỹ năng giao tiếp, chưa có kỹ năng tự phục vụ…Hoạt động
dạy kỹ năng sống cho trẻ ở trường tôi nói chung và ở lớp tôi nói riêng chưa thực
hiện tốt, chưa lồng ghép tích hợp vào các hoạt động, giáo viên hầu như không
mấy để ý và đi sâu vào hoạt động này. Tôi nhận thấy đây là một vấn đề quan
trọng vì nó quyết định đến nhân cách của trẻ sau này. Chính vì vậy qua việc tự
bồi dưỡng bản thân, học hỏi qua truyền thông, báo đài, tài liệu cũng như xem
các phương tiện thông tin hiện đại, tôi đã nắm vững được các phương pháp để
dạy trẻ một số kỹ năng cơ bản nhất. Nhận thấy đây là việc quan trọng và cần
thiết đối với trẻ nên trong các buổi họp sinh hoạt chuyên môn của khối tôi chia
sẻ với đồng nghiệp về các biện pháp “ Dạy kỹ năng sống cho trẻ”. Để dạy trẻ
được những kỹ năng sống thì việc đầu tiên cô giáo phải là tấm gương để trẻ soi
vào, để trẻ học làm người. Chính vì vậy, không phương pháp nào hiệu quả bằng
phương pháp “ Dùng nhân cách để giáo dục nhân cách”. Giáo viên cần lựa chọn
nội dung giáo dục kỹ năng sống phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý trẻ như: Giáo
dục trẻ có kỹ năng trong giao tiếp với bạn, với cô giáo và những người xung
quanh, biết kính trên nhường dưới, biết lao động tự phục vụ bản thân, tự cởi mặc
quần áo, chải tóc, đánh răng, sử dụng nhà vệ sinh, xếp gọn đồ dùng cá nhân, đồ
dùng trong lớp, ở nhà. Kỹ năng biết tự bảo vệ mình trước những tình huống
nguy hiểm và nơi nguy hiểm. Nhận biết hết giá trị bản thân, thiếu sự thông cảm
và chia sẻ với những người xung quanh khi gặp khó khăn hay cần sự giúp đỡ,
vui chơi đoàn kết, nhường nhịn và giúp đỡ bạn bè, biết nói lời cảm ơn và xin
lỗi… Giáo viên luôn là tấm gương mẫu mực về hành vi, lời ăn, tiếng nói, cách
ứng sử, cách giải quyết vấn đề…Đây là những yêu cầu rất cao và đòi hỏi các cô
giáo cũng luôn phải tự rèn luyện mình để công tác giáo dục trẻ hiệu quả hơn. Và
tôi đưa ra những điều mà giáo viên nên và không nên trong việc giáo dục kỹ
năng sống cho trẻ đó là: Không nói dài và nói nhiều, không luôn đưa ra lời đáp
có sẵn mà để trẻ tự tìm tòi, không vội vàng phê phán đúng, sai như một quan tòa
nhưng kiên trì giúp trẻ tranh luận và kết luận.
Ví dụ 1: Khi cô nhìn thấy bé này đẩy bé khác cô hãy nói với bé bị đẩy, nói
một cách cương quyết, nhưng phải ôn tồn với bạn mình như: “Mình không thích
bạn xô đẩy mình như vậy, cánh tay là để ôm nhau, không phải là để đẩy nhau”.
Không mớm ý cho trẻ phát biểu ý kiến mà người lớn trông đợi. Không
nên bắt trẻ hoạt động liên tục mà phải để dành thời gian và khoảng chống cho trẻ
suy nghĩ. Thỉnh thoảng cô giáo có thể tổng kết, kết luận nhưng với thái độ thư
giãn, thoải mái, gợi mở.
Ví dụ 2: “Các con đã tự mình làm được nhiều việc mà không phụ thuộc
vào người khác, các con là những em bé rất giỏi các con rất sứng đáng nhận
5


được một tràng pháo tay”. Điều này sẽ giúp cho trẻ tự tin hơn, dám tự tìm tòi và
suy nghĩ, giám đưa ra ý kiến của mình.
Quả thật việc thay đổi nếp cũ là rất khó, nhưng trong những buổi sinh hoạt
tôi thường đưa những giá trị của việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ như: Tin
tưởng vào trẻ và năng lực của trẻ, Kiên nhẫn và có kỹ năng lắng nghe tốt, Ý thức
về bản thân và sẵn sàng học những kỹ năng mới, Có kinh nghiệm sống và biết
soi xét, Tôn trọng ý kiến của trẻ, không áp đặt ý kiến của mình lên trẻ, Thực
hành tư duy sáng tạo và khai phá, Biết sắp xếp phòng, nhóm lớp tạo bầu không
khí hấp dẫn, Biết chủ động phương pháp giáo dục, Tác động kịp thời khi nhóm
bế tắc, Biết tạo bầu không khí trò chuyện sôi nổi.
( Hình ảnh 1: Kèm theo phụ lục II, Buổi sinh hoạt tổ chuyên môn, chia sẻ
những biện pháp dạy kỹ năng sống cho trẻ 5 tuổi).
*Kết quả: Thông qua biện pháp này tôi thấy bản thân tôi và các đồng nghiệp
hiểu hơn và nắm vững hơn phương pháp cũng như cách truyền đạt kỹ năng sống
tới trẻ.
2.3.2. Lựa chọn các nội dung giáo dục kỹ năng sống phù hợp để dạy trẻ
trong các chủ đề.
Dựa vào phân phối chương trình năm học và các giai đoạn phát triển của
trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tôi, đã lập kế hoạch thực hiện giáo dục các nội dung kỹ
năng sống cho trẻ theo chủ đề (từ 9/2018 đến tháng 5/2019). Sau khi xây dựng
kế hoạch, trong buổi sinh hoạt chuyên môn định kỳ, tôi cùng các đồng nghiệp
trong khối mẫu giáo bàn bạc, chỉnh sửa và đi đến thống nhất. Bản kế hoạch giáo
dục trẻ các nội dung kỹ năng sống theo chủ đề đã được Ban giám hiệu nhà
trường đánh giá cao và tạo những điều kiện tốt nhất để tôi và trẻ cùng thực hiện
cho phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao.
Đối với tâm sinh lý trẻ 5 - 6 tuổi rất tò mò, thích khám phá, ham học hỏi.
Vì vậy cần xác định các nội dung giáo dục kỹ năng sống quan trọng mà trẻ cần
phải biết trước khi tập trung vào hoạt động học ở các bậc học tiếp theo. Thực tế
kết quả của nhiều nghiên cứu đều cho thấy các kỹ năng quan trọng nhất trẻ phải
học vào thời gian đầu của năm học là chính là những kỹ năng sống như: sự hợp
tác, tự kiểm soát, tính tự tin, tự lập, tò mò, khả năng thấu hiểu và giao tiếp...
Việc xác định được các kỹ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi sẽ giúp tôi lựa chọn
đúng những nội dung trọng tâm để dạy trẻ. Vì vậy tôi lựa chọn các nội dung giáo
dục kỹ năng sống cho trẻ phù hợp và tiến hành xây dựng kế hoạch dạy trẻ các kỹ
năng sau:
* Kỹ năng sống tự tin: Một trong những kỹ năng đầu tiên mà tôi coi trọng
để dạy trẻ đó là phát triển sự tự tin, lòng tự trọng của trẻ. Nghĩa là giúp trẻ cảm
nhận được mình là ai, cả về cá nhân cũng như trong mối quan hệ với những
người khác. Kỹ năng sống này giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin trong mọi tình
huống ở mọi nơi.
Ví dụ: Khi thực hiện chủ đề: “Trường mầm non” Tôi dạy trẻ kỹ năng mạnh
dạn, tự tin trong giao tiếp như: Chào hỏi, tạm biệt, cảm ơn, xin lỗi, lễ phép với
người lớn, tôn trọng bạn bè, vui vẻ thân thiện, lắng nghe ý kiến, chia sẻ thông
6


