Tải bản đầy đủ

NGHIÊN cứu THỰC TRẠNG và mô HÌNH BỆNH tật đơn NGUYÊN sơ SINH, KHOA NHI, BỆNH VIỆN BẠCH MAI

BỘ Y TẾ
BỆNH VIỆN BẠCH MAI

BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI NCKH CẤP CƠ SỞ

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ MÔ HÌNH
BỆNH TẬT ĐƠN NGUYÊN SƠ SINH, KHOA NHI,
BỆNH VIỆN BẠCH MAI

Chủ nhiệm đề tài: Ths.Bs Nguyễn Thành Nam
Đơn vị thực hiện: Khoa Nhi

HÀ NỘI, 2018


BỘ Y TẾ
BỆNH VIỆN BẠCH MAI

BÁO CÓ KẾT QUẢ ĐỀ TÀI NCKH CẤP CƠ SỞ


Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ MÔ HÌNH
BỆNH TẬT ĐƠN NGUYÊN SƠ SINH, KHOA NHI,
BỆNH VIỆN BẠCH MAI

Những người thực hiện: Ths.Bs. Nguyễn Thành Nam
Ths.Bs. Phạm Văn Đếm
Bs. Cao Bích Hảo
Bs. Đỗ Tuấn Anh
Đơn vị thực hiện:

Khoa Nhi

HÀ NỘI 2018


II. BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
Mục lục
Chữ viết tắt
Danh mục bảng, biểu


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

SGA
G6PD
IUGR
NKSS
SD
UNICEF
WHO

small for gestational age
Nhỏ so với tuổi thai
glucose-6-phosphate dehydrogenase
intrauterine growth restriction
Chậm phát triển trong tử cung
Nhiễm khuẩn sơ sinh
standard deviation
Độ lệch chuẩn
United Nations Children's Fund
Quỹ Nhi Đồng Liên hợp Quốc
World Health Organization
Tổ chức Y tế Thế giới


DANH MỤC BẢNG, BIỂU


6

1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Mô hình bệnh tật của một quốc gia, một cộng đồng là sự phản ánh tình
hình sức khỏe, tình hình kinh tế-xã hội của quốc gia hay cộng đồng đó.
Nghiên cứu cơ cấu bệnh của một khoa, một bệnh viện có ý nghĩa thiết thực
trong công tác tổ chức y tế, xây dựng kế hoạch chăm sóc sức khoẻ phù hợp,
điều trị dự phòng, huấn luyện, đào tạo và nghiên cứu khoa học. Trong những
năm gần đây, mô hình bệnh tật ở trẻ em nói chung và trẻ sơ sinh nói riêng có
nhiều thay đổi đáng kể trong đó có cả tỷ lệ các loại bệnh tật cũng như tỷ lệ tử
vong sơ sinh. Theo thống kê của Quỹ Nhi Đồng Liên Hợp Quốc Unicef
(United Nations Children's Fund) đến hết năm 2017, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ
sinh đã giảm 51% từ mức 37/1.000 trẻ năm 1990 xuống còn 18/1.000 trẻ năm
2017. Việt Nam là quốc gia đang phát triển, thống kê của Unicef đến năm
2017, tỷ lệ tử vong sơ sinh tại Việt Nam là 10,6/1.000 trẻ, tỷ lệ tử vong sơ
sinh của Việt Nam vẫn còn cao so với một số nước trong khu vực như
Singapor chỉ là 1,1/1.000 trẻ, Thái Lan là 5,5/1.000, Trung Quốc 4,5/1.000
trẻ, đặc biệt Nhật Bản chỉ có 0,9/1.000. Một số nước khác trong khu vực châu
Á tỷ lệ tử vong sơ sinh còn đặc biệt cao như Pakistant 44,1/1.000, Lào
28,2/1.000, Myanmar 24,1/1.000 [1],[2].
Bệnh viện Bạch Mai là bệnh viện đa khoa trung ương hạng đặc biệt.
Tại đây thường xuyên nhận điều trị cho các bà mẹ mang thai mắc các bệnh
nội khoa có nguy cơ cao cho trẻ sơ sinh từ các tỉnh cũng như các bệnh viện
chuyên khoa sản trên địa bàn Hà Nội chuyển về. Do đó số trẻ sơ sinh nhập
viện và điều trị tại khoa Nhi có tỷ lệ cao hơn hẳn so với các đơn vị có khoa
nhi khoa khác, đặc số lượng trẻ sơ sinh nguy cơ và sơ sinh đẻ non chiếm tỷ lệ
khá cao. Hiện nay tại bệnh viện hiện đang có mô hình kết hợp hai chuyên
khoa sản và nhi khoa nhằm hồi sức, cấp cứu kịp thời cho trẻ sơ sinh ngay tại
phòng đẻ nhằm giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh. Trước thực trạng đó, khảo sát và
đánh giá mô hình bệnh tất sơ sinh và tìm hiểu các nguyên nhân và đánh giá


7

các yếu tố nguy cơ tử vong sơ sinh là một việc hết sức cần thiết, thông qua đó
xác định được những vấn đề sức khỏe sơ sinh cũng như chuẩn bị cho nguồn
lực và các định hướng cho các chương trình chăm sóc sức khỏe trẻ em trong
giai đoạn tiếp theo. Thông qua đó có cơ sở khoa học, để đề xuất các biện pháp
can thiệp khả thi và tích cực nhằm giảm cải thiện tình hình bệnh tật và tử
vong trẻ sơ sinh tại khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai. Đề tại được thực hiện
nhằm 2 mục tiêu:
1.

Xác định mô hình bệnh tật sơ sinh đánh giá hiện trạng của đơn

2.

nguyên sơ sinh tại khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai
Đánh giá một số yếu tố liên quan đến mô hình bệnh tật ở trẻ sơ sinh
tại khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai.


