Tải bản đầy đủ

Vài kinh nghiệm thu hút sự chú ý trong giờ học tiếng anh đối với các em học sinh lớp 4 người êđê

ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA
TRƯỜNG TIỂU HỌC EA BÔNG


SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên đề tài:
VÀI KINH NGHIỆM THU HÚT SỰ CHÚ Ý TRONG GIỜ HỌC
TIẾNG ANH ĐỐI VỚI CÁC EM HỌC SINH LỚP 4 NGƯỜI ÊĐÊ

Người thực hiện: H’ Bé Ya Hđơk
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Ea Bông
Trình độ đào tạo: Thạc sĩ
Môn đào tạo: Tiếng Anh

Ea Bông, tháng 3 năm 2019

-1-


MỤC LỤC


TT

Nội dung

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU

1

I

Đặt vấn đề

1

1

Lý do lý luận

1

2

Lý do thực tiễn

1

II

Mục đích nghiên cứu

2

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

2-3

I

Cơ sở lí luận của vấn đề

2

1

Định nghĩa các thuật ngữ

2

2

Những vấn đề lý luận thuộc lĩnh vực đề tài nghiên cứu

2

3

Các luận điểm, các điểm khoa học

2

4

Các cơ sơ chính trị và pháp lý có liên quan

2

5

Sơ lược lịch sử của vấn đề

2

6

Các luận điểm, kết quả nghiên cứu trước đó, hạn chế của kết quả đó

2

II

Thực trạng vấn đề

3

1

Quan điểm của bản thân

3

2

Chi tiết các nhiệm vụ

3

III

Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề

IV

Tính mới của giải pháp

V

Hiệu quả của SKKN

3-12
14
14-15

PHẦN KẾT LUẬN

15-16

I

Kết luận

15

II

Kiến nghị

16

-2-


NHẬN XÉT CỦA HĐKH CHẤM SKKN

17

Tài liệu tham khảo

18

MỘT SỐ KÍ HIỆU VIẾT TẮT ĐÃ DÙNG TRONG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

PH1

Phân hiệu 1

TH

Tiểu học

CNTT

Công nghệ thông tin

GD-ĐT

Giáo dục – Đào tạo

HS

Học sinh

PPDH

Phương pháp dạy học

TA

Tiếng Anh

T

Tốt

H

Hoàn thành

C

Chưa hoàn thành

SL

Số lượng

MĐHT

Mức độ hoàn thành

-3-


Phần thứ nhất: PHẦN MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề
Lý do lý luận: Tiếng Anh là một môn học mới và lạ, dễ thu hút sự chú ý của
học sinh Tiểu học đặc biệt là các em ở khu vực vùng sâu, vùng xa, các em học sinh
người Êđê. Mặc dù các loại sách ngoại ngữ có chứa nhiều hình ảnh minh họa sinh
động và vốn từ ngữ gần gũi với từng lứa tuổi học sinh, nhưng Tiếng Anh vẫn là một
môn học khá bỡ ngỡ. Bước đầu học làm quen từ lớp 3 nhưng khi lên lớp 4, việc
tiếp tục học Tiếng Anh đối với các em học sinh người Êđê vẫn còn là một vấn đề
nan giải, không tránh khỏi sự nhàm chán, mất tập trung khi phải cố gắng nắm bắt
kiến thức mới. Bên cạnh đó, các em còn phải học cùng một lúc ba thứ tiếng(Tiếng
Việt, Tiếng Êđê, Tiếng Anh) cho nên đã gây không ít khó khăn trong quá trình dung
nạp kiến thức, khó có được sự tập trung chú ý trong tiết học.
Lý do thực tiễn: Điều tôi sắp nói ở đây không phải là một vấn đề mang tầm tư
duy thời đại, theo cách mà có thể làm thay đổi thế giới hoặc thay đổi một nền giáo
dục, nhưng không thể phủ nhận rằng, nó đang tác động đến tất cả các giáo viên,
một cách đơn giản, mỗi buổi sáng khi chúng ta bắt đầu một ngày với công việc
giảng dạy, điều khiến chúng ta cảm thấy mệt mỏi nhất đó là, học sinh không tập
trung chú ý khi giáo viên dạy.
Làm cho các em học lớp 4B, 4C chú ý tập trung nghe giảng trong tiết học
không phải là điều dễ dàng. Những năm đầu tiên khi tôi bắt đầu công việc giảng
dạy, tôi luôn tưởng tượng ra một viễn cảnh học sinh sẽ ngồi yên nắm bắt từng lời
giảng của giáo viên, nhưng ngay từ buổi học đầu tiên tôi đã cảm thấy vô cùng căng
thẳng khi mà một số học sinh đang cố gắng nghe giảng, ngược lại một số em thì lại
rất ồn ào, vì vậy tôi đã phải tìm đến nhiều biện pháp khác nhau để truyền tải kiến
thức đến các em.
Cần phải chú ý rằng, nhiều “chiến thuật” thực sự chỉ được thực hiện dựa trên
sự phù hợp với tính cách của giáo viên. Hãy hình dung bạn bước vào một lớp học
đông tới 30 học sinh ( hoặc đông hơn ) việc mà bạn cố gắng dành chút sức lực cuối
cùng của một ngày để quát lên “KEEP SILENT, PLEASE !!! ” dường như không
phải là điều lí tưởng, để giúp cải thiện tình trạng này, bản thân tôi đã tiến hành thực
nghiệm đề tài “Vài kinh nghiệm thu hút sự chú ý trong giờ học Tiếng Anh đối
với các em học sinh lớp 4 người Êđê”.
Đối tượng nghiên cứu: các em học sinh lớp 4B, 4C người Êđê.
Phạm vi nghiên cứu: PH1 Trường TH Ea Bông.
II. Mục đích nghiên cứu:
-4-