tin, hòa thuận với các bạn, giúp đỡ bạn khi cần thiết, tự tin trước đám đông để
cùng bạn hoàn thành công việc, trò chơi tập thể. Nói được một số thông tin quan
trọng về bản thân: Tên, tuổi, khả năng, sở thích, ứng xử phù hợp với giới tính
của bản thân, sử dụng lời nói rõ ràng, mạch lạc để bày tỏ cảm xúc, nhu cầu, ý
nghĩ và kinh nghiệm của bản thân, tự tin trước tập thể.
Hay ở chủ đề: “Bản thân” Tôi đã lựa chọn dạy trẻ kỹ năng tự tin trong
việc tự phục vụ bản thân như: Tự mặc, cởi quần áo, cách sử dụng nhà vệ sinh, vệ
sinh cá nhân, cách ăn uống, mặc trang phục phù hợp với thời tiết, sống gọn
gàng, ngăn nắp. Đồng thời, tôi còn dạy trẻ kỹ năng tự phụ vụ bản thân trong ăn
uống, dạy trẻ văn hóa trong ăn uống. Qua đó, rèn tính tự lập như: Biết tự rửa tay
sạch sẽ trước khi ăn, chỉ ăn uống tại bàn ăn, biết cách sử dụng những đồ dùng,
vật dụng trong ăn uống một cách đúng đắn, ăn uống gọn gàng, không rơi vãi,
nhai nhỏ nhẹ không gây tiếng ồn, ngậm miệng khi nhai thức ăn, biết mời trước
khi ăn, cảm ơn sau khi ăn, biết tự dọn, cất đúng chỗ bát, thìa, cốc… hoặc biết
giúp người lớn dọn dẹp, ngồi ngay ngắn, ăn hết suất, không làm ảnh hưởng đến
người xung quanh, không nói chuyện riêng, khi ho phải lấy tay che miệng tránh
làm bẳn thức ăn vào người khác. Cứ như vậy tôi giáo dục trẻ khả năng tự tin khi
thực hiện các kỹ năng và hành vi văn hóa trong ăn uống.
* Kỹ năng sống hợp tác: Ngoài việc rèn luyện cho trẻ có kỹ năng sống tự
tin. Tôi còn tích cực tổ chức trò chơi, dạy trẻ các câu chuyện, bài hát, qua đó rèn
luyện kỹ năng sống hợp tác như: Giúp trẻ học cách cùng làm việc với bạn, đây
là một công việc không nhỏ đối với trẻ lứa tuổi này. Khả năng hợp tác sẽ giúp
trẻ biết cảm thông và cùng làm việc với các bạn.
Ví dụ: Ở chủ đề: “Thế giới thực vật”. Tôi cho trẻ chơi trò chơi Trồng cây.
Mỗi trẻ sẽ được phân công theo nhóm để nhận nhiệm vụ: gieo hạt, trồng rau,
nhổ cỏ, tưới nước, chăm sóc cây …Trẻ sẽ học làm việc cùng nhau để tạo ra sản
phẩm.
(Hình ảnh 2: Kèm theo phụ lục II, Trẻ cùng hợp tác với bạn bè để trồng
và chăm sóc cây).
* Ở chủ đề: “Nghề nghiệp” Ở chủ đề này tôi thường lồng ghép các bài
thơ câu đố để trẻ hiểu ý nghĩa của các nghề từ đó trẻ biết tuân thủ sự phân công,
phối hợp với bạn bè để hoàn thành công việc chung, khả năng sáng tạo, diễn tả ý
tưởng, kỹ năng sống hợp tác và cùng sử lý tình huống.
*Chủ đề: “Phương tiện giao thông”, Dạy trẻ kỹ năng tuân thủ một số quy
định giao thông khi đi trên đường, những hành vi văn hóa nơi công cộng như: Đi
nhẹ, nói khẽ, xếp hàng chờ đến lượt, không chen lấn xô đẩy nhau…
(Hình ảnh 3: Kèm theo phụ lục II, Trẻ đang hoạt ở khu vực chơi giao thông).
* Kỹ năng thích tò mò, ham học hỏi, khả năng thấu hiểu: Đây là một
trong những kỹ năng quan trọng nhất cần có ở trẻ vào giai đoạn này là sự khát
khao được học. Tôi đã sử dụng nhiều tư liệu và ý tưởng khác nhau để gợi tính tò
mò tự nhiên của trẻ. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, các câu chuyện hoặc các
hoạt động và tư liệu mang tính chất khác lạ thường gợi suy nghĩ nhiều hơn là
những thứ có thể đoán trước được.
7


Ví dụ: Qua câu hỏi của trẻ thắc mắc với cô “ Cô ơi tại sao trời lại mưa?
Vì ông trời khóc phải không cô?”, Còn có trẻ lại nói “Cô ơi vì sao mỗi lần trời
mưa lại có sấm chớp ạ?”, “Tại sao quả bóng khi bỏ vào nước lạnh thì quả bỏng
lại nổi?”.....vv.
Để giúp trẻ hiểu rõ hơn về sự vật và các hiện tượng tự nhiên và giải đáp
như những câu hỏi tại sao? như thế nào? đáp ứng kịp thời nhu cầu ham học hỏi,
thích tìm tòi khám phá. Tôi cùng với trẻ làm một số thí nghiệm đơn giản vật
chìm vật nổi, làm chìm một vật đang nổi. Khi tổ chức hoạt động khám phá khoa
học “ Một số hiện tượng tự nhiên”. Tôi cho trẻ khám phá trải nghiệm các hình
ảnh về mưa, các hiện tượng tự nhiên, sấm, chớp, sét. Tôi tạo tình huống để giáo
dục kỹ năng sống cho trẻ, để giúp trẻ có kiến thức ứng phó với mưa, các hiện
tượng tự nhiên đúng cách để bảo vệ sức khỏe như: Khi trời mưa các con phải
làm gì? ( mặc áo mưa, đội mũ); Khi có sấm sét các con phải như thế nào?
(không đứng dưới gốc cây to)…
* Chủ đề gia đình: Tôi dạy trẻ những kỹ năng ứng xử phù hợp và khả
năng thấu hiểu những người gần gũi xung quanh: Lễ phép với người lớn, quan
tâm nhường nhịn em nhỏ, giúp đỡ bố mẹ những việc vừa sức, biết trò chuyện lễ
phép, thân mật, chơi vui vẻ với bạn, không quậy phá làm ồn, nhận biết và thể
hiện cảm xúc, chia sẻ đồng cảm và khả năng thấu hiểu với mọi người…
* Chủ đề: “Quê hương- đất nước” Dạy trẻ kính yêu Bác Hồ, thích khám
phá tìm hiểu về quê hương đất nước qua các danh lam, thắng cảnh, quan tâm
đến những di tích lịch sử, địa danh, cảnh đẹp, lễ hội của quê hương, đất nước,
giữ gìn bảo vệ môi trường.
* Kết quả: Trong quá trình thực hiện các chủ đề tôi căn cứ vào các nội
dung đã xây dựng để khéo léo lồng ghép tích hợp các nội dung giáo dục kỹ năng
sống vào các hoạt động giáo dục và mọi lúc mọi nơi xuyên suốt 10 chủ đề trong
năm học. Tôi đã xây dựng được kế hoạch và chủ động hơn trong việc thực hiện
nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Từ đó giáo dục kỹ năng sống cho trẻ
được giáo dục thường xuyên hơn, đạt hiệu quả cao hơn.
2.3.3: Quan tâm chú trọng phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ.
Có thể nói rằng, Kỹ năng giao tiếp là một trong những kỹ năng rất quan
trọng đối với sự phát triển của ngôn ngữ của trẻ, không chỉ quan trọng và cần
thiết đối với trẻ trong trường mầm non, mà ngay ở trong gia đình và toàn xã hội
đều rất quan trọng đối với cuộc sống sau này của trẻ, trẻ có kỹ năng giao tiếp tốt
tạo được sự tự tin trong trong mỗi người nói chung và đối với trẻ nói riêng,
thông qua giao tiếp trẻ có thể diễn đạt hết được nhu cầu và mong muốn của trẻ
đến với mọi người, đấy chính là yếu tố thuận lợi để giáo dục kỹ năng sống cho
trẻ. Vì thế ngoài những kỹ năng sẵn có ở trẻ thì tôi luôn quan tâm áp dụng nhiều
biện pháp khác nhau để phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ.
* Giáo dục kỹ năng giao tiếp với bạn bè:
Giáo dục kỹ năng giao tiếp với bạn bè là yếu tố cần thiết đối với trẻ thơ,
đây chính là một thế giới thu nhỏ của xã hội chúng ta ngày nay, là nơi đa văn
hóa, đa tính cách và cũng đa sở thích. Môi trường này tạo cơ hội cho trẻ được
8


