Tải bản đầy đủ

NGHIÊN cứu NHÂN TRẮC đầu mặt BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHỤP ẢNH CHUẨN HOÁ và CHỤP x QUANG sọ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

CHU VĂN TUỆ BÌNH

NGHIÊN CỨU NHÂN TRẮC ĐẦU MẶT
BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHỤP ẢNH CHUẨN
HOÁ VÀ CHỤP X-QUANG SỌ

CHUYÊN ĐỀ TIẾN SĨ

HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ


TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

CHU VĂN TUỆ BÌNH

NGHIÊN CỨU NHÂN TRẮC ĐẦU MẶT
BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHỤP ẢNH CHUẨN
HOÁ VÀ CHỤP X-QUANG SỌ
Người hướng dẫn: PGS.TS. Võ Trương Như Ngọc
Cho đề tài “Nghiên cứu đặc điểm hình thái đầu-mặt bằng
phương pháp đo trực tiếp trên người Kinh và người
Mường trong nhóm tuổi 18-25”
Chuyên ngành : Giải phẫu người
Mã số

: 62720104

CHUYÊN ĐỀ TIẾN SĨ
HÀ NỘI – 2018


MỤC LỤC


DANH MỤC BẢNG


DANH MỤC HÌNH


6

ĐẠI CƯƠNG

Đo nhân trắc cơ thể người nói chung và vùng đầu-mặt nói riêng đã được
tiến hành từ thời xa xưa. Từ thời Ai cập cổ đại đã có những phép đo nhân trắc,
nhưng người Hy lạp cổ đại là những người đầu tiên thực hiện phép đo trên
khuôn mặt. Mục đích của các phép đo cũng khác nhau, một số muốn chỉ ra
nhóm người ưu việt hơn, một số mong muốn tạo ra vẻ đẹp hoàn mĩ. Mục đích
của đa số là cố gắng lượng hoá các số đo và tỉ lệ của cơ thể.
Trải qua thời gian, các phép đo nhân trắc đầu-mặt có thể nói bao gồm: đo
bằng phương pháp đo trực tiếp, đo gián tiếp qua phim X-quang sọ mặt từ xa,
đo gián tiếp bằng phương pháp đo qua ảnh chuẩn hoá. B. Holy Broadbent
(1894 - 1977) là người đầu tiên bắt đầu nghiên cứu định lượng sự thay đổi
các cấu trúc trên phim X-quang sọ mặt năm 1931 [127]. Sau đó, phim sọ mặt
từ xa trở thành một phương tiện gián tiếp đo nhân trắc khuôn mặt. Mario
Gonzalez Ulloa (1912 - 1995) nhấn mạnh tầm quan trọng của nét mặt nhìn
nghiêng. Ricketts đã tìm ra tỷ lệ vàng trên phim sọ mặt từ xa. Tỉ lệ vàng này
được cho là hấp dẫn nhất khi nhìn và trong nhận thức của con người, kí hiệu
Φ được dùng để chỉ số 1,618.
Năm 1996, Miyajima với nghiên cứu trên nhóm 52 đối tượng nam, nữ
người Nhật, so sánh với người châu Âu thấy có sự khác biệt các số đo nhân
trắc vùng mặt như góc mũi-môi của nhóm nam nữ Nhật nhỏ hơn nhóm mẫu
người Châu Âu, góc trục mặt có hướng thẳng đứng, răng nhô. Nghiên cứu có
giá trị giống như nhiều nghiên cứu khác, khẳng định việc áp dụng tiêu chuẩn
kích thước của dân tộc này cho dân tộc khác là không phù hợp [77].
Năm 2002, Farkas L.G., Le T.T. và Cs [74] dùng các chuẩn tỷ lệ mặt
tân cổ điển để đánh giá khuôn mặt của người Mỹ gốc Á và Âu. 9 số đo
đường thẳng đã được thu thập để xác định các khác biệt kích thước hình thái


7

mặt trong các nhóm người Hoa, Việt, Thái và Âu (60 người ở mỗi nhóm) và
để đánh giá giá trị của 6 chuẩn tỷ lệ mặt tân cổ điển ở những nhóm người
này. Chuẩn mặt nghiêng có ba phần bằng nhau không gặp cả ở người Âu lẫn
người Á. Ở 5 chuẩn mặt khác, tỷ lệ phù hợp của người Âu trong phạm vi từ
16,7-36,7%, của người Á chỉ trong khoảng 1,7-26,7%. Các kích thước ngang
(en-en, al-al, zy-zy) ở mặt người Á lớn hơn người Âu một cách có ý nghĩa.
Kết quả cho thấy sự không phù hợp với tiêu chuẩn tân cổ điển của người
gốc châu Á là cao hơn người gốc Mỹ một cách có ý nghĩa. Các đặc điểm nổi
bật của khuôn mặt người Á là khoảng gian mép mí trong rộng hơn trong khi
khe mí ngắn hơn; phần mềm mũi rộng hơn trong bối cảnh mặt rộng, chiều
rộng miệng nhỏ hơn và chiều cao mặt dưới nhỏ hơn so với chiều cao trán.
Những năm gần đây, nhiều tác giả người châu Á công bố các kết quả
nghiên cứu trên người châu Á cho thấy sự khác biệt giữa các kích thước trung
bình và tỉ lệ đạt chuẩn thẩm mỹ của người Châu Á là thấp.
Năm 2004, Choe Kyle S sử dụng phương pháp phân tích qua ảnh,
nghiên cứu trên 72 người mẫu Hàn Quốc, các kích thước khuôn mặt nhóm
người mẫu nữ Hàn Quốc, được đánh giá theo chuẩn tân cổ điển và so sánh với
người da trắng Bắc Mỹ, kết quả cho thấy tỉ lệ đạt chuẩn tân cổ điển thấp, các
so sánh với người da trắng cho thấy, chỉ có 9 trong 26 các số đo nhân trắc có
sự khác biệt có ý nghĩa.
Năm 2004, Bisson Marcus cũng sử dụng phương pháp phân tích trên ảnh
để đánh giá kích thước và sự cân xứng của môi ở một nhóm người mẫu và
người bình thường.
Năm 2004, Bozkir M.G., Karakas P., và Oguz O. sử dụng các tiêu chuẩn
tân cổ điển nghiên cứu trên 500 thanh niên khỏe mạnh người Thổ Nhĩ Kỳ,
tuổi từ 18 đến 25. Kết quả nghiên cứu cho thấy, kích thước chiều cao đầu đặc
biệt lớn hơn kích thước chiều cao mặt đặc biệt ở phần lớn các đối tượng