Nhằm tạo sự tập trung học, thu hút sự chú ý của các em học sinh lớp 4 người
Êđê cũng như nâng cao chất lượng giảng dạy, cải thiện khả năng tiếp nhận kiến
thức, mang lại hiệu quả thiết thực trong công tác dạy và học môn Tiếng Anh cho
học sinh lớp 4 người Êđê tại địa bàn trường Tiểu học Ea Bông là mục đích chính
của đề tài nghiên cứu này.
Phần thứ hai: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lí luận của vấn đề
Làm thế nào để các em chú ý hơn trong giờ học? Đây không phải là việc thực
hiện được một cách dễ dàng. Những năm đầu tiên khi tôi bắt đầu công việc giảng
dạy, tôi luôn nghĩ rằng học sinh sẽ ngồi yên để tiếp thu, ghi nhận từng lời giảng của
giáo viên, nhưng ngay từ buổi học đầu tiên tôi đã cảm thấy nhận định của mình
không hề đúng, để có được một tiết dạy đúng như mong đợi, tôi đã phải sử dụng rất
nhiều các biện pháp khác nhau.

Hình 1- Lí luận dạy học
Nhận thức về vai trò của ngoại ngữ và sự cần thiết của việc đổi mới dạy và
học ngoại ngữ chưa đầy đủ, chưa tạo động lực, mục tiêu phấn đấu cho học sinh tiểu
học. Các em thiếu động lực học, thụ động tương tác trong giờ học, chưa ý thức
được tầm quan trọng của việc học Tiếng Anh mà chỉ học cho đủ môn trong chương
trình.
Là một giáo viên trước khi bạn bắt đầu bất cứ một bài học nào thì bạn cũng
phải chắc chắn rằng các học sinh trong lớp đang chú ý nghe bạn giảng dạy. Đừng
cố gắng dạy trong khi các học sinh đang ồn ào và không chú ý, điều đó chỉ làm phí
sức bạn mà thôi.
Nhà nước cũng như Bộ GD-ĐT đã phê duyệt rất nhiều đề án liên quan đến dạy
và học Tiếng Anh, trong đó có:
-5-


Quyết định 1400/QĐ-TTg Quyết định số 1400/QĐ-TTg ngày 30/9/2008 của
Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án "Dạy và học ngoại ngữ trong hệ
thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020".
Quyết định 2658/QĐ-BGDĐT Quyết định số 2658/QĐ-BGDĐT ngày
23/7/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành kế hoạch triển khai Đề án
dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2017-2025.
II. Thực trạng vấn đề:
1. Thực trạng
Trường Tiểu học Ea Bông nằm tại vùng khó khăn của Huyện Krông Ana, hầu
hết học sinh là người Êđê cho nên việc giao tiếp bằng Tiếng Việt đối với các em
còn gặp rất nhiều khó khăn. Học sinh ở bậc tiểu học còn nhỏ nên tốc độ viết – nói
bằng Tiếng Việt của các em còn chậm. Đây là một lí do chủ yếu dẫn đến việc hạn
chế thời gian tổ chức các trò chơi.
Hạn chế về trang thiết bị dạy học, các hình thức tổ chức, các loại hình hoạt
động giao lưu bằng Tiếng Anh vẫn chưa được phổ biến.
Đa số phụ huynh và học sinh chưa ý thức được tầm quan trọng của môn học
này, vẫn cho rằng môn Tiếng Anh ở bậc tiểu học là môn học tự chọn, các em rất ít
chú trọng học và chưa có sự tập trung cao trong việc học, nhất là phần từ vựng.
Việc nhận biết mặt chữ Tiếng Việt đối với các em học sinh lớp 4 người Êđê
vẫn còn gặp nhiều khó khăn.
1.1 Thuận lợi – khó khăn
* Thuận lợi
Ban giám hiệu rất quan tâm đến công tác chuyên môn, coi chuyên môn là một
trong những ưu tiên hàng đầu trong hoạt động của nhà trường.
Bản thân là một giáo viên Tiếng Anh người Êđê, cho nên tôi hiểu được những
trở ngại khi các em giao tiếp bằng Tiếng Việt lẫn Tiếng Anh.
Khoảng cách giữa các trường Tiểu học trong địa bàn xã Ea Bông gần nên việc
dự giờ, trao đổi ý kiến chuyên môn với đồng nghiệp, nội dung các trò chơi để vận
dụng trong giờ dạy Tiếng Anh ở bậc tiểu học, cũng như cách thức tổ chức và tiến
hành dạy thực nghiệm có phần dễ dàng và thuận tiện hơn rất nhiều.
* Khó khăn
Là trường có hơn 70% học sinh là dân tộc Êđê, đa số các em nói Tiếng Việt
chưa chuẩn, giao tiếp bằng Tiếng Việt còn hạn chế (sai thanh dấu).
Thiếu phòng học chuyên dụng để đáp ứng yêu cầu dạy 4 tiết/ tuần theo
chương trình của Bộ Giáo Dục, do đó việc thực hiện công tác dạy học Tiếng Anh
còn hình thức, chưa có điều kiện giảng dạy chuyên sâu.
-6-


