Tải bản đầy đủ

Ứng dụng phẫu thuật nội soi ổ bụng chẩn đoán các thể bệnh do tồn tại ống phúc tinh mạc

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
-----***-----

NGUYỄN ĐÌNH LIÊN

PHẪU THUẬT NỘI SOI Ổ BỤNG
ĐIỀU TRỊ BỆNH LÝ TỒN TẠI
ỐNG PHÚC TINH MẠC

TIỂU LUẬN TỔNG QUAN

HÀ NỘI – 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ


TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
-----***-----

NGUYỄN ĐÌNH LIÊN

PHẪU THUẬT NỘI SOI Ổ BỤNG
ĐIỀU TRỊ BỆNH LÝ TỒN TẠI
ỐNG PHÚC TINH MẠC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Ngọc Bích

Thuộc đề tài: Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi ổ bụng
điều trị các bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc ở trẻ em

Chuyên ngành : Ngoại - Tiết niệu
Mã số

: 62720126

TIỂU LUẬN TỔNG QUAN

HÀ NỘI – 2018


MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ..................................................................................................1
1LỊCH SỬ ĐIỀU TRỊ BỆNH LÝ TỒN TẠI PHÚC TINH MẠC....................4
1.1. Giai đoạn trước thể kỷ XIX.....................................................................4
1.2. Giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX..................................................................5
1.3. Giai đoạn từ 1950 đến nay......................................................................6
1.3.1. Tình hình phẫu thuật nội soi điều trị bệnh lý do tồn tại ống phúc
tinh mạc trên thế giới........................................................................7
1.3.2. Tình hình ứng dụng phẫu thuật nội soi tại Việt nam trong điều trị
các bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc..........................................8
2. GIẢI PHẪU NỘI SOI VÀ PHÔI THAI HỌC ỐNG BẸN...........................8
2.1. Nội soi giải phẫu ống bẹn........................................................................9
2.1.1. Giải phẫu ống bẹn nhìn từ bên trong nội soi ổ bụng.......................9
2.1.2. Mạc ngang (transversalis fascia) và các dây chằng liên quan.......11
2.1.3. Các thành phần và mốc giải phẫu quan trọng:......................13
2.1.4. Cơ thẳng bụng, cơ ngang bụng:....................................................17
2.1.5. Cơ chéo bụng trong.......................................................................20
2.1.6. Cơ chéo bụng ngoài.......................................................................20
2.2. Phôi thai học ống bẹn và sự đóng kín ống phúc tinh mạc:....................21
2.2.1. Sự biệt hóa của ống bẹn................................................................21
2.2.2. Sự đi xuống của tinh hoàn và hình thành ống phúc tinh mạc.......22
2.2.3. Cơ chế đóng kín ống phúc tinh mạc trong ống bẹn của thai nhi và trẻ em...23
2.2.4. Sự hình thành vòng bẹn.................................................................25
3. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TẾ BỆNH LÝ TỒN TẠI ỐNG PHÚC TINH MẠC....26
3.1. Tuổi.......................................................................................................26
3.2. Giới tính................................................................................................27
3.3. Tỷ lệ các thể lâm sàng do tồn tại ống phúc tinh mạc:...........................28
3.4. Tiền sử gia đình.....................................................................................29


4. CHẨN ĐOÁN BỆNH LÝ TỒN TẠI ỐNG PHÚC TINH MẠC................30
4.1. Chẩn đoán lâm sàng..............................................................................30
4.1.1. Toàn thân.......................................................................................30
4.1.2. Thực thể - Khám vùng bẹn bìu:.....................................................31
4.2. Chẩn đoán hình ảnh...............................................................................34
4.2.1. Siêu âm..........................................................................................34
4.2.2. MRI – CT Scanner ống bẹn...........................................................36
4.2.3. XQ ống bẹn (Herniography).........................................................37
4.2.4 Nội soi ổ bụng chẩn đoán...............................................................38
4.2.5. Các xét nghiệm khác.....................................................................42
4.3 Chẩn đoán xác định................................................................................42
4.4. Chẩn đoán phân biệt thể lâm sàng:.......................................................42
5. PHẪU THUẬT NỘI SOI Ổ BỤNG ĐIỀU TRỊ BỆNH LÝ ỐNG PHÚC
TINH MẠC.....................................................................................................43
5.1. Nguyên lý phẫu thuật điều trị bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc:........43
5.2. Chỉ định và chống chỉ định phẫu thuật nội soi:.....................................44
5.2.1. Chỉ định.........................................................................................44
5.2.2 Chống chỉ định...............................................................................45
5.3. Mô tả phẫu thuật nội soi điều trị bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc:....45
5.3.1. Phẫu thuật nội soi 3 trocart............................................................46
5.3.2. Phẫu thuật nội soi 2 trocart............................................................52
5.3.3. Phẫu thuật nội soi hỗ trợ...............................................................54
5.3.4. Phẫu thuật nội soi 1 trocart............................................................58
5.4. Tai biến và biến chứng của phẫu thuật nội soi:.....................................60
KẾT LUẬN....................................................................................................63
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1. Các mốc giải phẫu nhìn từ nội soi.....................................................9
Hình 2.2. Các thành phần giải phẫu và mạc ngang sau bóc bỏ phúc mạc.......10
Hình 2.3. Lỗ bẹn trong và các dây chằng nhìn qua nội soi.............................12
Hình 2.4. Giải phẫu và liên quan của khoang trước phúc mạc - sau xương mu. .13
Hình 2.5. Các mốc giải phẫu quan trọng trong khoang trước phúc mạc - sau
xương mu........................................................................................14
Hình 2.6. Các thần kinh trong tam giác đau....................................................17
Hình 2.7. Dây chằng Cooper, dải chậu mu, dây chằng bẹn phải.....................17
Hình 2.8 Corona mortis...................................................................................17
Hình 2.9. Cách tiếp cận đúng vào khoang Bogros..........................................17
Hình 2.10. Liên quan giữa cân cơ chéo bụng ngoài và dây chằng bẹn...........20
Hình 2.11. Cơ chéo bụng ngoài.......................................................................20
Hình 2.12. Sự biệt hóa của dây chằng bìu.......................................................22
Hình 2.13. Sự di chuyển của tinh hoàn xuống bìu..........................................22
Hình 2.14. Sự hình thanh các vòng bẹn..........................................................25
Hình 2.15. Ranh giới ống bẹn.........................................................................25
Hình 4.1. Thoát vị bẹn 2 bên...........................................................................31
Hình 4.2. Tràn dịch màng tinh hoàn phải........................................................31
Hình 4.3. Tràn dịch màng tinh hoàn thể thông thương ở trẻ 6 tuổi.................32
Hình 4.4. Hình ảnh nang nước thừng tinh khi soi đèn....................................32
Hình 4.5. Ống phúc tinh mạc không phát hiện được khi trẻ nằm ở tư thế nghỉ......34
Hình 4.6. Siêu âm Doppler trong thoát vị bẹn nghẹt.......................................35
Hình 4.7. Tồn tại ống phúc tinh mạc là ổ đồng âm, tỷ trọng cao ở thì T2......37
Hình 4.8. Hình ảnh các thể bệnh lý còn ống phúc tinh mạc trên XQ ống bẹn38
Hình 4.9. Sử dụng ống soi 70° đánh giá..........................................................39