8

2. TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH BỆNH TẬT Ở TRẺ SƠ SINH
2.1. Tổng quan về các thời kỳ sơ sinh
2.1.1. Định nghĩa và phân loại
Thời kỳ sơ sinh được tính từ khi trẻ sinh ra đến hết ngày thứ 28 sau
sinh [1].
Trẻ sơ sinh đủ tháng là trẻ được sinh ra trong khoảng từ 37 đến 42 tuần
(278±15 ngày).
Trẻ đẻ non là trẻ ra đời trước thời hạn bình thường trong tử cung, có
tuổi thai dưới 37 tuần và có khả năng sống được. Trẻ có khả năng sống được
là trẻ đẻ ra sống từ 22 tuần tuổi hoặc cân nặng ít nhất 500 gam.
Trẻ già tháng là trẻ sinh ra sau 42 tuần (>294 ngày).
Dựa vào các bệnh lý sơ sinh, thời kì sơ sinh được chia ra 2 giai đoạn:
Sơ sinh sớm: tuần đầu sau đẻ, các bệnh lý liên quan đến mẹ và cuộc đẻ,
bệnh do chưa trưởng thành các hệ thống hoặc do dị tật.
Sơ sinh muộn: 3 tuần sau, các bệnh lý thường do nuôi dưỡng, chăm sóc
và môi trường gây ra [1],[2].
2.1.2. Đặc điểm sinh lý trẻ sơ sinh
Sinh lý các hệ cơ quan
Hệ hô hấp: Trong thời kì sơ sinh trẻ sống trong môi trường nước, phổi
chưa hoạt động. Chất surfactant tiết ra từ tuần thứ 20-22 của thai kì. Sau khi
sinh, trẻ chuyển từ môi trường nước sang môi trường cạn, xuất hiện nhịp thở
đầu tiên bằng tiếng khóc. Lúc đầu trẻ thở nhanh trong 1-2 giờ, sau đó nhanh
chóng có nhịp thở ổn định 40-60 lần/phút, áp lực thở khoảng 20 – 25 cmH2O.
Hệ tim mạch: Sức cản hệ thống tăng lên làm áp lực tim trái tăng dẫn
đến đóng các shunt trái – phải bao gồm lỗ Botal và ống động mạch. Nhịp tim
phụ thuộc vào nhịp thở nên nhịp tim lúc đầu dao động và nhanh. Sau ổn định


9

dần 120-140 lần/phút. Diện tim thường to, tỷ lệ tim ngực 0.55, trục phải ,
huyết áp tối đa 50-70 mmHg. Số lượng hồng cầu, bạch cầu, hematocrit
thường tăng cao sau đẻ rồi giảm dần
Hệ thần kinh: hưng phấn, dễ kích thích, đáp ứng lan tỏa. Tổn thương
dưới vỏ và tủy hoạt động mạnh nên nên khi trẻ thức vận động các chi nhanh,
không định hướng, dễ giật mình . Trẻ dễ xuất hiện các phản xạ sơ sinh do các
dây thần kinh ngắn, ít phan nhánh và chưa myelin hóa.
Hệ tiêu hóa: Sau sinh, gan chuyển từ cơ quan tạo máu thành cơ quan
chuyển hóa, các men chuyển hóa chưa đầy đủ nên trẻ dễ bị toan máu và hạ
đường máu sớm
Điều hòa thân nhiệt: khi sinh ra trẻ thường bị mất nhiệt qua 3 dạng: sự
đối lưu nhiệt – mất nhiệt do chênh lệch nhiệt độ với môi trường xung quanh,
sự bức xạ - cơ thể phát nhiệt và bị vật xung quanh hấp thụ, sự bay hơi – mất
nuwosc qua da và đường hô hấp.
Nội tiết: các tuyến nội tiết như tuyến yên, tuyến giáp, cận giáp, tụy,
tuyến thượng thận hoạt động sớm sau khi sinh.
2.1.3. Các hiện tượng sinh lý thời kì sơ sinh
Vàng da sinh lý: do hồng cầu vỡ, chức năng gan chưa hoàn thiện, tăng
tính thấm thành mạch gây thấm bilirubin vào tổ chức dưới da.
Sụt cân sinh lý: xảy ra từ ngày 2 đến ngày 10 sau sinh, phục hồi nhanh
vào cuối thời kì sơ sinh. Giảm dưới 10% trọng lượng cơ thể. Nguyên nhân do
trẻ chưa bú được nhiều và thải nôn các dịch trẻ nuốt trong thời kì sơ sinh.
Biến động sinh dục: Sưng hai vú, không đỏ, sờ tròn, mềm, hơi chắc như
hạch, tự hết sau 10-15 ngày. Riêng ở trẻ nữ ra 1 vài giọt máu ở âm đạo, tự
mất đi sau 1-2 tuần.


10

2.1.4. Trẻ sơ sinh nguy cơ cao
2.1.4.1. Sơ sinh non tháng
Theo WHO, trẻ sơ sinh non tháng được định nghĩa là những trẻ sống sót
sau tuần thai thứ 37. Sơ sinh non tháng được chia làm 3 nhóm dựa theo tuổi thai:
Nhóm

Cực non tháng

Rất non tháng

Non tháng

Tuổi thai

<28 tuần

Từ 28 đến 32 tuần

33 đến 37 tuần

Sơ sinh non tháng là yếu tố nguy cơ cao đối với trẻ sơ sinh. Các biến
chứng của sơ sinh non tháng là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ em dưới 5
tuổi, với gần 1 triệu ca tử vong năm 2015. Trên 184 quốc gia trên thế giới, tỉ lệ
trẻ sinh non thay đổi từ 5% đến 18% tổng số trẻ được sinh ra. Hàng năm có
khoảng 15 triệu trẻ đẻ non được sinh ra và khoảng 1 triệu trẻ tử vong vì các
biến chứng của sinh non [3].
Các nguyên nhân phổ biến cho sinh non bao gồm:
Tăng tỉ lệ mổ đẻ sớm được chỉ định do tiền sản giật, sản giật, thai kém
phát triển trong tử cung hoặc mổ đẻ sớm trong các trường hợp mang thai nhân
tạo, đa thai…
Các trường hợp sinh non tự phát do các nguyên nhân bao gồm nhiễm
trùng, bệnh mạch máu, đái tháo đường thai kì, tăng áp lực tử cung… Trong
nhiều trường hợp không xác định được các nguyên nhân gây sinh non.
Các yếu tố nguy cơ sinh non bao gồm tiền sử sinh non trước đó, chỉ số
BMI mẹ thấp, bệnh nha chu, cổ tử cung ngắn, tăng nồng độ fibronectin âm đạo
cổ tử cung…. [5].
Đặc điểm sinh lý và các vấn đề gặp ở trẻ sinh non
Các rối loạn hô hấp: thở không đều, ngừng thở dài hơn trẻ đủ tháng. Rối
loạn nhịp thở có thể kéo dài tới 2-3 tuần sau sinh hoặc lâu hơn. Trẻ dễ bị suy hô
hấp do phổi chưa trưởng thành, phế nang chưa giãn nở, lồng ngực hẹp và cơ
liên sườn chưa phát triển làm hạn chế di động lồng ngực.