Cha mẹ và các em học sinh người Êđê tại địa bàn trường đều chưa nhận thức
được tầm quan trọng của việc học Tiếng Anh, vẫn xem Tiếng Anh như là một môn
phụ trong chương trình học, chưa chú trọng đầu tư , mua sắm sách vở phục vụ học
Tiếng Anh cho con em mình. Đây chính là bước cản lớn nhất trong công tác dạy và
học Tiếng Anh tại trường Tiểu học Ea Bông.
Trường TH Ea Bông chỉ có duy nhất một giáo viên Tiếng Anh nên việc dự giờ
trao đổi để tìm ra hướng mới trong công tác giảng dạy còn hạn chế.
III. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:
Nhiều giáo viên mới vào nghề đôi khi nghĩ rằng cứ bắt đầu bài học thì học
sinh sẽ trật tự, chú ý nghe giảng thôi. Thế nhưng, không phải lúc nào cách này cũng
cho kết quả tốt, bởi lẽ nếu bạn không để tâm đến điều đó thì sẽ khiến cho các em
nghĩ rằng các bạn chấp nhận việc các em làm ồn và cho phép các em nói chuyện
khi các bạn giảng bài. Vậy phải làm sao để khắp phục tình trạng này? Một gợi ý
nhỏ đó chính là: giáo viên cần yêu cầu các em phải chú ý trước khi bắt đầu bài học
nhưng không phải bằng cách quát thật to hay mắng các em, bạn hãy đứng yên đợi
và không bắt đầu cho đến khi mọi người ngồi yên, trật tự. Biện pháp đứng im
không nói gì cả được đánh giá là khá hiệu quả. Thông thường, bạn nên đợi sau khi
cả lớp im lặng (khoảng 10 giây) rồi nói bằng giọng điệu vừa đủ nghe.
Trước khi bạn bắt đầu bài học phải chắc chắn rằng tất cả các em học sinh
trong lớp chú ý nghe bạn giảng dạy. Đừng cố giảng dạy khi các em đang ồn ào và
không chú ý.

Hình minh họa
Đôi khi một số thầy cô ít kinh nghiệm nghĩ rằng cứ bắt đầu bài học thì lớp sẽ
chú ý thôi. Có thể cách này sẽ có kết quả, nhưng làm như thế các em nghĩ rằng các
bạn chấp nhận việc các em không tập trung và cho phép các em nói chuyện khi các
bạn giảng bài.
-7-


Dưới đây là một vài biện pháp giúp học sinh chú ý hơn trong giờ học Tiếng
Anh. Việc chúng ta sử dụng nó hiệu quả đến đâu còn phụ thuộc vào năng lực giảng
dạy, tính cách, sở thích, phong cách học tập và đối tượng học sinh.
Giải pháp 1: Sử dụng những trò chơi, câu chuyện kể liên quan đến nội
dung bài học kèm theo các bài hát, bài “chant” vào tiết học.
Trong chương trình đổi mới phương pháp giáo dục hiện nay có khá nhiều hình
thức tổ chức tiết học rất hay chẳng hạn như: tổ chức trò chơi, thi đua tổ, thi đua cá
nhân, thảo luận nhóm… Với các hình thức tổ chức các tiết học như vậy sẽ tạo
không khí sôi nổi, hứng thú cho học sinh. Thông qua trò chơi, thảo luận nhóm,.. sẽ
thỏa mãn được nhu cầu chơi và giao tiếp của học sinh.
Việc sử dụng các trò chơi trong dạy học Ngoại ngữ nhằm thu hút sự chú ý của
học sinh trong giờ học là một nhiệm vụ quan trọng, giáo viên cần phải biết vận
dụng sao cho phù hợp, linh hoạt cho học sinh theo hình thức ” học mà chơi, chơi
mà học”. Tuy nhiên, tùy vào từng bài cụ thể mà giáo viên có thể chọn ra trò chơi
phù hợp với nội dung bài học.

Hình minh họa - Trò chơi Slap the board
Chúng ta có thể sử dụng trò chơi “Slap the board” để kiểm tra từ vựng hoặc
củng cố kiến thức.
Ví dụ: Khi dạy Unit 13: Would you like some milk?
Giáo viên ghi các từ mới trong bài, dán lên bảng, sau đó gọi từng cặp học sinh
lên hoặc chia nhóm, giáo viên hô to từ bằng Tiếng Việt, các em học sinh sẽ đập lên
bảng vào từ bằng Tiếng Anh tương ứng, nhóm nào vỗ đúng và nhiều hơn thì sẽ
dành chiến thắng.
-8-


Ngoài ra, giáo viên còn có thể lồng ghép trò chơi Guessing game – hỏi đoán,
giáo viên cho học sinh mô tả để các em học sinh còn lại trong lớp đoán.