Hình 4.10. Các dấu hiệu còn ống phúc tinh mạc khi nội soi ổ bụng...............40
Hình 4.11. Các thể nang nước thừng tinh qua nội soi ổ bụng.........................41
Hình 5.1: Phẫu thuật thắt ống phúc tinh mạc ở trẻ nữ.....................................48
Hình 5.2. Thắt ống phúc tinh mạc mũi chữ Z.................................................48
Hình 5.3. Thiết đồ thắt nút chỉ làm thu hẹp lỗ bẹn trong................................49
Hình 5.4. Thiết đồ cắt cắt bỏ hoàn toàn chu vi ống phúc mạc tại lỗ bẹn trong ....50
Hình 5.5. Thắt ống phúc tinh mạc Theo Eposito C.........................................50
Hình 5.6. Khâu cân cơ kết hợp với cung đùi làm hẹp lỗ bẹn trong.................50
Hình 5.7. Bóc nang nước thừng tinh trong nội soi, thắt ống phúc tinh mạc. Mở
cửa số nang hoặc chọc hút dịch nang, dịch màng tinh hoàn...........51
Hình 5.8 Thiết đồ nút thắt ngoài da.................................................................52
Hình 5.9. Các thì phẫu thuật theo Prasad........................................................53
Hình 5.10. Ảnh dùi của Kim Endo, kim LPEC...............................................54
Hình 5.11. Các thì phẫu thuật thắt ống phúc tinh mạc bằng kim 18G của
Patkowski et al................................................................................55
Hình 5.12. Thiết đồ phẫu thuật của Harrison và cộng sự................................56
Hình 5.13. Thiết đồ phẫu thuật của Kastenberg và ảnh minh họa nội soi.......57
Hình 5.14. Sử dụng endoclose needle thắt ống phúc tinh mạc ......................58
Hình 5.15. Phẫu thuật nội soi 1 cổng qua rốn có cắt ống phúc tinh mạc theo
Jason P. Van Batavia........................................................................60
Hình 5.16. Phẫu thuật nội soi 1 lỗ không cắt ống phúc tinh mạc theo ...........60


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc ở trẻ em thường gặp và phong phú
về thể lâm sàng, diễn biến và biểu hiện bệnh còn phụ thuộc vào độ tuổi của trẻ
em, nội dụng trong ống phúc tinh mạc [1], [2], [3]. Dù chẩn đoán bệnh thuận
lợi khi kết hợp thăm khám lâm sàng và siêu âm nhưng phương pháp điều trị
còn nhiều bàn luận, tranh cãi. Trước thập niên 90 của thế kỷ XX, đa phần các
tác giả ủng hộ phương pháp mổ mở với nguyên lý cơ bản và Ferguson nêu ra:
Thắt cao ống phúc tinh mạc, rồi xử lý các biểu hiện khác của bệnh [4]. Dựa
trên các phẫu thuật nội soi ổ bụng chẩn đoán và phẫu thuật can thiệp ở người
trưởng thành đạt được nhiều thành công, các phẫu thuật viên nhi khoa đã tiến
hành phẫu thuật điều trị tìm hạ tinh hoàn trong ổ bụng và tầm soát ống phúc
tinh mạc [5]. Sau khi ứng dụng thành công phẫu thuật nội soi thắt ống phúc
tinh mạc ở bệnh nhân nữ thì triển khai sang trẻ em nam [6]. Từ đó phẫu thuật
nội soi ổ bụng phát triển không ngừng, cải tiến các phương pháp, phát minh
các kỹ thuật điều trị bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc, đặc biệt là thoát vị bẹn
ở trẻ em [7], [8], [9], [10], [11].
Phẫu thuật mổ mở trong nhiều thập kỷ, với đường rạch ngang theo nếp
lằn bẹn để thắt ống phúc tinh mạc đã thành kỹ năng tiêu chuẩn của các phẫu
thuật viên nhi khoa: Thời gian phẫu thuật tương đối ngắn cho cả gây mê và
phẫu thuật, thời gian tái hoạt động sau mổ cũng sớm, vết mổ ở nếp lằn bẹn
tương đối thẩm mỹ do được quần che kín [4]. Do đó đã nổ ra một thời kỹ
tranh cãi về lựa chọn phẫu thuật nội soi hay phẫu thuật mổ mở cho các bệnh
lý tồn tại ống phúc tinh mạc trên thế giới [12], [13]. Sau nhiều báo cáo về
nguy cơ thoát vị bẹn đối bên của bệnh nhân sau mổ thoát vị bẹn, nguy cơ hình
thành thoát vị bẹn gián tiếp ở người trưởng thành khi còn tồn tại ống phúc
tinh mạc, các lợi ích khi sử dụng nội soi thăm dò qua ống bẹn hoặc qua ổ