8

nghiên cứu. Chỉ có duy nhất một đối tượng nghiên cứu có kích thước đạt
chuẩn 3 phần mặt, không có đối tượng nghiên cứu nào có kích thước bốn tầng
mặt bằng nhau. Kích thước chiều dài mũi nhỏ hơn kích thước chiều dài tai ở
phần lớn các đối tượng nghiên cứu. Khoảng cách chiều rộng gian góc mắt
trong hẹp hơn so với chiều rộng mũi. Chiều rộng miệng lớn hơn 1,5 lần chiều
rộng mũi ở phần lớn các cá thể nghiên cứu.
Năm 2004, Jain SK, Anand C và Ghosh SK với nghiên cứu “Phân tích
khuôn mặt qua ảnh” dùng chuẩn tân cổ điển như là phương pháp so sánh cho
thấy, kích thước tầng mặt dưới của nhóm đối tượng nghiên cứu lớn hơn so với
tầng mặt giữa (55,37% - 44,63%).
Nhìn chung, các nghiên cứu nhân trắc về khuôn mặt gần đây, thường so
sánh với các chuẩn thẩm mỹ tân cổ điển và kết quả thường được sử dụng
trong phân tích khuôn mặt, kiểm định các số đo, đánh giá các chỉ số. Các
nghiên cứu trên các chủng tộc khác nhau, độ tuổi khác nhau sẽ cho các giá trị
đặc trưng cho chủng tộc đó. Vì vậy, việc áp dụng các chuẩn của nghiên cứu ở
chủng tộc này cho chủng tộc khác là không phù hợp.
Trong suốt quá trình lịch sử, một số tiêu chuẩn về cái đẹp vẫn được
thống nhất giữa các tác giả:
Da Vinci chia phần đầu thành hai phần bằng nhau: từ đỉnh tới gốc mũi
và từ gốc mũi tới cằm; phần mặt được chia thành ba phần bằng nhau: từ
chân tóc tới gốc mũi, từ gốc mũi tới nền mũi và từ nền mũi tới cằm. Durer
chia phần đầu thành bốn phần (ba phần thuộc phần mặt giống Davinci và
một phần từ đỉnh tới chân tóc). Tuy nhiên, Farkas thấy các tỉ lệ này chỉ xuất
hiện một cách ngẫu nhiên ở hơn 100 người Mỹ da trắng. Tỉ lệ vàng chỉ gặp ở
những nhóm người được lựa chọn chặt chẽ.
Theo chúng tôi, những tiêu chuẩn này bản thân nó không có giá trị thực
tiễn lớn vì nó phủ nhận những đặc điểm khác biệt riêng rẽ ở người bình


9

thường và thậm chí ở những người được cho là hấp dẫn. Việc so sánh chỉ số
nhân trắc của một bệnh nhân với giá trị trung bình của nhóm những người
bình thường sẽ có nhiều ứng dụng thực tế hơn. Dù cho việc đo đạc khuôn mặt
không thể thay thế đánh giá của đôi mắt nhưng nó có thể giúp đưa ra những
tiêu chuẩn cho điều trị lâm sàng. Và lý lẽ của Bacon về việc không có vẻ đẹp
hoàn mỹ vẫn chưa thể bị bác bỏ.
Mặc dù nhiều khía cạnh của nhân trắc học cổ điển vẫn hữu dụng đối với
nhân trắc học hiện đại nhưng những phép đo này không còn được dùng để
phân biệt đẳng cấp con người. Nhân trắc học hiên đại chủ yếu phục vụ mục
đích y học và pháp lý, nó còn chỉ ra những căn cứ ít chủ quan hơn trong việc
lập kế hoạch và đánh giá các cuộc phẫu thuật và tạo hình hàm mặt.