Hình minh họa - Slap the board and guessing game
Đối với lứa tuổi thiếu nhi, thế giới cổ tích luôn là điều hấp dẫn nhất, những
câu huyện thần bí, những chi tiết li kì cùng những nhân vật hài hước, những cô bé,
cậu bé ngoan được các bà tiên giúp đỡ… các câu chuyện cổ tích luôn có sức hút
mạnh mẽ đối với tất cả trẻ em trong độ tuổi này. Các giáo viên nên tận dụng điểm
này để rèn cho các em thói quen trật tự, chú ý trong thời gian dài. Những giờ rãnh
rỗi hay tiết sinh hoạt lớp chính là thời điểm thích hợp để giáo viên kể cho học sinh,
hay cũng có thể lồng ghép vào các tiết học nếu như câu chuyện có liên quan đến
môn học đó.

Hình minh họa - The Fairy tales
-9-


Mặt khác, giáo viên cũng có thể tổ chức cho các em đóng vai theo câu chuyện
để tạo sự phấn khích. Chắc chắn rằng quá trình này sẽ giúp các em có thói quen tập
trung chú ý trong khoảng thời gian lâu hơn. Thông qua đó, học sinh giữ được trật tự
trong suốt tiết học mà không bị gò bó hay gượng ép. Và một khi đã khắp phục được
tình trạng mất trật tự hay nói chuyện riêng trong giờ học thì học sinh sẽ trở nên
ngoan hơn, học tập tốt hơn, bài học được các em tham gia trong sự nghiêm túc.
Chính vì thế, chất lượng giáo dục sẽ ngày càng được cải thiện.
Một phần cũng không thể thiếu trong giảng dạy Tiếng Anh đó là âm nhạc. Tiết
học có chứa âm điệu cộng hưởng cùng nhạc điệu sẽ làm kích thích sự chú ý, tăng
mức độ hào hứng học cho các em. Điều này không chỉ làm các em tích cực học mà
còn tạo ra được hiệu ứng tốt cho cả thầy lẫn trò trong mỗi tiết học.

Hình minh họa - The Song and Chant
Giải pháp 2: Linh hoạt trong việc sắp xếp chỗ ngồi
Đối với bất cứ một cấp học nào, chọn chỗ ngồi trong lớp luôn được xem là
việc hết sức quan trọng đối với các em học sinh và nếu không sắp xếp một chỗ ngồi
thích hợp và khoa học cho HS thì có thể gây ra những hậu quả không mong muốn.
Bởi lẽ, điều này không chỉ ảnh hưởng đến khả năng tập trung của các em trong giờ
học mà còn kéo theo nhiều yếu tố khác nữa. Tùy theo giới tính, cá tính, năng lực
- 10 -


học tập, thể chất của học sinh, giáo viên có thể xếp chỗ ngồi cho HS theo các
hướng sau:
Xếp những em hiếu động, hay nói chuyện riêng ngồi cũng dãy với những em
trầm tính, ngoan và không nói chuyện, các bàn đều xen kẽ nam và nữ( nhằm bình
đẳng giới, hạn chế HS làm việc riêng, dung hòa cá tính hiếu động của HS nam).
Xếp theo nhóm đối tượng: học sinh giỏi ngồi một dãy, khá một dãy, trung bình
một dãy để dễ hoạt động hoặc giao bài vở theo nhóm cá thể hóa ( không để

HS biết cách chia theo nhóm trình độ để tránh gây mặc cảm cho em học chưa
tốt hoặc sự tự kiêu cho các em học giỏi)
Xếp học sinh khá, giỏi ngồi cùng các em trung bình và yếu: mục đích cho các
em học khá giỏi giúp đỡ, chia sẻ với bạn các câu hỏi, bài tập khó.
Giải pháp 3: Xây dựng nội dung bài giảng sao cho thật hấp dẫn, lôi cuốn
kết hợp lồng ghép tam ngữ trong giao tiếp(Anh-Việt-Êđê)
Nội dung học tập nhàm chán, thiếu hấp dẫn cũng là điều dễ khiến các em chán
nản, chỉ biết nói chuyện cho nhanh hết giờ. Để học sinh chú ý trong học tập, không
ồn ào gây mất trật tự thì trong các tiết học đòi hỏi ngườii giáo viên phải thật sự nỗ
lực và thật sáng tạo trong các bài giảng của mình. Nếu cứ gõ thước và nhắc “ Các
em im lặng đi, các em không được nói chuyện rồi gọi tên liên tục: Duy, Nam, Bảo”
thì sẽ không có hiệu quả mà ngược lại giáo viên sẽ mất thời gian, từ đó có thể tạo
thêm sự căng thẳng trong giờ học. Nếu giáo viên biết kết hợp các hình thức,
phương pháp dạy học một cách linh hoạt, mềm dẻo, phù hợp thì sẽ thu hút học sinh
chú ý hơn vào bài học, khắp phục được tình trạng mất trật tự, nói chuyện riêng một
cách nhanh chóng.