2

bụng để tầm soát tồn tại ống phúc tinh mạc, tính an toàn của phẫu thuật nội
soi điều trị bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc. Các báo cáo này đã ủng hộ và
tạo điều kiện thuận lợi cho ứng dụng phẫu thuật nội soi chẩn đoán và điều trị
bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc được phát triển trên toàn thế giới một cách
nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu phẫu thuật nội soi trẻ em nói chung: An toàn,
hiệu quản, ít đau, thẩm mỹ, thời gian nằm viện ngắn, sẹo mổ nhỏ hoặc không
có sẹo [14]. Riêng phẫu thuật nội soi điều trị bệnh lý tồn tại ống phúc tinh
mạc còn có yêu cầu: Thời gian gây mê và thời gian phẫu thuật ngắn, thắt cao
ống phúc tinh mạc, đặc biệt là ít có nguy cơ tổn thương ống dẫn tinh và mạch
tinh hoàn, tỷ lệ tái phát thấp [12], [15], [16].
Giai đoạn đầu, các kỹ thuật mổ chú trọng tới khâu đóng kín phúc mạc tại
lỗ bẹn trong do lo ngại làm tổn thương bó mạch tinh hoàn và ống dẫn tinh ở
trẻ nam. Tiếp đến, các nhà phẫu thuật mạnh dạn cắt, bóc tách ống phúc tinh
mạc ở lỗ bẹn trong và khâu kín phúc mạc bằng các mũi khẫu rời hoặc vắt vơi
nút thắt hoàn toàn trong ổ bụng. Với kinh nghiệm hiểu biết được giải phẫu
của ống bẹn, lỗ bẹn trong, các thành phần đi qua lỗ bẹn trong các nhà phẫu
thuật nhi khoa đã tiến hành khâu đống kín lỗ bẹn trong với nút thắt hoàn toàn
ngoài phúc mạc có hoặc không có sử dụng dụng cụ hỗ trợ. Qua đó hạn chế
dần số vết mổ đặt trocart trên thành bụng và tiến tới phẫu thuật 1 trocart qua
rốn để đóng kín ống phúc tinh mạc tại lỗ bẹn trong [17]. Nhưng khi có các tổn
thương khác được chẩn đoán cần được xử lý thì đặt thêm các trocart thao tác
là cần thiết.
Hiện nay trên thế giới đang có xu thế sử dụng phẫu thuật nội điều trị các
bệnh lý còn ống phúc tinh mạc do có các ưu điểm: Tầm soát sự tồn tại ống
phúc tinh mạc đối bên, tầm soát các bệnh lý bẩm sinh trong ổ bụng…đồng
thời đảm bảo được nguyên tắc thắt cao ống phúc tinh mạc. Tùy thuộc vào thói
quen, quan điểm của các phẫu thuật viên mà có thể sử dụng nút thắt trong


3

hoặc nút thắt ngoài phúc mạc. Phẫu thuật thắt ống phúc tinh mạc bên trong ổ
bụng thường sử dụng 2 – 3 trocart để tiến hành đóng kín phúc mạc tại lỗ bẹn
trong có hoặc không có thì cắt bỏ ống phúc tinh mạc. Ngược lại phẫu thuật
thắt ống phúc tinh mạc với nút thắt bên ngoài ổ bụng thường đơn thuần là sử
dụng mũi khâu qua da, lấy hết ống phúc tinh mạc và tránh tổn thương ống dẫn
tinh, mạch tinh hoàn. Sau khi buộc chỉ, nút chỉ được vùi dưới da. Phương
pháp này có thể sử dụng thêm 1 trocart để đưa dụng cụ hỗ trợ cho thao tác
khâu lấy phúc mạc thuận lợi [12], [15], [16], [18].
Tại Việt Nam, các báo cáo gần đây về ứng dụng phẫu thuật nội soi điều
trị các bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc còn ít [19], [20], [21], [22]. Cho nên
chúng tôi thực hiện tiểu luận tổng quan này nhằm các mục tiêu sau:
1.

Ứng dụng phẫu thuật nội soi ổ bụng chẩn đoán các thể bệnh do tồn tại
ống phúc tinh mạc.

2.

Chỉ định phương pháp phẫu thuật nội soi ổ bụng điều trị các bệnh lý tồn
tồn tại ống phúc tinh mạc.


4

1LỊCH SỬ ĐIỀU TRỊ BỆNH LÝ TỒN TẠI PHÚC TINH MẠC
1.1. Giai đoạn trước thể kỷ XIX
Các bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc được các nhà y khoa cổ đại
quan tâm nghiên cứu do nó có nhiều biến chứng trong quá trình theo dõi và
điều trị, nổi bật là bệnh lý thoát vị bẹn. Năm 176 sau công nguyên Galen, người
đầu tiên đề cập và mô tả nguyên nhân gây ra bệnh lý này do “Cái ống đi xuống
của tinh hoàn là một cái túi nhỏ (ống phúc tinh mạc) của túi phúc mạc lớn ở phía
dưới’’. Song việc điều trị các bệnh lý này ở trẻ em cũng tương tự như người lớn,
đặc biệt là bệnh thoát vị bẹn để lại nhiều tai biến: Tỷ lệ tử vong cao, tỷ lệ phát
lớn, đặc biệt là đa phần gây tổn thương tinh hoàn [18], [23].
Đến thế kỷ thứ V sau công nguyên tại Ấn Độ đã được ghi chép đầy đủ
hơn về lâm sàng và biến đổi vùng bẹn khi bệnh nhân bị thoát vị bẹn [23]. Tại
châu Âu trước thế kỷ XVI do các nhà ngoại khoa như Franco, Stromay không
hiểu được các vai trò của các thành phần trong ống bẹn đi xuống bìu nên phẫu
thuật thoát vị bẹn thường là cắt bỏ thừng tinh - tinh hoàn, túi thoát vị làm tăng
tỷ lệ tử vong và tàn phế [23].
Đến thời kỳ Phục Hưng nhờ việc phẫu tích xác ở Châu Âu đã cho phép
hiểu thêm về các bệnh lý vùng bẹn bìu do tồn tại ống phúc tinh mạc. Nhưng
phải đến những năm đầu của thế kỷ XIX, nhờ các tác giả Thomas Morton,
Astley Paston Cooper, Franz Kaspar Hesselbach và Antonio Scarpa mới mô
tả được một cách chính xác, hoàn thiện giải phẫu ống bẹn [23], [24], [25].
Nhờ đó mà năm 1877, tại Châu Âu và Bắc Mỹ V. Czerny đã mô tả phương
pháp phẫu thuật cột cao và cắt bao thoát vị tại lỗ bẹn nông và khâu hẹp lại lỗ
bẹn ngoài [23].
Trên cơ sở hiểu biết chi tiết về giải phẫu ống bẹn và có phương pháp sát
trùng của Lister đã tăng tính khả thi của việc tái táo cấu trúc ống bẹn trong
bệnh lý thoát vị bẹn và hạn chế tỷ lệ tử vong do nhiễm trùng. Eduado Bassini


