Tải bản đầy đủ

Một số kinh nghiệm hướng dẫn viết chữ đẹp, giữ vở sạch cho học sinh lớp 1 trường tiểu học đông thịnh, huyện đông sơn, tỉnh thanh hóa

MỤC LỤC
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
12
11
12
13
14
15
16
17


Nội dung
Trang
I. Mở đầu
1
1. Lí do chọn đề tài.
2
2. Mục đích nghiên cứu.
2
3. Đối tượng nghiên cứu.
3
4. Phương pháp nghiên cứu.
3
3
II. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
1. Cơ sở lí luận.
3
2. Thực trạng chung của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến.
4
3. Những biện pháp thực hiện.
5
Biện pháp 1: Hướng dẫn học sinh tư thế ngồi viết và cách cầm
5
bút đúng.
Biện pháp 2: Dạy học sinh viết đúng, viết đẹp, thành thạo các
7
nét cơ bản, kĩ thuật viết.
Biện pháp 3: Hướng dẫn viết đúng các nhóm chữ cỡ vừa và cỡ
9
nhỏ.
Biện pháp 4: Hướng dẫn học sinh thực hành luyện viết.
14
Biện pháp 5: Hướng dẫn học sinh giữ vở sạch.
16
4. Hiệu quả của sáng kiến đối với hoạt động giáo dục.
17
17
III. Kết luận, kiến nghị.
1. Kết luận.
17
2. Kiến nghị.
18

1


I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chúng ta biết rằng chữ viết có tầm quan trọng đặc biệt ở bậc tiểu học, học
sinh phải dùng chữ viết để học tập và giao tiếp. Ông cha ta từ xưa đến nay trong
bất kì thời đại nào, giai đoạn nào cũng luôn đề cao vấn đề chữ viết “Nét chữ, nết
người”. Viết đúng đã khó nhưng để rèn cho học sinh viết đẹp thì đó là cả một
nghệ thuật của người thầy. Rèn chữ viết là một vấn đề quan trọng đối với học
sinh Tiểu học. Chữ viết có liên quan mật thiết tới chất lượng học tập ở các môn
học khác. Nếu viết đúng cỡ, đẹp và nắm được kĩ thuật viết thì học sinh sẽ viết
nhanh, đúng và đẹp, học sinh sẽ rèn cho mình kĩ năng ghi chép bài nhanh, nhờ
vậy kết quả học tập sẽ cao. Chữ viết xấu, kém, tốc độ chậm không có kĩ năng
viết sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học tập của các em.
Rèn chữ viết còn góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho học sinh Tiểu
học những phẩm chất tốt đẹp như: tính cẩn thận, tinh thần kỉ luật, óc thẩm mĩ, tính
kiên trì,... Học chữ chính là công việc đầu tiên khi các em đến trường. Vì vậy dạy
chữ chính là dạy người. Hiện nay trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
công nghệ 4,0 mọi người không còn đề cao đến chữ viết đẹp mà chỉ chú trọng vào
việc gõ trên bàn phím. Nhưng đối với tôi là người giáo viên Tiểu học đã gắn bó
trong nghề hơn 20 năm tôi rất đề cao vấn đề chữ viết và luôn trăn trở tìm ra các
biện pháp giúp học sinh phải viết đúng chính tả và viết đẹp.
Chữ viết thể hiện tính cách của người học trò. Chính vì vậy thầy cô giáo
ngoài việc truyền thụ kiến thức còn phải quan tâm đến việc rèn chữ viết cho học
sinh. Là một giáo viên dạy lớp 1 thì việc rèn kĩ năng viết chữ cho học sinh lớp 1
là vô cùng quan trọng và cần thiết. Tâm hồn các em như tờ giấy trắng, ở mầm
non các em mới chỉ vui chơi là chính. Bước vào Tiểu học, chuyển sang một giai
đoạn mới, để dạy các em biết viết là cả một công trình của người thầy in dấu ấn
đặc biệt quan trọng đối với các em.
Viết là một trong bốn kĩ năng quan trọng nhất của chương trình dạy học
mà các em cần phải thực hiện và lĩnh hội nghe - nói - đọc - viết. Thấy được được
tầm quan trọng đó, tôi luôn lo lắng trăn trở và đã tìm ra "Một số kinh nghiệm
hướng dẫn viết chữ đẹp, giữ vở sạch cho học sinh lớp 1 trường Tiểu học Đông
Thịnh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa" góp phần nâng cao kết quả tập và
chất lượng Vở sạch - Chữ đẹp trong nhà trường.
2. Mục đích nghiên cứu
Trong chương trình Tiểu học và đặc biệt là đối với lớp 1, việc giúp các em
viết đúng, viết đẹp sẽ giúp các em học tốt những môn học khác. Để biết được
kết quả tiếp thu bài của một học sinh như thế nào các em phải trình bày được sản
phẩm, kết quả kiến thức của mình qua bài viết.
Với suy nghĩ, trăn trở như vậy trong quá trình giảng dạy tôi đã nghiên cứu
tìm hiểu phương pháp làm thế nào để rèn luyện chữ viết cho học sinh lớp 1, với
mục đích góp phần vào việc đổi mới phương pháp, nâng cao hiệu quả của giờ
học nhằm nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh, giúp học sinh viết đúng và
đẹp, đưa phong trào “Vở sạch, chữ đẹp” của trường Tiểu học Đông Thịnh ngày
càng có chất lượng.
2


3. Đối tượng nghiên cứu
Một số kinh nghiệm hướng dẫn viết chữ đẹp, giữ vở sạch cho học sinh lớp
1A trường Tiểu học Đông Thịnh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
4. Phương pháp nghiên cứu
Khi tiến hành nghiên cứu tôi thường sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp lí luận:
Tìm hiểu các sách tham khảo về luyện viết chữ đẹp cho học sinh, SGV,
chương trình bồi dưỡng giáo viên Tiểu học, học các kĩ thuật viết đúng đẹp của
đồng nghiệp, trên mạng INTENET. Học hỏi đúc rút kinh nghiệm từ các đồng
nghiệp và trong quá trình giảng dạy. Điều tra học sinh, kiểm tra các loại vở tập
viết, vở luyện viết chữ đẹp.
- Phương pháp trực quan
Đây là phương pháp vô cùng quan trọng đối với việc viết chữ của HS lớp
1. Giáo viên khắc sâu biểu tượng về chữ viết cho các em bằng nhiều con đường:
kết hợp mắt nhìn, tai nghe, tay luyện viết. Đặc biệt việc quan sát chữ mẫu và
theo dõi cô giáo viết mẫu là điều bắt buộc đối với các em. Đây là điều kiện đầu
tiên để các em viết đúng.
- Phương pháp đàm thoại
Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở giai đoạn đầu của tiết học. Giáo
viên dẫn dắt học sinh tiếp xúc với các chữ sẽ học bằng một hệ thống câu hỏi, từ
việc hỏi về các nét cấu tạo chữ cái, độ cao, kích thước chữ cái đến việc so sánh
nét giống nhau và nét khác biệt giữa các chữ cái đã học với các chữ cái phân
tích.
- Phương pháp luyện tập
Giáo viên cần chú ý đến các giai đoạn của quá trình tập viết chữ. Việc
hướng dẫn cho học sinh luyện tập thực hành phải tiến hành từ thấp đến cao để
học sinh dễ tiếp thu.. Cho học sinh viết đi viết lại nhiều lần một bài để giáo viên
dễ dàng nhận ra lỗi sai của học sinh đồng thời cũng dễ nhận xét sự tiến bộ của
học sinh, tăng dần độ khó để học sinh dễ tiếp thu: viết đúng rồi viết nhanh viết
đẹp. Việc luyện chữ phải được tiến hành một cách đồng bộ ở lớp cũng như ở
nhà, Khi học sinh luyện tập viết chữ, giáo viên cần chú ý uốn nắn để các em cầm
bút đúng và ngồi đúng tư thế. Nơi ngồi viết cần phải đảm bảo đủ ánh sáng, ghế
ngồi viết phải phù hợp với chiều cao của học sinh
- Phương pháp kiểm tra, đánh giá.
Kiểm tra chất lượng chữ viết của học sinh ở từng giai đoạn.
GV rút kinh nghiệm cho mình, tổng kết thành các bài học cơ bản.
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lí luận
Đối với học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng, việc đọc
thông, viết thạo là kĩ năng bắt buộc phải có. Nhưng để các em viết đúng, viết
đẹp phải cần có một quá trình rèn luyện lâu dài, cần phải có sự nỗ lực của bản
thân các em, đặc biệt là sự tận tâm uốn nắn, dạy dỗ của thầy cô để lại dấu ấn
trong từng nét chữ của học trò. Nếu học sinh viết sai, không đúng sẽ ảnh hưởng
đến cả quá trình học tập các môn học khác. Chính vì nhận thức được tầm quan
trọng đó mà Bộ giáo dục luôn luôn quan tâm đến phong trào Vở sạch chữ đẹp
3


