Tải bản đầy đủ

CÁC LOẠI KHỚP nối sử DỤNG TRONG PHỤC HÌNH hàm KHUNG

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

PHẠM THÁI THÔNG

CÁC LOẠI KHỚP NỐI SỬ DỤNG
TRONG PHỤC HÌNH HÀM KHUNG

CHUYÊN ĐỀ TIẾN SỸ

HÀ NỘI - 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI


PHẠM THÁI THÔNG

CÁC LOẠI KHỚP NỐI SỬ DỤNG TRONG
PHỤC HÌNH HÀM KHUNG
Người hướng dẫn khoa học:
TS.Tống Minh Sơn
CHO ĐỀ TÀI: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ MẤT RĂNG
KENNEDY LOẠI I VÀ II BẰNG HÀM KHUNG CÓ SỬ DỤNG
KHỚP NỐI PRECI
Chuyên ngành: Răng Hàm Mặt
Mã số: 62720601
CHUYÊN ĐỀ TIẾN SỸ

HÀ NỘI - 2015


MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................2
DANH MỤC HÌNH..........................................................................................3
ĐẶT VẤN ĐỀ...................................................................................................1
1. Định nghĩa về khớp nối.............................................................................3
2. Lịch sử của khớp nối [3],[4],[5]................................................................3
3. Phân loại khớp nối [10].............................................................................7
3.1. Phân loại theo kiểu khớp nối: có 4 nhóm chính.................................8
3.1.1. Khớp nối trong thân răng (Intracoronal attachment)...................8
3.1.2. Khớp nối ngoài thân răng (Extracoronal attachment)...............10
3.1.3. Khớp nối có hình dạng ổ cắm (Attachment Stub- hay nói cách
khác Ball and Socket)..........................................................................18
3.1.4. Khớp nối dạng thanh (Bar Attachment)........................................19
3.2. Phân loại theo chức năng..................................................................21
3.3. Phân loại theo sự lưu giữ có 4 loại:..................................................22
4. Đặc tính của khớp nối Preci [12].............................................................23
4.1.Ưu điểm của khớp nối.......................................................................23
4.2. Nhược điểm......................................................................................23
4.3. Chỉ định của khớp nối......................................................................24
4.4. Các yêu cầu của khớp nối Preci cho hàm khung..............................25
4.5. Nguyên lý hoạt động của khớp nối để liên kết với hàm giả.............25
5. Cách lựa chọn khớp nối nói chung [11]..................................................26
6. Một số nghiên cứu về hàm khung kết hợp với khớp nối.........................31
7. Vận dụng chuyên đề vào đề tài nghiên cứu.............................................34
KẾT LUẬN.....................................................................................................35
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC HÌNH

Hình 1 Thiết kế của Winder...............................................................................4
Hình 2 Thiết kế của Parr...................................................................................4
Hình 3 Thiết kế của William Everett Griswold.................................................5
Hình 4. Thiết kế của Herman Chayes................................................................6
Hình 5. Rãnh trượt chính xác...........................................................................9
Hình 6. Khớp nối trục.....................................................................................10
Hình 7 Khớp nối Preci Clix............................................................................12
Hình 8. Khớp nối Preci Vertix[4]....................................................................13
Hình 9. Khớp nối Preci Sagix.........................................................................14
Hình 10. Khớp nối Ceka Revax[6]..................................................................15
Hình 11. Khớp nối Preci Vertix AT[4].............................................................16
Hình 12ª- Preci 52U Hình 12b Preci 52S........................................................16
.........................................................................................................................17
Hình 13. Khớp nối O-SO [4]...........................................................................17
Hình 14. Khớp nối DSE [5].............................................................................17
Hình 15. Hệ thống MAYS...............................................................................18
(Nguồn: http://www.preat.com/extracoronal.htm)..........................................18
Hình 16. Khớp nối Stub attachment................................................................19
Hình 17 Thanh đơn (single sleeve bar joints)..................................................20
Hình 18. Khớp nối dạng nhiều thanh( Bar Attachment)..................................21


