Tải bản đầy đủ

Hinh anh an du trong thanh ngu tieng Anh

HÌNH ẢNH ẨN DỤ TRONG THÀNH NGỮ TIẾNG ANH

Bất cứ ngôn ngữ nào cũng có thành ngữ và chính thành ngữ là yếu tố khiến cho ngôn ngữ trở nên
đa dạng hơn, màu sắc hơn và giàu hình tượng hơn. Trong giao tiếp thường ngày, chúng ta rất dễ
bắt gặp những câu thành ngữ được sử dụng trong mọi văn cảnh khác nhau với những ngụ ý khác
nhau. Vài ví dụ có thể kể đến là “chạch đẻ ngọn đa” (mô tả sự vô lý) hay “chó cắn áo rách” (mô
tả sự khốn cùng)... v.v. Tất cả đều được hiểu thông qua những hình tượng đa dạng, nhiều sắc màu
và vô cùng sống động (chạch sống dưới nước nên không thể đẻ trên ngọn đa; áo đã rách nát mà
còn bị chó cắn rách thêm). Đó chính là những hình ảnh ẩn dụ để từ đó người nghe, người đọc có
thể suy luận, hiểu rõ thâm ý, ẩn ý của người nói hay người viết. Như vậy, thành ngữ và hình ảnh
ẩn dụ không tách rời nhau. Với thực tế đó, bài viết có ý định tập hợp, phân tích một số hình ảnh
ẩn dụ thường thấy trong tiếng Anh và những cụm thành ngữ tương đương trong tiếng Việt.
Trước tiên, để đi vào tìm hiểu hình ảnh ẩn dụ trong thành ngữ thì một định nghĩa về thành ngữ là
điều cần thiết. Theo Tạp chí Ngôn ngữ học Việt Nam (số 8 năm 2006), thành ngữ là một cụm từ,
một thành phần câu, diễn đạt một khái niệm có hình ảnh (ví dụ: “đâm bị thóc, chọc bị gạo”) để
phân biệt với tục ngữ là một câu nói hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý (ví dụ: “Gần mực thì
đen, gần đèn thì rạng”). Còn trong tiếng Anh, thành ngữ được định nghĩa là những cụm cố định,
được sử dụng bởi người bản xứ mà người nói không thể tự mình nghĩ ra cụm mới được và ngôn
ngữ sử dụng mang tính hình tượng chứ không phải là nghĩa đen. Như vậy, thành ngữ trong tiếng
Anh và tiếng Việt đều mang tính hình tượng hay còn gọi là mang hình ảnh ẩn dụ. Vậy thì hình
ảnh ẩn dụ là gì? Theo Wright (1999), định nghĩa hình ẩn dụ là khi chúng ta dùng một ý niệm A để

diễn đạt cho ý niệm B. Ví dụ, khi chúng ta có hình ảnh so sánh coi “đám đông” (ý niệm B) là
nước (ý niệm A) thì đám đông sẽ có tất cả những đặc tính của nước và như vậy có thể sử dụng
những từ liên quan đến nước để mô tả đám đông, chẳng hạn như ta có thể nói “Đám đông đang
cuồn cuộn đổ về quảng trường Nhà hát lớn.” Hay có thể kể đến một ví dụ mang có phạm vi sử
dụng rộng hơn là hình ảnh ẩn dụ coi thời gian là tiền bạc. Với hình ảnh ẩn dụ đó, tất cả những
ngôn từ thường được sử dụng cho tiền bạc đều có thể được sử dụng khi nói về thời gian. Ví dụ:
-

You are wasting my time (Anh đang lãng phí thời gian của tôi đấy).

-

In order to save time, we decided to travel by taxi (Để tiết kiệm thời gian, chúng tôi quyết
định đi taxi)


-

He invested quite a lot of time in the project (Hắn đã đầu tư khá nhiều thời gian vào dự
án này rồi).

Những ví dụ nói trên là minh chứng cho hình ảnh ẩn dụ vốn là điểm đặc trưng của thành ngữ.
Trở lại với định nghĩa thành ngữ trong tiếng Anh: “thành ngữ là những cụm cố định, được sử
dụng bởi người bản xứ mà người nói không thể tự mình nghĩ ra cụm mới và ngôn ngữ sử
dụng mang tính hình tượng chứ không phải là nghĩa đen”, chúng ta có thể rút ra được những
đặc tính của thành ngữ như sau:
-