của giáo viên và học sinh. Phòng giáo dục đã tổ chức các cuộc thi viết chữ đẹp cho
giáo viên và học sinh. động viên khuyến khích, khen thưởng những trường có
phong trào Vở sạch - Chữ đẹp đạt chất lượng cao. Muốn học sinh nắm được các kĩ
thuật viết thì ngay từ đầu giáo viên phải hướng dẫn, kèm cặp các em, nắm được
tâm sinh lý và sự phát triển tư duy của các em, GV phải dạy theo một phương pháp
khoa học, có kinh nghiệm đã được đúc kết cùng với sự kèm cặp thường xuyên, sâu
sát của các bậc phụ huynh, sự nỗ lực kiên trì của mỗi học sinh. Rèn cho học sinh
viết đúng, đẹp là nhiệm vụ của tất cả các thầy cô tiểu học.
2. Thực trạng chung của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến
Học sinh lớp 1 có độ tuổi là 6 tuổi, đây là giai đoạn các em đang dần phát
triển cả về tâm lý và thể chất. Ở mẫu giáo, các em mới được làm quen với đọc
và tô các chữ cái, chưa có khái niệm về đường kẻ, dòng kẻ, chưa nắm được cấu
tạo của các nét cơ bản, cấu tạo của các chữ cái, chưa nắm được độ cao, độ rộng,
của từng con chữ, khoảng cách giữa các chữ ghi tiếng, cách viết các chữ thường,
dấu thanh và các chữ số, chưa nắm được quy trình viết chữ cái. Nhiều em còn
viết chữ ngược. Vì vậy, để đưa các em ngay vào khuôn khổ là điều rất khó, cần
phải sự nỗ lực tận tâm đặc biệt của người thầy, người thầy cần phải có những
kiến thức cơ bản và những kinh nghiệm nhất định mới giảng dạy lớp 1 đạt kết
quả tốt nhất. Trong thực tế dạy học có một bộ phận giáo viên chữ viết chưa đẹp,
chưa đúng mẫu, chưa chịu khó rèn luyện làm ảnh hưởng đến chất lượng chữ viết
của học sinh. Vì vậy, suốt quá trình giảng dạy 20 năm qua cùng với việc dạy lớp
1 nhiều năm, tôi thấy muốn nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh lớp 1,
người giáo viên cần tìm hiểu điều kiện cần và đủ sau đây:
Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn trong quá trình dạy chữ cho
học sinh lớp 1.
a,Thuận lợi:
- Nhà trường luôn quan tâm tạo điều kiện, chỉ đạo nâng cao chất lượng
giảng dạy, nâng cao tay nghề cho giáo viên.
- Giáo viên nhiệt tình trong công tác giảng dạy, phòng học đều được trang
bị đầy đủ các thiết bị dạy học.
- Học sinh lớp 1 mới đi nên các em rất thích học, ham học, ham viết.
- Phụ huynh cho con đến trường ở đầu năm cũng rất quan tâm đến việc
học tập của con em mình.
- Nhà trường có thư viện với trang thiết bị đầy đủ: Bộ chữ mẫu của Giáo
viên, những bảng chữ mẫu (với nhiều kiểu chữ) cho học sinh quan sát.
- Nhà trường, phòng giáo dục quan tâm đến chất lượng chữ viết của các
em ngay từ lớp 1.
- Nhà trường kẻ bảng có ô ly cho GV viết mẫu.
- Bản thân tôi đã có 20 năm công tác và đã nhiều năm dạy lớp 1. Đi thi
nhiều cuộc thi viết chữ đẹp cấp huyện và có nhiều học sinh đạt giải Viết chữ đẹp
cấp Huyện, cấp Tỉnh
- Ánh sáng phòng học đảm bảo theo tiêu chuẩn học đường, có bảng chống
loá, có dòng kẻ rõ ràng, bàn ghế đúng kích cỡ tiêu chuẩn đối với học sinh tiểu
học.. .
4


b, Khó khăn:
- Đông Thịnh là một xã thuần nông, nghề nghiệp chủ yếu là làm ruộng,
đời sống kinh tế còn nhiều nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến điều kiện và chất
lượng học tập của học sinh.
- Nhiều gia đình bố mẹ đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, gửi con ở nhà
cho ông bà già yếu nên không quán xuyến được việc học tập của các em.
- Một số giáo viên chữ viết còn chưa đẹp, không chịu luyện tập, một bộ phận
GV lớp 1 chưa nắm vững tên gọi của các nét cơ bản để hướng dẫn học sinh.
- Một số học sinh không đi học mầm non nên ra lớp còn rất bỡ ngỡ.
- Qua nhiều năm dạy lớp 1 tôi nhận thấy các em học sinh lớp 1 gặp rất
nhiều khó khăn vào giai đoạn đầu năm. Các em chưa xác định đúng được dòng
kẻ, viết không đúng mẫu chữ, ngồi viết chưa đúng tư thế.
- Các em chưa biết cách cầm bút, xác định được điểm đặt bút, điểm dùng
bút khi viết chữ.
- Chưa xác định được khoảng cách viết giữa các con chữ và các chữ trong
từ; Các em viết sai về độ cao, thế chữ chưa đúng mẫu.
Từ thực trạng trên, tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng chữ viết của học
sinh, từ đó biết những lỗi mà học sinh thường mắc để có biện pháp giúp đỡ.
Đối tượng: Học sinh lớp 1A, trường Tiểu học Đông Thịnh, năm học 2018-2019
Loại A
SL
10 em