5

(1887) và Halsted (1889) đã báo cáo sự thành công của kỹ thuật cơ bản lúc
bấy giờ trong thủ thuật khâu túi thoát vị [24]. Cùng năm 1899, Ferguson dựa
trên đề xuất của Henry Orlando Marcy (1837-1924) mô tả kỹ thuật thắt cao cổ
túi thoát vị kèm với khâu hẹp lỗ bẹn trong, tiện lợi cho thoát vị trực tiếp và
thoát vị ở trẻ em đã mô tả phương pháp thắt cao túi thoát vị, loại bỏ túi thoát
vị và tái tạo các phần liên quan của cấu trúc thừng tinh theo các lớp giải phẫu
ống bẹn có ý nghĩa rất lớn cho phẫu thuật các bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh
mạc ở trẻ em cho tới tận ngày nay [23], [26].
Tới năm 1890 Eduado Bassini người Italia, qua kinh nghiệm phẫu thuật
của mình đã công bố sách tham khảo với nhiều hình minh họa, giải quyết
được những thiếu sót về các phương pháp phẫu thuật điều trị thoát vị bẹn
trước đó. Qua đó ông đề xuất một phương pháp phẫu thuật mang tên ông như
sau: Mở cân cơ chéo bụng ngoài, bóc tách và cắt cao cổ bao thoát vị ở lỗ bẹn
sâu sau đó bằng các mũi khâu rời 2 lớp, gân cơ kết hợp cùng với cung đùi sau
thừng tinh, khâu lại 2 mép cân cơ chéo lớn với nhau trùm lên thừng tinh áp
dụng cho trẻ thanh thiếu niên và người trưởng thành [23], [26], [28], [29].
1.2. Giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX
Phần lớn trẻ em được phẫu thuật điều trị các bệnh lý do tồn tại ống phúc
tinh mạc theo đường mổ của người lớn: Đường phân giác của góc tạo bởi bờ
ngoài cơ thẳng bụng với cung đùi hoặc đường vòng cung đi từ gai chậu trước
trên đến củ mu, thường hạn chế trẻ vận động, nằm điều trị dài ngày. Chỉ đến
năm 1950, các tác giả Potts, Riker và Lewis ủng hộ, quảng bá phương pháp
của Ferguson với đường rạch da theo nếp lằn bẹn, thắt cao ống phúc tinh mạc
và mở rộng túi thoát vị hoặc mở cửa sổ màng tinh hoàn trong điều trị các
bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc. Đồng thời khuyến khích cho trẻ vận
động và ra viện sớm. Điều này đã giúp nguyên tắc của Ferguson được phổ
biến trên toàn thế giới cho đến tận ngày nay [4], [12], [23], [29], [30].


6

1.3. Giai đoạn từ 1950 đến nay
Nhờ sự bùng nổ về cách mạng công nghiệp và ứng dụng của các ngành
khoa học vật lý, điện tử đã tạo ra nhiều ứng dụng thuận lợi cho việc nghiên
cứu phôi thai học về ống phúc tinh mạc. Rinker và Allen năm 1951 và
Ozdileck năm 1957, MC Kay năm 1970 nhận định tồn tại ống phúc tinh mạc
là do sự đóng tắc ống không hoàn chỉnh và ống phúc tinh mạc liên tục với
phúc mạc thành bụng chứa dịch tích tụ trong đó là dịch phúc mạc ổ bụng gây
ra tràn dịch màng tinh hoàn ở trẻ em [31], [32]. Các công bố nghiên cứu phôi
thai học công bố năm 1962 của các tác giả Wh Snyder, Philip Thorek cho thấy
ống phúc tinh mạc là phúc mạc nhô ra khỏi thành bụng ở lỗ bẹn trong chạy
vào bìu ở trẻ em hoặc môi lớn ở trẻ nữ. Ống phúc tinh mạc thông thương với
khoang bụng trong suốt thời kỳ phát triển của thai nhi đến khi sinh và đóng
dần tăng theo tuổi của trẻ [30], [33], [34], [35], [38].
Theo MF Campbell (1970), Skoog S.J (1995) cho rằng nguyên nhân
thường xảy ta tràn dịch màng tinh hoàn, nang nước thừng tinh ở trẻ em là do
kết quả đóng không hoàn toàn ống phúc tinh mạc, thường có sự thông thương
trực tiếp giữa dịch trong bao màng tinh hoàn với ổ phúc mạc, và có thể có
thoát vị kèm theo [27], [38], [39]. Năm 1976, Cortessi thực hiện phẫu thuật
nội soi để chẩn đoán tinh hoàn trong ổ bụng ở người trưởng thành [39]. Qua
đó đánh giá cấu trúc lỗ bẹn trong, và các thành phần phía trong thành sau ống
bẹn cùng đường đi của ống dẫn tinh và bó mạch tinh. Đây là cơ sở giải phẫu
thực hành cho phẫu thuật nội soi các bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc và
là luận chứng sáng tỏ để giải thích các thể lâm sàng do tồn tại ống phúc tinh
mạc gây ra. Sau đó Tefferey Wacksman (1990); Lobe TE (1992), Lee Steven
(2002) khẳng định tràn dịch màng tinh hoàn có biểu hiện thay đổi kích thước
bìu theo tư thế, thời điểm trong ngày thì hầu hết có thoát vị bẹn kèm theo. Thể
thoát vị bẹn bìu trẻ em thì bao phúc mạc chứa cả nội dung thoát vị và dịch


7

màng tinh hoàn, do vậy đường kính ống phúc tinh mạc càng lớn thì khả năng
tràn dịch màng tinh hoàn có thoát vị bẹn càng tăng lên [5], [40], [41].
Lobe TE qua nội soi chẩn đoán đã công bố đầy đủ các hình thái bệnh lý
tồn tại ống phúc tinh mạc [41]. Cung cấp cho các nhà lâm sàng và cận lâm
sàng những thông tin hữu ích cho chẩn đoán, điều trị và theo dõi về bệnh lý
thoát vị bẹn đối bên, thoát vị không có triệu chứng và tồn tại ống phúc tinh
mạc ở trẻ em không có biểu hiện lâm sàng [36], [40]. Khi nghiên cứu bệnh lý
ẩn tinh hoàn, tinh hoàn di động George T. Klauber cũng cho rằng hầu hết các
bệnh lý này đều tồn tại ống phúc tinh mạc. Các phẫu thuật hạ tinh hoàn, cố
định tinh hoàn di động, tinh hoàn co rút đều phải thực hiện thì tìm và thắt ống
phúc tinh mạc để tránh tái phát [33], [34], [35]. Chính vì vậy, đa số các tác giả
đều thống nhất rằng: Thoát vị bẹn, tràn dịch màng tinh hoàn, nang nước thừng
tinh, tinh hoàn di động ở trẻ em chủ yếu là do tồn tại ống phúc tinh mạc gây
ra [5], [11], [30], [37], [38], [40].
1.3.1. Tình hình phẫu thuật nội soi điều trị bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh
mạc trên thế giới
Dựa trên các thành tựu nghiên cứu về giải phẫu, phôi thai học ống bẹn và
thành công của các phương pháp mổ nội soi đường bụng được công bố trên
thế giới. Năm 1997 El- Gohary là người đầu tiên thực hiện phẫu thuật nội soi
thắt ống phúc tinh mạc điều trị thoát vị bẹn trẻ em nữ [6]. Năm 1999 thì
Montupet và Eposito lần đầu tiên báo cáo phẫu thuật nội soi điều trị thoát vị
bẹn ở trẻ nam đã mở ra nhiều kỹ thuật khâu thắt ống phúc tinh mạc trong ổ bụng
điều trị các bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc [12], [15], [16], [17], [42].
Năm 2003, kỹ thuật khâu ngoài phúc mạc được mô tả bởi Prasad và cộng
sự. Kể từ đó, một loạt các dụng cụ được cải tiến và thay đổi để kỹ thuật khâu
ngoài phúc mạc trở nên an toàn, thuận lợi, rút ngắn thời gian phẫu thuật và
gây mê, tránh sang chấn mạch tinh, ống dẫn tinh [12], [11], [16], [42].