10

I. Phim sọ mặt từ xa trong nghiên cứu đặc điểm nhân trắc đầu-mặt
Sau khi được Broadbent giới thiệu vào năm 1931, phim sọ mặt thẳng
chuẩn hoá được sử dụng một cách rộng rãi trong lâm sàng và nghiên cứu. Với
số lượng ngày càng nhiều, càng chi tiết, con người không thể đủ thời gian để
khai thác hết toàn bộ một lượng thông tin khổng lồ trên phim sọ mặt, chỉ có
một phương tiện duy nhất có thể giúp chúng ta ghi nhận nhanh nhiều thông
tin, bảo quản, phân loại và phân tích thông tin vừa nhanh chóng vừa hiệu quả
đó là máy tính [10].
Năm 1951, máy tính được đưa vào sử dụng trong sinh học. Đến năm
1963, máy tính bắt đầu được sử dụng trong ngành chỉnh hình răng-mặt với
các công trình nghiên cứu của Krogman, Walker ở Philadelphia. Sau
Krogman, Sassouni, Ricketts ở Hoa Kỳ, Danry và Charron ở Pháp đã quan
tâm đến vấn đề tạo ra ngân hàng dữ liệu. Tập đoàn Rocky Mountain Data
Systems (RMDS) đã lập ra phần mềm để phân tích phim, thiết lập chẩn đoán,
dự kiến sự phát triển và lập ra mục tiêu điều trị. Năm 1969, Ricketts và công
ty RMDS đã tung ra thị trường phần mềm đầu tiên (đến năm 1981 thì ngân
hàng dữ liệu này có khoảng 60.000 hồ sơ).
Năm 1970, Sassouni cùng với công ty thương mại Computerized
Orthodontic Treatment Planning Services, Inc. (COT) thiết lập một hệ thống
chẩn đoán toàn phần và tổng hợp, phần mềm này được Sassouni báo cáo vào
năm 1973 tại hội nghị chỉnh hình răng-mặt. Vào thời điểm này, ngân hàng dữ
liệu của ông đã có khoảng 2000 ca, sau đó được tiếp tục phát triển.
Ngày nay, việc sử dụng phim sọ mặt từ xa kỹ thuật số đã ngày càng phổ
biến hơn. Với bác sĩ, công việc phân tích phim, lập chẩn đoán và quản lý hồ
sơ bệnh nhân trở nên nhẹ nhàng hơn và nhanh chóng với một máy tính cá
nhân và một bàn phím. Trên màn hình thông thường sẽ có đầy đủ các phân
tích cơ bản của Tweed, Steiner và Ricketts,... Sau khi đã lựa chọn các mốc


11

giải phẫu thích hợp chúng ta có thể lựa chọn các phân tích thích hợp để sử
dụng. Chất lượng hình ảnh khi chụp bằng máy kỹ thuật số cũng tốt hơn, sự
tương phản màu sắc giữa đen và trắng rõ ràng hơn. Trên màn hình vi tính, sau
khi đã lựa chọn các điểm mốc giải phẫu, chúng ta có thể làm nhiều phép đo
khác nhau cùng một cự ly. Một số phần mềm trước đây như: Dento Facial
PlannerTM, Quick CephTM, Quick Ceph Image ProTM được thay thế bằng những
phần mềm tốt hơn. Có những phần mềm như Cepha 3DT có thể giúp chúng ta
vừa phân tích hai chiều (2D), vừa phân tích ba chiều (3D) khi cần tái tạo lại
hình ảnh theo không gian ba chiều [11].
Cùng với sự phát triển công nghệ thông tin, một số bệnh nhân có xu
hướng sợ tiếp xúc với tia X, đòi hỏi phải có một phương tiện khác có chất lượng
hơn không phải là tia X. Để đáp ứng nhu cầu này, Marc Lemchen nghiên cứu ra
một hệ thống chẩn đoán không dùng tia X vào đầu những năm 80, gọi là hệ
thống Dolphin Imaging, hệ thống này có sản phẩm thương mại là Digi-Graph.
Hệ thống này giúp chúng ta tránh được tia X, bác sĩ và bệnh nhân trao đổi thông
tin qua hệ thống Video có độ phân giải cao, lưu trữ được thông tin, mẫu hàm,
ảnh bệnh nhân và đặc biệt là tăng tính Marketing. Tuy nhiên chi phí cho mỗi lần
sử dụng rất cao do đó không thể phổ biến được rộng rãi được.
Phim sọ mặt thẳng từ xa cho chúng ta cơ sở để đánh giá sự cân xứng
theo chiều ngang và chiều dọc của các cấu trúc xương sọ mặt. Mặt thẳng được
xác định bởi chiều dài (đo từ chân tóc đến bờ dưới của cằm), độ rộng (đo giữa
hai gò má). Khái niệm này rất quan trọng dùng để phân loại khuôn mặt. Một
khuôn mặt cân xứng, mặt có thể dài và hẹp, ngắn và rộng, hoặc trung gian giữa
các xu hướng trên.
Bên cạnh các ứng dụng kinh điển để xác định các bất cân xứng về chiều
ngang, phim sọ mặt thẳng từ xa còn có giá trị cung cấp những thông tin liên
quan về hình thái học như hình dạng, kích thước sọ mặt, mật độ của xương,


12

hình thái học của các đường khớp xương trong quá trình tăng trưởng, phát
triển. Ngoài ra có thể góp phần vào việc phát hiện bệnh lý của mô cứng và mô
mềm, so sánh, đối chiếu, lập kế hoạch điều trị.
Trải qua một thời gian dài, phim sọ thẳng ít được sử dụng vì khó lập
được tư thế đầu, khó xác định các mốc giải phẫu và trùng lặp các cấu trúc giải
phẫu. Ngày nay với các yêu cầu cao hơn trong chẩn đoán và điều trị phim sọ
mặt thẳng lại được chú ý đến nhiều hơn. Phim sọ thẳng có các giá trị đặc biệt
trong các trường hợp có bất đối xứng các mốc giải phẫu giữa bên trái và bên
phải. Các biểu hiện phát triển quá mức và kém phát triển của một thành phần
vùng sọ mặt, các biểu hiện không cân xứng giữa hai bên chỉ có thể phát hiện
được trên phim sọ thẳng.
1.1. Phim sọ mặt nghiêng từ xa
Khi điều trị những vấn đề liên quan đến thẩm mỹ, chúng ta không thể chỉ
dựa vào cảm nhận qua quan sát lâm sàng mà phải kết hợp giữa quan sát lâm
sàng và những đánh giá cận lâm sàng có cơ sở khoa học (như các tiêu chuẩn
phân tích trên phim, ảnh) vì “tạo hình thẩm mỹ khuôn mặt là sự kết hợp giữa
khoa học và nghệ thuật”.