học tập, được giao lưu học hỏi và có cơ hội để khám phá những sở thích, những
mối quan hệ của trẻ với trẻ trong lớp, trong tường. Cụ thể, khi tôi tổ chức cho trẻ
học tập, vui chơi tôi đã tạo được nhiều cơ hội để trẻ được giao lưu với bạn bè,
theo nhóm, theo tổ....
Ví dụ 1: Trong hoạt động góc tôi tổ chức cho trẻ chơi những trò chơi bán
hàng, trẻ này là người mua hàng, và những trẻ khác là người bán hàng, hay đóng
vai bác sĩ và bệnh nhân khám bệnh........
Thông qua những vai chơi trong trò chơi đóng vai tạo cơ hội cho trẻ được
giao tiếp với nhau trẻ thể hiện ngôn ngữ của mình một cách đầy đủ, trẻ biết chào
hỏi, biết cảm ơn, xin lỗi, thể hiện được cảm xúc vui buồn... Và với những trẻ còn
nhút nhát tôi có thể cùng trẻ thể hiện vai chơi của mình, luôn định hướng ngôn
ngữ giao tiếp hoặc có thể hướng dẫn cho những trẻ có khả năng giao tiếp tốt hơn
chơi cùng bạn, như vậy trẻ cảm thấy tự tin và dần dần trẻ có thể tự mình chủ
động giao tiếp cùng các bạn khác một cách dễ dàng.
Ví dụ 2: Trong quá trình tổ chức hoạt động LQVVH, tôi kể cho trẻ nghe
câu chuyện “ Cô bé quàng khăn đỏ”. Ngoài việc cung cấp kiến thức cho trẻ để
trẻ hiểu nội dung, cử chỉ, hành động của từng nhân vật trong câu chuyện. Tôi
giành thời gian cho trẻ tập kể lại chuyện, đàm thoại theo hệ thống câu hỏi để trẻ
hiểu nội dung và phát triển kỹ năng giao tiếp. Đồng thời, thường xuyên cho trẻ
phối hợp giao tiếp cùng các bạn thông qua các vai diễn của từng nhân vật, từ đó
rèn khả năng tự tin giao tiếp với bạn bè. Tôi còn nhẹ nhàng giáo dục trẻ phải
nghe lời bố mẹ, đi đến nơi về đến chốn, không được la cà mải chơi dọc đường
mà gặp phải nguy hiểm giống như cô bé quàng khăn đỏ. Hay trong hoạt động kể
chuyện “Thỏ con không vâng lời mẹ” tôi cũng nhẹ nhàng giáo dục trẻ không
nghe lời rủ rê của bạn bè đi chơi xa,quên mất đường về nhà, rất dễ bị lạc.
Hoạt động kể chuyện luôn giúp trẻ phát triển về khả năng giao tiếp, thể
hiện tình cảm, hình thành nhân cách con người và trẻ có khả năng cảm thụ được
cuộc sống xung quanh mình đang diễn ra, trẻ biết sống tự tin và sáng tạo, biết
được cái đẹp, cái xấu.... Do vậy bản thân tôi đã tổ chức cho trẻ kể chuyện rất
nhiều để tinh thần hăng say của trẻ ngày càng được nâng lên. Qua những buổi
thi kể chuyện trẻ được trang phục, mặc những bộ quần áo đẹp làm cho bản thân
của trẻ cảm thấy mình được sung sướng, thông qua hội thi trẻ được thêm một
dịp củng cố, rèn luyện các kỹ năng giao tiếp của bản thân. Đây cũng là dịp để trẻ
được trải nghiệm cảm xúc mới mẻ, tăng cường khả năng cảm thụ các tác phẩm,
mở rộng nhận thức cho trẻ. Tổ chức hội thi kể chuyện còn giúp trẻ tăng thêm sự
mạnh dạn, tự tin, trình bày trước người khác cũng như sự phối hợp giữa các
thành viên trong nhóm. Tôi cho trẻ đóng kịch: “Ba cô gái”, “Chú dê đen”, “ Cây
tre trăm đốt ”, “Ai đáng khen nhiều hơn”.... Thông qua nội dung ngôn ngữ của
các nhân vật trong chuyện trẻ hiểu sẽ tạo được cảm xúc tình cảm thân thiện và
từ đó giúp trẻ tự tin trong giao tiếp.
(Hình ảnh 4: Kèm theo phụ lục II, Đóng kịch: Chuyện“ Chú dê đen”)
(Hình ảnh 5: Kèm theo phụ lục II, Đóng kịch: Chuyện“ Ba cô gái”).
9


Tính cách mỗi trẻ mỗi khác, có những trẻ hoạt động rất hiếu động nhưng
cũng có những trẻ hoạt động chậm chạp, thụ động hoặc quá nóng nảy....Vì thế,
tôi luôn nắm rõ đặc điểm tâm lý của trẻ để có thể rèn kỹ năng giao tiếp cho trẻ
theo nhiều phương pháp khác nhau để tránh sảy ra những va chạm về tính cách
của mỗi trẻ.
Ví dụ 3: “Giao tiếp bằng nét mặt, bằng việc làm như giúp bạn nhặt đồ
chơi....hoặc nở một nụ cười thật tự nhiên”. Đây cũng chính là việc rèn kỹ năng
giao tiếp của trẻ linh hoạt hơn, năng động hơn, tự tin hơn trong bất cứ hoàn cảnh
nào trẻ cũng có thể nhận được sự thân thiện và gần gũi với bạn bè.
Dạy trẻ phải luôn luôn giữ lời hứa khiến cho buổi nói chuyện trở nên thật
thoải mái thật chân thành khi tham gia những hoạt động vui chơi ở lớp.
(Hình ảnh 6: Kèm theo phụ lục II, Các bé giao tiếp với nhau trong khi chơi).
*Giáo dục kỹ năng giao tiếp với cô giáo và mọi người xung quanh.
Trẻ không chỉ phát triển giao tiếp thông qua những người thân trong gia
đình mà chúng ta còn dạy trẻ giao tiếp tốt với mọi người xung quanh là yếu tố
để phát huy khả năng giao tiếp cho trẻ.
Ví dụ 1: Thường xuyên cho trẻ giao tiếp với các cô, các bác, bạn bè xung
quanh, biết chào hỏi lễ phép “Cháu chào ông ạ, cháu chào bác ạ” hay “Cháu cảm
ơn cô, cháu cảm ơn chú”. Khi người lớn cho quà hay làm giúp trẻ một việc nào
đó, khi bạn bị ốm bố mẹ cần dạy trẻ biết quan tâm chia sẻ với bạn bè qua những
lời nói âu yếm tình cảm như: Bạn có đau không? Bạn có mệt không?....
Vì vậy đối với trẻ người lớn cần tập cho trẻ những lời nói lễ phép và tự
nhiên, không quá màu mè và hình thức, cũng không được phép cộc lốc và xuồng
xã. Điều này trẻ sẽ học được một cách hiệu quả thông qua cách giao tiếp và ứng
sử của bố, mẹ, người thân trong gia đình, cô giáo và người khác.
Chúng ta sẽ không thể kiểm soát được khi người lớn trong gia đình nói
năng thô lỗ và không có hành vi lịch sự tối thiểu. Trong xã hội hiện nay với công
nghệ tiên tiến,phát triển không ngừng về mọi mặt, thì những kỹ năng giao tiếp,
chào hỏi tối thiểu lại mất dần đi. Và tôi quyết định đưa kỹ năng chào hỏi và kỹ
năng giao tiếp thường xuyên trong mọi hoạt động ở trường mầm non.
Ví dụ 2: Thời gian đầu nhiều trẻ chưa có kỹ năng chào hỏi và giao tiếp với
cô cùng bạn bè, tôi chủ động chào trẻ trước “Cô chào bạn Gia Bảo”, Thì lúc đó
trẻ sẽ biết đáp lại câu “Con chào cô ạ” và tôi nhắc trẻ con chào bố, mẹ đi để vào
lớp với cô nào.
(Hình ảnh 7: Kèm theo phụ lục II, Trẻ đã có thói quen chào hỏi khi đến lớp).
* Kết quả: Khi tập trung rèn kỹ năng giao tiếp cho trẻ tôi nhận thấy rằng
trẻ đã có 100% những kỹ năng giao tiếp với bạn bè, người thân....Trẻ đã có
những kỹ năng giao tiếp chuẩn mực, ngôn ngữ của trẻ rõ ràng, mạch lạc, ý thức
trong giao tiếp của trẻ được nâng lên, tình cảm của trẻ dành cho bạn bè, bố mẹ,
người thân cũng trở nên gần gũi và thân thiện hơn.
2.3.4: Rèn kỹ năng thích nghi với cuộc sống sinh hoạt hàng ngày trong
môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh trẻ.
10