8

1.3.2. Tình hình ứng dụng phẫu thuật nội soi tại Việt nam trong điều trị
các bệnh lý do tồn tại ống phúc tinh mạc
Tại Việt nam, Phạm Văn Phú (2013) là người đầu tiên báo cáo về ứng
dụng nội soi ổ bụng để điều trị thoát vị bẹn cho 30 trẻ nam với nút thắt ngoài
da với tỷ lệ tái phát là 3,3% và Nguyễn Đình Liên và cộng sự (2017) báo cáo
điều trị cho 69 trẻ mắc các bệnh do tồn tại ống phúc tinh mạc với tỷ lệ tái phát
chiếm 2,9% [19], [20]. Gần đây nhất Đặng Thị Huyền Trang (2017) báo cáo
47 trẻ thoát vị bẹn được phẫu thuật mà không có tái phát, Nguyễn Đình Liên
(2018) điều trị cho 74 trẻ bị các bệnh tồn tại ống phúc tinh mạc có 1,4% trẻ bị
tái phát bằng phương pháp nội soi ổ bụng cắt, khâu thắt ống phúc tinh mạc
[21], [22]. Các báo cáo này đã giúp cho ứng dụng phẫu thuật nội soi điều trị
các bệnh lý tồn tại ống phúc tinh mạc dần tiếp cận, phổ biến tại Việt Nam.

2. GIẢI PHẪU NỘI SOI VÀ PHÔI THAI HỌC ỐNG BẸN
Giải phẫu ống bẹn mô tả trong y văn gồm 4 thành (trước, trên, dưới,
sau), 2 lỗ bẹn bẹn (sâu và nông) có các thành phần quan trọng đi qua: Ống
dẫn tinh, mạch tinh ở nam giới, nữ giới chỉ có dây chằng tròn [43], [44]. Hiểu
biết rõ về liên quan của các thành phần giải phẫu này rất quan trọng trong việc
ứng dụng vào khám lâm sàng và thực hành ngoại khoa. Chính việc nắm vững
về giải phẫu học của ống bẹn, các thành phần liên quan ở vùng bẹn sẽ giúp
các nhà ngoại khoa tránh được các tai biến, biến chứng trong phẫu thuật.
Trong phẫu thuật mổ mở thì có tầm quan sát từ bên ngoài đi sâu vào bên trong
còn thuật nội soi thì ngược lại. Cho nên giải phẫu nội soi ống bẹn có những điểm
khác biệt mà bất kỳ phẫu thuật viên mổ nội soi thắt ống phúc tinh mạc cho trẻ em,
mổ thoát vị bẹn ở người trưởng thành cần hiểu được rõ [6], [11], [25], [42].


9

2.1. Nội soi giải phẫu ống bẹn
2.1.1. Giải phẫu ống bẹn nhìn từ bên trong nội soi ổ bụng

Hình 2.1. Các mốc giải phẫu nhìn từ nội soi [25].
Khi bệnh nhân nằm ngửa, đưa camera của máy nội soi ổ bụng qua rốn hướng
đầu máy soi xuống vùng trước dưới của thành bụng (vùng bẹn). Quan sát sẽ thấy
phúc mạc che phủ thành sau ống bẹn, lỗ cơ lược 2 bên. Vùng này bị đội lên ở 5 chỗ
đối xứng nhau qua đường giữa thành các nếp lồi vào ổ bụng [15], [25], [45], [46].
- Một ở chính giữa là dây treo bàng quang: Đi chính giữa bụng hướng
xuống phía dưới và dính vào đỉnh của bàng quang. Đối xứng qua dây treo
bàng quang lần lượt là hai dây treo bàng quang (di tích động mạch rốn) và 2
động mạch thượng vị dưới (nhánh của động mạch chậu ngoài). Các phần kể
trên tạo nên những sợi thừng chạy dưới phúc mạc và nổi gồ vào trong ổ bụng
tạo nên các vùng gọi là hố bẹn. Ở mỗi bên của đường giữa, với tên gọi lần
lượt từ ngoài vào trong là:
- Hố bẹn ngoài nằm ngoài động mạch thượng vị. Hố bẹn giữa, nằm ngoài
động mạch rốn đã tắc và trong động mạch thượng vị. Hố bẹn trong, nằm giữa
dây treo bàng quang và động mạch rốn. Trừ hố bẹn trong có cơ thẳng bụng
che chắn, còn lại hố bẹn ngoài và giữa là các diện yếu và là điểm xuất phát
của thoát vị bẹn [25], [46].
Tại nơi ống dẫn tinh, bó mạch tinh (ở nữ chỉ có dây chằng tròn) chui ra
ngoài ổ bụng có phần lõm thấp xuống được gọi là lỗ bẹn trong. Khoảng 80 -


10

90% trẻ sơ sinh ống phúc tinh mạc đi vào ống bẹn chưa được đóng kín. Qua
nội soi sẽ thấy: Lỗ bẹn trong lõm xuống hình phễu, chu vi lỗ có hình tam giác
với 3 cạnh là các gờ phúc mạc hoặc màng phúc mạc. Cạnh trên ngoài chứa
phúc mạc của thành trên ngoài của ống bẹn, thần kịnh thẹn và thần kinh chậu
hạ vị đi qua. Cạnh trong là nếp gấp của phúc mạc: Nếp gấp này nhô ra có thể
lớn hoặc bé và liên tiếp với bờ ngoài của động mạc thượng vị dưới. Động
mạch này từ động mạch chậu ngoài hướng từ dưới lên trên và từ ngoài hướng
chếch vào trong. Nếp gấp phúc mạc này liên tiếp và tạo thành một phần dây
chằng cheo ống dẫn tinh hoặc dây chằng tròn. Cạnh dưới là nếp gấp của phúc
mạc do dải chậu mu đội lên [5].
Khi lỗ bẹn trong không đóng kín ống nội soi có thể đi vào trong để đánh
giá, và có thể thấy tinh hoàn trong thể thoát vị bẹn bìu. Nếu ống soi không đi
vào được, sử dụng nghiệm pháp bóp vào bìu hoặc ấn vào bẹn sẽ thấy có dịch
hoặc bóng khí CO2 chảy vào ổ bụng. Dưới áp lực của ổ bụng thì thành sau ống
bẹn được đẩy về phía trước nên mạc ngang và phúc mạc dính và đóng lại với
thành trước của ống bẹn. Đây cũng chính là cơ chế chống thoát vị của cơ thể [5].