TL
19, 2%

Loại B
SL
18

TL
50%

SL
8

Loại C
TL
30, 8%

3. Những biện pháp thực hiện
Để đạt được mục đích yêu cầu dạy Tập viết cho học sinh lớp 1, khắc phục
được nhược điểm đã nêu, tôi đề ra những biện pháp sau:
Biện pháp 1. Hướng dẫn học sinh tư thế ngồi viết và cách cầm bút đúng.
a. Tư thế ngồi viết:
Đối với tiết tập viết điều đầu tiên quan trọng là tư thế ngồi viết. Tư thế
ngồi viết đúng tạo cho các em thành thói quen giúp các em tránh bệnh cân thị,
cong vẹo cột sống,. Tôi luôn nhắc nhở các em ngồi đúng tư thế giúp em viết đẹp
hơn. Muốn vậy, người giáo viên cũng phải có tư thế ngồi thật đúng để học sinh
bắt chước. Ngay đầu giờ tập viết tôi đều nhắc nhở học sinh ngồi đúng tư thế.
- Lưng thẳng
- Đầu hơi cúi
- Không tỳ ngực vào bàn
- Mắt cách vở 25-30 cm
- Tay phải cầm bút
- Tay trái tì nhẹ lên mép vở để giữ
- Hai chân để song song thoải mái
Trong quá trình viết học sinh mỏi tay nên thường xuyên thay đổi tư thế
ngồi, tôi đã kiên nhẫn chỉnh sửa cho từng em. Lặp đi lặp lại nhiều lần, các em
cũng dần dần ngồi đúng, cầm bút đúng. Để viết dễ, chữ đẹp tôi còn hướng dẫn
các em cách để vở hơi chếch bên trái, khi viết xuống những dòng dưới, các em
5


tự đẩy vở lên trên để cánh tay luôn tì lên mặt bàn làm điểm tựa khi viết. Dặn học
sinh không nên để vở ra khỏi mặt bàn vừa khó viết vừa làm quăn mép vở.

Tư thế ngồi viết
b. Cách cầm bút:
Đối với học sinh lớp 1 việc cầm bút đúng là vô cùng quan trọng, giáo viên
phải hướng dẫn các em tỉ mỉ cách cầm bút đúng và giáo viên làm mẫu nhiều lần
cho học sinh làm theo. Ngay từ khi nhận lớp tôi đã rất chú trọng về vấn đề này.
Tôi hướng dẫn các em cầm bút bằng ba ngón tay: ngón trỏ, ngón cái và ngón
giữa. Khi viết dùng ba ngón tay di chuyển từ trái sang phải. Mép bàn tay là điểm
tựa của cánh tay phải khi đặt bút xuống bàn viết. Lúc viết điều khiển cây bút
bằng các cơ cổ tay. Cán bút nghiêng về phía phải, khuỷu tay và cánh tay cử
động mềm mại, tay hơi lỏng một chút để dễ di chuyển và viết nhanh, đều hơn.
Không nên cầm bút tay trái và cầm bút quá chặt khó di chuyển.Tôi lưu ý khoảng
cách cầm bút của học sinh từ ngón tay cầm bút (ngón trỏ) đến đầu bút sao cho
hợp lý, khoảng cách tối thiểu không nhỏ hơn 2cm. Em nào chưa biết cách cầm
và viết tôi trực tiếp cầm tay cho các con và hướng dẫn tỉ mỉ cách đưa bút.

Cách cầm bút đúng
Ở giai đoạn viết bút chì giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách gọt bút nhọn
đúng tầm, nếu quá nhọn dẫn đến nét chữ quá mảnh có khi còn chọc thủng giấy.
Biện pháp 2. Dạy học sinh viết đúng, viết đẹp, thành thạo các nét cơ
bản, kĩ thuật viết.
6


Trước tiên, giáo viên hướng dẫn học sinh nắm được các thuật ngữ dòng
kẻ: “Dòng kẻ ngang 1, ngang 2, ngang 3; ngang 4, ngang 5. Ô li 1, ô li 2…ô li 5.
Đường kẻ ngang trên, ngang dưới của một ô li. Dòng kẻ dọc 1, dòng kẻ dọc 2,
… dòng kẻ dọc 5” trong vở ô li, Vở Tập viết, trên bảng con, bảng lớp.
Đường kẻ dọc

Đường kẻ ngang

Tiếp theo, giáo viên hướng dẫn cho học sinh nắm chắc và viết tốt các nét
cơ bản của chữ. Nắm được tên gọi và cấu tạo của từng nét cơ bản:
Tên gọi các nét cơ bản:
Nét thẳng, nét ngang, nét xiên trái, nét xiên phải, nét móc trên, nét móc
dưới, nét móc hai đầu (là kết hợp của nét móc trên và nét móc dưới), nét cong
hở phải, nét cong hở trái, nét cong khép kín, nét khuyết trên, nét khuyết dưới, nét
thắt, nét khuyết đôi.
Một số nét ghi dấu phụ của chữ cái có thể gọi như sau:
Nét trên đầu của chữ cái ê, ô, â gọi là dấu mũ; nét ở chữ cái ơ, ư gọi là
nét râu; nét trên đầu chữ i gọi là nét chấm.
Việc nắm chắc cách viết, viết đúng, viết đẹp thành thạo các nét cơ bản sẽ
nắm được cấu tạo của từng chữ cái giúp cho việc nối các nét thành chữ cái sẽ dễ
dàng hơn.
Sau đó, dạy học sinh cách xác định toạ độ của điểm đặt bút và điểm dừng
bút phải dựa trên khung chữ làm chuẩn. Hướng dẫn học sinh hiểu điểm đặt bút
là điểm bắt đầu khi viết một nét trong một chữ cái hay một chữ. Điểm dừng bút
là vị trí kết thúc nét chữ. Điểm dừng bút có thể trùng với điểm đặt bút (chữ o) .
Để chữ viết không bị rời rạc, đứt nét, giáo viên nhấn mạnh hơn chỗ nối nét, nhắc
các em viết đều nét, liền mạch đúng kĩ thuật.
Dạy cách rê bút: Là nhấc nhẹ đầu bút nhưng vẫn chạm vào mặt giấy theo
đường nét viết trước hoặc tạo ra vệt mờ để sau đó có nét viết khác đè lên.
Dạy cách lia bút: Là dịch chuyển đầu bút từ điểm dừng này sang điểm đặt
bút khác, không chạm vào mặt giấy. Khi lia bút, ta phải nhấc bút lên để đưa
nhanh sang điểm khác, tạo một khoảng cách nhất định giữa đầu bút và mặt giấy.
Dạy cách viết liền mạch: Kĩ thuật viết liền mạch các chữ cái trong chữ ghi
tiếng là kĩ năng quan trọng giúp học sinh có thể viết nối chữ và đảm bảo tốc độ
viết. Viết liền mạch là viết tất cả các hình cơ bản của chữ cái trong một chữ ghi
tiếng rồi sau đó mới đặt dấu (kể cả dấu phụ của chữ cái và dấu thanh) theo trình
tự: dấu phụ trước (từ trái sang phải), dấu thanh sau.
Ví dụ như cách viết các chữ “uông”, “ruộng”, ” đường” như sau:
Viết vần uông:
Viết liền mạch các hình cơ bản của chữ cái thành uong, sau đó đặt dấu
mũ (dấu phụ) trên o để thành uông.Viết chữ ghi tiếng ruộng.
7


Viết liền mạch cách hình cơ bản của chữ cái thành ruong, sau đó đặt dấu
mũ trên o và dấu nặng dưới ô để thành ruộng.
Viết chữ ghi tiếng đường:
Viết liền mạch các hình cơ bản của chữ cái thành duong, sau đó viết nét
thẳng ngang ngắn ở chữ cái đ rồi đến dấu ư (dấu phụ), dấu ơ (dấu phụ), cuối
cùng là dấu huyền (dấu thanh) trên ơ để thành đường.