Rèn kỹ năng thích nghi với cuộc sống sinh hoạt, môi trường tự nhiên và xã
hội là kỹ năng cần thiết trong sự hình thành và phát triển nhân cách, phát triển
toàn diện của trẻ. Vì nếu kỹ năng giao tiếp là bước đệm thì thích nghi chính là
bước tiếp theo để hình thành kỹ năng sống với môi trường bên ngoài cho trẻ,
giúp trẻ cân bằng cuộc sống trong các lĩnh vực: Nhận thức, thể chất, trí tuệ và
thẩm mỹ, từ đó xây dựng cho trẻ những kỹ năng sống biết hòa nhập với môi
trường xung quanh. Có thể nói, môi trường tự nhiên là môi trường quan trọng
nhất trong sự hình thành nhân cách cho trẻ, với độ tuổi này trẻ hoạt động nhiều
chính vì vậy để tạo cho trẻ thích nghi với môi trường thì trước hết môi trường
sống phải là một môi trường trong sạch, lành mạnh, thân thiện và gần gũi đối
với trẻ.
Trước hết tôi luôn quan tâm hình thành và rèn kỹ năng tự lập cho trẻ.
Chẳng hạn như khi thời tiết thay đổi trẻ có thể tự lựa chọn các trang phục mũ,
nón phù hợp với thời tiết. Cô giáo là người trực tiếp hàng ngày cho trẻ trải
nghiệm với sự thay đổi của thời tiết.
Ví dụ 1: Tôi tổ chức cho trẻ tham gia nhặt lá cây, nhổ cỏ trong vườn, tưới
nước cho cây, chơi các trò chơi với cát, nước, để cho trẻ được tiếp xúc với
những điều kiện tự nhiên. Đây là một hoạt động thường xuyên mà tôi và trẻ
thường hay làm ở trường, thông qua những hoạt động này trẻ tỏ ra rất thích thú,
qua đây tôi cũng giáo dục cho trẻ biết bảo vệ môi trường của mình, trẻ được
thỏa mãn nhu cầu vui chơi và phát triển tò mò, óc sáng tạo ở trẻ. Trẻ có thể chơi
với cát, đất trong một chừng mực vừa phải vì điều đó giúp cho các bé vừa thỏa
mãn được tính năng động, vừa nâng cao khả năng đề kháng. Tuy nhiên, sự giám
sát của người lớn rất quan trọng và người lớn chỉ can thiệp khi có những dấu
hiệu của sự nguy hiểm không an toàn. Điều đó không chỉ giúp trẻ mạnh dạn và
tự tin hơn mà còn giúp trẻ sẽ hạn chế được tính ỷ lại sảy ra không đáng có ở trẻ.
(Hình ảnh 8: Kèm theo phụ lục II, Cô và trẻ đang nhổ cỏ cho vườn rau).
Ngoài việc rèn cho trẻ thích nghi tốt với môi trường tự nhiên thì việc rèn kỹ
năng thích nghi với môi trường xã hội là quan trọng và cần thiết.
Ví dụ 2: Cô tổ chức cho trẻ đi thăm quan Tượng đài liệt sĩ, Trạm y tế,
Trường Tiểu Học, .... Tôi nhắc nhở khi trẻ đi thăm quan ở những nơi công cộng
phải biết chào hỏi người lớn lễ phép, biết bỏ rác đúng nơi quy định và có hành vi
văn minh, lịch sự nơi công cộng.
(Hình ảnh 9: Kèm theo phụ lục II, Hình ảnh Cô và trẻ thăm quan đài
tưởng niệm, trường tiểu học).
Bằng những việc làm này chúng ta có thể giúp trẻ quen dần với nơi công
cộng, những nơi có đông người qua việc cho trẻ tham gia các giờ học dạo chơi
tham quan, tham gia các hoạt động ở trường. Ngoài ra, trong việc hòa nhập với
xã hội, chúng ta cũng cần tập cho trẻ những thói quen ứng xử với một phong
cách văn minh, lịch sự qua những hoạt động hàng ngày ở trường. Đây là một
thói quen mà hầu hết người lớn chúng ta không để ý khi cho trẻ tham gia vào
các hoạt động trong môi trường xã hội. Người lớn chúng ta cần phải làm gương
11


và rèn cho trẻ có thói quen ngay từ nhỏ về cách ứng xử văn hóa nơi công cộng
tạo cho trẻ có tính kỷ luật khi tiếp xúc với môi trường xã hội.
*Kết quả đạt được: Có thể nói, rèn kỹ năng thích nghi với cuộc sống sinh
hoạt, môi trường tự nhiên và xã hội cho trẻ đạt 98% là điều kiện tốt nhất để hình
thành các kỹ năng cơ bản ban đầu cho trẻ, để trẻ có những hành trang kiến thức
về môi trường tự nhiên và xã hội khi trẻ tham gia các hoạt động. Từ đó trẻ
không bị xa rời với thực tế mà còn biết ứng ứng xử văn minh lịch sự và có kỷ
luật, đoàn kết tương trợ và giúp đỡ mọi người.
2.3.5: Thường xuyên rèn kỹ năng tự chăm sóc, tự phục vụ và bảo vệ bản
thân khi gặp những tình huống bất ngờ có thể xảy ra.
Việc dạy trẻ biết tự chăm sóc, tự phục vụ và bảo vệ bản thân chính là
chúng ta đã dạy trẻ, rèn cho trẻ tính chủ động, tính tự lập và biết mình phải làm
gì cho bản thân mà không phải phụ thuộc vào người khác trong mọi hoàn cảnh
của cuộc sống sau này.
Ví dụ 1: Dạy trẻ biết tự mặc quần áo, biết tự xúc cơm, tự lau dọn bàn ghế
giúp cô, rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh.... Khi học tập trẻ biết tự lựa
chọn đồ dùng phù hợp như sách, vở.... Hoặc khi người lớn giao việc thì trẻ biết
cách sắp xếp công việc đúng theo khả năng của mình...
(Hình ảnh 10: Kèm theo phụ lục II, Trẻ rửa tay trong giờ vệ sinh,
Trẻ tự phục vụ trong giờ ăn).
Dạy cho trẻ biết tự chăm sóc, tự phục vụ và bảo vệ bản thân là dạy trẻ tính
kỷ luật, tính tự chủ biết giúp đỡ người thân trong gia đình và mọi người xung
quanh. Bởi vì nếu trẻ không biết tự chăm sóc mình thì sẽ không cảm nhận được
sự vât vả, sự quan tâm của mọi người dành cho mình, biết được điều này thì trẻ
sẽ biết chia sẻ, gắn bó và biết dành tình cảm mà người thân đã cho mình.
Có thể nói là việc dạy cho trẻ trong ăn uống cũng là một cách bảo vệ bản
thân trẻ tốt nhất.
Ví dụ 2: Đôi khi trẻ có những sở thích đặc biệt về ăn uống, chỉ thích ăn vài
loại thực phẩm nhất định, uống vài loại sữa hay thức uống nhất định. Tôi đã
thường xuyên chú trọng giáo dục trẻ biết ăn nhiều loại thực phẩm, món ăn khác
nhau đảm bảo đầy đủ các chất dinh dưỡng thì cơ thể mới khỏe mạnh.
Ngoài việc dạy trẻ biết tự phục vụ chăm sóc bản thân thì tôi còn dạy trẻ
biết lao động tự phục vụ như trong các hoạt động học, hoạt động vui chơi, hoạt
động dạo chơi ngoài trời.
Ví dụ 3: Trong các hoạt động học trẻ tự biết lấy và cất đồ dùng theo yêu
cầu và đúng nơi quy định.
Ví dụ 4: Với chủ đề bản thân giáo dục trẻ có một số kỹ năng tự phục vụ, kỹ
năng tự bảo vệ bản thân.
(Hình ảnh 11: Kèm theo phụ lục II, Trẻ đang cùng cô cất đồ dùng).
Dạy trẻ cách bảo vệ bản thân để tránh xảy ra tai nạn thương tích trong ăn
uống như sặc cơm, sặc cháo, các dị vật trong ăn uống.... Trong sinh hoạt đảm
bảo an toàn trong trường học, trong gia đình và mọi lúc mọi nơi, đây cũng là tạo
cho trẻ có ý thức tự giác và khả năng tự bảo vệ bản thân.
12