Hình 2.2. Các thành phần giải phẫu và mạc ngang sau bóc
bỏ phúc mạc [47].


11

Trong phẫu thuật nội soi thoát vị bẹn đường hoàn toàn trong ổ bụng hoặc
đường trước phúc mạc, sau khi phẫu tích giải phóng phúc mạc khỏi thành
bụng sẽ là lớp mạc ngang. Khoảng không gian này là khoang trước phúc mạc
– sau xương mu bao gồm các khoang Retzius, khoang Bogros chứa các thành
phần quan trọng: Bó mạch tinh, ống dẫn tinh ở nam hoặc dây chằng tròn ở nữ
giới, bó mạch thượng vị dưới, bó mạch chậu, …. Các mốc và thành phần giải
phẫu này có ý nghĩa rất lớn để nâng cao độ an toàn, hiệu quả cho phẫu thuật
nội soi ở trẻ em và người lớn vùng bẹn bìu [25], [47].
2.1.2. Mạc ngang (transversalis fascia) và các dây chằng liên quan
Mạc ngang: Được bộc lộ sau khi bóc bỏ phúc mạc và lớp mỡ trước phúc
mạc và gắn chặt vào đường trắng giữa qua cơ thẳng bụng. Có nhiều tác giả
cho rằng mạc ngang thành bụng trước dưới được chia làm 2 lớp. Lớp mặt
nông của mạc ngang phủ sát mặt trong của các cơ thành bụng trước, tuy nhiên
nó mỏng và không có giá trị lâm sàng trong điều trị thoát vị bẹn. Mặt sâu của
mạc ngang, nằm ngay bên dưới mặt nông, bao phủ phúc mạc và tương đối
dày, chắc ở 50% bệnh nhân (nghĩa là nó mỏng và lỏng lẻo ở 50% còn lại).
Khoảng không gian giữa lớp nông và lớp sâu tạo thành một khoang hẹp. Mặt
trên và dưới mạc ngang chạy dọc vùng bẹn và bao phủ các mạch máu dưới
thành bụng (cả 2 bên).
Trong chậu hông, mạc ngang liên tục với cân nội chậu phần bao quanh vị
trí thoát ra của các tạng trong chậu hông và mạc chậu, tất cả bao bọc bao
ngoài của các cơ bên dưới và chia ra làm các phần. Sau đó chúng nhập lại với
thành bụng trước tại vị trí ngang với bó mạch thượng vị dưới. Phần thấp của
mạc ngang tiếp tục chạy đến vùng sau dưới của dây chằng bẹn rồi sau
đó nhập vào với mạc chậu. Phía bên ngoài, mạc ngang nằm giữa nguyên
ủy của cơ thắt lưng chậu, cơ ngang bụng và mép sau của dây chằng bẹn. Phần
giữa của mạc ngang được cố định vào xương chậu, cơ lược và dây chằng


12

lược (dây chằng Cooper), ở phần này đi từ gai chậu trước trên phủ qua
các bó mạch chậu trong, ngoài. Phía trong các mạch này, mạc ngang bám vào
đường lược. Mạc ngang tiếp tục chạy xuống dưới vào trong để bám vào liềm
bẹn. Và 1/3 dưới, mặt sau của bao cơ thẳng bụng được bao phủ bởi mạc
ngang bắt đầu từ đường cung.
Phần sâu của mạc ngang trở thành một cấu trúc hình phễu trải dài
xuống dưới đề bao phủ lấy thừng tinh (cả bao thoát vị nếu có) tại lỗ bẹn
trong và trở thành lớp bọc cho thừng tinh khi vào ống bẹn. Do đó, cần
phải mở cấu trúc này trong phẫu thuật thoát vị bẹn nội soi để bộc lộ cấu
trúc thừng tinh và túi thoát vị [25], [48]. Mạc ngang còn được tăng cường
bởi các sợi của cân cơ ngang bụng ở phía dưới để tạo nên thành sau ống bẹn
[47]. Phần dầy lên của mạc ngang dọc theo bờ trong của lỗ bẹn trong phía bên
ngoài phần giữa của gân kết hợp tạo thành dây chằng gian hố (Hesselbach).
Lỗ mạc ngang (chính là lỗ bẹn trong) được tăng cường ở phần dưới bên là các
sợi rẽ ngang của cơ ngang bụng những sợi chạy hai bên về phía gai chậu
trước trên, hình thành nên cột trụ trước của cung đùi sâu. Cột trụ sau được cấu
thành từ các sợi của dải chậu mu và mạc ngang. Đi qua lỗ bẹn trong ở nữ giới
là dây chằng tròn con ở nam giới là các thành phần của thừng tinh [47].


13

Hình 2.3. Lỗ bẹn trong và các dây chằng nhìn qua nội soi [47].
Giữa phúc mạc và mạc ngang là khoang ảo chứa các tổ chức liên kết và
mỡ lỏng lẻo nên dễ tách thành khoang thật trong phẫu thuật nội soi đi từ củ
mu tới gai chậu trước trên. Khoang chia làm 2 phần: Khoang trước phúc mạc
– sau xương mu ở bên trong và khoang trước phúc mạc – sau mạc ngang ở
bên ngoài. Giới hạn 2 khoang này chính là bó mạch thượng vị dưới. Khoang
trước phúc mạc - sau xương mu nằm ở đường giữa vùng bụng dưới với phần
nông của mạc ngang và xương mu ở phía trước, bàng quang ở phía sau, nằm
dưới rốn và trên các cơ vùng chậu, và các động mạch thượng vị dưới ở ngay
bên dưới khoang… Khoang trước phúc mạc-sau xương mu chứa khoang
Retzius. Khoang Retzius nguồn gốc tạo nên bởi sự gấp nếp của phần sâu của
mạc ngang và phúc mạc nằm giữa bàng quang và lớp phúc mạc, bao gồm cả
bàng quang và mô liên kết lỏng lẻo. Phần khoang trước phúc mạc bên ngoài
của bó mạch thượng vị dưới là khoang Bogros. Khoang này nằm ngang bên
cạnh khoang Retzius và bị giới hạn phía trước bởi phần nông của mạc ngang,
ở bên giữa – trong là bó mạch thượng vị dưới, 2 bên là khung chậu, và phía
sau bởi cơ đáy chậu [25].