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Cấy ghép răng Implant ra đời và ngày càng phát triển thì việc sử dụng
hàm giả có thể tháo lắp trở nên ít phổ biến hơn trước. Tuy nhiên phương pháp
điều trị cấy ghép cũng có một số điểm hạn chế: chi phí cao, chỉ định hạn chế,
yếu tố toàn thân, thói quen hút thuốc lá, chất lượng xương kém và bệnh hệ
thống. Vì vậy cấy ghép răng không phải được chỉ định cho tất cả các trường
hợp do vậy tầm quan trọng của hàm giả tháo lắp không thể phủ định. Hàm
khung là loại phục hình tháo lắp từng phần có nhiều ưu việt hơn so với hàm
giả tháo lắp nhựa. Hàm khung chịu được sức nhai nhiều hơn, truyền lực nhai
sinh lý lên răng - chân răng - vùng quanh răng và xương. Vùng cổ răng và
vùng lợi viền cổ răng được giải phóng bệnh nhân có cảm giác như nhai trên
răng thật.
Vì tính ưu việt, cùng với sự nghiên cứu về tính thích nghi và đáp ứng của
người bệnh với hàm khung và hàm khung cũng còn những vấn đề cần giải
quyết như Kennedy I dễ bị lật phía sau, Kennedy II dễ bị lật sang bên ... và sẽ
gây ra các chuyển động bất lợi ảnh hưởng tới răng trụ cũng như sống hàm
vùng mất răng. Việc phác họa khung sườn và thiết kế các phương tiện lưu giữ
trong điều trị phục hình cho các trường hợp mất răng loại I, II Kennedy nhằm
tăng vai trò của móc và các phương tiện lưu giữ khác để hạn chế và loại bỏ
các lực xoắn lên răng trụ cũng như sự phân bố lực nhai trên răng trụ và trên
sống hàm là rất quan trọng. Để khắc phục phần nào các hạn chế trên khi thiết
kế khung, các nhà nghiên cứu đã đưa ra hệ thống khớp nối (attachment) kết
hợp với khung. Và hàm khung có kết hợp với khớp nối được coi là tốt nhất
trong phục hình tháo lắp. Hệ thống các khớp nối chính xác này bao gồm hai
phần đó là phần âm được gắn vào hàm giả và phần dương được gắn vào răng
thật. Sự cải tiến này mang lại hiệu quả thẩm mỹ hơn so với răng mang móc
thông thường, có thể hấp thu lực đối kháng để bảo vệ răng trụ. Một số các liên


2

kết ngoài thân răng còn có tác dụng chuyển lực tác động từ trụ đỡ qua xương
và phần mềm qua nền của hàm giả. Nghiên cứu hồi cứu của tác giả người Ấn
Độ -Naveen Gupta -2013 cho thấy hiệu quả của điều trị mất răng bằng hàm
khung có sử dụng khớp nối cho tỷ lệ tốt 83,3% sau 5 năm sử dụng; 67,3%
trong thời gian theo dõi là 15 năm và đạt tới 50% tốt trong thời gian là 20
năm[1]. Nhờ vào tính ưu việt của khớp nối kết hợp với hàm khung nên chúng
tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề “Các loại khớp nối sử dụng trong hàm
khung” với các mục tiêu sau:
1.

Đặc điểm, cấu tạo, chức năng và phân loại của khớp nối.

2.

Đặc tính của khớp nối Preci và hàm khung.


3

1. Định nghĩa về khớp nối.
Một khớp nối chính xác là một bộ phận cơ khí dành cho việc định hình,
duy trì và sự ổn định cho các phần răng giả cố định có thể tháo rời.
Khớp nối chính xác được cấu tạo bởi hai phần: phần âm và phần
dương, để liên kết hai phần của phục hình với nhau. Phần dương được làm
bằng kim loại được đặt vào bên trong hoặc bên ngoài của chụp răng trên răng
trụ. Còn phần âm nằm trong nền của hàm giả được thiết kế sao cho phù hợp
với hình dáng của phần dương và hai phần phải được lồng khít vào nhau [2].
Đối với các phục hình tháo lắp từng phần, khớp nối là thành phần cơ
khí thay thế cho móc răng, có chức năng như một vật lưu giữ trực tiếp. Khi
thực hiện nhiệm vụ là vật lưu giữ trực tiếp nó có tác dụng kháng chuyển động
của hàm giả về phía mô, duy trì vị trí của hàm giả khi hàm giả thực hiện chức
năng, cản trở chuyển động xoay chiều của hàm giả đi từ mô, chống lại lực tác
động bởi các thành phần giữ lại, ổn định, cản trở chuyển động ngang của hàm
giả, và chống lại chuyển động phía xa của răng trụ đi từ bộ phận giả và
chuyển động của hàm giả ra khỏi răng. Ngoài ra khớp nối chính xác là vật lưu
giữ trực tiếp lại trở lên thụ động khi phục hình lắp vào trong miệng và thực
hiện chức năng đặc biệt trong trường hợp mất nhóm răng ở phía xa. Một khớp
nối thực hiện được chức năng của nó nhờ sự liên kết phù hợp rất chặt chẽ giữa
các phần với nhau. Nó kết hợp một phần vào hàm giả tháo lắp và các thành
phần kết nối thường được kết hợp vào một chụp đúc hoặc kết nối với một
phần răng giả cố định.
2. Lịch sử của khớp nối [3],[4],[5]
Khớp nối được giới thiệu rất sớm từ thế kỷ thứ 5 và thứ 6 trước công
nguyên với hình dáng rất đơn giản như thiết kế của tác giả Winder, phục hình
lưu giữ dạng neo của Winder được giới thiệu như là tiền thân của cầu răng
dán cổ điển [Hình 1].