Hình 1. Phim chụp sọ nghiêng từ xa


13

Phim XQ sọ nghiêng chụp theo kỹ thuật từ xa giúp chúng ta nghiên cứu
những thay đổi do phát triển, giúp đánh giá cấu trúc mô xương và mô mềm
khi chẩn đoán, lên kế hoạch điều trị, định hướng các thủ thuật điều trị chỉnh
hình và phẫu thuật, và cuối cùng giúp theo dõi, đánh giá các kết quả điều trị.
Năm 1931, Holly Broadbent (Mỹ) và Hofrath (Đức) giới thiệu về phim
sọ nghiêng với mục đích nghiên cứu các hướng phát triển của phức hợp sọ
mặt. Nhưng rất nhanh chóng, nó được sử dụng với mục đích đánh giá sự cân
đối của hàm mặt và làm sáng tỏ cơ sở giải phẫu của khớp cắn. Hàng loạt
những nghiên cứu về mặt đã được đánh giá qua phân tích trên phim. Một số
phân tích được thực hiện với mục đích đưa ra các tiêu chuẩn đồng thời được
sử dụng để xác định phương án điều trị trong chỉnh nha như các phân tích của
Tweed (1954), Steiner (1960) và Ricketts (1961). Một số phân tích khác với
mục đích tìm hiểu về khớp cắn, ổ răng hoặc cấu trúc xương. Các phân tích
này cũng cố gắng làm sáng tỏ sự ảnh hưởng qua lại giữa các cấu trúc sọ mặt
trong quá trình phát triển tự nhiên, các phân tích này đã được thực hiện bởi
Bjork (1947), Downs (1948), Enlow (1971) và McNamara (1984).
Phân tích phim sọ mặt cho phép chúng ta xác định được dạng mặt. Tuy
nhiên, dạng mặt và các bất thường không phải khi nào cũng gắn liền nhau, vì
nhiều trường hợp có lệch lạc xương nhưng khớp cắn hoàn toàn bình thường.
Nghiên cứu về tương quan xương cũng cho phép chúng ta định hướng được
điều trị nhờ vào phân tích mối liên quan xương trong mặt phẳng đứng ngang
và đứng dọc giữa giúp chúng ta có thể phân biệt được lệch lạc do xương hàm
hay xương ổ răng.


14

Không giống các loại phim XQ khác, phim chụp sọ mặt từ xa có đặc
điểm hết sức riêng biệt. Nếu chỉ nhìn hình ảnh trên phim sẽ không nói lên
được điều gì, muốn phim có ý nghĩa phải tìm được những điểm mốc để đánh
dấu và xác định sự liên quan giữa chúng với nhau. Nói một cách khác đó
chính là quá trình chuyển biến hầu hết những thông tin thu được trên phim
thành những con số dễ hiểu, dễ phân tích và quản lý, thống kê. Các điểm mốc
được định ra phải đủ hai tính chất: đặc trưng và dễ dàng xác định trên phim.
R.M. Ricketts đã khái quát hoá chức năng của phim sọ nghiêng trong
phân tích sọ-mặt thành sơ đồ 4C: Caracterisation (mô tả đặc điểm): mô tả tình
trạng sinh lý, bệnh lý; Comparison (so sánh): so sánh giữa cơ thể này với cơ
thể khác cùng tuổi, hoặc trong các nghiên cứu dọc; Classification (phân loại):
giúp phân loại các mối tương quan ; Communication (giao tiếp): có thể dùng
phim để trao đổi với bố mẹ, đồng nghiệp hoặc bệnh nhân.
So với đo trực tiếp và đo trên ảnh chuẩn hóa, ưu điểm vượt trội của đo
trên phim sọ mặt là đánh giá được mô xương bên dưới và mối tương quan
giữa mô cứng và mô mềm, vấn đề đánh giá mô mềm hạn chế hơn. Khi đánh
giá thẩm mỹ, các tác giả thường sử dụng các góc mô mềm và các đường thẩm
mỹ như đường S và E, góc H và góc Z.
1.2. Các điểm mốc mô cứng và góc thường được dùng để phân tích đặc
điểm nhân trắc đầu mặt
Khi phân tích phim sọ mặt từ xa, bên cạnh phân tích yếu tố thẩm mỹ các
tác giả thường quan tâm nhiều đến các yếu tố chức năng. Để phân tích một
cách chi tiết cụ thể hơn về mặt thẩm mỹ thì cần phân tích trên ảnh. Trên phim sọ
mặt từ xa chúng ta có thể đánh dấu 220 điểm theo Walker và Kowalski [1], được
cải tiến bởi Schendel và cs [2]. Sau đây là các điểm mốc hay được sử dụng:


15

Hình 2. Các điểm mốc giải phẫu trên phim sọ mặt nghiêng từ xa [3].
1. Xi: Trung tâm hình học của cành cao xương hàm dưới.
2. Pm: Điểm nằm trên bờ trước cằm, giữa điểm B và Pog chỗ đường
cong chuyển từ lồi sang lõm.
3. Điểm N hoặc Na (Nasion): Điểm trước nhất của bờ trên của khớp trán
mũi theo mặt phẳng dọc giữa.
4. Điểm Ba (Basion): Điểm dưới nhất của bờ trước lỗ chẩm
5. Điểm DC: Điểm giữa cổ lồi cầu nơi đường nối N-Ba cắt ngang qua, đi
qua những điểm nổi bật ở mặt, mũi, cằm, gò, má, môi.
6. Điểm CC: Điểm cắt nhau giữa trục mặt và đường N-Ba.
7. Điểm CF: Điểm cắt nhau của mặt phẳng Francfort với đường thẳng
đứng tiếp tuyến với mặt sau của khe chân bướm hàm.
8. Điểm S (Sella Turcica): Điểm giữa của hố yên xương bướm.
9. Điểm Po hoặc Pr (Porion): Điểm cao nhất của bờ trên ống tai ngoài.
10. Điểm Or (Orbitale): Điểm thấp nhất của bờ dưới hốc mắt.
11. Điểm ANS (Anterior nasal spine): Điểm gai mũi trước.
12. Điểm PNS (Posterior nasal spine): Điểm gai mũi sau.