- 11 -


Hình 2- Vai trò của giáo viên đối với công tác dạy học
Tuy nhiên, nhiều giáo viên vẫn dạy theo kiểu cũ mà họ cho là an toàn, không
mất nhiều công sức soạn giảng cũng như hoạt động trong quá trình dạy. Điều này
dẫn tới những giờ học rập khuôn, máy móc, không có sự thay đổi hình thức, điều
này làm cho học sinh không có hứng thú học, thường là học để đối phó, kết quả học
tập không cao, học sinh luôn trong tình trạng bị động trong giờ học. Nếu giáo viên
chúng ta chưa chịu thay đổi, việc hướng tới một giờ học thu hút theo phong cách
ngoại ngữ sẽ vẫn là vấn đề nằm trên lý thuyết.
Giáo viên chúng ta vẫn còn áp dụng các PPDH, cách giải quyết vấn đề cơ bản
như là: Học sinh – Trật tự. Hoặc, giáo viên có xu hướng nói những câu mệnh lệnh
như: Stop! Be quiet!.
Ở một khía cạnh nào đó, những cách làm này vẫn nhận được kết quả là học
sinh tạm thời giữ được trật tự, nhưng sự chú ý không được lâu, theo thói quen học
sinh miệng thì trả lời: Trật tự nhưng sau đó lại nói chuyện riêng ngay được. Kết quả
là, dần dần học sinh chỉ trả lời như một thói quen mà không ý thức được mình đang
nói gì.
Một khía cạnh nữa, tôi muốn đề cập đến đó là việc sử dụng tam ngữ trong quá
trình dạy. Bản thân là người Êđê, hiểu được những trở ngại mà các em học sinh gặp
phải, nếu trường hợp các em không hiểu được nhanh nội dung bài thì tôi vẫn sử
dụng Tiếng Êđê để giải nghĩa cho các em hiểu nhưng với mức độ vừa phải, không
lạm dụng để mất đi tính chất của việc dạy học môn Tiếng Anh.
Giải pháp 4: Sử dụng dụng cụ dạy học trực quan, ứng dụng công nghệ
thông tin
Theo quan điểm của tôi, tất cả các đồ dùng dạy học như loa, đài, máy chiếu,
máy tính và các phương tiện dạy học trực quan như tranh ảnh minh họa, con rối, đồ
vật thật đều thu hút sự chú ý cho học sinh trong giờ học. Việc sử dụng đồ dùng trực
quan, ứng dụng công nghệ thông tin là phương pháp gây sự chú ý hiệu quả nhất
trong việc giảng dạy Ngoại ngữ vì phương tiện trực quan đóng vai trò quan trọng
trong việc thiết lập mối quan hệ giữa ngôn ngữ và ý nghĩa, giúp học sinh liên tưởng
- 12 -


được ý nghĩa của ngôn ngữ một cách dễ dàng, dễ khắc sâu mà không cần phiên
dịch.
Giáo cụ trực quan trong giảng dạy ngoại ngữ có thể chia làm ba loại: Giáo cụ
trực quan thị giác (giáo cụ “nhìn”): hiện vật, tranh ảnh, mô hình, bảng biểu, đồ họa;
giáo cụ trực quan thính giác (giáo cụ “nghe”): cát sét, máy ghi âm, loa; giáo cụ tổng
hợp: máy chiếu, phim ảnh, tivi, camera, phòng thực nghiệm ngôn ngữ.

Hình minh họa - Giáo cụ trực quan
Việc giảng dạy ngoại ngữ cần lấy thực tiễn làm cơ sở, sử dụng giáo cụ trực
quan một cách khoa học mới có thể đạt được hiệu quả như mong muốn. Để phát
huy vai trò của phương pháp ứng dụng giáo cụ trực quan trong giảng dạy ngoại
ngữ, cần chú ý một số vấn đề sau đây:
 Một là, giáo cụ trực quan cần lưu ý lứa tuổi của người học
 Hai là, lựa chọn giáo cụ trực quan căn cứ vào tính chất, nội dung bài giảng
 Ba là, huy động cùng lúc nhiều giác quan vào việc học
 Bốn là, phát huy hết mức vai trò chủ đạo của giáo viên
 Năm là, ứng dụng giáo cụ trực quan cần hợp lý, có giới hạn
Với các chủ đề gần gũi, xác thực với cuộc sống trong bộ sách giáo khoa Tiếng
Anh tiểu học của Bộ giáo dục từ khối 3 đến khối 5, giáo viên có thể giới thiệu từ
mới thông qua đồ dùng trực quan như hình ảnh hay đồ vật thật.
Ví dụ: Khi dạy Unit 12: What does your father do?
Giáo viên có thể sử dụng những tấm hình chụp thật và giới thiệu: My mother
is a teacher.; My father is a factory worker; My sister is a clerk; My brother is a
farmer.
- 13 -