4

Hình 1 Thiết kế của Winder.
Năm 1886 tác giả Parr đưa ra thiết kế khớp nối ngoài thân dạng ổ cắm
(hình 2) và được gọi là Extracoronal socket attachment dạng khớp nối này
tương tự như một cầu đèo được nối thêm phía sau của răng trụ dành cho
trường hợp mất 1 răng ở phía sau, khớp nối bao gồm hai phần: phần âm là
một thanh ngang dài ở giữa được khoét rỗng tương ứng với phần dương có
hình dáng giống như một cái ổ cắm phủ lên trên của phần dương.

Hình 2 Thiết kế của Parr.
Khớp nối ngoài thân thân Extracoronal đầu tiên được cấp bằng chứng
nhận sáng chế số US733.320 của tác giả người Mỹ William Everett Griswold
(bằng sáng chế cấp ngày 07/07/1903)


5

Hình 3 Thiết kế của William Everett Griswold.
(Nguồn http://www.google.com/patents/US733320)
Cấu tạo của khớp nối này bao gồm có 3 thành phần liên kết chặt chẽ
với nhau, có tính năng lồng vào nhau: dây buộc, thanh chữ T (phần âm), một
thanh hình chữ L (phần dương). Phần âm có một loạt các nếp gấp để tăng tính
năng lưu giữ còn phần dương cũng có các nếp gấp tương ứng để cho hai phần
được lồng khít vào nhau và được buộc nhờ vào một đoạn thép hình chữ V
giúp cho phần âm và dương được lồng khít. Sự ra đời của khớp nối này đưa ra
một bước tiến mới trong chuyên ngành phục hình răng cố định thời bấy giờ.
Tuy nhiên loại khớp nối này chỉ áp dụng cho cầu răng với khoảng mất răng
ngắn và trong quá trình sử dụng thì gặp trở ngại về lưu giữ khi hàm giả thực
hiện chức năng. Tiến sĩ Herman Chayes đã xây dựng các nguyên tắc của khớp
nối trong thân răng vào năm 1906 (Hình 4). Kể từ đó khớp nối đang đóng một
vai trò quan trọng trong một phần răng giả tháo lắp và cố định. Chính nhờ
phát minh này các nhà khoa học, các bác sỹ lâm sàng đã liên tục cải tiến ra


6

nhiều loại khớp nối khác nhau để phù hợp với từng trường hợp mất răng cụ
thể.

Hình 4. Thiết kế của Herman Chayes
(Nguồn: http://onlinebooks.library.upenn.edu/readers.html)
Đến cuối thế kỷ 20, với công nghệ phát triển các khớp nối chính xác đã
được áp dụng cho các cấu trúc thượng tầng của cấy ghép Implant. Khớp nối
chính xác có tính năng đặc biệt của một bộ phận giả tháo lắp với tính thẩm mỹ
được cải thiện, điều chỉnh ít hơn sau khi phục hình hoàn tất và thuận tiện hơn
cho bệnh nhân [7]. Chỉ định chủ yếu được chỉ ra trong trường hợp khoảng mất
răng dài, hàm giả mở rộng phía xa và các răng trụ không song song.
Hiểu biết về sự khác biệt trong bản chất và cấu trúc của các mô tổ chức
trong miệng hỗ trợ hàm khung là rất quan trọng cho sự thành công lâu dài của
hàm giả. Những khác biệt này cùng với với chức năng hoạt động sinh lý khi
nhai tạo ra áp lực lớn đè nén lên mô và tổ chức dưới yên hàm giả. Kiểm soát
được lực tác động trên mô tổ chức là một yếu tố cần thiết cho sự thành công
của hàm giả mất răng có phần mở rộng phía xa được thực hiện thông qua kỹ