Dạy cách đặt dấu thanh trong Tiếng Việt:
Dấu thanh bao gồm các dấu: huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng. Dấu thanh được đánh
ở âm chính như: “hóa”, “thủy” , “khỏe”, “Huế”,…Khi âm chính là một âm đôi,
xuất hiện trong âm tiết mở (không có âm cuối) thì dấu thanh được đánh ở yếu tố
đầu của nguyên âm đôi đó như: “bìa”, “bùa”, “bừa”,…Khi âm chính là một âm
đôi, xuất hiện trong âm tiết đóng (có âm cuối) thì dấu thanh được đánh ở yếu tố
cuối của nguyên âm đôi đó như: “tiếng”, “vượn”, “buồn”,…Riêng đối với các
chữ cái â, ê, ô (có dấu mũ) các dấu huyền, sắc được đặt về phía bên phải của dấu
mũ. Ví dụ: huyền, chấm, xuồng,…

Khi hướng dẫn các em viết từ ngữ ứng dụng, giáo viên cũng cần quan tâm
nhắc nhở các em lưu ý về khoảng cách giữa các chữ sao cho đều đặn, hợp
lí.Thông thường khoảng cách giữa các chữ ghi tiếng thường được ước lượng
bằng chiều rộng của một chữ cái o viết thường.
Biện pháp 3. Hướng dẫn viết đúng các nhóm chữ cỡ vừa và cỡ nhỏ.
Thứ nhất: Chữ cỡ vừa
8


Căn cứ vào đặc điểm cấu tạo nét và mối quan hệ về cách viết các chữ cái,
để học sinh viết đúng kĩ thuật, viết đẹp, nắm chắc mẫu chữ. Giáo viên chia chữ
viết thành các nhóm và xác định trọng tâm đại diện cho mỗi nhóm chữ gồm
những nét nào, những nét chữ nào học sinh hay viết sai, học sinh gặp khó khăn
gì khi viết các nhóm chữ đó để khắc phục nhược điểm giúp học sinh viết đúng
và đẹp mẫu chữ trong trường tiểu học cỡ vừa như sau:
- Chữ 2 ô li: o, ô, ơ, a, ă, â, c, e, ê, i, n, m, u, ư, v, s, x.
- Chữ 2,25 ô li: s, r.
- Chữ 3 ô li: t.
- Chữ 4 ô li: d, đ, q, p.
- Chữ 5 ô li: l, h, k, b, y, g
Nhóm 1: Gồm các chữ: m, n, u, ư, i, t, v, r, p.
Các lỗi học sinh hay mắc: Viết chưa đúng nét nối giữa các nét, nét móc
thường hay bị đổ nghiêng, nét hất lên thường bị choãi chân ra không đúng.
Cách khắc phục: Cho học sinh luyện viết nét sổ có độ cao 2 ô li, sau đó
mới viết nét móc xuôi, nét móc ngược, nét móc hai đầu có độ cao 2 ô li thật
đúng,thật thẳng. Khi học sinh viết thành thạo các nét đó mới cho học sinh ghép
các nét thành chữ. Khi ghép chữ luôn chú ý điểm đặt bút, điểm dừng bút, độ cao,
độ rộng của mỗi nét để chữ viết cân đối, đẹp.
Nhóm 2: Gồm các chữ: b, l, h, k, y.
Các lỗi học sinh hay mắc: Học sinh hay viết sai điểm giao nhau của nét,
chữ viết còn cong vẹo.
Cách khắc phục: Trước tiên, giáo viên cho học sinh viết nét sổ có độ cao
5 ô li một cách ngay ngắn, thành thạo để rèn tư thế cầm bút chắc chắn cho học
sinh, sau đó dạy học sinh viết nét khuyết trên có độ cao 5 ô li, độ rộng trong
lòng 1 ô li.
Trong dạy tập viết, hướng dẫn học sinh viết đúng và đẹp nét khuyết và nét
cong kín ( chữ O) là vô cùng quan trọng, nó là nét chữ sử dụng nhiều nhất xuyên
suốt cả quá trình viết, giúp cho chữ các em viết đúng và đẹp, nên tôi luyện cho
học sinh viết nét khuyết rất nhiều để giúp học sinh viết đúng điểm giao nhau của
các nét khuyết, hướng dẫn học sinh đặt một dấu chấm nhỏ vào sát đường kẻ dọc,
trên dòng kẻ ngang 2 của li thứ tư và rèn cho học sinh luôn đưa bút từ điểm bắt
đầu qua đúng chấm rồi mới đưa bút lên tiếp viết nét khuyết trên có độ rộng bằng
1 li. Tương tự như vậy, dạy học sinh viết nét khuyết dưới có độ cao 5 ô li, độ
rộng 1 ô li.

9


Ví dụ 1: Khi viết chữ l các em thường viết nét khuyết to quá, nhỏ quá
hoặc điểm giao nhau của nét khuyết chưa đúng, nét móc thường rộng 1 ô ly (Nét
móc đúng là rộng 1,5 ô ly) . Học sinh xác định được chữ l gồm nét khuyết và nét
móc
Viết nét khuyết dựa vào dòng kẻ trên giấy ô li, viết theo dấu chấm:
+ Nét khuyết trên: Điểm đặt bút trên giữa đường kẻ ngang 2, viết nét
khuyết trên đầu nét khuyết chạm vào đường kẻ 6, kéo xuống điểm giao nhau của
nét khuyết ở đường kẻ ngang 3, dừng bút ở đường kẻ ngang 2 và điểm giữa
đường kẻ dọc 4.
Khi học sinh viết quen, không cần chấm mà dựa vào đường kẻ dọc, kẻ
ngang để viết vì đã thành thói quen. Nét khuyết xuôi cỡ nhỏ (cao 2, 5 ô li): có độ
cao và độ rộng bằng một nửa nét khuyết cỡ vừa.
Khi viết con chữ o (đây là con chữ sử dụng rất nhiều trong quá trình viết của
học sinh). Tôi hướng dẫn các em đặt bút phía dưới ĐK3 một chút, viết nét cong
kín từ phải sang trái dừng bút ở điểm xuất phát. Chữ o có độ rộng hẹp hơn độ
cao (3/4).
Nhóm 3: Gồm các chữ: o, ô, ơ, a, ă, â, c, x, d, đ, q, g, e, ê, s.