11

Tim mạch: Trẻ dễ bị suy hô hấp nên dễ có hiện tượng mở lại ống động
mạch gây còn ống động mạch. Nhịp tim dao động hơn trẻ đủ tháng do nhịp thở
không đều. Mạch dễ vỡ dễ thoát quản gây phù đặc biệt là vùng xung quanh não
thất ít tổ chức đệm.
Các tế bào máu giảm nên trẻ dễ bị thiếu máu nhược sắc. Yếu tố đông
máu giảm hơn trẻ đủ tháng nên trẻ dễ bị xuất huyết nhất là xuất huyết não.
Tổ chức não nhiều nước, hồi não chưa hình thành, vỏ não chưa hoạt động
nên trẻ nằm lịm suốt ngày, thở nông, khóc yếu, phản xạ sơ sinh kém. Các mạch
máu não có tính thấm cao và thiếu các men chuyển hóa nên dễ xuất huyết não.
Hạ đường máu: Glycogen chỉ tích lũy ở gan từ tuần thai thứ 35 trong khi
tuyến tụy hoạt ssoongj sớm ngay sau khi sinh nên trẻ sinh non dễ bị hạ đường
máu do có ít hoặc không có glycogen.
Hạ thân nhiệt: Trẻ sinh non dễ bị hạ nhiệt độ hơn trẻ đủ tháng, nhiệt độ
của trẻ dễ bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ môi trường.
Nguy cơ nhiễm khuẩn cao do da mỏng và có độ toan thấp nên ít có tác
dụng kháng khuẩn, khả năng tự tạo miễn dịch kém: thiếu hụt về số lượng và chất
lượng globulin, thiếu hụt bổ thể, bạch cầu và đại thực bào chưa trưởng thành.
Chức năng lọc và đào thải của thận kém, những ngày đầu sau đẻ thận giữ
nước và muối nhiều nên dễ bị phù [2].
Một số biện pháp phòng ngừa
Cho mẹ
Liệu pháp corticosteroid cho bà mẹ có nguy cơ sinh non trong khoảng từ
24 đến 34 tuần thai.
Magnesium sulfat cho bà mẹ có nguy cơ sinh non trước tuần thai thứ 32
để bảo vệ thai nhi chống lại các biến chứng thần kinh.
Kháng sinh cho những bà mẹ có ối vỡ non.
Cho trẻ


12

Giữ ấm cho trẻ sau sinh: đảm bảo nhiệt độ phòng từ 28 đến 35 ͦ C, cho
trẻ da kề da với mẹ ngay khi sinh theo phương pháp Kangaroo. Với trẻ cân
nặng <2000g cần được sưởi ấm hoặc nằm lồng ấp.
Đảm bảo áp lực đường thở cho trẻ sơ sinh non tháng có hội chứng suy
hô hấp ngay khi được chẩn đoán.
Liệu pháp oxy hỗ trợ với oxy 30%.
Dùng cafein với trẻ sinh non đang tự thở mà có cơn ngừng thở.
Cung cấp chất trưởng thành phổi surfactant cho trẻ đẻ non có hội chứng
suy hô hấp.
Điều trị các rối loạn nước điện giải, chế độ nuôi dưỡng giàu năng lượng
do nhu cầu năng lượng của trẻ cao hơn trẻ đủ tháng. Bổ sung các loại vitamin
như K, E, A, B1 [12],[6].
2.1.4.2. Sơ sinh già tháng
Trẻ sơ sinh già tháng là trẻ được sinh ra sau 42 tuần (>294 ngày). Tỉ lệ
thai già tháng vào khoảng 7%.
Nguyên nhân: Nguyên nhân phổ biến nhất của thai già tháng là đánh
giá tuổi thai không chính xác do đó làm tăng tỉ lệ thai quá ngày sinh. Khi thai
già tháng thật sự, nguyên nhân thường không rõ. Các yếu tố liên quan có thể
bao gồm tiền sử mang thai già tháng trước đó, thai giới tính nam, mẹ béo phì,
các yếu tố nội tiết và các nguyên nhân di truyền [7].
Sinh lý và các vấn đề của trẻ sơ sinh già tháng
Trẻ sơ sinh già tháng có có hình dạng đặc biệt: mất chất gây trên da, da
nhợt nhạt có vân như da thuộc, da bong tróc có khi màu xanh do bị ngấm
phân su. Trẻ có hình dạng như một trẻ chậm phát triển trong tử cung.
Trẻ già tháng là một sơ sinh có nguy cơ:
Apgar trong một nửa số trường hợp là dưới 5 ở phút thứ 1.
Trong những ngày đầu tình trạng suy hô hấp có liên quan với sự hít thải
phân su.