Đặc tính về mặt cú pháp: thành ngữ là những cụm cố định mà cấu trúc của nó không thể
thay đổi hay thêm bớt như những cụm từ ngữ thông thường khác. Với thành ngữ “to eat
humble pie” (ngậm bồ hòn làm ngọt) trong câu Mary had to eat humble pie even though
she didn’t like the final result at all (Mary đành phải ngậm bồ hòn làm ngọt dẫu chị ta
chẳng hề thích thú gì với cái kết quả cuối cùng cả), chúng ta không thể đổi sang thể bị
động như đối với các cụm động từ khác được vì Humble pie had to be eaten by Mary sẽ
không còn mang tính tự nhiên và cả câu sẽ mất đi tính thành ngữ cùng hình ảnh ẩn dụ của
nó. Một ví dụ nữa là thành ngữ “to go through thick and thin” (trải qua thăng trầm) trong
câu He has gone through thick and thin all his life (Cả đời mình, anh đã phải trải qua biết
bao thăng trầm). Xét về cấu trúc cú pháp tiếng Anh, tính từ không bao giờ đứng làm tân
ngữ của giới từ như trong trường hợp của thành ngữ này. Tuy nhiên, đối với thành ngữ thì
lại có thể được. Như vậy, xét về mặt cú pháp, thành ngữ không tuân theo trật tự ngữ pháp
thông thường mà có thể xuất hiện ở những dạng đặc biệt bất kỳ.

-

Đặc tính ngữ nghĩa: thành ngữ được sử dụng với nghĩa hình tượng chứ không phải nghĩa
đen; do vậy, nghĩa của cụm thành ngữ không thể được suy ra từ nghĩa tổng hợp của các từ
trong cụm. Theo đó thì chúng ta không thể suy nghĩa từ nghĩa của từng từ trong cụm “in
someone’s shoes” là “đi giầy của một người nào đó” được. Thay vào đó, ngữ nghĩa của
thành ngữ thường phải được suy ra từ chính hình ảnh “đi giầy của ai đó”, vốn được sử
dụng để so sánh ngầm (ẩn dụ). Với hình ảnh ẩn dụ “đi giầy của một người nào đó”,
chúng ta có thể hiểu được nghĩa thực sự của cụm từ muốn đề cập tới. Đó là “đặt mình vào
tình thế của một người nào đó.” Cụ thể, chúng ta có thể đưa thành ngữ này vào trong câu
sau: “You must be in my shoes to understand why I had to do so” (Anh phải đặt mình vào
địa vị của tôi thì mới hiểu được tại sao tôi phải làm như vậy).


Từ những đặc điểm, đặc trưng nói trên của thành ngữ, chúng ta có thể xem xét và phân tích thêm
một vài hình ảnh ẩn dụ sử dụng trong thành ngữ trong những ví dụ dưới đây:
Thành ngữ tiếng Anh
anything for a change

Hình ảnh ẩn dụ
cứ có khác biệt so với những cái
cũ là được
as mute as a fish
cá không biết nói và cũng không
gây ra tiếng động
call a spade a spade
gọi đúng tên cái xẻng, không
vòng vo
cry one’s eyes out
khóc nhiều đến độ mắt lồi ra
die with one’s boots on
chết đột ngột đến độ giày còn
đang đi ở chân
first come, first served
những ai đến trước thì được
phục vụ trước
have one’s back to the wall/ bị dồn lưng vào tường, bị đẩy
be driven into a corner
vào góc tường
hit the nail on the head
đóng đinh thì phải đóng đúng
vào đầu to của chiếc đinh
loud talking, little doing
nói to thì thường làm ít

Tương đương trong tiếng Việt
chẳng hay cũng sốt, chẳng tốt
cũng mới
câm như hến
nói toạc móng heo
khóc như cha chết
chết bất đắc kỳ tử
trâu chậm uống nước đục
bị dồn vào bước đường cùng
đi thẳng vào vấn đề

ăn như rồng cuốn, nói như rồng
leo, làm như mèo mửa
make a storm in the tea cup
gây ra cả một cơn bão trong tách bé xé ra to/ ít xít ra nhiều
trà
put the cart before the horse/ đặt chiếc xe kéo trước con ngựa/ chạch đẻ ngọn đa
when pigs fly
khi lợn biết bay
sell one’s soul (to the devil)
bán linh hồn cho quỷ sứ
bán rẻ danh dự
shoulder by shoulder
hai người đứng cạnh bên nhau, kề vài sát cánh
vai người này sát vai người kia
speak by guess and by God
nói theo phỏng đoán và chỉ dựa ăn ốc nói mò
vào Chúa
with one’s nose in the air
mũi ngửa lên trời
dương dương tự đắc

Tóm lại, thành ngữ trong tiếng Anh cũng như trong tiếng Việt và ở nhiều ngôn ngữ khác là những
cụm, những ngữ cố định vốn không thể thay đổi hay thêm thắt mà không làm thay đổi đến ý
nghĩa của nó; ngữ nghĩa của những ngữ cố định này cũng là cố định và không thể suy ra từ nghĩa
của từng từ trong cụm. Do vậy, để hiểu được nghĩa thực sự của thành ngữ, việc của người học
ngôn ngữ là phải có óc liên tưởng để có thể giải mã hình ảnh ẩn dụ của mỗi thành ngữ và vận
dụng nó vào từng văn cảnh cụ thể.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×