7

thuật kép ấn tượng là sự kết hợp của khớp nối và phục hình, phạm vi kết nối
được đảm bảo rộng và hàm răng giả ổn định, thiết kế cứng chắc, sinh lý, nẹp
của mố cầu, cùng với lựa chọn đúng đắn của khớp nối chính xác đính kèm và
móc thiết kế.
Trải qua vài thập kỷ với sự phát triển của hàm giả tháo lắp và luôn đặt
lợi ích của bệnh nhân lên hàng đầu các bác sỹ lâm sàng cùng với các kỹ thuật
viên đưa khớp nối chính xác kết hợp với hàm khung đã đạt được những thành
công đáng kể. Từ những khớp nối sơ khai đơn giản đến ngày nay có rất nhiều
loại khớp nối đã được cải tiến phù hợp với rất nhiều dạng mất răng, không
phụ thuộc vào bất cứ tình trạng tiêu xương của sống hàm thậm chí còn tận
dụng được cả chân răng. Và hiện nay mới nhất là những cải tiến của khớp nối
trên Implant, những cải tiến này đều có mục tiêu là tạo cho bệnh nhân sự thoải
mái, độ khít sát cao, lưu giữ tốt khi mang hàm giả tháo lắp, quan trọng là làm
giảm tối đa sự di chuyển của hàm giả khi hàm hoạt động chức năng.
3. Phân loại khớp nối [10]
Khớp nối có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau, dựa trên độ
chính xác có hai loại là chính xác toàn phần (Precision) được chế tạo bằng
máy đúc sẵn có thể làm bằng nhựa, hoặc sáp loại thứ 2 chính xác bán phần
(Semiprecision) được tạo hình khớp nối đắp sáp bằng tay, tùy thuộc vào
phương pháp chế tạo và sự kết nối phù hợp của các thành phần với nhau.
Khớp nối chính xác được tiền chế, đúc gia công các thành phần hợp kim và
việc sản xuất đòi hỏi chính xác cao chỉ cho phép sai số rất nhỏ. Các phương
pháp chế tạo cho các khớp nối chính xác bán phần là có thể tự thiết kế ra khớp
nối từ sự sáng tạo của bác sỹ hoặc từ các kỹ thuật viên thì mức độ chế tạo có
sai số lớn hơn loại chính xác toàn phần.
Khớp nối được phân loại theo mối quan hệ của chúng với các răng trụ.
Nếu khớp nối được tích hợp bên trong thân của răng trụ thì được gọi là khớp


8

nối trong thân răng (Intracoronal attachment), khi nằm ở phía ngoài thân răng
thì được gọi là khớp nối ngoài thân răng (Extracoronal attachment).
Phân loại theo chức năng có hai loại: khớp nối cứng (Rigid attachment)
và khớp nối đàn hồi (Resilent attachment). Các khớp nối đàn hồi có khả năng
di chuyển tự do trong mọi mặt phẳng mà không bị ràng buộc bởi lực xoắn vặn
răng, kết nối giữa các thành phần của khớp nối đàn hồi được liên lạc duy nhất
giữa hàm giả tháo lắp từng phần và răng. Một khớp nối có được chức năng
của nó nhờ vào sự kết hợp chặt chẽ giữa các thành phần với nhau đó là khớp
nối được tích hợp vào một phần của hàm giả tháo lắp, các thành phần kết nối
được tích hợp vào răng trụ.
3.1. Phân loại theo kiểu khớp nối: có 4 nhóm chính
* Intracoronal attachment
* Extracoronal attachment.
* Stub attachment.
* Bar attachment
3.1.1. Khớp nối trong thân răng (Intracoronal attachment)
Khớp nối trong thân răng có lợi thế của việc duy trì lực phù hợp hơn
với trục của răng và có sự đề kháng đối với các lực dọc và ngang. Khớp nối
trong thân răng được coi là khớp nối cứng mà theo lý thuyết không cho phép
có chuyển động của các thành phần của nó khi hàm giả thực hiện chức năng.
Tuy nhiên với một khớp nối cứng được chế tạo hoàn hảo trong một điều kiện
tốt nhất thì khi có lực tác động lên hàm giả thì bản thân hàm giả vẫn có
chuyển động dù chỉ thoáng qua. Tần số chuyển động sẽ tăng lên cùng với độ
mòn của các thành phần khớp nối. Các khớp nối trong thân răng
(Intracoronal) thường được thiết kế đều bao gồm một trụ dọc song song được
lồng khít vào một rãnh. Khoảng cách trụ ở chiều dọc ít nhất là 4mm và
khoảng cách mặt lưỡi thường yêu cầu khoảng 3mm.


9

Khớp nối trong thân răng đòi hỏi có một phần được trực tiếp gắn vĩnh
viễn vào bên trong thân răng trụ và phần còn lại được gắn vào hàm giả. Tuy
nhiên việc thiết kế răng trụ mang khớp nối này đòi hỏi một răng trụ khỏe
mạnh được điều chỉnh thấp đi và làm giảm kích thước dọc phía bên để tạo ra
một chụp răng có chứa các bộ phận kết nối thích hợp có thể được gắn lên
phần còn lại của răng để hỗ trợ cho các bộ phận kết nối, thay thế. Các bước
tiến hành để hoàn thiện một khớp nối trong thân răng (Intracoronal
attachment) có kỹ thuật phức tạp nhưng cuối cùng là hiệu quả thẩm mỹ không
cao, và được coi là một khó khăn trong điều trị nha khoa. Sau khi hoàn thành
cấu trúc của răng bị phá hủy không thể phục hồi.
Các khớp nối trong thân răng được chỉ định khi răng trụ có đường kính
đủ độ lớn để có thể gắn một rãnh âm vào chụp răng của nó và không làm thay
đổi chu vi của thân răng.
Khớp nối trong thân răng còn có một tên khác đó là rãnh trượt chính
xác (Precision Retention Attachment) Phần dương có rãnh tương ứng với
phần âm tạo sự lưu giữ khi kết nối. Sử dụng rãnh trượt chính xác cho bệnh
nhân mất răng Kennedy III và IV, có khoảng mất răng hẹp, kỹ thuật đúc đòi
hỏi sự chính xác cao.