13

Chảy máu phổi, co giật, giảm glucose máu.
Tiên lượng nặng, tỉ lệ chết chu sản cao gấp đôi so với trẻ đủ tháng
thậm chí còn gấp 4 lần ở nhóm già tháng có cân nặng dưới 2000 gam [8] .
Một số biện pháp phòng ngừa
Theo dõi thai kì dựa trên ngày đầu kì kinh cuối và theo dõi bằng siêu
âm để đánh giá đúng tuổi thai.
Chấm dứt thai kì khi xác định chắc chắn thai già tháng bằng các biện
pháp như gây chuyển dạ, mổ lấy thai.
Trẻ sơ sinh già tháng cần được hồi sức tốt tại buồng đẻ và theo dõi sát
những ngày đầu sau đẻ [6],7] .
2.1.4.3. Sơ sinh nhẹ cân
Định nghĩa
Trẻ sơ sinh được coi là nhẹ cân khi cân nặng lúc sinh <2500 gam, được
chia làm 3 nhóm dựa theo cân nặng: từ 2 – 2.49 gam, từ 1.5 đến 1.99 gam và
nhỏ hơn 1500 gam (trẻ rất nhẹ cân).
Dịch tễ
Theo WHO, tỉ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân vào khoảng 16%, chủ yếu nằm
trong khoảng cân nặng từ 2 – 2.49 (13.2%) .Nhóm 1.5 – 1.99 gam và nhỏ
hơn 1500 gam (trẻ rất nhẹ cân) chiếm lần lượt 1.9% và 0.5% tổng số trẻ sơ
sinh [9].
Nguyên nhân của trẻ nhẹ cân
Các nguyên nhân của sơ sinh nhẹ cân bao gồm tình trạng dinh dưỡng
của mẹ, tăng cân trong quá trình mang thai, tiền sử biến chứng thai kì như
sinh non trước đó, mẹ mắc các bệnh mạn tính, sử dụng rượu bia hoặc thuốc lá
khi mang thai. Ngoài ra còn có sự ảnh hưởng của 1 số yếu tố khác như nồng
độ Hb, HCT của mẹ khi mang thai, hoạt động của mẹ trong thai kì, tuổi
mẹ….10].


14

Các nguy cơ với trẻ nhẹ cân:
Cân nặng sơ sinh thấp ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ trong suốt giai
đoạn sơ sinh. So với các trẻ sơ sinh khác, trẻ nhẹ cân đặc biệt là những trẻ sinh ra
có trọng lượng dưới 1500 gam có tỷ lệ tử vong cao hơn đáng kể. Trẻ sơ sinh nhẹ
cân cũng có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn trong trong giai đoạn sơ sinh [9].
Các rối loạn hay gặp do cân nặng sơ sinh thấp bao gồm hạ thân nhiệt, hạ
đường huyết, tăng bilirubin máu, hạ huyết áp, hội chứng suy hô hấp, điểm Apgar
thấp. Những rối loạn đặc biệt hay gặp ở nhóm rất nhẹ cân (<1500 gam).
2.1.4.4. Trẻ nhỏ so với tuổi thai, thai chậm phát triển trong tử cung
Trẻ nhỏ so với tuổi thai (SGA: small for gestational age) được định
nghĩa là những trẻ có cân nặng khi sinh nhỏ hơn 10% so với cân nặng bình
thường ở tuổi thai đó hoặc hoặc < 2 độ lệch chuẩn (SD: standard deviation)
đối với tuổi thai. Trẻ chậm phát triển trong tử cung (IUGR - intrauterine
growth restriction) là những trẻ sinh ra với đặc điểm lâm sàng của suy dinh
dưỡng hoặc chậm phát triển trong tử cung bất kể tỉ lệ phần trăm trọng lượng
của chúng [11].
Tỉ lệ thai chậm phát triển trong tử cung cao hơn gấp 6 lần ở các nước
đang phát triển. Châu Á chiếm 75% tổng số trẻ bị IUGR trên thế giới, trong
đó Việt Nam là 1 trong 10 nước có tỉ lệ IUGR cao nhất châu Á 12].
Các nguy cơ với trẻ chậm phát triển trong tử cung bao gồm:
Các biến chứng sớm: tử vong trong tử cung, tử vong sơ sinh, ngạt, hạ
thân nhiệt, hạ đường huyết, tăng áp lực động mạch phổi tồn tại, hoại tử
cấp/suy thận do thiếu oxy máu, đa hồng cầu….
Các biến chứng lâu dài bao gồm sự hạn chế trong phát triển thể chất và
phát triển tinh thần, nhận thức.
Các nguyên nhân dẫn đến thai chậm phát triển bao gồm:
Tổn thương thai nghén mạn tính ở người mẹ: đái tháo đường, bệnh tim,
bệnh thận…


15

Thai nghén bệnh lý: nhiễm độc thai nghén, nhiễm chất độc thuốc lá,
nghiện chất trong thời kì mang thai.
Bất thường tử cung, rau thai: đa thai, rau bong non, nhiễm trùng nhau
thai...
Những nguyên nhân thuộc thai như nhiễm khuẩn mạn tính ở thai,
những sai lệch nhiễm sắc thể, đa thai, các rối loạn chuyển hóa… [8], 11].
2.2. Các bệnh lý thường gặp ở trẻ sơ sinh
2.2.1 Vàng da sơ sinh
Vàng da sơ sinh là sự thay đổi màu sắc da thành vàng nhạt xảy ra ở trẻ
sơ sinh do tăng bilirubin máu.
Vàng da là một trong những tình trạng lâm sàng phổ biến nhất gặp phải
trong giai đoạn sơ sinh, nhất là trong tuần đầu sau sinh. Ở trẻ sơ sinh, vàng da
xuất hiện đầu tiên ở mặt. Khi bilirubin tăng, vàng da lan đến phần thân mình
và các chi. Hiện tượng này xảy ra phổ biến ở 50-60% trẻ sơ sinh trong tuần
đầu sau sinh [13].
Nguyên nhân: Vàng da bao gồm vàng da sinh lý và vàng da bệnh lý.
Vàng da sinh lý là nguyên nhân phổ biến nhất, do đặc điểm về chuyển
hóa trong những ngày đầu sau sinh và thường không gây ra những hậu quả
nghiêm trọng. Kiểu vàng da này thường xuất hiện từ ngày thứ 4 đến ngày thứ
5 ở trẻ đủ tháng và ngày thứ 7 ở trẻ non tháng, biến mất sau 10-14 ngày. Tăng
bilirubin tự do là chủ yếu [14].
Vàng da bệnh lý thường da xảy ra sớm, mức đỉnh bilirubin tăng cao so
với mức bình thường dự kiến, vàng da kéo dài trên 2 tuần, thường do các
nguyên nhân như: Vàng da tan máu do bất thường về cấu tạo làm giảm đời
sống hồng cầu hay thiếu hụt các enzyme hồng cầu như G6PD, pyruvatkinase,
bất thường trong tổng hợp Hb (bệnh thalassemia), bất đồng nhóm máu mẹ con
chủ yếu là bất đồng nhóm máu ABO và Rh.