Dạy trẻ các kỹ năng biết tự bảo vệ bản thân trước những tình huống nguy
hiểm như: Không chơi đồ vật nguy hiểm, không làm một số việc gây nguy hiểm,
không làm một số việc gây nguy hiểm, không chơi ở những nơi mất vệ sinh,
nguy hiểm, không đi theo, không nhận quà của người lạ khi chưa được người
thân cho phép, biết kêu cứu và chạy khỏi nơi nguy hiểm.
Ví dụ 5: Các mối nguy hiểm giáo viên cần giáo dục trẻ biết cách bảo đảm an
toàn cho bản thân như: Nhận biết được một số nguyên nhân gây nguy hiểm.
không chơi gần khu vực gây nguy hiểm như ao, hồ, sông, suối, tránh xa các ổ
điện, gas, bàn là, điện, nước nóng, dao, kéo....
( Hình ảnh 12: Kèm theo phụ lục II, Cô giáo dạy trẻ tránh xa nơi nguy hiểm).
- Kỹ năng xử lý tình huống: Khi bị ngã trẻ cần làm gì?
- Giáo dục trẻ cần làm gì khi bị lạc, khi tiếp xúc với người lạ trẻ cần làm gì ?....
Các mối nguy hiểm có thể xảy ra đối với trẻ, vì thế chúng ta cần chú trọng
giúp trẻ biết tránh xa và không đến gần những mối nguy hiểm đó, mặt khác các
mối nguy hiểm này đều có nguy cơ xảy ra nếu chúng ta không giáo dục trẻ kịp
thời để trẻ biết cách phân biệt và tự bảo vệ. Thông qua kỹ năng này nhà trường,
giáo viên và trẻ đã có thể phòng tránh tai nạn, thương tích cho trẻ trong trường
Mầm Non.
2.3.6: Tạo điều kiện để trẻ được thực hành trải nghiệm phát triển kỹ
năng hoạt động theo nhóm và khả năng hợp tác thông qua các hoạt động và
ngày hội ngày lễ của trẻ.
*. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua hoạt động đón trả trẻ.
Trẻ mầm non rất hay bắt chước người lớn. Vì vậy, giáo viên và cha mẹ luôn
phải giữ chuẩn mực trong mọi hành vi cử chỉ luôn làm gương và khích lệ trẻ noi
theo để trẻ học các kỹ năng về giao tiếp, chú ý khi trò chuyện, ứng xử với trẻ,
không to tiếng, quát nạt trẻ, xưng hô nhẹ nhàng, khiêm tốn, lịch sự trong giao
tiếp với phụ huynh học sinh, khi ai hỏi phải chú ý lắng nghe, trả lời rõ ràng, đủ ý
để làm gương cho trẻ noi theo. Vì vậy trong hoạt động đón trả trẻ tôi thường
xuyên tạo cơ hội để dạy trẻ các kỹ năng giao tiếp, kỹ năng mạnh dạn, tự tin, kỹ
năng hợp tác chia sẻ với bạn bè và cô giáo, kỹ năng tự phục vụ….
Đối với trẻ chưa ngoan: Cần nhắc nhở trẻ nhẹ nhàng, không nói nặng lời,
trẻ sẽ sợ hãi. Tuy nhiên, cũng cần có thái độ dứt khoát khi trẻ tỏ ra không lễ
phép. Chẳng hạn khi trẻ đến lớp không chào cô, không chào các bạn, cô nên
nhắc nhở nhẹ nhàng: “Con chào cô và các bạn đi nào!”…
Cần động viên và khích lệ trẻ ngoan: Những lời khen đúng lúc sẽ giúp trẻ
tự tin. Có thể tặng cho trẻ một món quà nhỏ để khích lệ thái độ lễ phép của trẻ,
cũng là cách để trẻ “Ngấm” bài học lâu hơn.
Ví dụ 1: Khi trẻ lễ phép, ngoan ngoãn, vâng lời, cô nên tặng trẻ một món
quà nhỏ như: Bông hoa giấy, con mèo gấp bằng lá cây, con trâu bằng lá đa…
kèm theo lời khen ngợi: “Con ngoan quá, cả lớp mình cùng khen bạn nào!”.
Như vậy sẽ tạo động lực cho trẻ ngày càng ngoan ngoãn hơn. Trẻ hoạt động
tích cực, vui chơi đoàn kết, biết nhường nhịn và giúp đỡ bạn bè khi tham gia
hoạt động theo nhóm. Trong các hình thức tổ chức dạy học thì hình thức dạy trẻ
13


hoạt động theo nhóm hiện nay đang được rất nhiều giáo viên lựa chọn và sử
dụng, đặc biệt đối với trẻ 5-6 tuổi thì khả năng hoạt động theo nhóm của trẻ là
rất lớn. Trẻ thường yêu thích trò chơi do mình tự lựa chọn và tự đề ra cách chơi,
tự phân nhóm. Vì vậy để việc giáo dục mang tính hiệu quả cao, tôi đã tiến hành
dạy trẻ các kỹ năng thông qua trò chơi tự do, trò chơi phân vai, diễn kịch.... Với
niềm say mê tự khám phá trẻ đã tiếp thu kiến thức thực tế để vận dụng trong
cuộc sống, mỗi trẻ sé giới thiệu nhiều kết quả bất ngờ. Giáo viên đưa ra những
bài tâp, những thử thách, trò chơi mang tính tập thể đòi hỏi trẻ phải tìm nhóm, tự
hợp tác bàn luận trong nhóm để hoàn thành yêu cầu của cô. Đây chính là ý thức
tập thể, tính đoàn kết khi trẻ tham gia hoạt động theo nhóm.
Ví dụ 2: Cho trẻ tham gia các trò chơi dân gian, mèo đuổi chuột, bịt mắt
bắt dê, câu chuyện cáo và thỏ, hay trong giờ chơi tự do tôi đã đặt câu hỏi yêu
cầu tổ, nhóm trả lời, tự khắc trẻ sẽ tự tập hợp nhóm của mình để bàn bạc thống
nhất để đưa ra kết quả....
*. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua hoạt động học có chủ định
Hoạt động có chủ định là hoạt động giúp trẻ lĩnh hội được nhiều kiến
thức, kỹ năng sống. Những kiến thức mà trẻ lĩnh hội được đều có hệ thống, từ
đơn giản đến phức tạp và mang tính logic cao. Giúp trẻ học các kỹ năng sống
nhanh và chính xác nhất. Vì vậy, tôi đã tiến hành lựa chọn các nội dung phù hợp
để giáo dục trẻ thông qua các hoạt động có chủ định.
Ví dụ 1: Đối với hoạt động LQVVH. Tôi kể cho trẻ nghe câu chuyện:
“Cô bé quàng khăn đỏ”. Ngoài việc cung cấp kiến thức cho trẻ để trẻ hiểu nội
dung, cử chỉ, hành động của từng nhân vật trong câu chuyện. Tôi còn nhẹ nhàng
giáo dục trẻ phải nghe lời bố mẹ, đi đến nơi về đến chốn, không được la cà mải
chơi dọc đường mà gặp phải nguy hiểm giống như cô bé quàng khăn đỏ. Hay
trong hoạt động kể chuyện “Thỏ con không vâng lời mẹ” tôi cũng nhẹ nhàng
giáo dục trẻ không nghe lời rủ rê của bạn bè đi chơi xa, quên mất đường về nhà,
rất dễ bị lạc.
Như trong hoạt động khám phá khoa học “Một số đồ dùng trong gia đình”
tôi đã tổ chức cho trẻ hoạt động theo nhóm ngoài việc phát huy tính tích cực,
chủ động và sáng tạo trong hoạt động của mình, trẻ có thể bàn nhau để tìm cho
tổ mình nhóm đồ dùng mà cô yêu cầu... Rồi trong hoạt động góc tôi hướng trẻ
chơi theo nhóm và trẻ có thể bầu nhóm trưởng để phân công công việc cho nhau,
tạo sự đoàn kết và ý thức trách nhiệm của từng thành viên khi được giao nhiệm
vụ.
Ví dụ 2: Đối với hoạt động khám phá tôi sự kỳ diệu của nước ngoài việc
cung cấp kiến thức, tôi chú trọng dạy trẻ các kỹ năng tránh xa những khu vực
nguy hiểm như không chơi gần ao, hồ, không chơi ở những nơi không an toàn…
Tôi cho trẻ quan sát các hình ảnh không an toàn trên máy tính để trẻ phòng tránh
tai nạn có thể xảy ra đối với bản thân.
Cứ như vậy thông qua các hoạt động học có chủ định tôi cho trẻ quan sát
trực tiếp các hình ảnh sống động trên máy vi tính và khéo léo lồng các nội dung
giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Trẻ được lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng,
14