Hình 5. Rãnh trượt chính xác
(Nguồn: theo Newsletter of modern prosthetic techniques -2000)
Ngoài ra khớp nối trục (Attachments axiaux) cũng được xếp vào dạng
khớp nối Intraconal: Thường được sử dụng khi răng một chân bị tổn thương
phần thân răng nhưng chân răng vẫn còn chắc. Bao gồm phần dương được cắm


10

vào chân răng theo kiểu trụ đỡ, còn phần âm gắn vào mặt dưới hàm giả có các
loại như: Introfix, Excentric ROTHERMANN, Aunafe cylindrique, DALBO.

Hình 6. Khớp nối trục
3.1.2. Khớp nối ngoài thân răng (Extracoronal attachment)
Đối với khớp nối trong thân răng là cần có khoảng nằm bên trong của
chụp răng để đặt phần âm của khớp nối và vấn đề cần phải chữa tủy hay
không của răng trụ khi làm khớp nối này cần phải cân nhắc. Khớp nối ngoài
thân răng có thể thực hiện được khi mà khoảng cách phía mặt lưỡi có ích bị
hạn chế và chiều cao của răng nanh và hầu hết các răng trụ khác thấp không
thể thiết kế khớp nối trong thân răng được. Khớp nối ngoài thân răng
thường được thiết kế để duy trì những hàm giả có yên mở rộng về phía xa.
Bởi vì khi bị mất răng xương ổ răng sẽ tiêu, kích thước sống hàm giảm cả
về chiều cao và chiều ngang, lớp cơ rất nhanh sẽ chiếm vị trí của răng tự
nhiên, do đó có rất nhiều các khớp nối ngoài thân răng đã được chế tạo để
phù hợp với tình trạng lâm sàng của từng bệnh nhân. Khớp nối ngoài thân
răng được chỉ định khi:
- Chu vi của phần răng trụ liên kết nhỏ không thể thiết kế khớp nối
trong thân răng được, để tránh làm tổn thương đường ranh giới giữa chụp và
cùi răng trụ hoặc gây viêm tủy răng trụ.


11

- Liên kết ngoài thân răng dễ dàng tháo, lắp do đó thường sử dụng cho
những bệnh nhân có sự khéo léo hạn chế, áp dụng cho răng giả có hướng
tháo, lắp khó.
- Bệnh nhân không thường xuyên đeo hàm giả, phần khớp nối trong
thân răng sẽ mắc thức ăn và gây ra sự khó khăn khi lắp hàm giả.
Liên kết ngoài thân răng thường đàn hồi để cho phép nền hàm giả di động
và răng giả phân tán lực có hại hoặc phân chia lực từ răng trụ sang phần nâng đỡ
của phần mềm và xương. Khớp nối được xác định chức năng bởi ba chuyển
động theo hướng đặc biệt đó là: 1. khớp nối; 2. trục dọc; 3. chuyển động xoay.
Các liên kết ngoài thân răng này với tính đàn hồi; chuyển động tự do thì
thực sự cần thiết cho những trường hợp có rất ít răng trụ nâng đỡ hoặc có các
trụ nâng đỡ yếu vì nó loại bỏ các lực trực tiếp tác động lên răng trụ nâng đỡ
mà chuyển lực qua xương và phần mềm qua nền của hàm giả. Khớp nối đàn
hồi xác định được rõ ràng hướng lực tác động và hướng chuyển động của các
bộ phận thành phần của khớp nối, cho phép chuyển động của hàm giả về phía
mô theo chức năng, trong khi về mặt lý thuyết giảm thiểu số lượng các lực tác
động lên các răng trụ. Như vậy, các khớp nối đàn hồi hoạt động như một
"trung tâm xả lực". Khớp nối đàn hồi được thiết kế khi chuyển động giống
như một cái bản lề cho phép di chuyển dọc theo một mặt phẳng hoặc một
chuyển động quay di chuyển dọc theo nhiều mặt phẳng.


12

* Các loại khớp nối ngoài thân răng:[5],[6],[7]
3.1.2.1. Preci Clix [6]