16

13. Điểm A (Subspinale): Điểm lõm nhất ở mặt ngoài xương ổ răng hàm
trên.
14. Điểm B (Submental): Điểm lõm nhất ở mặt ngoài xương ổ răng hàm dưới.
15. Điểm D: Điểm trung tâm của cằm, không tính đến bờ xương ổ răng
và răng cửa.
16. Điểm E: Hình chiếu của điểm xa nhất của lồi cầu trên đường SN.
17. Điểm L: Hình chiếu của điểm Pog trên đường SN.
18. Điểm Pt: Điểm nối bờ dưới ống lỗ tròn lớn và bờ sau của khe bướm
hàm, nằm ở giữa điểm cao nhất và sau nhất của khe bướm hàm.
19. Điểm Pg hoặc Pog (Pogonion): điểm trước nhất của cằm trên mặt
phẳng dọc giữa.
20. Điểm Me (Menton): Điểm dưới nhất của cằm trên mặt phẳng dọc giữa.
21. Điểm Gn (Gnathion): Điểm cắt nhau của đường NPog và mặt phẳng MP.
22. Điểm Go (Gonion): Điểm dưới nhất và sau nhất của góc hàm dưới,
là điểm cắt nhau của đường tiếp tuyến với bờ sau của cành cao xương hàm
dưới (không tính đến lồi cầu) và mặt phẳng hafm dưới (MP).
23.

Điểm Ar (Articulare): Giao điểm giữa bờ sau nhánh đứng xương

hàm dưới và bờ dưới của nền sọ sau (phần xương chẩm).
1.3. Một số điểm khác
1. R1: Điểm sau nhất trên bờ trước cành lên xương hàm dưới.
2. R2: Điểm đối diện với R1 trên bờ sau cành lên xương hàm dưới.
3. R3: Điểm thấp nhất của khuyết xích-ma.
4. R4: Điểm đối xứng với R3 ở vùng góc hàm.
5. Điểm préGo (Prégonion): Điểm dưới nhất của cành cao.
1.4. Các góc sử dụng để đánh giá mối tương quan của xương
1. Góc SNA: Đánh giá tương quan theo chiều trước sau của xương hàm trờn.
2. Góc SNB: Đánh giá tương quan theo chiều trước sau của xương hàm dưới.


17

3. Góc ANB: Đánh giá độ chênh lệch giữa xương hàm trờn và xương
hàm dưới.
4. Góc Ar-Go-Me(GHD): Góc xương hàm dưới.
5. Góc MP/SN: Góc giữa mặt phẳng hàm dưới với mặt phẳng nền sọ.
6. Góc Pal/ MP: Góc giữa mặt phẳng khẩu cái và mặt phẳng hàm dưới.
7. Góc FMA: Góc tạo bởi mặt phẳng FH và mặt phẳng MP.
8. Góc mặt: Góc dưới-trong tạo bởi mặt phẳng F và đường NPog (mặt
phẳng mặt): đánh giá tương quan của cằm so với nền sọ.
9. Góc lồi: Góc tạo bởi đường đường thẳng NA và đường Apog.
10. Góc giữa mặt phẳng A-B và đường Npog.
11. Góc tạo bởi trục Y và mặt phẳng Francfort.
12. Góc SN/ GoGn: Góc tạo bởi đường SN và đường GoGn (mặt phẳng
hàm dưới).
13. Góc Edmondo Muzi: Là một góc xương được xác định bằng chụp
Tele Profil với tổ chức mềm. Góc này được hình thành bởi một đường thẳng
đi qua điểm nhô nhất của xương trán, qua gai mũi trước và điểm Pogonion
xương. Góc này khoảng 1400 – 1800, trung bình là 1620.
14. Góc mặt Camper: Xác định bởi điểm giao nhau giữa một đường
thẳng chạy từ ống tai ngoài đến gai mũi trước, và một đường thẳng chạy từ
gai mũi trước đến điểm nhô cao nhất của trán. Góc này trung bình khảng 800.
1.5. Các góc sử dụng để đánh giá mối tương quan giữa răng và xương
1. Góc I/SN: Góc giữa trục răng cửa trên với mặt phẳng nền sọ.
2. Góc I/Pal: Góc giữa trục răng cửa trên với mặt phẳng khẩu cái.
3. Góc I/MP: Góc giữa trục răng cửa trên với mặt phẳng hàm dưới.
4. Góc I/NA: Góc nghiêng răng cửa trên với tầng giữa mặt.
5. Góc i/ NB: Góc nghiêng răng cửa dưới với tầng dưới mặt.
6. Góc occ/SN: góc giữa mặt phẳng cắn và đường SN.
7. Góc IMPA: Gúc tạo bởi mặt phẳng hàm dưới và trục răng cửa dưới.