Sau đó giáo viên có thể dùng máy chiếu để chiếu lại các đồ vật bị khuyết để
học sinh nhắc lại từ vựng trong bài đã học. Tuy nhiên không phải lúc nào cũng có
sẵn đồ vật thật ở trên trường cho nên giáo viên phải chuẩn bị tranh ảnh minh họa
kèm theo. Trong bộ sách giáo khoa Tiếng Anh mới, hình ảnh được đưa ra giới thiệu
rất sẵn, sống động và là hình ảnh thật trong cuộc sống. Vì vậy, giáo viên không
những phải biết khai thác và sử dụng một cách triệt để mà còn phải sử dụng một
cách linh hoạt và sáng tạo các tranh ảnh này. Đây là cách dạy nhẹ nhàng và dễ hiểu
nhất đối với các em học sinh Tiểu học, nó vừa khêu gợi trí tò mò, sự chú ý cũng
như mang lại hiệu quả tối đa cho mỗi tiết học Tiếng Anh.
Ví dụ: khi dạy Unit 19: What animal do you want to see?
Giáo viên có thể dùng tranh trong sách hoặc phóng to các bức tranh lên giấy
rôki và treo lên bảng nhằm tạo sự chú ý của các em, sau đó đưa ra các câu hỏi gợi
mở về chủ đề bài học.
GV: Em hãy nhìn vào tranh và cho cô biết về đặc tính của những con vật này.

HS:
Giáo viên đưa ra chủ đề: animal do you want to see
Ngoài việc sử dụng đồ dùng trực quan để giới thiệu từ mới, chủ đề hay tình
huống của bài, giáo viên có thể sử dụng lại chúng để củng cố bài học nhằm giúp
học sinh khắc sâu nội dung của bài và học sôi nổi hơn.
Ví dụ: sau khi dạy xong Unit 12, giáo viên có thể sử dụng tranh để củng cố lại
từ mới cũng như kiến thức mà các em đã học trong bài bằng cách: Giáo viên treo
các bức tranh nói về gia đình và công việc.

- 14 -


Sau đó giáo viên yêu cầu học sinh gấp sách vở lại, nhìn vào tranh và nói về
nghề nghiệp.
Ví dụ: Picture a: My mother is a nurse.
Picture b: My brother is a worker.
Qua thực tế giảng dạy trên lớp, tôi thấy các giáo cụ trực quan luôn làm cho tiết
học trở nên sôi nổi, học sinh chú ý học hơn, đạt hiệu quả cao và gây hứng thú học
hơn cho học sinh.
Giải pháp 5: Sử dụng hình thức dạy học “mở” pha chút “hài hước” trong
tiết học
Có một định lý trong giáo dục học là: Tâm trạng của học sinh khi học ảnh
hưởng rất lớn đến khả năng tiếp thu và kết quả học tập.
Trạng thái tâm lý thuận lợi cho việc học là: thoải mái, vui vẻ, phấn khích, tập
trung. Học mà vui sướng, tập trung và hăng say như là đang được chơi một trò thú
vị, là học nhanh vào nhất. Ngược lại, nếu rơi vào một trong các trạng thái như
hoang mang, sợ hãi, cáu kỉnh, bực bội, buồn chán, lơ đãng thì sẽ khó dung nạp
được kiến thức.

Ảnh minh họa
Theo bài báo nhan đề “Humour as means to make mathematics enjoyable”
của Shmakov & Hannula (Univ. of Turku, Finland):
One “fundamental principle of human behavior is that emotions energize and
organize perception, thinking and action” (Ref: Izard, The psychology of emotions,
N.Y.: Plenum Press, 1991). Research has confirmed a positive relationship between
positive affect and
achievement. It seems that
the
affective
outcomes
are
most
important during
the first school years, as
they are less likely
to be altered later on. Two
key elements of a
desired
affective
disposition
are
self-confidence
and
motivation
to
learn (Ref: Hannula, Affect
in Mathematical
Thinking and learning. In:
- 15 -


J. Maaß & W. Schlöglmann eds., New mathematics education research and
practice, 2006).
Nhiều phương pháp giáo dục cổ điển chỉ chú trọng đến phần kiến thức, nhồi
nhét kiến thức, mà không quan tâm đến tâm lý học sinh.
Các phương pháp giáo dục hiện đại đang chú ý hơn đến việc làm sao cho học
sinh “học mà phấn khởi như chơi”, nhằm tăng hiệu quả của quá trình tiếp thu kiến
thức. Một trong các phương pháp đó thậm chí có tên rất ngộ là CheCha (viết tắt của
hai chữ Cheerful và Challenging gép lại với nhau), được giới thiệu trong bài báo có
nhắc tới phía trên của Shmakov & Hannula. Phương pháp CheCha dựa trên các câu
truyện tranh ảnh hài hước và các “riddles” (bài toán đố) cũng như các trò chơi để
kích thích trí tò mò của học sinh, và tạo không khí vui vẻ trong quá trình học.
Những giáo viên luôn tìm kiếm những cách thức vui nhộn, hài hước để tạo
động lực cho học sinh. Chúng ta cũng biết rằng ở các trường Sư phạm giáo viên
thường không được lựa chọn hay được đào tạo để trở thành một “diễn viên hài. Tuy
nhiên, một không khí tích cực học tập và sự hứng thú học có mối liên hệ mật thiết
với năng lực ghi nhớ thông tin và khả năng ứng dụng kiến thức vào mọi tình huống
của cuộc sống hàng ngày (bao gồm cả các bài kiểm tra).