thoải mái, không gò ép, thụ động. Nhờ đó, trẻ khắc sâu kiến thức nhanh và chính
xác nhất.
*. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua hoạt động Góc:
Đối với trẻ mầm non, Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ ở trường.
Thông qua hoạt động chơi, trẻ được đóng các vai khác nhau trong xã hội, trẻ
đóng vai và tái hiện lại những gì trẻ nhìn thấy trong cuộc sống. Tất cả những
kiến thức và kinh nghiệm cuộc sống mà trẻ có sẽ được trẻ thể hiện qua họat
động vui chơi. Chính vì vậy, tôi rất chú trọng đến việc tạo các tình huống khi trẻ
đóng vai để trẻ tìm cách giải quyết, cũng như quan sát những điều trẻ thể hiện
được những kiến thức mà trẻ đã có. Qua đó giúp trẻ phát triển các kỹ năng ý
thức về bản thân, quan hệ xã hội, giao tiếp, thực hiện công việc, ứng phó với
những thay đổi và có nhiều cơ hội được trải nghiệm.
Ví dụ 1: Ở góc chơi phân vai khi trẻ chơi trò chơi “Gia đình”, tôi đóng giả
một người lạ đến gõ cửa khi trẻ ở nhà một mình, thì trẻ biết nhắc nhau “Đừng
mở cửa, phải đợi bố mẹ về đã”.
Tôi cho trẻ ở nhóm chơi gia đình cùng đi chợ và đưa ra tình huống: “Con bị
lạc bố mẹ ở chợ” thì trẻ biết ra nhờ cô bán hàng gọi điện thoại cho bố mẹ, cháu
đóng vai người bán hàng cũng nhắc trẻ: Cháu chờ ở đây với cô đợi bố mẹ đón.
Tôi đóng một vai làm người đi đường và rủ bé: Đi cùng cô để cô dắt về với mẹ.
Các trẻ trong nhóm đã nhắc nhau: “Đừng đi, nếu không sẽ bị bắt cóc đấy”.
Với trò chơi “mặc áo cho búp bê” ở nhóm chơi “Gia đình” khi hướng dẫn
cho trẻ tôi giới thiệu lần lượt đặc điểm của quần, áo: mặt trái, mặt phải, mặt
trước, mặt sau. Hay khi mặc áo cũng lần lượt xỏ từng tay một và kéo hai vạt áo
so bằng rồi mới cài cúc. Sau khi được tôi hướng dẫn trẻ sẽ lĩnh hội được kiến
thức và tự thực hành.
Thông qua trò chơi “Đi ô tô” tôi cũng chú ý xem cách thể hiện của trẻ để có
những gợi mở kịp thời như: Các bác đừng thò đầu, thò tay ra ngoài khi xe đang
chạy nhé.
Với nhóm chơi “Nấu ăn”, tôi cũng lưu ý đến những thao tác mà trẻ mà trẻ
thể hiện vai của mình:
Ví dụ 2: Khi nấu bắc nồi lên bếp ga phải đặt giữa bếp nếu không nồi sẽ dễ
đổ và xảy ra tai nạn, nấu xong phải nhớ tắt bếp, bắc nồi phải dùng cái lót tay để
không bị bỏng.
(Hình ảnh 13: Kèm theo phụ lục II, Hình ảnh trẻ chơi trò chơi nấu ăn)
Ví dụ 3: Sau khi trẻ chơi xong, trẻ để đồ chơi bừa bãi, tôi hỏi trẻ “Con đã
cất đồ chơi chưa?”, “Con nhìn xem các bạn đang làm gì?”, “Con cùng cất đồ
chơi với các bạn nhé”. Dần dần tạo cho trẻ có kỹ năng sắp xếp đồ chơi gọn
gàng, ngăn nắp, đúng nơi quy định.
(Hình ảnh 14: Kèm theo phụ lục II, Hình ảnh trẻ chơi ở góc xây dựng)
Như vậy, bằng việc thực hiện các trò chơi ở các góc chơi tôi đều nhẹ nhàng
giáo dục trẻ các kỹ năng sống đơn giản qua việc tái hiện, mô phỏng các hoạt
động của người lớn, tạo ra “xã hội thu nhỏ” để trẻ được thực hành trải nghiệm
và lĩnh hội kiến thức cũng như rèn các kỹ năng sống khi tham gia vào cách chơi.
15


(Hình ảnh 15: Kèm theo phụ lục II, Trẻ hoạt động theo nhóm).
Bằng những hình thức khác nhau tôi luôn khuyến khích trẻ hoạt động theo
nhóm để từ đó trẻ có những kỹ năng độc lập, nhanh nhẹn, hoạt bát và có khả
năng làm thủ thủ lĩnh độc lập trong cuộc sống sau này của trẻ. Khi trẻ tham gia
vào một hoạt động nhóm đòi hỏi trẻ phải có sự làm việc nghiêm túc, phải phân
công rõ ràng để đạt được kết quả tốt nhất. Tôi luôn động viên để trẻ thấy được
sự nỗ lục của cả nhóm trong quá trình trẻ làm việc theo nhóm. Khi nhận xét tôi
đã chú trọng để trẻ cảm nhận được mỗi thành viên trong nhóm đều rất quan
trọng và đều đã làm việc rất tốt. Dù kết quả có đạt yêu cầu hay không đạt yêu
cầu thì trẻ vẫn cảm thấy giá trị của sự đoàn kết giữa các thành viên trong nhóm,
tự biết động viên và an ủi, tạo niềm vui cho nhau thông qua kết quả tập thể đạt
được. Việc dạy cho trẻ kỹ năng, hoạt động theo nhóm và tự giải quyết các vấn đề
cần thiết ở môi trường thực tế hiện nay là một điều hết sức cần thiết, đặc biệt là
ở lứa tuổi Mầm non.
Ví dụ 4: Sau khi kết thúc hoạt động góc tôi tổ chức cho trẻ chơi các trò
chơi chuyển tiết hay cho trẻ cùng tập bài tập đồng diễn, ném vòng cổ chai, ném
bóng vào rổ.... Từ những kinh nghiệm truyền thụ về kiến thức cơ bản và lòng
nhiệt tình, tâm huyết mà tôi đã truyền đạt cho trẻ, trẻ đã biết phối kết hợp với
nhau trong các động tác, ngoài ra còn biết tự mình giải quyết những tình huống
xảy ra, biết sáng tạo linh hoạt trong các phần thi, biết nhắc nhở bạn trong khi
thực hiện bài tập mà không có cô giáo.
Mỗi hoạt động có ưu thế riêng đối với việc dạy những kỹ năng sống cần
thiết với cuộc sống, có được kỹ năng sống trẻ cần phải có thời gian sống trong
một quá trình thường xuyên với sự hỗ trợ của cô giáo, người lớn và bạn bè. Mỗi
hoạt động có xen lồng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ với những nội dung đơn
giản, gần gũi, thiết thực với cuộc sống của trẻ để cho trẻ tiếp thu một cách nhẹ
nhàng, thoải mái mà giúp trẻ nhớ lâu và dễ dàng thực hiện.
*. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua ngày hội ngày lễ:
Tổ chức cho trẻ tham gia các ngày lễ hội lớn ở trường mầm non như:
“Ngày khai giảng”,“Ngày tết trung thu”, “Ngày tổng kết năm học” Hội thi của
bé. Qua đó giáo dục trẻ biết được ý nghĩa của các ngày lễ hội trong năm. Đồng
thời qua đó giáo dục trẻ các kỹ năng: Tự tin, kỹ năng múa, hát, đọc thơ, kể
chuyện, kỹ giao tiếp…
Ví dụ: Thông qua ngày khai giảng giáo dục trẻ biết được đó là ngày đầu
tiên của một năm học mới. Trẻ được múa hát, tham gia các hoạt động tập thể vui
tươi, bổ ích… Qua đó trẻ biết đoàn kết, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau
trong khi chơi.
(Hình ảnh 16: Kèm theo phụ lục II, Trẻ lớp tôi tham gia các ngày lễ hội
do trường tổ chức)
* Kết quả: Nhờ vậy, trẻ đạt 100% trẻ hứng thú khi tham gia vào các hoạt
động và ngày hội ngày lễ, trẻ tự tin hơn, đoàn kết hơn, khéo léo hơn… Chủ
động, tích cực, trách nhiệm khi tham gia công việc và hoàn thành công việc
được giao.
16