16

Các bất thường enzyme kết hợp như hội chứng Syndrome, hội chứng
Crigler – Najjar.
Tắc nghẽn đường mật như teo, hẹp đường mật, viêm xơ đường mật. Các
nguyên nhân tại gan như tổn thương tế bào gan do nhiễm trùng nhiễm độc
Các bệnh chuyển hóa như thiếu α1 antitrypsin, galactosemie, …
Những trường hợp trẻ vàng da mức độ nặng với mức bilirubin cao có
thể dẫn đến tổn thương hệ thần kinh trung ương do ái tính của bilirubin với
màng tế bào thần kinh, gây ức chế các enzyme nội bào và hủy hoại tế bào
thần kinh. Hậu quả có thể dẫn đến tử vong trong giai đoạn cấp hoặc để lại di
chứng vận động và tinh thần trên những trẻ sống sót như bại não, liệt, mù.
Bệnh cần được phát hiện và điều trị kịp thời.
Các phương pháp điều trị bao gồm quang trị liệu, thay máu và các điều
trị hỗ trợ khác …..[2],[13],[14].
2.2.2 Nhiễm khuẩn sơ sinh
Nhiễm khuẩn sơ sinh (NKSS) gồm các bệnh nhiễm khuẩn xuất hiện
trong vòng 28 ngày đầu của cuộc sống.
Nhiễm khuẩn sơ sinh được chia làm nhiễm khuẩn sơ sinh sớm xảy ra
72h sau sinh, thường do mẹ truyền sang và nhiễm khuẩn sơ sinh muộn là
nhiễm khuẩn xảy ra trong những ngày sau.
Tỉ lệ nhiễm khuẩn sơ sinh trên thế giới chiếm khoảng 1-4% trẻ sơ sinh,
thay đổi theo các quốc gia. Trong đó nhiễm khuẩn huyết và viêm màng não là
2 bệnh nghiêm trọng dẫn đến tử vong do nguyên nhân nhiễm khuẩn sơ sinh.
Theo thống kê của UNICEF đến năm 2016, nhiễm khuẩn huyết vẫn là 1 trong
những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ sơ sinh. Tại Việt Nam, đến
năm 2000, nhiễm khuẩn huyết đứng thứ 5 trong số các nguyên nhân gây tử
vong với 5.8% [1].
Tăng nguy cơ nhiễm khuẩn ở trẻ sơ sinh do nhiều nguyên nhân trong
đó đặc điểm về hệ miễn dịch đóng vai trò quan trọng. Ở giai đoạn sơ sinh, khả


17

năng biệt hóa của tế bào T, khả năng sản xuất ra lymphokin và khả năng hoạt
hóa đại thực bào kém, giảm sản xuất interleukin và khả năng tăng sinh bạch
cầu. Nồng độ các globulin miễn dịch giảm dần sau khi đẻ, chỉ còn khoảng
50% ở ngày tuổi 30. Hệ thống tự bảo vệ cơ thể được hình thành sớm nhưng
còn rất yếu dẫn đến khả năng nhiễm khuẩn cao.
Vi khuẩn xâm nhập theo đường máu, đường màng ối trong các trường hợp
vỡ ối sớm hay nhiễm khuẩn ối trong thời kì mang thai, đường âm đạo. Nhiễm
khuẩn có thể diễn ra trong thời kì mang thai, trong cuộc đẻ hay sau khi sinh.
Các hình thái nhiễm khuẩn hay gặp:
Nhiễm khuẩn huyết: vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết sớm chủ yếu là
do E. coli ở trẻ đẻ non. Nhiễm khuẩn huyết sớm thường là hậu quả của nhiễm
khuẩn mẹ - con trong khi nhiễm khuẩn huyết muộn thường là nhiễm khuẩn
bệnh viện.
Nhiễm trùng da: mụn phỏng, mụn phỏng dễ lây lan do liên cầu và viêm
da bong (hội chứng Ritter) do tụ cầu.
Nhiễm trùng niêm mạc: viêm niêm mạc tiếp hợp do lậu cầu, Chlamydia
trachomatis..., tưa miệng do nấm Candia albican.
Nhiễm trùng rốn: viêm rốn, hoại thư rốn, uốn ván rốn, viêm mạch máu
rốn [2]
2.2.3 Suy hô hấp sơ sinh
Suy hô hấp sơ sinh là tình trạng rối loạn hô hấp ở thời kì sơ sinh, có thể
do trung tâm hô hấp bị ức chế hoặc do có cản trở ở hệ thống hô hấp ngoại
biên, làm ảnh hưởng đến sự trao đổi oxy và cacbon dioxyd ở phế nang. Theo
Tổ chức Y tế thế giới, suy hô hấp sơ sinh được định nghĩa là khi tần số thở
trên 60 hoặc ít hơn 30 lần/phút, thở rên, rút lõm lồng ngực hoặc tím trung tâm
(tím lưỡi và môi), cơn ngừng thở (ngưng thở tự phát trong hơn 20 giây) [1].
Suy hô hấp là một trong những tình trạng phổ biến ở trẻ sơ sinh và là
một trong những nguyên nhân phổ biến nhất khiến trẻ sơ sinh vào các đơn vị