Hình 2.4. Giải phẫu và liên quan của khoang trước phúc mạc – sau
xương mu [25].
2.1.3. Các thành phần và mốc giải phẫu quan trọng:
Các cấu trúc giải phẫu khác trong khoang trước phúc mạc được ghi


14

nhận bao gồm khớp mu, dây chằng lược (dây chằng Cooper), mạch
corona mortic, bó mạch thượng vị dưới, ống dẫn tinh (hoặc dây chằng
tròn) và bó mạch tinh chia thành tam giác nguy hiểm và tam giác đau.
Trong phẫu thuật nội soi thoát vị bẹn, điều quan trọng là cần nhận ra được các
mốc giải phẫu quan trọng trong khoang này.

Hình 2.5. Các mốc giải phẫu quan trọng trong khoang trước phúc mạc
– sau xương mu [25].
Khớp mu là mốc giải phẫu đầu tiên của khoang Retzius, là mốc tham
chiếu trung tâm để giải phóng, tạo khoang ngoài phúc mạc. Nó cùng giới
hạn bên trong để cố định và đặt lưới trong phẫu thuật nội soi.
Dây dây chằng lược dễ xác định bởi nó là một mô chắc, trắng và
sáng. Nó là phần mở rộng của dây chằng khuyết (Gimbernat), chạy dọc
theo đường lược và liên kết với mào lược. Dây chằng lược là cấu trúc
thường sử dụng để cố định tấm lưới (Mesh).
Một hoặc một số mạch nối giữa mạch thượng vị dưới hoặc các mạch
chậu ngoài với các động mạch và tĩnh mạch bịt, gọi là corona mortis, có
thể quan sát thấy ở vị trí cách 5 cm từ khớp mu, vắt ngang qua dây chằng
lược để ra ngoài thành bụng [25]. Corona mortis bao gồm động mạch và
tĩnh mạch, hầu hết đi một mình và rời khỏi vùng khung chậu qua ống bịt.
Trong phẫu thuật nếu cắt nhầm vào bó mạch này có thể gây chảy máu
nhiều, cầm máu khó khăn do chúng thường co nhỏ lại trong ống bịt. Vì


15

vậy corona mortis được gọi là ‘vương miện của thần chết’ để nhắc nhở
phẫu thuật viên cần chú ý khi phẫu tích và sửa chữa khu vực dây chằng
Cooper. Tiếp tục phẫu tích dọc theo dây chằng lược ra ngoài sẽ thấy tĩnh
mạch chậu ngoài và động mạch chậu ngoài. Các động tĩnh mạch thượng
vị dưới có thể được nhìn thấy ở phía trên bó mạch chậu ngoài. Hầu hết các
mạch thượng vị dưới là các nhánh của động mạch hoặc tĩnh mạch chậu
ngoài đi ở mặt sau cơ thẳng bụng hướng về phía rốn. Việc nhận biết các
mạch thượng vị dưới là rất quan trọng trước khi tiếp cận vào khoang
Bogros. Phẫu tích giữa bó mạch thượng vị dưới và phần sâu của mạc
ngang là cách tiếp cận đúng duy nhất tới khoang Bogros. Nếu không, rất
dễ để gây tổn thương các mạch thượng vị dưới hoặc thủng phúc mạc, gây
khó khăn cho phẫu thuật nội soi đường ngoài phúc mạc, hoặc tệ hơn phải
chuyên mổ mở.
Dải chậu mu là một cấu trúc dây chắc dày của mạc ngang được nối
với gai chậu trước trên và củ mu và tương đương với dây chằng bẹn. Nó
là ranh giới phía trước của bó mạch đùi và liên kết với phần trên củ mu và
dây chằng lược. Dải chậu mu là ranh giới bên ngoài của tam giác đau. Nó
có thể được nhìn thấy như là một đường màu trắng nằm bên dưới lỗ bẹn
trong, đi từ dưới chạy chếch lên trên và ra ngoài gai chậu trước trên. Tuy
nhiên, mức độ phát triển cả dải chậu mu có thể khác nhau, một số trường
hợp bệnh nhân khó nhận biết được dải chậu mu dưới nội soi, để xác định
cần chạm vào sẽ thấy căng [25].
Ống dẫn tinh (dây chằng tròn ở nữ) và bó mạch tinh (bó mạch buồng
trứng ở nữ) có thể bộc lộ hoàn toàn chỉ khi phần sâu của mạc ngang được bóc
tách và túi thoát vị hoặc nếp phúc mạc được phẫu tích về phía đầu để tạo ra
giới hạn của tam giác nguy hiểm [25]. Ống dẫn tinh: Đi từ dưới lên trên,
chếch từ trong ra ngoài tới lỗ bẹn trong để đi vào ống bẹn cùng với bó mạch


16

tinh. Bó mạch tinh: Bó mạch tinh chạy theo cơ thắt lưng chậu, chếch lên trên
và ra ngoài chui qua lỗ bẹn trong cùng ống dẫn tinh. Bó mạch thượng vị dưới:
Xuất phát từ động tĩnh mạch chậu ngoài đi từ dưới lên trên và chạy chếch từ
ngoài vào trong để đi vào cơ thẳng bụng. Dây thần kinh đùi - Bó mạch chậu
ngoài: Chạy chếch từ trên xuống dưới để chui qua lỗ đùi và đi phía sau so với
bó mạch tinh và ống dẫn tinh.
Trong mổ nội soi thoát vị bẹn, tam giác nguy hiểm là vùng giới hạn
bởi ống dẫn tinh bên trong, mạch tinh ở bên ngoài và nếp phúc mạc ở phía
dưới. Chứa trong tam giác là bó mạch chậu ngoài đi hướng lên trên và ra
ngoài về phía lỗ đùi. Phẫu tích trong khu vực này cần hết sức cẩn thận,
tránh tổn thương bó mạch chậu ngoài, thần kinh, ống dẫn tinh và bó mạch
tinh ở nam.
Tam giác đau: Được giới hạn bởi bó mạch tinh bên trong và dải chậu mu
- liềm bẹn bên trên, bên dưới ngoài là nếp phúc mạc với góc tam giác hướng
về lỗ bẹn trong. Từ trong ra ngoài của tam giác chứa: Nhánh đùi của thần kinh
sinh dục đùi và thần kinh đùi chạy dọc trên cơ lược và cơ đáy chậu để chui
dưới cung đùi; các nhánh thần kinh cảm giác da của thần kinh đùi bên đi
hướng ra ngoài phía cánh chậu, hầu hết các dây thần kinh này đi qua mặt sau
của dải chậu mu và phân bố cảm giác cho vùng đáy chậu và đùi tương ứng.
Thần kinh đùi được cơ lược bao bọc và chui phía dưới dây chằng bẹn cùng
với bó mach chậu ngoài đi xuống chi dưới do đó không dễ bị tổn thương. Các
thần kinh chi phối vùng da đùi chạy dưới mạc chậu và chạy xuống vùng đùi
trong khu vực gai chậu trước trên đến bên dưới dải chậu mu, xuyên qua các
lớp cơ và tới vùng da chậu – bẹn – đùi. Trong quá trình phẫu tích vào khoang
Bogros cần: Tránh đâm xuyên qua mạc chậu và để lộ dây thần kinh, tránh đứt
nhánh thần kinh, tránh đốt nhiều vào vùng này là một trong những cách cách
hiệu quả nhất để giảm đau sau mổ. Tránh biến chứng: Đau mạn tính, dị cảm,


17

rối loạn vận động chi dưới sau sau mổ [25].