18

8. Góc FMIA: Gúc tạo bởi mặt phẳng Francfort và trục răng cửa dưới.
9. Góc occl/FH: Đánh giá độ nghiêng của mặt phẳng cắn.
10. Góc i/MP: Góc tạo bởi trục răng cửa hàm dưới và mặt phẳng hàm dưới.
11. Góc i/occl: Góc tạo bởi trục răng cửa dưới và mặt phẳng cắn.
12. Độ lồi của răng cửa trên: Khoảng cách tính từ rìa cắn răng cửa trên
đến đường APog.
13. I to NA: Khoảng cách tính từ điểm trước nhất của thân răng cửa hàm
trên đến đường NA theo hướng trực giao.
14. i to NA: Khoảng cách tính từ điểm trước nhất của thân răng cửa hàm
dưới đến đường NA theo hướng trực giao.
15. Pog to NB: Khoảng cách tính từ điểm Pog đến đường NB theo
hướng trực giao.
1.6. Các góc sử dụng đánh giá mối tương quan răng-răng
1. Góc I/i (góc liên răng cửa): Góc giữa trục răng cửa trên và răng cửa
dưới (đánh giá tương quan giữa răng cửa trên và răng cửa dưới)
1.7. Mặt phẳng tham chiếu của mô cứng:
1. Mặt phẳng SN (Sella-Nasion): Mặt phẳng đi qua điểm S và N.
2. Mặt phẳng FH (Francfort Horizontal): Mặt phẳng đi qua điểm Po và Or.
3. Mặt phẳng cắn (Occ): Mặt phẳng đi qua điểm giữa độ cắn phủ của
răng hàm lớn thứ nhất và độ cắn phủ răng cửa.
4. Mặt phẳng PtV: Mặt phẳng vuụng gúc với mặt phẳng Francfort và đi
qua điểm Pt.
5. Mặt phẳng nền sọ Ba-N: Mặt phẳng đi qua điểm Ba và N.
6. Mặt phẳng khẩu cái (Pal): Mặt phẳng đi qua điểm ANS và PNS.
7. Mặt phẳng hàm dưới (MP): Có bốn cách xác định là mặt phẳng đi qua
điểm Gn và Go; Go và Me, mặt phẳng tiếp tuyến với điểm thấp nhất của hàm dưới
song song với trục của thân xương hàm dưới; mặt phẳng Downs phía sau tiếp tuyến
với góc hàm nơi thấp nhất, phía trước tiếp tuyến với điểm thấp nhất của cằm.


19

Hình 3 Các mặt phẳng tham chiếu của mô cứng
1.8. Các điểm mốc mô mềm và góc thường được sử dụng để phân tích
thẩm mỹ
1. Điểm Gla’ hoặc Gl’ (Glabel): Điểm lồi nhất của trán, tương ứng với
bờ trên của ổ mắt theo mặt phẳng dọc giữa.
2. Điểm Tr (Tritrion): Điểm chân tóc nằm trên đường giữa của trán.
3. Điểm N’: Điểm sau nhất của mô mềm vùnng khớp trên mũi theo mặt
phẳng dọc giữa.
4. Điểm Pn (Pronasale): Điểm đỉnh mũi là điểm nhô nhất của mũi.
5. Điểm Cm (Columella point): Điểm trước nhất của trụ mũi.
6. Điểm Sn (Subnasale): Điểm dưới mũi, điểm chân vách ngăn dưới mũi
và môi trên, là điểm sau nhất và cao nhất của góc mũi môi.
7. Điểm Gn’: Điểm dưới nhất của mô mềm vùngg cằm trên mặt phẳng
dọc giữa.
8. Điểm Me’: Điểm dưới nhất của mô mềm vùnng cằm.
9. Điểm Pg’ (Pogonion): Điểm nhô nhất của mô mềm vùng cằm.
10. Điểm Ls (Lip superius): Điểm môi trên, điểm nhô nhất của đường
viền môi trềnn theo mặt phẳng dọc giữa.


20

11. Điểm Li (Lip inferius): Điểm môi dưới, điểm nhô nhất của đường
viền môi dưới theo mặt phẳng dọc giữa.
12. Điểm Sto (Stominon): Điểm nối liền môi trênn và môi dưới trên mặt
phẳng dọc giữa khi hai môi khép nhẹ và răng ở tư thế cắn tự nhiên.
13. Điểm B’: Điểm lồi nhất của môi dưới trên mặt phẳng dọc giữa.
14. Điểm C: Điểm giao nhau giữa đường viền cổ và bờ dưới cằm.
II. Phim sọ mặt thẳng chuẩn hoá

Hình 4 Phim sọ mặt thẳng chụp theo kỹ thuật từ xa [12]
Phim sọ mặt thẳng từ xa cho chúng ta cơ sở để đánh giá sự cân xứng
theo chiều ngang và chiều dọc của các cấu trúc xương sọ mặt. Mặt thẳng được
xác định bởi chiều dài (đo từ chân tóc đến bờ dưới của cằm), độ rộng (đo giữa
hai gò má). Khái niệm này rất quan trọng dùng để phân loại khuôn mặt. Một
khuôn mặt cân xứng, mặt có thể dài và hẹp, ngắn và rộng, hoặc trung gian giữa
các xu hướng trên.
Bên cạnh các ứng dụng kinh điển để xác định các bất cân xứng về chiều
ngang, phim sọ mặt thẳng từ xa còn có giá trị cung cấp những thông tin liên
quan về hình thái học như hình dạng, kích thước sọ mặt, mật độ của xương,
hình thái học của các đường khớp xương trong quá trình tăng trưởng, phát
triển. Ngoài ra có thể góp phần vào việc phát hiện bệnh lý của mô cứng và mô
mềm, so sánh, đối chiếu, lập kế hoạch điều trị.