Khi viết con chữ o (đây là con chữ sử dụng rất nhiều trong quá trình viết
của học sinh). Tôi hướng dẫn các em đặt bút phía dưới ĐK3 một chút, viết nét
cong kín từ phải sang trái dừng bút ở điểm xuất phát. Chữ o có độ rộng hẹp hơn
độ cao (3/4).
Các lỗi học sinh hay mắc: viết chữ o chiều ngang quá rộng hoặc quá hẹp,
nét chữ không tròn đều đầu to, đầu bé, chữ o méo. Hầu hết các em viết
chữ o xấu.
Cách khắc phục: Để viết được đúng và đẹp nhóm chữ này cần phải viết
chữ o đúng và đẹp tròn theo quy định. Giáo viên cho học sinh chấm 4 điểm
vuông góc đều nhau như điểm giữa 4 cạnh của hình chữ nhật và từ điểm đặt bút
của con chữ o viết một nét cong tròn đều đi qua 4 chấm theo ngược chiều kim
đồng hồ thì sẽ được chữ o tròn đều và đẹp. Sau đó hướng dẫn học sinh ghép với
các nét cơ bản khác để tạo thành chữ.

10


Để chữ viết không bị rời rạc, đứt nét phải nhấn mạnh hơn chỗ nét nối,
nhất là chỗ rê bút, từ điểm dừng bút của con chữ vừa viết, rê bút lên viết liền
mạch đến đâu mới được nhấc bút. Ở phần đầu học chữ ghi âm, học sinh đã
được hướng dẫn rất kĩ về độ cao, độ rộng của từng nét chữ, con chữ.
Với học sinh viết còn chậm, chưa đều nét, liền mạch tôi chỉ yêu cầu các
em viết đúng cỡ chữ, ngay ngắn. Đối với học sinh viết tốt đều nét, liền mạch thì
yêu cầu cao hơn các em phải viết đẹp.
Thứ hai: chữ cỡ nhỏ
Bắt đầu từ tuần 25 học sinh đã viết chính tả và viết tập viết chữ cỡ nhỏ vì
vậy tôi đã hướng dẫn rèn luyện cho các em luyện viết chữ cỡ nhỏ vào các buổi
chiều và các tiết ôn luyện từ cuối học kì I, tôi phân các nhóm chữ, viết mẫu từng
con chữ cỡ nhỏ vào vở cho từng em. Khi học sinh viết thành thạo các con chữ và
nhớ được độ cao chính xác tôi mới cho học sinh viết ghép thành chữ. Khi dạy
đến phần này GV phải nắm chắc độ cao các con chữ cỡ nhỏ khác với độ cao các
con chữ cỡ vừa.
Nhóm chữ cỡ nhỏ
- Các chữ cái được viết với độ cao 2,5 ô li: h, b, l. k, g, y.
- Các chữ cái được viết với độ cao 2 ô li: d, đ, p, q.
- Các chữ cái được viết với độ cao 1,5 ô li: t.
- Các chữ cái được viết với độ cao 1,25 ô li: r, s.
- Các chữ cái được viết với độ cao 1 ô li: o, ô, ơ, a, ă, â, c, u, ư, e, ê, i, x,
v, n, m.
- Các dấu thanh được viết trong phạm vị 0, 5 ô li (Hoặc nửa ô li).
- Mẫu chữ viết hoa được viết với độ cao 2,5 ô li, riêng chữ g, h viết với độ
cao 4 ô li.
Ở giai đoạn đầu, trọng tâm của việc dạy tập viết là dạy viết chữ cái và kết
nối các chữ cái lại để ghi tiếng.
Từ tuần 25, song song với việc rèn chữ nhỏ, học sinh còn được rèn tô chữ
hoa trong vở tập viết lớp 1 tập 2, rèn viết văn bản, có thể là nhìn một đoạn văn,
đoạn thơ chép lại cho đúng. Tôi dành thời gian các tiết ôn buổi chiều có thể
hướng dẫn thêm cho học sinh luyện viết chữ hoa theo từng nhóm chữ:
Nhóm 1: A, Ă, Â
Nhóm 6: N, M
Nhóm 2: D, Đ
Nhóm 7: T
Nhóm 3: C, S, L, E, Ê, G
Nhóm 8: U, Ư, Y, X
Nhóm 4: B, P, R
Nhóm 9: I, H, K, V
Nhóm 5: O, Ô, Ơ, Q,
Cần chú ý khi dạy chữ hoa thì phải phân tích kĩ chữ đầu tiên của nhóm.
Dựa vào nét chữ giống nhau với các chữ luyện viết đầu tiên, giáo viên cho học
sinh tự rèn các chữ còn lại chú ý nhắc học sinh rèn kĩ các nét cơ bản ( tôi cho
các em tập tô và làm quen chữ hoa trong quyển vở luyện viết chữ hoa và về nhà
luyện viết).
Tôi hướng dẫn các em viết các con chữ cỡ nhỏ như sau:
Nhóm 1: Gồm các chữ: m, n, u, ư, i, t, v,r, p

11


Hướng dẫn cách viết : Cho học sinh luyện viết nét móc xuôi có độ cao 1
ô li, sau đó mới viết nét móc hai đầu có độ cao 1 ô li thật đúng, thật thẳng.
Các lỗi học sinh hay mắc: viết chưa đúng nét nối giữa các nét, nét móc
thường hay bị đổ nghiêng, nét hất lên thường bị choãi chân ra không đúng.
Khi học sinh viết thành thạo các nét đó, cho học sinh ghép các nét thành
chữ. Khi ghép chữ luôn chú ý điểm đặt bút, điểm dừng bút, độ cao, độ rộng của
mỗi nét để chữ viết cân đối, đẹp.
Nhóm 2: Gồm các chữ: b, l, h, k, y

Ơ

Hướng dẫn cách viết: Đây là nhóm chữ có liên quan nhiều đến nét
khuyết nên giáo viên chú ý dạy cho các em viết nét khuyết thật đúng Trước tiên
cho học sinh viết nét sổ có độ cao 2,5 ô li một cách ngay ngắn, thành thạo để rèn
tư thế cầm bút chắc chắn cho học sinh. Sau đó dạy học sinh viết nét khuyết
trên có độ cao 2, 5 ô li, độ rộng trong lòng 0.5 ô li.
Các lỗi hay mắc: Học sinh hay viết sai điểm giao nhau của nét, điểm đặt
bút hay bị sai, chữ viết còn cong vẹo.
Để giúp học sinh viết đúng điểm giao nhau của các nét khuyết, hướng dẫn
học sinh đặt một dấu chấm nhỏ vào giữa đường kẻ dọc, trên dòng kẻ ngang 2
của li thứ tư và rèn cho học sinh luôn đưa từ điểm bắt đầu qua đúng chấm rồi
mới đưa bút lên tiếp viết nét khuyết trên có độ rộng bằng 0,5 li. Tương tự như
vậy, dạy học sinh viết nét khuyết dưới có độ cao 2,5 ô li, độ rộng 0,5 ô li.
Khi dạy viết chữ h, hướng dẫn Viết nét khuyết trên trước, từ điểm dừng
bút của nét khuyết trên ở ĐK ngang 1 rê bút viết tiếp nét móc hai đầu có độ cao
12


1 li, độ rộng gần 1 ô ly, dừng bút ở giữa ĐK ngang 1 và 2 (độ cao của nét hất cỡ
chữ nhỏ là 0,5 ô li). Tương tự như vậy với các chữ còn lại.
Nhóm 3: Gồm các chữ: o, ô, ơ,a, ă, â, c, x, d, đ, q, g, e, ê, s