Hình 3 - Ý nghĩa của phương pháp dạy học “mở” và pha chút “hài hước”.
Nhưng trên hết, hài hước mang đến cảm giác thoải mái và dễ chịu, tạo sự đồng
cảm, những trải nghiệm tích cực liên quan đến cảm xúc mà học sinh chia sẻ với
giáo viên và các bạn cùng lớp.
Đôi khi những tiếng cười lại giúp "kéo" mạch lớp học trở lại như cũ. Tuy
nhiên, nhiều GV nhầm lẫn giữa những câu hỏi hài hước với lời châm chọc. Trong
khi sự hóm hỉnh có thể nhanh chóng "hóa giải" tình huống sư phạm thì lời mỉa mai
có thể làm tổn thường mối quan hệ của giáo viên với học sinh. Hãy dùng việc đánh
giá tối ưu nhất nhưng giáo viên phải có sự tinh tế bởi lẽ, điều học trò này nghĩ là
vui thì có thể học trò kia lại nhận thấy bị xúc phạm. Do đó, giáo viên phải thực sự
- 16 -


khéo léo khi sử dụng biện pháp này.
Việc đưa ra phương pháp học “mở” sẽ giúp học sinh tự tin hơn khi thể hiện
bản thân, vừa phát huy được cá tính của học sinh, vừa giúp cho giáo viên nhận diện
đối tượng học sinh, thông qua đó có sự linh hoạt hơn trong phương pháp dạy để đạt
hiệu quả tốt nhất trong môn học.
IV. Tính mới của giải pháp:
Tính cho đến thời điểm hiện tại( đã gần hết học kì) thì tình hình học tập của
các em đã có nhiều tiến triển, hầu hết các em đã chú ý trong giờ học hơn, khắc sâu
kiến thức hơn cũng như lĩnh hội kiến thức một cách linh hoạt hơn, phát huy được
tính tích cực trong giờ học Tiếng Anh.

Hình 4 - Các hình thức dạy học
Có một bộ phận không nhỏ giáo viên vẫn lựa chọn các hình thức truyền thống
để duy trì sự chú ý của học sinh với tâm lý e ngại sự thay đổi, sợ mất thời gian khi
thực hiện. Giáo viên có thể đạt được một phần nào đó mục đích của mình nhưng lại
không thỏa mãn được yêu cầu đổi mới cho chính môn học mà mình đang dạy,
không kích thích được sự năng động, sáng tạo của học sinh và trên hết chưa tạo ra
được không khí một giờ học ngoại ngữ đặc trưng. Đây là một trong những hạn chế
được đưa ra từ thực tế dạy học.
Bản thân tôi nhận thấy rằng, phần lớn các giờ học Tiếng Anh ở trường Tiểu
học vẫn tồn tại kiểu duy trì sự tập trung, chú ý của học sinh bằng các biện pháp
truyền thống như: giáo viên gõ thước lên bảng hoặc lên bàn, quát to.
Đối với giáo viên, cứ nhắc nhở học sinh mãi như vậy mà học sinh không thay
đổi nhiều, dẫn tới nhiều lúc mất kiểm soát mà quát mắng học sinh, bản thân mình
cũng ức chế mà học sinh thì căng thẳng. Quan trọng hơn cả là không khí lớp học
chưa thể hiện được phong cách của một giờ ngoại ngữ đặc trưng, do vậy chưa thu
hút được sự chú ý học tập của học sinh hiệu quả. Giáo viên vẫn chưa có thói quen
sử dụng một câu chuyện hay một trò chơi làm chủ đề xuyên suốt một giờ học. Các
hoạt động trong bài sẽ được thiết kế theo mạch của câu chuyện để tạo ra sự lôi
cuốn.
- 17 -


V. Hiệu quả SKKN:
Qua quá trình giảng dạy thực tế ở hai lớp 4B, 4C và sau khi áp dụng các biện
pháp thu hút sự chú ý của các em học sinh lớp 4 người Êđê vào các tiết học Tiếng
Anh, tôi thấy có hiệu quả rõ rệt:
Thứ nhất, tâm sinh lý của các em về môn học đã có sự thay đổi rõ rệt, các em
học sinh ở hai lớp này đã chú ý hơn trong giờ học, đa số các em đã thể hiện tinh
thần học tập một cách chủ động hơn. Những giáo viên kiên trì áp dụng các biện
pháp này đều thu được các kết quả khả quan. Bản thân người giáo viên như tôi cũng linh
hoạt hơn trong việc sử dụng các phương pháp giảng dạy, do đó, chất lượng giảng dạy cũng được
nâng cao hơn rất nhiều.