21

Trải qua một thời gian dài, phim sọ thẳng ít được sử dụng vì khó lập
được tư thế đầu, khó xác định các mốc giải phẫu và trùng lặp các cấu trúc giải
phẫu. Ngày nay với các yêu cầu cao hơn trong chẩn đoán và điều trị phim sọ
mặt thẳng lại được chú ý đến nhiều hơn. Phim sọ thẳng có các giá trị đặc biệt
trong các trường hợp có bất đối xứng các mốc giải phẫu giữa bên trái và bên
phải. Các biểu hiện phát triển quá mức và kém phát triển của một thành phần
vùng sọ mặt, các biểu hiện không cân xứng giữa hai bên chỉ có thể phát hiện
được trên phim sọ thẳng.
2.1. Ưu, nhược điểm của phim sọ mặt thẳng từ xa
Phim sọ mặt thẳng đem lại nhiều thông tin hữu ích cho việc chẩn đoán
và điều trị mà không thể thu thập được từ những nguồn tư liệu khác. Ngoài
các ứng dụng kinh điển là xác định kích thước ngang và sự cân xứng nó còn
được chỉ định trong các trường hợp so sánh, đánh giá, xác định các tương
quan răng, xương trong chỉnh hình và phẫu thuật, như:
+ Khảo sát toàn diện: phim sọ mặt thẳng cung cấp những thông tin liên
quan về hình thái học như hình dạng, kích thước của sọ mặt; mật độ xương,
hình thái học các đường khớp trong quá trình tăng trưởng và phát triển.
Ngoài ra nó có thể góp phần vào việc phát hiện bệnh lý của mô cứng.
+ Mô tả và so sánh: Phim sọ mặt thẳng được dùng để so sánh giữa
những đối tượng khác nhau hoặc với những chỉ số bình thường đã được
nghiên cứu.
+ Chẩn đoán: Phim sọ mặt thẳng với các phép phân tích đo sọ trên
phim đã cung cấp thông tin chẩn đoán, giúp xác định bản chất và nguyên
nhân của sai lệch.
+ Lập kế hoạch điều trị: Phim sọ mặt thẳng góp phần đưa ra một kế
hoạch điều trị hoàn chỉnh và toàn diện về chỉnh hình hoặc phẫu thuật cho
từng bệnh nhân cụ thể.


22

+ Đánh giá sự tăng trưởng và kết quả điều trị: Để đánh giá sự tăng
trưởng cũng như so sánh kết quả điều trị có thể chồng phim theo đường viền
ngoài cùng của xương sọ hoặc theo các mặt phẳng tham chiếu dựa trên các
cấu trúc tương đối ổn định trong quá trình tăng trưởng. Những phim sọ mặt
thẳng sử dụng để so sánh được chụp ở những thời điểm khác nhau nhưng
phải theo cùng một cách chuẩn hóa. Cũng có thể đánh giá sự tăng trưởng và
kết quả điều trị bằng cách theo dõi và so sánh các đặc điểm qua các số đo
thành phần cấu trúc khác nhau trong khoảng thời gian tăng trưởng hay
khoảng thời gian điều trị.
Mặc dù có nhiều ưu điểm và ứng dụng song phim sọ mặt thẳng cũng có
nhiều hạn chế như: các số đo trên phim sọ mặt thẳng bị ảnh hưởng bởi
những sai lầm liên quan đến sự phóng đại hình ảnh, việc xác định các điểm
mốc khó do sự trùng lặp nhiều cấu trúc… Các số đo khoảng cách, số đo góc
có thể sai do khoảng cách bị ảnh hưởng bởi độ nghiêng đầu trong giá đỡ…
Tuy nhiên, những đặc điểm mô tả chiều rộng ít bị ảnh hưởng bởi sự
thay đổi của tư thế đầu. Nghiên cứu về những thay đổi hình học trên phim sọ
mặt thẳng do vị trí đầu khác nhau cho thấy đầu di chuyển lên, xuống hoặc
xoay phải xoay trái ± 10 độ sẽ ảnh hưởng không đáng kể lên các số đo chiều
rộng. Do vậy, phim sọ mặt thẳng vẫn là phim có giá trị nhất để đánh giá
những rối loạn sọ mặt theo chiều ngang, ứng dụng chủ yếu trong đánh giá
thẩm mỹ khuôn mặt là khoảng cách chiều rộng của mặt, so sánh khoảng cách
đó với đường giữa để đánh giá sự cân đối giữa hai bên mặt, xác định được
nguyên nhân mất cân đối là do xương hàm trên, xương hàm dưới hay do toàn
bộ phức hợp sọ mặt..


23

2.2. Các mốc giải phẫu cần xác định trên phim sọ thẳng trong phân tích
thẩm mỹ khuôn mặt

Hình 5. Các mốc giải phẫu thường được xác định trên phim sọ thẳng [18]
Trên phim sọ mặt từ xa thẳng khi phân tích thẩm mỹ khuôn mặt thường
tiến hành xác định các kích thước sau: Ag-Ag, Zy-Zy, O-O, Z-Z, A1-Cg, B1Cg, Me-Cg, Nc-Nc. Trong đó:
- Ag-Ag: khoảng cách giữa hai điểm trước góc hàm trái và phải, điểm
nằm ở vị trí lõm nhất phía trước ụ nhô góc hàm.
- Zy-Zy: khoảng cách giữa Điểm cung tiếp giữa trái và phải điểm giữa
nằm ở giữa bờ ngoài của mỏm tiếp.
- Nc-Nc: khoảng cách giữa hai điểm mũi phải và mũi trái, điểm ngoài
nhất của viền hố mũi.
- Z-Z: khoảng cách giữa hai điểm cung tiếp - ổ mắt trái và phải, điểm
trong của đường khớp giữa xương hàm và trán.
- Điểm cằm (Me): điểm giữa trên bờ dưới của cằm.
- Điểm gai mũi trước (ANS): điểm nằm giữa vách giữa của khoang mũi
và vòm miệng cứng.