Các lỗi hay mắc: Học sinh viết nét cong kín không đều, nét móc xuôi của
chữ a còn xiên.
Khi học sinh sai lỗi này tôi hướng dẫn các em viết đúng, đều nét cong kín
(o) và viết nét móc xuôi thật thẳng và chạm nhẹ vào nét cong kín. Nếu viết nét
móc xa quá với nét cong kín chữ a sẽ xấu và không đúng, nếu viết gần quá sẽ
làm cho chữ bị dính rất xấu.
Thứ ba, Hướng dẫn sửa một số lỗi sai học sinh thường mắc.
+ Thiếu nét; thừa nét; sai nét; khoảng cách; sai dấu; cỡ chữ; chính tả; tốc
độ; trình bày.
Khi nắm được các lỗi các em hay sai, tôi thường tìm ra nguyên nhân và
cách khắc phục.
+ Thiếu nét: Do thói quen của học sinh chưa viết hết nét chữ đã dừng lại,
cần nhắc nhở thường xuyên để tạo thói quen viết hết nét và dừng bút đúng điểm,
đúng quy định. Cho học sinh thêm nét cho đủ nét ở ngay những chữ học sinh
vừa viết thiếu nét, đồng thời xem lại những bài viết trước chữ nào thiếu nét thì
thêm vào cho đủ và cho tập lại ngay bài vừa sửa.
+ Thừa nét: Lỗi này do học sinh viết sai quy trình, điểm đặt bút ban đầu,
nét đầu học sinh viết không đúng, dừng vượt quá điểm quy định. Cách khắc
phục là hướng dẫn lại quy trình viết chữ cái. Chú ý nếu học sinh sai chữ nào chỉ
hướng dẫn lại quy trình chữ đó bao giờ viết đúng, đẹp mới thôi.
+ Sai nét: Lỗi này thường là do học sinh cầm bút sai, các ngón tay quá
gần ngòi bút hoặc tay cầm bút bị cong, khi viết biên độ giao động của ngòi bút
ngắn, đầu ngòi bút di chuyển không linh hoạt làm cho nét chữ bị cong vẹo gây
sai nét. Cách khắc phục là nhắc học sinh cầm bút cho đúng. Khi viết ngón tay cử
động linh hoạt phối hợp với cử động của cổ tay và cánh tay.
+ Khoảng cách: Lỗi này thường mắc với những học sinh viết hay nhấc
bút, không viết liền mạch, đưa tay không đều. Cần giúp học sinh kĩ thuật viết
liền mạch, đưa đều tay. Quy định về khoảng cách chữ là 1 ô đơn vị chữ, khoảng
cách giữa các con chữ thay đổi theo từng nét chữ khoảng từ 1/2 đến 3/4 ô đơn
vị. Viết liền mạch xong chữ mới đánh dấu chữ và dấu thanh.
VD: viết chữ : trắng - hướng dẫn viết: trang - liền mạch, xong mới đánh
dấu t, ă, và dấu sắc - trắng.
13


+ Dấu chữ, dấu thanh: Học sinh thường mắc lỗi đánh dấu quá to, quá cao
không đúng vị trí. Để khắc phục lỗi này cần quy định lại cách đánh dấu chữ và
dấu thanh nhỏ bằng 1/2 đơn vị chữ. Dấu thanh đánh vào âm chính của vần và
không vượt quá đơn vị thứ hai, các dấu thanh phải ngay ngắn, cân đối nằm đúng
dòng li quy định và không được chạm vào chữ cái hay dấu phụ.
Biện pháp 4. Hướng dẫn học sinh thực hành luyện viết
Hoạt động 1: Quan s¸t, nhận xét
Giáo viên cho học sinh quan sát chữ mẫu , gợi ý cho học sinh nhận biết,
so sánh: Chữ gồm có mấy nét? Nét nào đã học? Độ cao con chữ..
Hoạt động 2: Hướng dẫn quy trình viết
Giáo viên viết mẫu là một thao tác trực quan trên bảng vô cùng quan
trọng. Nó giúp học sinh nắm bắt được quy trình viết từng nét của từng chữ cái.
Do vậy, giáo viên phải viết đẹp, đúng theo quy trình vừa viết, vừa phân tích cho
học sinh hiểu và ghi nhớ cách viết Khi viết mẫu giáo viên cần chú ý phân tích
cả cách viết dấu phụ và dấu thanh sao cho đúng và đẹp.
- Luyện viết trên không:
Việc học sinh luyện viết trên không là bước giúp học sinh rèn luyện quy
trình viết các nét để học sinh khỏi ngỡ ngàng khi viết. Thao tác này giúp học
sinh ghi nhớ chính tả rất tốt.
- Luyện viết bảng con:
GV hướng dẫn HS luyện viết vào bảng con chủ yếu vào mặt bảng có ô ly
nhỏ, học sinh sẽ viết dễ dàng hơn. GV chú ý học sinh cách cầm phấn giống như
cách cầm bút và nhấn tay một chút vì viết phấn sẽ khó hơn. Sau khi HS viết
xong cho các em giơ bảng – GV và HS nhận xét, đánh giá.
- Hướng dẫn học sinh viết từ ứng dụng:
+ Giới thiệu từ ứng dụng, tôi gợi ý cho học sinh hiểu ý nghĩa từ ứng dụng
sẽ viết.
+ Hướng dẫn cho học sinh quan sát và nhận xét cách viết từ ứng dụng
(chú ý đến các điểm quan trọng: độ cao các chữ cái, quy trình viết liền mạch nối
chữ, khoảng cách giữa các chữ cái, điểm đặt ghi dấu phụ và dấu thanh.
+ GV viết mẫu từ ứng dụng
+ GV theo dõi, giúp đỡ, kiểm tra, uốn nắn và nhận xét
Hoạt động 3: Học sinh thực hành luyện viết vào vở:
Học sinh luyện viết trong vở (vở tập viết, vở ô ly) GV lưu ý HS độ cao các
con chữ, nét nối và viết liền mạch, cách đặt dấu thanh. Đối với học sinh lớp 1
các em rất hay quên, do đó khi cho học sinh luyện viết tôi đi kiểm tra từng em,
xem em nào còn viết sai nét hay chưa đúng độ cao tôi sẽ hướng dẫn học sinh sửa
trực tiếp. Vì vậy học sinh lớp tôi không còn học sinh viết sai độ cao và sai nét.
GV lưu ý học sinh cách trình bày trong vở (nhiều khi trong vở tập viết, điểm
đánh dấu khoảng cách các con chữ gần nhau quá tôi hướng dẫn các em tự căn
chỉnh thừa chữ hoặc thiếu chữ thì lùi ra 1-2 ô vuông nhỏ để cho các chữ không
bị dính nhau). Khi viết chính tả tập chép từ tuần 25, tôi viết lên bảng hướng dẫn
các em cách trình bày thể thức đoạn thơ và đoạn văn khác nhau. Hướng dẫn các
em cách trình bày vở ô ly sao cho hợp lý và đẹp nhất.
14