Lớp

Chưa áp dụng các phương
Đã áp dụng các phương pháp thu
pháp thu hút sự chú ý
hút sự chú ý
( cuối kì I 2018-2019)
(giữa kì II 2018-2019)
4B: 20 HS
T
H
C
T
H
C
MĐHT
SL % SL % SL
%
SL
%
SL
%
SL %
3 15 16 80
1
5
6
30
14
70
0
0
4C: 18 HS
T
H
C
T
H
C
MĐHT
SL % SL % SL
%
SL
%
SL
%
SL %
1 5.6 16 89
1
5.4
3 16.7 15 83.3 0
0
Hình 5 - Kết quả thực nghiệm thu được
Thứ hai, điều quan trọng hơn cả là kết quả học tập của các em tiến bộ theo
từng tuần. Các biện pháp này có sức hấp dẫn, lôi cuốn học sinh, gây hứng thú cũng
như thu hút sự chú ý của các em trong mỗi tiết học, giúp cho giáo viên truyền đạt
kiến thức một cách hiệu quả.
Phần thứ ba: PHẦN KẾT LUẬN
I. Kết luận
Thông qua sáng kiến này, các giáo viên ngoại ngữ đã tạo được không khí thoải
mái, giờ học nhẹ nhàng kích thích sự sáng tạo và phát triển tư duy cho học sinh,
nhưng thực tế giảng dạy cho thấy vô hình họ bị chi phối bởi cách đứng lớp của giáo
viên cơ bản về tác phong, thái độ. Bên cạnh đó, ngay bản thân nhiều giáo viên
ngoại ngữ cũng không tự thay đổi mình, không ít người cho rằng thân thiện quá sẽ
khiến học sinh “nhờn mặt”, dẫn đến tiếng nói của giáo viên không còn có uy nữa.
Quan sát thái độ của thầy cô giáo người nước ngoài trong khi giảng dạy, chúng ta
có thể thấy rằng họ luôn khen ngợi, động viên học sinh ngay cả khi học sinh nói
hoặc làm chưa đúng, luôn sử dụng óc hài hước để giải quyết vấn đề trong giờ học
để tạo cảm giác thân thiện, cởi mở với học sinh khiến học sinh không sợ học. Điều
này không phải giáo viên người Việt nào dạy Tiếng Anh cũng làm được.

- 18 -


Bài học kinh nghiệm: Khi sử dụng các biện pháp thu hút sự chú ý trong giờ
học Tiếng Anh, giáo viên cần lưu ý một số điểm sau:
Sử dụng các biện pháp phải lưu ý tới thời gian.
Sử dụng các hình thức, trò chơi phải đúng mục đích, tình huống, lôgic của
từng bài dạy cụ thể, phải phù hợp với khả năng của giáo viên, môi trường học tập,
sinh hoạt thực tế của học sinh.
Tránh lạm dụng Tiếng Êđê khi sử dụng tam ngữ trong giảng dạy bộ môn
Tiếng Anh.
II. Kiến nghị
Sau khi thực hiện đề tài vài kinh nghiệm thu hút sự chú ý trong giờ học Tiếng
Anh đối với các em học sinh lớp 4 người Êđê, tôi xin kính đề xuất một vài ý kiến
như sau:
Về phía Nhà trường: Cần đầu tư hơn nữa các trang thiết bị dạy học môn Tiếng
Anh như phòng học chuyên dụng, tạo điều kiện áp dụng và phát triển các biện
pháp trên vào công tác dạy học để các em học sinh có đam mê học loại ngôn ngữ
thứ ba này hơn.
Về phía giáo viên: cần áp dụng linh hoạt các phương pháp để nâng cao hơn
nữa chất lượng đại trà môn Tiếng Anh.
Về phía thôn buôn và chính quyền địa phương: Phối hợp tốt cùng nhà trường,
địa phương và cha mẹ học sinh trong giáo dục ý thức về tầm quan trọng của việc
theo học TA Tiểu học, duy trì sĩ số cũng như động viên, khuyến khích các em theo
học cho đúng, đủ chương trình đề ra.
Về phía Cha mẹ học sinh: Thay đổi nhận thức về môn Tiếng Anh, quan tâm
hơn đến việc mua sắm sách vở, duy trì hoạt động đến trường của con em mình.
Trên đây là một số kinh nghiệm cũng như quan điểm của cá nhân tôi trong quá
trình giảng dạy, đặc biệt là một số phương pháp thu hút sự chú ý trong giờ học
Tiếng Anh. Vì sáng kiến có phạm vi rộng nhưng thời gian nghiên cứu còn hạn chế
nên chưa minh họa hết được nội dung cũng như các khía cạnh của đề tài. Rất mong
đồng nghiệp cùng hội đồng nghiệm thu sáng kiến góp ý thêm để sáng kiến của tôi
được hoàn thiện và áp dụng rộng rãi hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Ea Bông, ngày 25 tháng 03 năm 2019

NGƯỜI THỰC HIỆN
H’ Bé Ya Hđơk
- 19 -


NHẬN XÉT HĐKH TRƯỜNG TIỂU HỌC EA BÔNG
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
P. CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG CHẤM SÁNG KIẾN

Trần Năng Hiếu
NHẬN XÉT CỦA HĐKH HUYỆN KRÔNG ANA
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………

- 20 -


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Super Mind của Cambridge.
2. Giáo trình, Phần mềm SmartStart level 4.
3. Sách giáo khoa, bài tập Tiếng Anh 4 - Nhà xuất bản Giáo Dục Việt
Nam( Macmillan Education).
4. Sách giáo viên Tiếng Anh 4 - Nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam( Macmillan
Education).
5. Trang chủ Đề án ngoại ngữ Quốc gia.
6. Trang web học Tiếng Anh cho trẻ em Little Fox.
7. Kênh ChuChu TV, Super Simple Song, PinkFong TV.
8. Trang Web isl.worksheet.com.
9. Từ điển Êđê - Việt của Ban tuyên giáo Tỉnh Đăk lăk.

- 21 -



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×