18

chăm sóc sơ sinh, xảy ra ở 7% trẻ sơ sinh [17]. Khoảng 15% trẻ đủ tháng và
29% trẻ non tháng trong đơn vị chăm sóc sơ sinh có tình trạng suy hô hấp. Tỉ
lệ này còn cao hơn ở trẻ sơ sinh dưới 34 tuần [18] .
Nguyên nhân gây suy hô hấp sơ sinh rất đa dạng, bao gồm nhóm
nguyên nhân tại phổi và ngoài phổi.
Nguyên nhân tại phổi gồm: Bệnh màng trong, hội chứng phổi non, hít
phân su, viêm phổi, tràn khí màng phổi, thiểu sản phổi, loạn sản phế quản phổi.
Nguyên nhân ngoài phổi gồm:
Đường thở như tắc nghẽn đường hô hấp trên bao gồm khí quản và
thanh quản, liệt thanh quản, u nhú thanh quản, rò khí quản….
Bệnh tim mạch như tim bẩm sinh, tăng áp lực phổi sơ sinh, thiếu máu
giảm thể tích, đa hồng cầu.
Các rối loạn chuyển hóa như nhiễm toan, hạ đường máu, hạ thân nhiệt,
hạ kali máu….
Bệnh thần kinh cơ như xuất huyết não, liệt thần kinh hoành, bệnh sừng
tủy sống [3],[17].
Các triệu chứng của suy hô hấp:
Lâm sàng: Rối loạn nhịp thở bao gồm thở nhanh trên 60 lần/phút hoặc
thở chậm dưới 40 lần/phút, rút lõm lồng ngực, di động ngực bụng ngược
chiều, tím tái. Các rối loạn của cơ quan khác khi thiếu oxy như vật vã li bì
hôn mê co giật, rối loạn nhịp tim, thiểu niệu vô niệu hoặc suy thận cấp do
thiếu oxy dẫn đến hoại tử ống thận cấp.
Xét nghiệm: Khí máu PaO2 < 100 mmHg, PaCO2 >40 mmHg, pH máu
dưới 7.3
Đánh giá suy hô hấp ở trẻ sơ sinh
Ngay sau đẻ: đánh giá bằng chỉ số Apgar lúc 1 phút, 5 phút và 10 phút.
Apgar <4 là ngạt nặng, từ 4 đến 6 là ngạt nhẹ, trên 7 là bình thường


19

Với trẻ đủ tháng, nhiều ngày tuổi, sự giãn nở của phổi đã phát triển đầy
đủ, đánh giá theo chỉ số Silverman. Chỉ số Silverman dưới 3 là không suy hô
hấp, từ 3 đến 5 là suy hô hấp nhẹ, trên 5 là suy hô hấp nặng.
Điều trị suy hô hấp với các nguyên tắc: chống suy hô hấp, chống toan
máu, chống nhiễm khuẩn, chống kiệt sức, chống rối loạn thân nhiệt. Điều trị
theo nguyên nhân tùy từng nguyên nhân cụ thể [2].
2.2.4 Dị tật bẩm sinh
Định nghĩa: Theo WHO, dị tật bẩm sinh là các khuyết tật về cấu trúc,
chức năng và/hoặc khuyết thiếu ở mức sinh hóa, phân tử có mặt lúc sinh, có
thể được phát hiện ngay thời điểm sinh hoặc không. Trong các loại khuyết tật
bẩm sinh khác nhau, bất thường về mặt hình thái cấu trúc là khuyết tật chiếm
tỉ lệ lớn nhất [19].
Dịch tễ: Trên toàn cầu, mỗi năm ít nhất 7.9 triệu người được sinh ra với
một khuyết tật bẩm sinh. Trong số trẻ bị ảnh hưởng bởi di tật bẩm sinh, ít nhất
3.3 triệu trẻ tử vong mỗi năm trước 5 tuổi [20].
Các dị tật bẩm sinh hay gặp như bệnh tim bẩm sinh, hội chứng Down,
các khuyết tật ống thần kinh, dị tật đường tiêu hóa như không có lỗ hậu môn,
teo thực quản…
Nguyên nhân: Phần lớn các dị tật bẩm sinh được coi là kết quả của
nhiều nguyên nhân về môi trường và hoặc di truyền tác động cùng nhau. Các
yếu tố môi trường như bệnh của mẹ, sử dụng 1 số thuốc, mất cân bằng dinh
dưỡng, hút thuốc và sử dụng rượu, tiếp xúc các chất độc hai như thuốc trừ
sâu, phụ phẩm khử trùng nước, nhựa …
Nguy cơ cho trẻ sơ sinh: Theo số liệu từ Trung tâm Thống kê Y tế Quốc
gia cho thấy dị tật bẩm sinh gây ra khoảng 20% tử vong ở trẻ sơ sinh tại Hoa
Kỳ [20]. Dị tật bẩm sinh cũng là một trong những nguyên nhân chính gây tử
vong ở trẻ sơ sinh ở các nước phát triển và đang phát triển.


20

2.3. Các nghiên cứu trên thế giới và trong nước về mô hình bệnh tật sơ sinh
2.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy mô hình bệnh tật ở trẻ sơ sinh có
sự khác nhau giữa các khu vực, các quốc gia.
Nghiên cứu của tác giả Bashtian “Đánh giá các nguyên nhân nhập viện
khoa sơ sinh và các yếu tố liên quan ở đơn vị sơ sinh tại Bojnord” từ 1/2012
đến 7/2012 trên 415 trẻ cho thấy nguyên nhân phổ biến nhất của nhập viện sơ
sinh là vàng da, tiếp đến là nhiễm khuẩn sơ sinh, sinh non , hội chứng hít
phân su (meconium aspiration syndrome) [20].
Một nghiên cứu khác tại Pakistan trên 1554 bệnh nhân nhập viện trong
1 năm từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2009 của tác giả Ali cho thấy mô hình
bệnh tật như sau: sơ sinh non tháng (27.9%), nhiễm trùng sơ sinh (20.33%),
ngạt (13%) và vàng da sơ sinh (11.1%)... Đây là những nguyên nhân chính
của việc nhập viện, tỉ lệ tử vong là 6.8% trong đó sinh non là nguyên nhân
chính gây tử vong ở đối tượng nghiên cứu [21].
Tác giả Koki nghiên cứu trên 332 trẻ sơ sinh nhập viện vào đơn vị sơ
sinh của bệnh viện Bamenda từ tháng 11/2015 đến tháng 2 năm 2016.
Nguyên nhân chính của việc nhập viện sơ sinh đứng đầu là sinh non với 32.2
%, tiếp theo lần lượt là nhiễm trùng sơ sinh và ngạt với 31.3% và 14.5%. Tỉ lệ
tử vong khá cao (15.7%) cũng với 3 nguyên nhân chính trên [22].
Nghiên cứu của tác giả Ekwochi tiến hành trên 261 trẻ sơ sinh nhập
viện từ tháng 6 năm 2012 đến tháng 5 năm 2013. Lý do nhập viện thường gặp
trong nghiên cứu này theo thứ tự là ngạt (30.7%), sơ sinh nhẹ cân (24.5%),
nhiễm khuẩn sơ sinh (16.9%), vàng da sơ sinh (0.06%). Tỉ lệ tử vong là
14.2% với nguyên nhân lớn nhất là nhiễm khuẩn sơ sinh (29.4%)[23].
2.3.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Theo kết quả nghiên cứu từ đề tài cấp Nhà nước năm 2001 của tác giả
Nguyễn Thu Nhạn và cộng sự về thực trạng sức khỏe và mô hình bệnh tật trẻ