a. Phần dương PreciClix

b. Phần âm Preci Clix

Hình 7 Khớp nối Preci Clix
(Nguồn http://www.preat.com/extracoronal.htm)
Phần dương được thiết đặc biệt có hình dáng tương tự như một tay
móc, nó bao gồm bờ vai được đúc liền một khối với chụp răng trụ tạo độ dốc
dần về phía lợi, kết thúc là một hình cầu nhỏ làm tăng sự lưu giữ của hàm và
cho phép nền hàm giả chuyển đông xung quanh mào sống hàm với biên độ
hẹp.Với 3 độ nghiêng 300, 450, 600 của khớp nối có thể lựa chọn cho phù hợp
với hình dạng của nhú lợi của răng trụ. Loại khớp nối này không hoàn toàn sát
khít với lợi mà tạo ra một khoảng cách cho phần tiếp xúc của lợi. Khi có lực
tác động lên răng trụ theo chiều đứng thì lực sẽ được phân tán qua nền hàm
giả thông qua góc nghiêng này. Kích cỡ hình cầu đường kính 2.25mm, chiều
cao hình cầu 1,7mm đến 2,2mm. Chiều cao của toàn bộ khớp nối có hai kích
cỡ là 4.1 và 4.3mm bề dày khớp nối 3.3 đến 4.3mm. Phần âm là phần nhựa
làm bằng Silicone đàn hồi được đúc sẵn phù hợp với kích cỡ của khớp nối.
Chỉ định cho mất răng Kennedy I và II. Tuy nhiên loại khớp nối này có sự hạn
chế đó là chiều cao của nó nên không thể lựa chọn rộng rãi khi mà các răng
trụ thấp và khoảng cách phục hình không đủ lớn.


13

4.1.2.2.Khớp nối Preci Vertix

Hình 8. Khớp nối Preci Vertix[4]
(Nguồn: http://www.preat.com/extracoronal.htm)
Sử dụng khớp nối và trục dọc di động. Hệ thống khớp nối Vertix thì có
giá thành rẻ và là hệ thống phổ biến. Khớp nối có trụ hình ống phía sau được
nối với một trục dọc. Trụ hình ống phía sau tạo sự lưu giữ cho khớp nối bằng
sự sát khít hoàn toàn với bộ phận phân phối trượt (phần âm). Phần nhựa ở
phần âm hấp thụ lực đối kháng để bảo vệ trụ răng và tạo sự thoải mái, sự dễ
dàng tháo lắp cho bệnh nhân. Ngoài ra ưu điểm của loại khớp nối này là thay
thế phần âm dễ dàng. Chiều cao khớp nối 4,5mm; chiều rộng 1,8mm. Do vậy
để có thể thiết kế được loại khớp nối này thì khoảng cách tối thiểu từ rìa cắn
của răng đối tới nhú lợi phía xa răng trụ sẽ phải là 5mm. Nhược điểm của
Preci Vertix nếu chỉ sử dụng riêng một răng trụ đơn lẻ không có thêm tựa mặt
nhai để giảm thiểu lực tác động ở phía xa của răng trụ thì sự tiêu xương phía
xa của răng trụ khó tránh khỏi.
Trên đây là hai loại khớp nối mà hiện nay tại Việt Nam đang sử
dụng trong phục hình hàm khung.


14

3.1.2.3.Khớp nối Preci Sagix

Hình 9. Khớp nối Preci Sagix
(Nguồn: http://www.preat.com/extracoronal.htm)
Kết nối hình cầu đối xứng dọc cùng với hình cầu phân phần âm cho
hàm giả tháo lắp và đôi khi được sử dụng lưu giữ trong hàm toàn bộ khi nó
được tích hợp trong chân răng và trụ Implant. Có 2 cỡ: 1,7mm và 2,2mm.
Kim loại đúc sẵn ở phần dương có tính chính xác, chắc chắn, tin cậy cho sự
phục hồi răng. Chỉ có phần âm tiếp xúc với bề mặt lớn hơn của phần cầu tạo
ra sự mắc giữ và ổn định. Preci Sagix có tác dụng lưu giữ tốt hơn ở loại hàm
Overdenture, bởi vì khi sử dụng khớp nối dạng này với hàm khung thì lực tác
động trên một trụ ngắn và có chuyển động xoay theo chiều ngang dẫn đến tổn
hại cho răng trụ đặc biệt là không thể áp dụng cho vùng sống hàm bị tiêu
xương nhiều


15

3.1.2.3.Khớp nối Ceka Revax

Hình 10. Khớp nối Ceka Revax[6]
(Nguồn: http://www.preat.com/extracoronal.htm)
Đây là khớp nối được cải tiến mới nhất năm 2012, được thiết kế với 4
thành phần ngoài phần dương và phần âm thông thường thì được thiết kế
thêm hai chi tiết nữa là vòng gioăng cao su và thiết kế luôn phần chụp bọc ra
ngoài phần dương thay vì để khe trụ dọc dưới phần nền hàm giống như các
loại khớp nối khác làm tăng thêm sự sát khít giừa hàm giả và khớp nối.
Sự chắc chắn, chính xác của khớp nối Ceka Revax tạo ra từ mặt phần
dương của khớp nối và chiều xoay cung cấp bảo vệ cao nhất trụ lưu giữ. Mỗi
sự lưu giữ bao gồm 3 góc của nhựa phần âm cùng với sự chính xác của phần
âm lắp vào, nơi gài của phần dương, và phần thép lưu giữ cấu thành 3 góc cho
phép áp dụng trên nhiều trường hợp lâm sàng.