- Đối với đoạn văn xuôi các em phải biết trình bày lùi vào1 ô và viết hoa( không
bắt buộc).Tuy lớp 1 chưa qui định các em viết hoa ở đầu câu, tên riêng và sau
dấu chấm câu nhưng tôi khuyến khích em nào viết được thì rất tốt .
- Đối với thể thơ lục bát hướng dẫn cho học sinh trình bày như sau:
Câu 6 chữ lùi 2 ô, 8 chữ lùi 1 ô. Nếu viết trên giấy A4 thì câu 6 chữ lùi 3
hoặc 4 ô, 8 chữ lùi 2 ô sao cho bài viết nằm cân đối giữa trang giấy.
- Đối với thể thơ 4 hoặc 5 chữ hướng dẫn cho học sinh trình bày như sau:
Câu 4 chữ lùi 4 ô, 5 chữ lùi 3 ô. Nếu viết trên giấy A4 thì câu 4 chữ lùi 5 ô, 5
chữ lùi 3 hoặc 4 ô tùy theo số lượng chữ trong bài viết nhiều hay ít, sao cho bài
viết nằm cân đối giữa trang giấy. Cần nắm số lượng dòng thơ để chia thành khổ
thơ hợp lí
Giáo viên theo dõi, uốn nắn về cách viết và tư thế ngồi viết (giúp đỡ học sinh
viết chưa tốt).
Hoạt động 4: Nhận xét bài viết của học sinh
Nhận xét bài ngay tại lớp. Trong quá trình nhận xét, chữa bài tôi chữa
những lỗi học sinh sai phổ biến nhất, hướng dẫn kỹ lại cách viết của chữ đó để
học sinh khắc sâu cách viết một lần nữa. Cho cả lớp xem bài viết đẹp. Kịp thời
động viên, khích lệ những học sinh có chữ viết tiến bộ.
Những nét chữ sai, giáo viên nhận xét thật rõ và sau đó tôi viêt mẫu cho
các em sửa lại những chữ các em đã viết sai để về nhà các em tập viết theo mẫu
đó cho đúng và đẹp..
Trong giờ luyện viết tôi luôn khen ngợi khích lệ các em, tạo cho các em
tâm lý thoải mái khi viết, đồng thời giáo viên cũng phải tận tâm nhiệt tình kiểm
tra chữ viết của các em liên tục, chính vì vậy học sinh lớp tôi chủ nhiệm chữ viết
rất đúng và đẹp.
Trong quá trình học sinh viết bài tôi quan sát và tìm ra phân loại đối
tượng, bồi dưỡng thêm cho các em viết đúng và đẹp hơn
+ Nhóm viết chữ đúng mẫu, trình bày sạch đẹp:
Tôi cho các em luyện viết chữ đẹp vào vở ô li. Tôi viết mẫu cho các em
luyện viết theo ( yêu cầu giáo viên phải viết chữ mẫu đẹp). Tôi luôn kiểm tra,
uốn nắn, sửa lỗi cho từng em, gọi trực tiếp các em lên sửa lỗi ngay trong bài của
mình. Tôi hướng dẫn các em viết đúng và thẳng các nét khuyết, viết đẹp và ngay
ngắn các chữ có nét cong kín, viết đầy đủ các nét móc và đặt dấu thanh đúng và
viết dấu đẹp. (Các bài viết của các em đã được tôi trực tiếp trao đổi cùng các em
trong giờ học hoặc giờ giải lao.).
+ Nhóm viết sai mẫu: Nét ngửa, mất nét, chữ nhọn, gãy nét, đánh dấu
sai, khoảng cách quá gần, quá xa, viết chậm.
Tôi quan tâm và xem học sinh viết chậm là do cách cầm bút hay do cấu
tạo tay của em đó xương chưa phát triển hoàn thiện (qua nhiều năm giảng dạy
tôi thấy 1 số em vòng tay để viết rất khó khăn). Tôi nhận thấy rằng có thể do các
em ở nhà trước khi vào lớp 1 gia đình để cho con cầm bút không đúng, lâu thành
thói quen, nguyên nhân thứ hai do các em đọc chưa tốt nên chưa nhớ mặt chữ để
viết, chỉ viết nhìn theo từng nét để viết theo. Khi đã tìm ra nguyên nhân tôi đã
hướng dẫn các em cầm bút đúng, phối hợp với phụ huynh về nhà cho con luyện
nhiều. Tôi viết mẫu từng con chữ cái ( mỗi con chữ 5 dòng) cho các em viết
15


thành thạo sau đó mới cho các em ghép thành chữ. Tôi luôn luôn cầm tay cho
các em còn viết chậm dạy các em đưa bút liền mạch và cách nối nét để viết
nhanh hơn.
Với việc phân nhóm đối tượng để rèn chữ viết giúp học sinh tiến bộ hơn,
biết mình sai ở những điểm gì và tự sửa chữa, tôi còn dạy cho học sinh kĩ năng
phát hiện lỗi sai của mình và tự sửa để các em nhớ lâu hơn.
Biện pháp 5. Hướng dẫn học sinh giữ vở sạch
Không chỉ dạy học sinh viết chữ đẹp tôi còn hướng dẫn học sinh giữ vở
sạch. Tôi đã hướng dẫn phụ huynh ở nhà nhà mua vở viết cho con phải chuẩn
(vở chống lóa Hồng Hà). Tôi thực hiện bọc vở cho học sinh bằng 2 lớp: 1 lớp
bìa các con vật trông rất ngộ nghĩnh, 1 lớp túi bóng ở ngoài dán nhãn vở cẩn
thận) với kinh nghiệm của mình tôi thấy học sinh viết vở cả năm vở vẫn rất sạch
đẹp và không bị long bìa.
- Dặn học sinh khi viết phải giở cả cuốn vở và lật nhẹ nhàng từng trang.
- Tôi cho học sinh kê lên vở 1 tờ giấy để tránh dây bẩn ra vở, rèn thói
quen rửa tay sạch sẽ trước giờ vào lớp. Đối với em tay ra mồ hôi nhiều tôi chuẩn
bị cho mỗi em 1 cái khăn nhỏ, khô và sạch để lau tay thường xuyên.
- Từ giữa học kì 1 học sinh chuyển sang viết bút mực tôi dặn học sinh
mua ngòi bút kim A loại tốt ra mực đều, viết cẩn thận, không được viết bút bi,
chỉ viết mực màu đen, không được dùng bút xóa và không được viết bút tẩy
(theo kinh nghiệm của tôi bút tẩy chữ viết học sinh rất xấu )
- Thường xuyên nhắc nhở học sinh giữ vở rèn chữ trong mọi môn học.
- Trong lớp tôi dành riêng 1 góc học tập để trưng bày những bài viết hay
những cuốn vở sạch và đẹp cho các bạn noi gương học tập.
- Hàng tháng tôi phô tô giấy cho học sinh thi viết chữ đẹp và chấm tìm ra
những em đạt giải (giải thưởng có thể là cái bút hoặc cái ngòi bút, thước…)
Muốn học sinh viết đẹp và giữ gìn sách vở cẩn thận, ngoài sự quan tâm
của giáo viên trên lớp còn cần sự phối hợp của phụ huynh ở nhà để tạo cho các
con thành thói quen tốt. Giáo viên hướng dẫn cách để phụ huynh theo dõi, kiểm
tra đôn đốc con mình. Trong quá trình dạy giáo viên phát hiện học sinh còn
khuyết chỗ nào sẽ báo ngay cho phụ huynh để kịp thời cùng nhau chỉnh sửa cho
các em.
Làm tốt sự phối hợp này giúp học sinh có ý thức hơn trong việc xác định
nhiệm vụ học tập của mình. Tạo cho các em có óc thẫm mĩ biết yêu cái đẹp, biết
hoàn thành nhiệm vụ được giao, biết làm cho cha mẹ, thầy cô vui lòng. Đặc biệt
là các em sẽ hình thành kỹ năng, thói quen viết đúng, viết đẹp và giữ vở sạch sẽ.
Để dạy học sinh lớp 1 viết đẹp, giữ vở sạch phải có sự hướng dẫn tỉ mỉ,
từng li, từng tí của giáo viên. Để làm được điều này phải hỏi người giáo viên
phải rèn luyện cho mình kĩ năng viết đúng và đẹp, giao viên là tấm gương để
học sinh noi theo, Mặt khác, giáo viên còn phải hiểu tâm lý lứa tuổi học sinh.
Không nên cho các em ngồi viết liền trong một thời gian dài dễ gây mỏi tay.
Biết gây hứng thú cho học sinh trong tiết học để các em ngày càng thích học và
viết đẹp hơn.