21

em nói chung tại Việt Nam, những nguyên nhân hàng đầu hay gặp tại các
bệnh viện Nhi là bệnh lý hô hấp (25,1 %), bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng
(16,9%). Tiếp theo đó là dị tật dị dạng bẩm sinh (9,4%) đứng hàng thứ 3.
Nhóm bệnh đứng thứ 4 là nhóm bệnh tiêu hóa (8,52%). Bệnh lý sơ sinh đứng
thứ 6 trong mô hình bệnh tật tại các bệnh viện tỉnh [24]. Những năm gần đây,
xu hướng bệnh tật nói chung có những thay đổi, các bệnh lây nhiễm giảm
dần, thay vào đó là các bệnh không lây nhiễm như các bệnh rối loạn chuyển
hóa, ung thư... Tuy nhiên gần đây tại Việt Nam chưa có thống kê trên cả nước
về mô hình bệnh tật giai đoạn sơ sinh. Các nghiên cứu được tiến hành tại 1 số
bệnh viện Nhi và khoa Nhi của các bệnh viện đa khoa.
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Xuân Hương và cộng sự về “Tình
hình bệnh tật và tử vong sơ sinh tại khoa nhi bệnh viện đa khoa Trung ương
Thái Nguyên” tiến hành trong trong 3 năm từ năm 2008 đến năm 2010. Kết
quả nghiên cứu này cho thấy tỉ lệ trẻ sơ sinh non tháng chiếm tỉ lệ còn cao
(53,59%). Các bệnh lý sơ sinh hay gặp nhất bao gồm sơ sinh non tháng, vàng
da, viêm phổi, ngạt. Tỉ lệ tử vong chưa phản ánh được thực trạng tử vong do
nhiều trẻ xin về trong tình trạng nặng nguy cơ tử vong rất cao. Nguyên nhân
tử vong đứng đầu là bệnh phổi non, bệnh màng trong, ngạt, viêm phổi. Mô
hình bệnh tật và tử vong theo nghiên cứu phù hợp với mô hình bệnh tật và tử
vong ở các nước đang phát triển [25].
Tác giả Hoàng Trọng Quý với nghiên cứu “Mô hình bệnh tật giai đoạn
sơ sinh tại bệnh viện đa khoa Phú Vang năm 2016” cho thấy mô hình bệnh tật
giai đoạn sơ sinh chủ yếu là vàng da tăng bilirubin tự do và các bệnh lý nhiễm
trùng. Tỉ lệ sơ sinh bệnh lý ở nhóm sơ sinh đẻ non rất cao chiếm tới 70%.
Trong nhóm sơ sinh đẻ non thì nhiễm trùng sơ sinh sớm và ngạt chiếm tỉ lệ
cao nhất, trong khi ở các nhóm khác vàng da sơ sinh chiếm tỉ lệ cao nhất.
Nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố liên quan đến mô hình bệnh tật sơ sinh sớm
như tình trạng nhiễm trùng tiết niệu dưới, nhiễm trùng tiêu hóa của mẹ, các


22

yếu tố trong cuộc đẻ như chuyển dạ kéo dài, vỡ ối kéo dài…..từ đó kiến nghị
điều trị đầy đủ các bệnh lý nhiễm trùng của mẹ liên quan trước và ngay trong
cuộc chuyển dạ, theo dõi sát yếu tố liên quan để kết thúc chuyển dạ sớm, hạn
chế ảnh hưởng đến nhiễm trùng sơ sinh sớm [26].
Nghiên cứu của tác Trần Văn Sơn và cộng sự “Khảo sát tình hình bệnh
tật và tử vong sơ sinh tại khoa sơ sinh bệnh viện sản nhi Cà Mau” từ tháng 6
năm 2013 đến tháng 5 năm 2014 cho thấy nhóm sơ sinh non tháng/nhẹ cân và
bệnh lý chiếm tỉ lệ cao nhất với 42.52%, tiếp đó là nhiễm trùng (24.13%) và
vàng da sơ sinh (13.96%). Tỉ lệ viêm phổi, suy hô hấp sơ sinh và các nguyên
nhân khác chiếm tỉ lệ thấp hơn. Tỉ lệ tử vong sơ sinh cao nhất ở nhóm sơ sinh
non tháng/nhẹ cân và bệnh lý với 74.1% tổng số trường hợp tử vong. Từ đó
kiến nghị triển khai kĩ thuật bơm surfactant điều trị bệnh lý màng trong và
triển khai kĩ thuật đặt sonde tĩnh mạch rốn [27].
Trong nghiên cứu “Mô hình bệnh tật sơ sinh và hiện trạng đơn nguyên
sơ sinh tại khoa Nhi – Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang năm 2009” của tác giả
Võ Hữu Đức trên tổng số 799 trẻ sơ sinh cho thấy mô hình bệnh tật theo thứ tự
thường gặp là sinh non/nhẹ cân và một số bệnh lý hô hấp như viêm phổi, nhiễm
trùng, vàng da sơ sinh, suy hô hấp…Mô hình bệnh tật có sự thay đổi so với
những năm trước, khi khoa Nhi chưa nhận điều trị trẻ sơ sinh non tháng nhẹ cân
thì mô hình bệnh tật là nhiễm trùng sơ sinh, suy hô hấp sơ sinh, viêm phổi sơ
sinh. Tỉ lệ tử vong cũng cao nhất ở nhóm sinh non/nhẹ cân và bệnh lý [28].
Tác giả Huỳnh Thuận và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu “Mô hình
bệnh tật tại bệnh viện Nhi Quảng Nam trong 05 năm” từ 2009 đến 2013 cho
thấy các nhóm bệnh thời kì sơ sinh theo thứ tự thường gặp lần lượt là sơ sinh
non tháng (26,4%), vàng da sơ sinh (19,3%), nhiễm trùng sơ sinh (19,3%), dị
tật bẩm sinh (9%)....Theo nghiên cứu, bệnh lý liên quan đến tuổi thai, nhiễm
trùng sơ sinh và ngạt khi đẻ có giảm đáng kể so với những năm trước [29].