16

3.1.2.4. Khớp nối Preci Vertix AT.
(Nguồn: http://www.preat.com/extracoronal.htm)

Hình 11. Khớp nối Preci Vertix AT[4]
Liên kết hình bán nguyệt có thể điều chỉnh được độ cao, khớp nối này
hoàn toàn được đúc sẵn bằng hợp kim Tital. Ma sát lưu giữ được tăng cường
thêm với vít và phần nhựa áp sát liên kết thông minh cho phần trụ được ổn
định. Kích cỡ cao 4,4mm; đường kính 2,6mm. Có thể giảm 1,00mm ở phần
sát mô lợi. Khớp nối này lưu giữ dưới dạng đàn hồi và có khả năng phục hồi
theo chiều dọc.
3.1.2.5. Khớp nối Preci 52

Hình 12ª- Preci 52U

Hình 12b Preci 52S

(Nguồn:http://www.preat.com/extracoronal.htm)
Preci 52 là liên kết hình cầu nhỏ đầu nối phổ biến lưu giữ bằng trục dọc
và đàn hồi và là khớp nối di động. Có 2 loại khác nhau của liên kết là: Preci
52U (Preci 52 Mini- hình 12a) và Preci 52S (Preci 52 Standard- hình 12b).
Phần âm được sử dụng bởi nhựa chống mài mòn cho phép móc được đúc bởi


17

vật liệu siêu cứng. Thép không gỉ ở phần dương và phần kết nối đàn hồi cho
phép điều chỉnh được lưu giữ.
3.1.2.6. Khớp nối O-SO Distal Extension

Hình 13. Khớp nối O-SO [4]
(Nguồn: http://www.preat.com/extracoronal.htm)
O-SO là khớp nối ngoài thân răng đàn hồi mà nó có sự chuyển động tự
do ở tất cả các mặt phẳng cho sự bảo vệ tối đa răng trụ và dễ dàng thay phần
cao su O-ring. Đây là loại khớp nối được lưu giữ theo trục dọc và bản lề. Khi
nó liên kết với hàm giả bằng lực kéo hoạt động ngắt quãng, có thể sử dụng kết
hợp với các loại liên kết khác.Khớp nối có chiều cao 5.2mm có thể giảm
chiều cao tối đa của nó xuống còn 2.5mm, đường kính 2mm.
3.1.2.7. Khớp nối DSE(DSE Hinges)

Hình 14. Khớp nối DSE [5]
(Nguồn: www.preat.com/dsehingestech )


18

Bản lề được thiết kế để sử dụng lưu giữ song song với móc của hàm giả như
vậy sẽ có một đầu tự do phần răng giả tháo lắp để giảm lực tác động lên răng
trụ. Kích thước nhỏ dễ dàng thực hiện trên xưởng làm việc.Thiết kế độc đáo
cung cấp để dễ dàng giải phóng lực tác động và lưu giữ ổn định từng bên.
Khớp nối này mang lại sự thoải mái cho bệnh nhân và bảo vệ mố cầu bằng
cách độc lập loại bỏ lực đòn bẩy trên các mố cầu ở bên không làm việc. Kích
thước thu nhỏ cho phép sử dụng trong không gian thẳng đứng ngắn và cung
cấp cho thẩm mỹ tốt. có thể kết hợp với một số khớp nối khác.
3.1.2.8. Hệ thống MAYS có thể liên kết từng bên.

Hình 15. Hệ thống MAYS
(Nguồn: http://www.preat.com/extracoronal.htm)
Thiết kế đặc biệt cho hàm giả mở rộng ra xa một bên, có thể là liên kết
đầu tiên cùng với tay khóa mặt lưỡi. Nó không thể bị tụt ra nhưng cũng dễ
dàng tháo để bệnh nhân vệ sinh. Đòi hỏi phải có 3mm chiều đứng dọc đặc
biệt trên các trường hợp mất răng từng bên đơn lẻ. Khi thiết kế loại khớp nối
này không cần tăng cường thêm cánh tay đòn ở mặt dưới hoặc hàm ếch.
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng một loại khớp nối Preci Clixvà
Preci Vertix là dạng khớp nối hiện nay đang được sử dụng tại Việt Nam
3.1.3. Khớp nối có hình dạng ổ cắm (Attachment Stub- hay nói cách khác
Ball and Socket)
Các khớp nối được gọi như vậy vì hình dạng của phần dương mà
thường được gắn với chân răng hoặc gắn trên Implant. Các phần âm phù hợp