24

- Điểm răng cửa trên (A1): điểm nằm giữa 2 răng cửa trên đường nhú
lợi giữa 2 răng cửa.
- Điểm răng cửa dưới (B1): điểm nằm giữa 2 răng cửa dưới trên đường
nhú lợi.
- Mặt phẳng cắn (Pl.Oc): mặt phẳng nằm giữa khớp cắn của các răng
hàm trên và dưới.
- Điểm Cg: tâm mào gà xương sàng (Crista galli).
Bảng 1. Các kích thước, tỉ lệ trên phim sọ mặt thẳng từ xa
TT

Thuật ngữ
Tiếng Việt

Định nghĩa

Ký hiệu

1 Chiều rộng đầu

Khoảng cách giữa hai điểm bên đầu theo
trục nằm ngang

Eu - Eu

2 Chiều rộng bờ ngoài mắt

Khoảng cách giữa hai điểm gò má - trán

Z-Z

3 Chiều rộng hai tâm mắt

Khoảng cách giữa hai tâm ổ mắt

O-O

4 Chiều rộng mặt

Khoảng cách giữa hai điểm cung gò má

Zy - Zy

5 Chiều rộng mũi

Khoảng cách giữa hai điểm viền hố mũi

Nc - Nc

6 Chiều rộng xương hàm trên

Khoảng cách giữa hai điểm gò má - hàm
trên

J-J

7 Chiều rộng hai chẩm

Khoảng cách giữa hai điểm chẩm

Ma - Ma

8 Chiều rộng hàm dưới

Khoảng cách giữa hai điểm trước góc hàm

Ag - Ag

9 Tỉ lệ hàm dưới/mặt

Tỉ lệ chiều rộng hàm dưới/chiều rộng mặt

Ag - Ag/
Zy - Zy

10 Chiều cao tầng mặt trước

Khoảng cách giữa hai điểm mào gà và
điểm giữa cằm

Me - Cg

11 Chiều cao tầng mặt giữa

Khoảng cách giữa hai điểm mào gà và
điểm gai mũi trước

ANS - Cg

12 Chiều cao tầng mặt dưới

Khoảng cách giữa hai điểm gai mũi trước
và điểm giữa cằm

Me - ANS

13 Tỉ lệ các tầng mặt

Tỉ lệ chiều cao tầng mặt giữa/chiều cao
tầng mặt trước

ANS - Cg/
Me - Cg

cách từ điểm Z tới mặt phẳng tham
14 Điểm gò má trán-đường giữa Khoảng
chiếu hạ vuông góc qua điểm Cg

Z - Cg

15 Điểm giữa ổ mắt-đường giữa Khoảng cách từ điểm O tới mặt phẳng

O - Cg


25

tham chiếu hạ vuông góc qua điểm Cg
cách từ điểm Zy tới mặt phẳng
16 Điểm cung tiếp - đường giữa Khoảng
tham chiếu hạ vuông góc qua điểm Cg
17

Điểm ngoài hốc
mũi - đường giữa

Khoảng cách từ điểm Nc tới mặt phẳng
tham chiếu hạ vuông góc qua điểm Cg

Zy - Cg
Nc - Cg

gò má hàm trên 18 Điểm
đường giữa

Khoảng cách từ điểm J tới mặt phẳng tham
chiếu hạ vuông góc qua điểm Cg

19 Điểm chẩm - đường giữa

Khoảng cách từ điểm Ma tới mặt phẳng
tham chiếu hạ vuông góc qua điểm Cg

Ma - Cg

Khoảng cách từ điểm Ag tới mặt phẳng
tham chiếu hạ vuông góc qua điểm Cg

Ag - Cg

20

Điểm trước góc
hàm - đường giữa

J - Cg

III. Nghiên cứu đặc điểm nhân trắc đầu-mặt trên ảnh chuẩn hoá thẳng
và nghiêng
Ảnh chuẩn hoá là ảnh chụp theo những nguyên tắc nhất định, đảm bảo
các kích thước có tỷ lệ chụp 1:1 để có thể phân tích trong chẩn đoán, lập kế
hoạch và theo dõi trong quá trinh điều trị. Ảnh chụp chẩn hoá phải đảm bảo
các tiêu chí chụp giống nhau trước, trong và sau quỏ trình điều trị.
3.1. Các điểm mốc giải phẫu, tỷ lệ, góc thường được sử dụng
Các điểm mốc giải phẫu trên mặt đều được xác định theo các định nghĩa
cổ điển trong y văn. Tuy nhiên, tùy theo mục đích nghiên cứu mà các tác giả
sử dụng những điểm mốc khác nhau với các phép đo khác nhau.
Máy ảnh kỹ thuật số cùng với sự xuất hiện các phần mềm thích hợp đo
đạc trên máy tính đã và đang tạo ra nhiều ưu điểm về đo đạc, thông tin, lưu
trữ và bảo quản hơn so với ảnh chụp thông thường trước đây. Trong điều kiện
nước ta hiện nay, ảnh chụp chuẩn hóa đã có khả năng thực hiện và mở ra
nhiều hứa hẹn đặc biệt trong nghiên cứu thẩm mỹ khuôn mặt.
Trong lĩnh vực nha khoa chuyên nghiệp, nhiếp ảnh đang trở thành một
công cụ ngày càng quan trọng. Những bức ảnh rất quan trọng trong giảng dạy
nha khoa, cung cấp kiến thức cho bệnh nhân và trong việc cung cấp hồ sơ
pháp lý các nét mặt đặc trưng trước và sau điều trị nha khoa. Những tài liệu


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×