23

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01/2017 đến tháng 12/2017.
Địa điểm nghiên cứu: Đơn nguyên sơ sinh, Khoa nhi, Bệnh Viện Bạch Mai.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
440 trẻ sơ sinh nhập viện điều trị đủ 24 giờ tại đơn nguyên sơ sinh,
khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai trong thời gian 1 năm.
Xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê y học SPSS 16.0.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả tiến cứu. Cỡ mẫu
nghiên cứu: Lấy tất cả bệnh nhân phù hợp với tiêu chuẩn chẩn đoán.
3.3.1. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
Lấy hết bệnh nhân trong 1 năm đủ tiêu chuẩn chẩn đoán.
3.4. Cách tiến hành nghiên cứu
Bệnh nhân sẽ được thu thập thông tin qua một bệnh án nghiên cứu
thống nhất riêng.
3.5. Các chỉ số nghiên cứu.
3.5.1. Nghiên cứu mô hình bệnh tật ở trẻ sơ sinh
Bệnh nhân sẽ được thu thập thông tin qua một bệnh án nghiên cứu thống
nhất riêng. Một số chỉ số, biến số nghiên cứu bao gồm:
Các đặc điểm chung: Chỉ số về giới, ngày tuổi, tuần tuổi thai, đánh giá
các thủ thủ thuật, thuốc để điều trị cho trẻ.
Sơ sinh đẻ non: tuổi thai < 37 tuần hoặc dưới 259 ngày (Trẻ cực non 24
- < 28 tuần; Trẻ rất non 28 - < 32 tuần; Trẻ non tháng 32 - < 37 tuần; Trẻ đủ
tháng 37 – 42 tuần).
Phân loại trẻ nhẹ cân: Cân nặng thấp 1.500g - < 2.500 g; Cân nặng rất
thấp 1.000g - < 1.500g; Cân nặng quá thấp < 1.000g.


24

Tỉ lệ trẻ cần can thiệp thở máy (bao gồm xâm nhập và không xâm nhập),
tỉ lệ các thủ thuật được tiến hành (đặt huyết áp động mạch, longline, catheter
tĩnh mạch rốn),
Thuốc sử dụng điều trị gồm kháng sinh, chống nấm, surfactant, nuôi
dưỡng tĩnh mạch…
Triệu chứng lâm sàng của suy hô hấp: suy hô hấp được xác định khi có
một trong các dấu hiệu: Rối loạn nhịp thở: thở nhanh > 60 lần/phút hoặc thở
chậm < 40 lần/phút; Co rút lồng ngực và hõm ức, di động ngực bụng ngược
chiều; Phập phồng cánh mũi; Thở rên hoặc ngừng thở; Tím khi thở khí trời;
Đánh giá điểm appgar dựa vào bảng điểm appgar
Điểm số Apgar
Dấu Apgar
Nhịp tim
(mạch)

2
Bình thường (> 100
nhịp/ phút)

1

0

<100 nhịp/phút

Không có
(Không mạch
đập)

Nhịp thở
Chậm hoặc thở
Bình thường, khóc tốt
(tần số và gắng sức)
không đều, khóc yếu

Không có
(không thở)

Nhăn mặt (Sự
đáp ứng hay
“phản xạ kích
thích”)

Kéo giật, hắt hơi,
ho, hoặc khóc khi
kích thích

Hoạt động
(trương lực cơ)

Cánh tay và chân
Không cử
Tích cực, vận động
gập lại với cử động động, trương
tự phát
nhẹ
lực “mềm”

Vẻ bề ngoài
(màu sắc da)

Màu sắc bình
Màu sắc bình
Xanh-xám hay
thường toàn cơ thể
thường (nhưng tay xanh tím toàn
(tay và chân hồng
và chân hơi xanh
thân
hào)

Chỉ cử động mặt
Không có
(nhăn mặt) khi có (không đáp ứng
kích thích
với kích thích)


25

Đánh giá chỉ số apgar tại thời điểm sau sinh lúc 1 phút, 5 phút dựa vào
các chỉ số: nhịp tim, nhịp thở, trương lực cơ, cử động của trẻ và màu sắc da
(Nếu tổng số điểm: ≤ 3: ngạt nặng, 4- 6 điểm: ngạt nhẹ, ≥ 7: bình thường.
Triệu chứng cận lâm sàng: Khí máu là tiêu chuẩn có giá trị để chẩn đoán
xác định suy hô hấp cấp: Pa02<60mmHg, và/hoặc PaC02 > 50mmHg và pH <
7,1-7,2.
Xquang phổi: thông thường cho thấy phổi nở kém cả 2 bên, những đám
mờ dạng lưới (dạng kính mờ) với ứ khí trong các nhánh phế quản lớn.
Những trường hợp nặng, hình ảnh phổi trắng.
Mã hoá số bệnh án và các dữ liệu theo các mặt bệnh đã được phân chia
theo ICD 10 [30].
3.5.2. Đánh giá một số yếu tố liên quan
Đánh giá sự liên quan các bệnh lý của mẹ khi mang thai, tình trạng khi
mang thai, phương pháp đẻ và hồi sức sau sinh, thang điểm apgar, cân nặng
khi sinh, phương pháp điều trị, các yếu tố liên quan, các xét nghiệm cận lâm
sàng về huyết học, sinh hóa. Đánh giá điểm appgar dựa vào bảng điểm
appgar.
3.6. Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được thông qua Hội đồng đạo đức bệnh viện nơi thực hiện
nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu phục vụ cho lợi ích người bệnh.
3.7. Xử lý số liệu
Số liệu được xứ lý trên phần mềm thống kê y học SPSS 16.0. Các số
liệu được diễn tả dưới dạng các phân bố về tần số (frequency distributions)
hoặc các tham số thống kê mô tả và được thể hiện dưới dạng tỷ lệ phần trăm,
hoặc trị số trung bình ± SD (SD: Standard Definition). Yếu tố nguy cơ được
tính toán qua chỉ số tỷ suất chênh OR (odd ratio).


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×