19

trong phần dương và nằm trong nền nhựa acrylic của hàm khung hoặc được
hàn vào yên kim loại. Khớp nối dạng ổ cắm (Stud attachment) có thể có 2 loại
khớp nối cứng hoặc đàn hồi. Một số loại Stub attachment như là: Dalbo,
Conod, Rothermann, Baer và Fah. Lưu giữ của loại khớp nối này xoay dọc và
đàn hồi.
Stud atachments có nhiều ứng dụng:
1. Đối với hàm toàn bộ có sống hàm tiêu nhiều khả năng lưu giữ kém thì
khớp nối loại Stub cung cấp thêm sự ổn định, duy trì và hỗ trợ cho hàm giả này.
2. Sử dụng Stub trong phục hình cầu răng có các răng trụ bị gẫy thân
răng mà chân răng vẫn còn sử dụng tốt và các trụ răng này cần nên được tăng
cường bằng Stub attachment để tái tạo lại phần thân răng.
3. Khi lưu giữ một chiếc răng nhóm cửa được hỗ trợ phục hồi một phần
thân răng trong trường hợp răng còn chân, răng vỡ lớn phần thân khi những
răng này có tác dụng tăng cường lưu giữ cho hàm giả.
Loại kết nối có hình dạng tròn tự do di chuyển trong ổ cắm là một thiết
kế đàn hồi đa chiều thường được dùng cho hàm giả dạng phủ (Overdenture) –
hàm giả toàn bộ.

Hình 16. Khớp nối Stub attachment
3.1.4. Khớp nối dạng thanh (Bar Attachment)
Loại kết nối dạng thanh kim loại được đúc sẵn với các kích thước và
hình dạng sẵn có được trải dài trên vùng sống hàm mất răng được gắn vĩnh
viễn lên trụ, chân răng hoặc Implant. Bar attachment gồm một thanh hoặc


20

nhiều thanh được gắn vào trụ răng bằng phương tiện cơ khí. Ngoài ra trên các
chụp của răng trụ có thể được hàn nối với nhau bằng thanh ngang.
Các hàm giả được tích hợp với khớp nối Bar và được kết nối với một
hoặc nhiều đoạn trong những trường hợp mà khớp nối được gắn trên nhiều trụ
Implant không thẳng hàng với nhau. Bar attachments có hai loại:
1. Thanh đơn (Single sleeve bar joints) Mặt cắt ngang có hình quả lê,
trên sống hàm thẳng liên tục thường gặp là ở nhóm răng cửa thì nên sử dụng
thanh đơn tăng lưu giữ cho hàm giả.

Hình 17 Thanh đơn (single sleeve bar joints)
2. Dạng nhiều thanh (Multiple sleeve joints)
Để đáp ứng với các hình dạng sống hàm thì khớp nối Bar có thể được
uốn cong để mô phỏng theo độ cong trước-sau của vùng sống hàm mất răng.
Một số loại khớp nối dạng này như: Gilmore, Ackerman, Hader. Khớp nối
nhiều thanh hay được sử dụng hơn là khớp nối thanh đơn vì sự linh hoạt được
áp dụng trên các hình dạng sống hàm khác nhau tuy nhiên loại khớp nối này
rất cứng nhắc. Khớp nối nhiều thanh có thể sử dụng để kết nối từ 4 hoặc nhiều
trụ răng trên toàn hàm mất răng khi mà số lượng, vị trí các răng còn lại không
thể thiết kế được móc răng phù hợp cho hàm khung
Ưu điểm của khớp nối dạng thanh: là loại khớp nối cứng có khả năng tạo
ra sự lưu giữ tốt, khớp nối ở vị trí gần với xương ổ răng do vậy làm giảm


21

thiểu lực đòn bẩy tác dụng lên răng trụ ngay cả khi hàm giả có vòm miệng
chéo do tiêu xương không đều.
Nhược điểm của khớp nối dạng thanh đó là vùng mang khớp nối tạo điều
kiện cho tích tụ mảng bám nên bệnh nhân phải vệ sinh thật tốt vùng này.
Khớp nối dài gây cồng kềnh trong miệng, đòi hỏi kỹ thuật viên rất khéo léo
mới có thể hàn một cách chính xác khớp nối lên răng trụ.

Hình 18. Khớp nối dạng nhiều thanh( Bar Attachment).
3.2. Phân loại theo chức năng
Khi quyết định đưa ra kế hoạch thực hiện để khôi phục lại hàm mất
răng từng phần bằng hàm khung kết hợp với khớp nối, cách mà các lực tác
động lên răng trụ mang khớp nối theo chiều dọc và chiều ngang sẽ phụ thuộc
bởi chức năng của từng loại khớp nối. Lực sẽ tác động lên hàm giả, một phần
lên răng trụ và các răng còn lại và tác động lên vùng sống hàm. Khớp nối nên
lựa chọn cho Kennedy Class III và Class IV là dạng phục hình tựa trên răng
cần được xem xét là loại khớp nối trong thân răng, trong khi hàm mất răng
từng phần có yên mở rộng phía xa Kennedy I hoặc II khi đó hàm giả tựa một
phần trên răng và một phần trên sống hàm thì khớp nối lựa chọn khớp nối
ngoài thân răng.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×