16


4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hội đồng giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Sau nhiều năm thực hiện các phương pháp đã nêu ở trên tôi thấy HS lớp
tôi có rất nhiều tiến bộ, nhiều em viết đẹp, chất lượng vở sạch, chữ đẹp của lớp
tôi nhiều năm luôn đạt kết quả cao nhất trường và khi đoàn kiểm tra khảo sát
chất lượng lớp 1 của Phòng giáo dục lớp tôi luôn được đánh giá cao.
Tôi đã tiến hành khảo sát kết quả:Năm học 2018-2019, lớp 1A: 36 em
Kết quả khảo sát như sau:
Học kỳ I
Học kỳ II
Loại A
Loại B
Loại C
Loại A
Loại B
SL TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
26

72, 2 10

27,8

32

88,8

4

11.2

Dưới đây là bài của học sinh viết đẹp trong lớp:
( Có phụ lục kèm theo)
Phong trào Vở sạch - Chữ đẹp của trường tôi được ban giám hiệu nhà
trường rất coi trọng, nó được triển khai đến tất cả các khối lớp. Thông qua
phong trào này tôi thấy học sinh có ý thức rèn luyện chữ viết và giữ gìn sách vở
sạch sẽ. Qua việc áp dụng các kinh nghiệm trên vào dạy học tôi thấy học sinh
lớp tôi rất thích thú và có kĩ năng viết chữ nhanh và đẹp. Chất lượng HS hoàn
thành tốt nâng cao và không còn học sinh chưa hoàn thành.
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Bằng thực tế quá trình giảng dạy tôi rút ra được một số kinh nghiệm sau:
Là giáo viên Tiểu học mà đặc biệt là giáo viên dạy lớp 1 thì đòi hỏi người
giáo viên phải có nhiều kĩ năng mềm, là người đặt nền móng đầu tiên trong việc
xây dựng lâu đài kiến thức cho các em nên người giáo viên phải hiểu được đặc
điểm tâm lí của trẻ, đặc thù của địa phương nơi mình công tác. Biết được trình
độ đối tượng học sinh của mình. Nắm vững kiến thức của môn học.
Giáo viên cần nắm vững kĩ thuật viết chữ, nắm chắc độ cao, độ rộng của
từng con chữ, nắm được cách viết các nét để truyền thụ cho học sinh sao cho dễ
hiểu nhất và có hiệu quả nhất.
Giáo viên cần nghiên cứu kĩ SGK, nội dung và yêu cầu trọng tâm của bài
dạy. Từ đó vận dụng các phương pháp dạy học linh hoạt và phù hợp với đối
tượng học sinh. Việc kiểm tra đánh giá thường xuyên giúp GV tìm ra lỗi sai của
các em kịp thời bổ sung, sửa lỗi sai cho học sinh.
Giáo viên lưu ý phát huy tính tích cực của các em, động viên khuyến
khích khích lệ các em khi em có sự tiến bộ (khen thưởng những em có nhiều cố
gắng có thể là một cái bút, quyển vở ...)
Giáo viên luôn quan tâm, gần gũi, với các em để nắm bắt tư tưởng, tâm lý
các em uốn nắn kịp thời nếu em có thái độ lười học, không chịu viết bài. Làm
17


sao để học sinh yêu thích và chịu khó rèn chữ viết để mỗi ngày đến trường là
một ngày vui.
GV cần có sự phối kết hợp với phụ huynh học sinh trong việc kèm cặp
thêm cho các em có ý thức tự giác trong học tập, tạo cho các em thói quen yêu
thích và có hứng thú với môn Tiếng Việt, tạo tâm lý thoải mái cho các em trong
việc viết bài dẫn tới việc các em say mê và yêu thích môn Tiếng Việt.
Giáo viên phải luôn luôn rèn luyện để chữ viết của mình ngày càng đẹp
hơn, nhiệt tình, tỉ mỉ, chịu khó học hỏi kiến thức qua sách báo, qua công nghệ
thông tin, học tập kinh nghiệm ở đồng nghiệp để kết quả giảng dạy ngày càng
tốt hơn.
Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân được rút ra từ thực tế giảng
dạy. Mặc dù sáng kiến còn nhiều hạn chế và tôi cần phải cố gắng nhiều hơn nữa.
Tôi rất mong được sự đóng góp, bổ sung của các đồng nghiệp, Hội đồng sáng
kiến kinh nghiệm nhà trường để sáng kiến được hoàn chỉnh mang lại hiệu quả
cao hơn về chất lượng giảng dạy của mình.
2. Kiến nghị
- Đối với Bộ giáo dục:
Nên sản xuất vở tập viết của học sinh có hình thức đẹp hơn. Giấy viết vở
tập viết quá mỏng và in chưa đẹp cần phải sử dụng giấy dày và cứng hơn để học
sinh dễ viết và giữ gìn.
- Đối với nhà trường:
+ Cần trang bị cho học sinh lớp 1 bàn ghế đúng quy cách.
+ Thường xuyên tổ chức các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học,
những sáng kiến hay về dạy học môn Tiếng Việt, đặc biệt là chia sẻ những kinh
nghiệm hay trong việc rèn chữ đẹp, giữ vở sạch cho học sinh.
- Đối với giáo viên: Mỗi người giáo viên phải tích cực tự học,tự rèn luyện
chữ viết, tự tích lũy kiến thức, đổi mới phương pháp giảng dạy và tiếp cận với
các phương pháp mới, để làm sao cho giờ học sinh động, học sinh tích cực hoạt
động và hiểu bài, có hứng thú và yêu thích môn Tiếng Việt.
Thanh Hóa ngày 14 tháng 3 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến do
Xác nhận của Thủ trưởng đơn vị
tôi viết, không sao chép của người khác.
Người viết

Nguyễn Thị Bích Thủy

18


Nhận xét, đánh giá của Hội đồng SKKN các cấp

.................................................................................................................
...............................................................................................................
.................................................................................................................
...............................................................................................................
.................................................................................................................
...............................................................................................................
.................................................................................................................
...............................................................................................................
.................................................................................................................
...............................................................................................................

19


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Mẫu chữ viết chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo
2. Vở thực hành luyện viết chữ đẹp.
3. Báo giáo dục thời đại
4. Dạy và học tập viết ở Tiểu học - Nhà xuất bản giáo dục
Tác giả : Trần Mạnh Hưởng

20


PHỤ LỤC

Bài viết của em Lê Thị Như Quỳnh

21


Bài viết của em Lê Thị Như Quỳnh

22


Bài viết của em Phan Hoàng Quân

23


Bài viết của em Lê Minh Anh

24


25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×