2.3.7: Tích cực phối kết hợp với phụ huynh, tạo các tình huống bất ngờ
để trẻ được thực hành trải nghiệm thường xuyên.
Có thể nói, công tác phối kết hợp giữa gia đình, giáo viên, nhà trường và
xã hội là một trong những biện pháp quan trọng và là trách nhiệm của mọi người
trong sự hình thành kỹ năng sống cho trẻ. Gia đình chính là cái nôi, là tổ ấm, là
điểm tựa cho trẻ trong cuộc sống, chính vì vậy, ở trong gia đình, trẻ luôn được
ông bà, bố mẹ quan tâm chăm sóc từ miếng ăn đến giấc ngủ đồng thời cũng có
thể làm thay đổi những nhu cầu mà bản thân trẻ có thể làm được....
Ngay từ đầu năm học thông qua các buổi họp phụ huynh tôi đã phối kết
hợp với nhà nhà trường để trao đổi nội dung kế hoạch giáo dục hình thành kỹ
năng sống cho trẻ, để phụ huynh hiểu và thống nhất biện pháp phối hợp cùng
giáo viên thực hiện nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục trẻ.
- Chúng tôi đã phối hợp tuyên truyền với các bậc phụ huynh xem các
chương trình trên ti vi liên quan đến giáo dục trẻ.
Ví dụ 1: Chương trình bố ơi mình đi đâu thế, chương trình quà tặng cuộc sống...
Ví dụ 2: Trong sinh hoạt hàng ngày của trẻ tại nhóm lớp, tôi thường nhìn
thấy những ảnh hưởng của trẻ từ phía gia đình hay tiếp xúc với mọi người xung
quanh thì trẻ thường có những hành vi sai lệch trong quá trình giáo dục trẻ, và
tôi đã thường xuyên gặp gỡ trao đổi với phụ huynh thông qua các giờ đón trả trẻ
hoặc gặp trực tiếp tại gia đình để trao đổi tình hình học tập thông qua những kỹ
năng sống của trẻ. Nhờ phụ huynh đóng vai người lạ đến làm quen dụ dỗ trẻ
bằng gói bánh kẹo để trẻ đi cùng mình. Qua đó giáo dục các cháu có kỹ năng tự
bảo vệ mình khỏi bị người lạ cho quà bánh, làm quen để bắt cóc trẻ.
- Giáo dục trẻ cần làm gì khi bị lạc, khi tiếp xúc với người lạ trẻ cần làm gì?
- Giáo dục trẻ cần phải đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông để tránh tai
nạn. Các mối nguy hiểm bất ngờ như cháy nổ, chó cắn, ong đốt, ngộ độc....
(Hình ảnh 17: Kèm theo phụ lục II, Phụ huynh đóng vai người lạ,
tiếp xúc làm quen và cho quà bánh trẻ không lấy)
(Hình ảnh 18: Kèm theo phụ lục II, Phụ huynh giáo dục trẻ cần
phải đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông)
Đây là một quá trình lâu dài và đòi hỏi việc giáo dục rèn luyện phải được
thực hiện ở cả nhà trường, gia đình và xã hội thì mới có hiệu quả cao. Tôi luôn
gặp gỡ trao đổi với phụ huynh hàng ngày trong giờ đón trả trẻ về sự tiến bộ hay
những hạn chế của trẻ đẻ phụ huynh nắm bắt kịp thời và tiếp tục rèn luyện cho
trẻ ở nhà. Đối với những trẻ có thể lực yếu, suy dinh dưỡng, trẻ thụ động, trẻ hay
nghịch..... Thì tôi luôn tranh thủ đến tận gia đình để trực tiếp gặp bố mẹ, người
thân của trẻ để trao đổi về đặc điểm tâm lý của trẻ và cùng với gia đình có biện
pháp chăm sóc và giáo dục trẻ tốt hơn. Ngược lại, Những cử chỉ và việc làm tốt
của trẻ ở trường và ở gia đình tôi thường nêu ra và tuyên dương trẻ trước lớp để
trẻ khác cùng học tập. Đồng thời phối hợp để phản ánh kết quả qua lại giữa gia
đình, nhà trường đều biết để cùng giải quyết.
Ví dụ 3: Một số kỹ năng phối hợp cùng cô giáo dạy trẻ kỹ năng cất dép, kỹ
năng gấp quần áo, kỹ năng quét nhà, kỹ năng bỏ rác đúng nơi quy định... Vậy
17


muốn trẻ làm tốt được những kỹ năng này tôi phối hợp với phụ huynh hướng
dẫn và quan sát trẻ khi con ở nhà. Cha mẹ cần có niềm tin với sự hướng dẫn của
giáo viên và năng khiếu bẩm sinh của trẻ bên cạnh đó cha mẹ cần dạy trẻ từ từ
để trẻ hiểu và cha mẹ chính là tấm gương sáng để trẻ noi theo.
(Hình ảnh 19: Kèm theo phụ lục II, Hình ảnh Bé làm việc nhà giúp bố mẹ)
* Kết quả đạt được: Khi áp dụng giải pháp này, kết quả đạt: 100% rất đáng
khích lệ. Trẻ được giáo dục ở mọi lúc, mọi nơi, ở nhà cũng như ở trường nên trẻ
có rất nhiều tiến bộ. Mối quan hệ giữa phụ huynh và giáo viên cũng trở nên gắn
bó hơn. Phụ huynh rất tin tưởng và yên tâm khi gửi con tới trường.
2.4. Hiệu quả của các giải pháp:
* Đối với hoạt động giáo dục:
Từ những giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, tôi đã có được những
kinh nghiệm trong việc vận dụng các kỹ năng trong hoạt động giáo dục, trong
môi trường sinh hoạt của trẻ ở gia đình, nhà trường, trong đó, môi trường giáo
dục tại nhóm lớp mà tôi đã tâm huyết trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ ngay
từ đầu năm đã giúp cho tôi có một hành trang tạo dựng, rèn luyện cho trẻ có kỹ
năng sống tốt đẹp, hành vi đúng đắn, khả năng giao tiếp tốt và tự lập, tự phục
vụ, tự giải quyết những vấn đề khi đến với trẻ, không còn phụ thuộc vào cô vì thế
giờ học không đơn điệu như trước nữa mà trở nên sôi động hơn. Trẻ yêu trường lớp,
yêu cô giáo và bạn bè, ham thích đến trường.
* Đối với trẻ:
Sau khi tiến hành những giải pháp trên tôi thấy trẻ tham gia vào các hoạt động
một cách tự tin mạnh dạn giúp cho việc tổ chức các hoạt động giáo dục của cô
giáo đạt kết quả tốt.
Trẻ lớp tôi có sự chuyển biến rõ nét về việc hình thành các kỹ năng sống: Giao
tiếp, hợp tác làm việc theo nhóm, thể hiện tinh thần đồng đội, biết chia sẻ, cư xử
với nhau một cách thân thiện, biết giải quyết vấn đề, giải quyết xung đột,…Và
phát triển những phẩm chất tốt đẹp như: Tính kiên trì, tính trung thực, biết
nhường nhịn, biết cư xử đẹp khi thắng thua. Trẻ tự tin tham gia vào các hoạt động
của trường lớp. Trẻ đã biết chuyển hóa từ hoạt động thành ý thức, từ ý thức thành
kỹ năng. Và những kỹ năng sống đó sẽ phát triển bền vững và theo trẻ đến suốt
cuộc đời.
* Đối với bản thân:
- Bản thân tôi tự tin, sáng tạo hơn trong việc dạy kỹ năng sống cho trẻ.
- Mạnh dạn giám nghĩ, giám làm, khắc phục mọi khó khăn để giúp trẻ có
được những kỹ năng sống ngay từ khi còn nhỏ.
- Biết lựa chọn các hình thức tổ chức và phương pháp giáo dục phù hợp để phát
huy hết tính tích cực của trẻ và để trẻ thực sự là trung tâm của các hoạt động.
- Kết hợp chặt chẽ với phụ huynh, tạo uy tín tiềm năng đối với phụ huynh và
với trẻ, được phụ huynh tín nhiệm.
* Đối với đồng nghiệp:
- 100% đồng nghiệp tham khảo các giải pháp và được triển khai, nhân rộng
trong nhà trường.
18