Hình 2.6. Các thần kinh trong

Hình 2.7. Dây chằng Cooper, dải chậu

tam giác đau [25]

mu, dây chằng bẹn phải [25]

Hình 2.8 Corona mortis [25]

Hình 2.9. Cách tiếp cận đúng vào
khoang Bogros [25]

2.1.4. Cơ thẳng bụng, cơ ngang bụng:
Phía trước mạc ngang là cơ thẳng bụng (rectus abdominis) và cơ ngang
bụng, cùng với một số dây chằng quan trọng có tác dụng tăng cường cho ống
bẹn và ống đùi.
Nhìn từ trong ra ngoài sẽ thấy cân của cơ thẳng bụng khi bám dọc theo
mào mu và củ mu để lộ ra một khoảng rộng của mạc bao phủ trên đường lược


18

rộng chừng 2 cm hình thành nên liềm bẹn thực sự (dây chằng Henle). Một
cách mô tả khác, liềm bẹn là sự dầy lên của cân cơ ngang bụng khi nó bám
vào ngành trên xương mu, một phần của gân kết hợp. Có vẻ như là các sợi
của cân này hòa lẫn với sợi của dây chằng Henle, vì vậy mà nguyên ủy của
chúng trùng khớp với nhau [48].
Phần kết hợp giữa các thớ dưới cùng của cân cơ ngang bụng và cơ chéo
bụng trong tạo nên cân cơ kết hợp. Cân này đi từ phần ngoài của dây chằng
bẹn vào trong tạo nên trần (thành trên) của ống bẹn bởi vì nó bám qua ống
bẹn như cái vòm của cơ ngang bụng bám vào mào mu và đường lược. Ở khu
vực giữa dưới này, thành sau của ống bẹn chỉ còn là lớp mạc ngang mỏng
manh giữa các thớ cân do lúc này các thớ của cân cơ ngang bụng tỏa rộng ra.
Chính sự sắp xếp này thúc đẩy thoát vị bẹn trực tiếp xảy ra. Một gân kết hợp
thực sự có thể không được hình thành vì cái vòm này từ cơ chéo bụng trong
có thể tận hết ở đường trắng giữa hoặc bao cơ thẳng mà không cong xuống
cùng với cơ ngang bụng đến mào mu [47].
Tam giác Hesselbach: Giới hạn phía trong là bờ ngoài bao cơ thẳng
bụng, phía dưới là liềm bẹn và phía ngoài là bó mạch thượng vị dưới.
Dây chằng khuyết: Có nguồn gốc từ mạc đùi bởi vì nó hòa lẫn với bờ sau
của dây chằng bẹn, được tăng cường bởi một vài mạc khác từ cơ chéo ngoài.
Nó hòa với mạc lược trước khi tới đường lược. Bờ bên của nó khớp khít
quanh thành trong của bao đùi thành một đường dài khoảng 1cm bên dưới và
trước đường lược.
Dây chằng lược: Là một phần xơ dầy lên vài milimet có liên quan đến
màng xương của ngành trên xương mu dọc theo đường lược. Nó mở rộng
sang hai bên từ đáy của dây chằng khuyết dọc theo đường lược, được sự tăng
cường của mạc lược.


19

Cân của cơ ngang bụng và dải chậu mu bám dọc theo đường lược gần
nửa trong của dây chằng lược; qua dây chằng lược mạc ngang được tăng
cường thêm bằng một đường bám vào ngành trên xương mu. So với điểm
bám của các cơ thành bụng trước, ở phía ngoài, dây chằng lược càng tỏa về
phía dưới (phía chân) hơn.
Dải chậu mu: Có nguồn gốc do sự kết hợp của các mạc ở tầng ngoài thuộc
mặt sau của thành bụng trước với các mạc cùng tầng ở vùng thắt lưng chậu (mạc
chậu). Và nó có thể thêm các sợi đến từ cân cơ ngang bụng. Còn được gọi là bao
đùi trước và được coi là phần xơ dưới nhất của mạc ngang dầy lên chạy từ dưới
tới và song song với dây chằng bẹn. Nó là nơi phân biệt ranh giới phần bụng và
phần đùi của mạc ngang. Dải chậu mu nằm rất gần dây chằng bẹn trên bình diện
giữa của nó, nhưng nó là cấu riêng rẽ thực sự. Còn dây chằng bẹn là một cấu trúc
thuộc lớp nông và là một phần của tầng chéo ngoài của vùng đùi. Trong khi đó
dải chậu mu lại là một cấu trúc thuộc lớp sâu, tầng ngang nên được nhìn thấy
qua nội soi khi bóc tách phúc mạc ở hố bẹn ngoài.
Ở phía ngoài, dải chậu mu được gắn vào mào chậu và tới gai chậu trước
trên, nơi mà cơ chậu và các sợi dưới của cơ ngang bụng hòa lẫn vào nhau. Sau
đó nó vòng qua cơ thắt lưng lớn và động tĩnh mạch đùi, tạo nên một phần bao
đùi trước. Bằng cách này, mạc ngang được tăng cường bởi các sợi bám ngang
chạy từ ngoài đến gai chậu trước trên và vào trong phía sau cơ thẳng bụng.
Các sợi của nó đi vào trong để bám vào ngành trên xương mu và vào dây
chằng lược. Mặt khác các sợi ở phần dưới hơn lại cong xuống đển bám vào
phần ngoài hơn của dây chằng lược, tạo nên giới hạn trong của ống đùi.
Chúng đóng vai trò như vật tăng cường cho phần giữa dưới của viền lỗ bẹn
trong và là một yếu tố quan trọng trong phẫu thuật điều trị thoát vị bẹn. Mặc
dù một lớp mạc bọc kép, gọi là mạc gian thành, phân chia giữa cơ ngang bụng
và cơ chéo bụng trong trên suốt đường đi của nó, gần ống bẹn và gân kết hợp,
nhưng hai cơ này vẫn luôn luôn bám chặt vào nhau.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×