- Được đồng nghiệp đánh giá cao với các giải pháp đưa ra trong sáng kiến.
* Đối với nhà trường:
Qua mỗi lần khảo sát trên cô và trẻ ban giám hiệu đánh giá tốt và sáng kiến
kinh nghiệm được đưa ra để làm mẫu cho đồng nghiệp tham khảo.
- Nhà trường liên tục được Phòng giáo dục đánh giá cao về công tác chăm
sóc giáo dục theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm.
Kết quả sau khi áp dụng một số giải pháp tôi đã tiến hành khảo sát đánh
giá cuối năm cụ thể như sau:
Bảng 2: Kết quả khảo sát cuối năm học: 2018 - 2019. (Tháng 4 năm 2019)
(Xem phụ lục I)
Nhìn vào bảng đánh giá kết quả trên chúng ta nhận thấy rằng: Các nội
dung đặt ra có sự chuyển biến rõ rệt. Điều này chứng tỏ rằng: Giáo dục kỹ năng
sống đã thấm dần vào các cháu, các cháu ý thức với bản thân, với mọi người và
với môi trường xung quanh hơn, có ý thức xây dựng trường lớp tốt hơn, phụ
huynh rất phấn khởi và tin tưởng, điều đó đã chứng minh giáo dục kỹ năng sống
ngay từ lứa tuổi Mầm non là nền tảng vững chắc để phát triển toàn diện cho trẻ.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
Kỹ năng sống là một yếu tố quan trọng điều khiển ý thức và hành vi của
con người. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Mầm non sẽ mang lại cho các cháu trí
tuệ, những phẩm chất đạo đức tốt đẹp, sớm đem lại cho trẻ ý thức và khả năng
thích nghi với cuộc sống, làm chủ bản thân, sống tích cực và hướng đến những
điều lành mạnh cho chính mình cũng như cho xã hội.
Trẻ em được giáo dục kỹ năng sống tốt thì khả năng thích nghi và thành
công trong cuộc sống sẽ dễ dàng hơn. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là một việc
làm hết sức quan trọng và cần thiết. Điều đó giúp cho trẻ tự tin, chủ động xử lý
linh hoạt các tình huống trong cuộc sống.
Thực tế, kỹ năng sống của trẻ lứa tuổi mầm non chỉ đơn giản là giao tiếp tốt,
biết vui chơi với bạn, biết xin lỗi hoặc cảm ơn đúng lúc, dễ thích nghi với môi
trường khác nhau….Một đứa trẻ chờ đến lượt chơi sẽ là người biết kiên nhẫn, một
đứa trẻ được tập thích nghi với đám đông sẽ trở thành người biết tự chủ và tự tin
sau này. Đó chính là những lợi ích về lâu dài để các bậc phụ huynh ngày nay quan
tâm nhiều hơn đến việc trang bị kỹ năng sống cho con ngay từ tuổi mầm non.
Cũng cần nói thêm rằng trẻ nhỏ chỉ có thể tích luỹ kỹ năng sống thông qua những
trải nghiệm thực tế. Trong mỗi đứa trẻ đều có những tài năng tiềm ẩn. Sự chuẩn bị
kỹ càng từ lúc đầu đời chính là chìa khoá thành công cho tương lai mỗi cháu.
Chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non chính là cơ sở giúp trẻ
phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ là nền tảng cho quá
trình học tập suốt đời của trẻ. Người lớn hãy luôn khuyến khích trẻ mạnh dạn
tham gia các hoạt động, tự tin vào bản thân. Đồng thời, khuyến khích trẻ khi tham
gia vào trò chơi, cần biết cải tiến, sáng tạo các cách chơi và cố gắng đạt mục đích,
đây chính là những kỹ năng cơ bản để sống và làm việc sau này. Thường xuyên
chỉ ra cái mới mà người lớn cũng tìm tòi một cách hăng hái bằng nhiều cách, hãy
19


trao đổi với trẻ về những thông tin mà cô giáo, Cha mẹ mới tìm thấy cho trẻ thấy
rằng học lúc nào cũng vừa vui, vừa thử thách.
Bên cạnh những lời nói khích lệ, nêu gương, khuyến khích những hành vi,
lời nói tốt của trẻ. Các bậc làm cha mẹ, cô giáo, những người lớn cần nhẹ nhàng,
khéo léo khi giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, không nên hạ thấp khả năng của trẻ,
không doạ nạt hay bắt trẻ phải làm những việc quá sức của trẻ. Người lớn không
nên nuông chiều, bao bọc trẻ thái quá, không nên nhồi nhét lượng kiến thức quá
mức so với khả năng tiếp nhận từng lứa tuổi của trẻ. Người lớn cần sử dụng lời
nói rõ ràng, câu hỏi gợi mở phối hợp cùng các cử chỉ, điệu bộ phù hợp nhằm
khuyến khích trẻ tiếp xúc với môi trường xung quanh, bộc lộ, chia sẻ những cảm
xúc với người khác bằng lời nói và hành động cụ thể. Đó là niềm vui không chỉ
dành cho các bậc cha mẹ mà còn là niềm vui lớn của cô giáo mầm non, của
những người làm công tác giáo dục.
Với kết quả đạt được của lớp tôi 5 - 6 tuổi trong trường mầm non, đã cho
thấy tính khả thi của đề tài, Tính hiệu quả của các giải pháp áp dụng nhằm giáo
dục kỹ năng sống cho trẻ.
3.2. Kiến nghị:
Qua một thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài tôi thấy nội dung giáo dục
kỹ năng sống cho trẻ ở bậc Mầm non là rất quan trọng và cần thiết. Vì vậy, đề
nghị các cấp lãnh đạo tiếp tục triển khai và thực hiện rộng rãi nội giáo dục kỹ
năng sống cho trẻ ở các trường Mầm non.
* Đối với phòng giáo dục và đào tạo.
- Thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc thực hiện phong trào thi đua “Xây
dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” và lồng ghép giáo dục kĩ năng
sống cho trẻ của các trường mầm non đặc biệt là giáo viên.
- Mở lớp tập huấn chuyên môn, Các hội thảo về nội dung giáo dục kỹ năng
sống cho giáo viên đến từng cơ sở.
Trên đây là: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng
sống cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi, Trường Mầm Non Nga Thành, Huyện Nga
Sơn, Tỉnh Thanh Hóa” của tôi. Do kinh nghiệm và khả năng còn có những hạn
chế nhất định, Bản thân tôi luôn mong được tiếp thu ý kiến đóng góp bổ sung
của hội đồng nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm các cấp, để sáng kiến được hoàn
thiện và áp dụng vào thực tế đạt hiệu quả cao hơn./.
Xin chân thành cảm ơn !

XÁC NHẬN CỦA THỦ
TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Nguyễn Thị Quyên

Nga Thành, ngày 16 tháng 4 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Người thực hiện

Phạm Thị Bảy
20


TÀI LIỆU THAM KHẢO
- [1]. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho CBQL giáo viên mầm non năm
học 2018 - 2019.
Modunle 39: Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo.
- [2]. Tài liệu chuyên đề: “Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non”.
- [3]. Tài liệu hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục Mầm non
mẫu giáo 5- 6 tuổi.
- [4]. Thông tư số 28/2016/TT-BDGĐT ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ GD&ĐT sửa đổi, bổ sung một số nội dung của chương trình giáo dục
mầm non); NXB Giáo dục Việt Nam (Xuất bản tháng 8/2017):
- [5]. Một số biện pháp hướng dẫn tổ chức hoạt giáo dục theo chủ đề cho
trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi.
- Một số tạp san, Tạp chí Giáo dục mầm non. Mạng Internets.

21


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD & ĐT VÀ
CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Phạm Thị Bảy
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên - Trường Mầm Non Thành.

STT

1

2

3

4

5

Tên đề tài SKKN

Cấp đánh giá
Kết quả
xếp
đánh giá
loại (Phòng, Sở, xếp loại
Tỉnh…)
(A, B, C)

Hướng dẫn dạy vẽ cho trẻ
- Phòng GD&ĐT
mẫu giáo 3- 4 tuổi.Trường
huyện Nga Sơn
Mầm Non Nga Thành.
Một số biện pháp phát triển
ngôn ngữ cho trẻ ở lứa tuổi - Phòng GD&ĐT
18- 24 tháng tuổi. Trường huyện Nga Sơn.
Mầm Non Nga Thành.
Biện pháp giáo dục ý thức
- Phòng GD&ĐT
bảo vệ môi trường cho trẻ
huyện Nga Sơn.
4 - 5 tuổi ở Trường Mầm
Non Nga Thành.
Tạo môi trường học tập
trong lớp cho trẻ 4-5 tuổi
- Phòng GD&ĐT
hoạt động một cách tích cực huyện Nga Sơn.
ở trường mầm non Nga
Thành.
Một số biện pháp kích thích
trẻ 4- 5 tuổi hoạt động tích
cực kỹ năng xé dán trong
- Phòng GD&ĐT
giờ hoạt động tạo hình ở
huyện Nga Sơn.
trường mầm non Nga
Thành.

C

Năm học
đánh giá
xếp loại
2008- 2009

2011 - 2012

C

C

2013 - 2014

C

2014- 2015

A

2015-2016

22


23


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×