Tải bản đầy đủ

Một số giải pháp trong việc vận động học sinh dân tộc thiểu số lớp 4 đi học chuyên cần

MỤC LỤC
STT Nội dung

Trang

Phần thứ nhất: Mở đầu
1

Đặt vấn đề

2

Mục tiêu

3

Phần thứ hai: Giải quyết vấn đề

2

Cơ sở lí luận


4

Thực trạng vấn đề

5

Các giải pháp để giải quyết vấn đề

7

Tính mới của giải pháp

13

Hiệu quả của sáng kiến

13

Phần thứ ba: Kết luận, kiến nghị
3

Kết luận

14

Kiến nghị

13

Danh mục các cụm từ viết tắt

15

1


Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề
Như chúng ta đã biết, trong những năm gần đây tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số đạt
thành tích cao trong các kì thi tuyển đại học, cao đẳng, trung cấp tương đối cao. Đã có
những gương mặt nổi trội trong các cuộc thi trên toàn quốc. Điều đó cho thấy, chất lượng
giáo dục học sinh dân tộc thiểu số trên cả nước được quan tâm, đầu tư rõ rệt. Bên cạnh
các mặt mạnh vẫn còn tình trạng học sinh nghỉ học, bỏ học dẫn đến chất lượng giáo dục ở
nhiều đơn vị chưa đạt kết quả mong muốn.
Trong các thành quả mà học sinh dân tộc thiểu số cả nước mang lại không thể thiếu
thành quả của học sinh người dân tộc Ê –đê. Mặc dù, các em còn nhiều khó khăn về ngôn
ngữ tiếng Việt, về vật chất nhưng các em đã không ngừng cố gắng học tập để vươn lên đạt
kết quả cao trong mỗi kì thi. Nhiều học sinh đã thành đạt trở về cống hiến cho quê hương,
bản làng. Ngoài ra, các em còn mang lại niềm tự hào cho quê hương, đất nước. Bên niềm
vui, niềm tự hào thì cũng có đôi chút nỗi lo lắng đối với số ít học sinh chưa có ý thức học
tập để vươn xa. Các em bỏ học, nghỉ học đi làm thuê hay theo cha mẹ đi nương rẫy. Nhiều
học sinh lớn tuổi không chịu đến trường. Các em đam mê chơi game, internet,... Một số
em tiếp thu còn hạn chế nên e ngại đi học. Nhà ở xa trường đi lại vất vả làm các em nản
chí. Bố mẹ chưa thực sự quan tâm đến việc học của con. Vì thế, các em đi học không
chuyên cần.
Bởi vậy “Huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, vận động trẻ em tàn tật, khuyết tật,
trẻ em đã bỏ học đến trường, thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục và chống mù chữ trong
cộng đồng.” là nhiệm vụ của tất cả các trường Tiểu học trên cả nước nói chung và trường
Tiểu học Tây Phong nói riêng. Hằng năm, nhà trường đã thực hiện tốt các cuộc điều tra,
phổ cập theo dõi tỉ lệ học sinh đến trường. Có kế hoạch vận động học sinh quá tuổi, bỏ
học đi học lại từ đầu năm học. Năm học 2018 – 2019, nhà trường đã và đang thực hiện
chuẩn phổ cập giáo dục Tiểu học mức độ 3. Để đạt được những tiêu chuẩn mà Bộ giáo
dục và Đào tạo nêu rõ tại Khoản 2, Điều 3, Điều lệ trường Tiểu học, cán bộ giáo viên nhà
trường đã nỗ lực hết mình thực hiện nhiệm vụ. Tỉ lệ học sinh bỏ học đã giảm nhưng học
2


sinh nghỉ học dài ngày, nghỉ học các buổi chiều vẫn diễn ra. Các em học buổi sáng, buổi
chiều nghỉ đi chăn bò, lượm điều, hái cà… hay nghỉ liên tục mấy ngày theo cha mẹ đi làm
ăn xa. Vì thế, các em tiếp thu bài chậm, chất lượng dạy – học không được nâng cao.
Chính vì các lí do đó mà giáo viên cần phải vận động học sinh đi học chuyên cần.
Vậy làm thế nào để có thể “vận động học sinh đi học chuyên cần, đầy đủ” lại là
một cái khó không phải ai cũng làm được. Với khoảng thời gian được công tác tại điểm
trường buôn Cuê, bản thân tôi đã từng thực hiện công việc “vận động” học sinh. Tôi nhận
thấy, đây là một công việc hết sức quan trọng trong công tác chủ nhiệm và giảng dạy. Học
sinh đi học đủ mới là động lực giảng dạy cho giáo viên. Học sinh tiếp thu bài tốt, chất
lượng nâng cao, giáo viên có tinh thần giảng dạy. Vì vậy, giáo viên chúng ta cần chú trọng
công tác vận động học sinh để giảm tối đa việc học sinh bỏ học, nghỉ học dài ngày, nghỉ
học các buổi chiều.
Qua tìm hiểu cũng như chủ nhiệm học sinh những năm qua, tôi mạnh dạn đưa ra
“Một số giải pháp trong việc vận động học sinh dân tộc thiểu số lớp 4 đi học chuyên cần”.
Đối tượng nghiên cứu là “Vấn đề đi học chuyên cần của học sinh dân tộc thiểu số lớp 4”.
Đề tài nghiên cứu tại trường Tiểu học Tây Phong, phân hiệu Buôn Cuê từ năm học 2016 2017 đến nay.Với đề tài này, bản thân tôi hi vọng ít nhiều đóng góp những kinh nghiệm
cho đồng nghiệp, đơn vị trong việc giải quyết những tình huống sư phạm trong công tác
chủ nhiệm những năm học tới.
II. Mục tiêu
Trên cơ sở trải nghiệm thực tế những năm học qua, việc vận động đúng, thuyết
phục sẽ mang lại hiệu quả rất cao trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Bên cạnh đó,
tạo mối quan hệ gần gũi, thân thiện giữa học sinh với cô, thầy, bạn bè; giữa phụ huynh với
nhà trường; giảm tối đa tỉ lệ học sinh bỏ học, nghỉ học dài ngày. Học sinh, phụ huynh
nhận biết sâu sắc về việc học. Trẻ yêu thích đến trường, cha mẹ quan tâm, lo lắng cái chữ
cho con em mình. Cuối cùng là nâng cao chất lượng giáo dục.
Phần thứ hai: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lí luận
3


Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến chính sách dân tộc.
Trong Hiến pháp, cũng như các văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng đều khẳng định chính
sách đối với đồng bào các dân tộc thiểu số. Trong đó, chính sách về giáo dục – đào tạo là
một chính sách quan trọng để nâng cao dân trí và đời sống vật chất, tinh thần cho đồng
bào các dân tộc thiểu số trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Quyết định 775/QĐ-TTg 2018 phê duyệt Chương trình mục tiêu giáo dục cùng núi,
vùng dân tộc thiểu số, vùng khó khăn giai đoạn 2016 – 2020. Chương trình đưa ra các
nhiệm vụ rõ ràng. Hỗ trợ trang thiết bị, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, mở rộng các hạng
mục thiết yếu của các trường phổ thông dân tộc bán trú và các trường, điểm trường tiểu
học, trung học cơ sở công lập có học sinh bán trú tại các vùng có điều kiện kinh tế xã hội
đặc biệt khó khăn từ nguồn vốn sự nghiệp của ngân sách trung ương và địa phương; hỗ
trợ hoạt động giám sát, đánh giá, triển khai Chương trình . Hỗ trợ mua sắm bổ sung trang
thiết bị dạy học tối thiểu, bàn ghế học sinh cho 1.070 trường phổ thông dân tộc bán trú và
các trường, điểm trường tiểu học, trung học cơ sở công lập có học sinh bán trú tại các
vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Hỗ trợ sửa chữa, cải tạo, mở rộng, xây
dựng mới các hạng mục công trình, nâng cấp cơ sở vật chất hiện có đảm bảo tiêu chuẩn
quốc gia về yêu cầu thiết kế trường học cho 760 nhà ăn, nhà bếp, 760 khu ở nội trú của
trường phổ thông dân tộc bán trú và các trường, điểm trường tiểu học, trung học cơ sở
công lập có học sinh bán trú tại các vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.
Công văn số 3741/BGDĐT- GDDT ngày 24 tháng 8 năm 2018 của Bộ giáo dục và
Đào tạo về việc thực hiện nhiệm vụ năm học 2018 – 2019 đối với giáo dục dân tộc. Thực
hiện có hiệu quả các chính sách đã ban hành đối với giáo dục dân tộc; tiếp tục nghiên cứu,
đề xuất, điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện các chính sách hỗ trợ người dạy, người học và
cơ sở giáo dục ở vùng DTTS, MN. Nâng cao chất lượng giáo dục ở vùng DTTS, MN.
Với đồng bào dân tộc thiểu số, sự quan tâm của Đảng và Nhà nước không chỉ thể
hiện qua các Nghị định, chương trình, dự án mà còn bằng các chiến lược lâu dài như
Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm
2013. Ngày 14/ 3/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 402/QĐ – TTg

4


phê duyệt Đề án phát triển đội ngũ, cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số
trong tình hình mới.
Căn cứ vào các văn bản quy định về chính sách nâng cao chất lượng giáo dục
HSDTTS, tôi nhận thấy mục đích Nhà nước đưa ra là phải xóa mù chữ cho học sinh, nâng
cao chất lượng giáo dục, phát triển đội ngũ nhân lực người dân tộc. Vì thế, học sinh buộc
phải đi học chuyên cần, tiếp thu tốt. Giáo viên làm tốt công tác vận động học sinh đến
trường.
II. Thực trạng vấn đề
Đối tượng học sinh dân tộc thiểu số là đối tượng được toàn Đảng, toàn dân quan
tâm. Vì thế, việc vận động học sinh dân tộc đi học chuyên cần có những thuận lợi, khó
khăn riêng.
Thứ nhất về thuận lợi, những năm qua nhà trường đã nhận được sự quan tâm của
UBND huyện, Phòng Giáo dục và Đào tạo, các ban ngành đầu tư xây dựng cơ sở vật chất
khang trang. Trường đã có nhiều phòng học mới, đảm bảo diện tích phục vụ dạy học. Tại
điểm trường Buôn Cuê, nhà vệ sinh được xây dựng sạch sẽ, có khu vệ sinh nam nữ riêng
biệt. Hệ thống bờ rào kiên cố đảm bảo an ninh trường học. Thiết bị dạy học được trang bị
đầy đủ, phù hợp lứa tuổi học sinh. Về phía nhà trường, Ban giám hiệu luôn quan tâm đến
chất lượng học tập của học sinh. Thường xuyên kiểm tra, theo dõi kết quả ở các lớp ít
nhất 1 lần/ tháng. Đội ngũ giáo viên trẻ, nhiệt huyết với nghề, nhiệt tình trong công tác
giảng dạy, chủ nhiệm. Thực hiện tốt các phong trào do ngành, nhà trường tổ chức. Các
cuộc thi dành cho GV, HS đều có kết quả cao. Mỗi tháng, giáo viên được tham gia tập
huấn, sinh hoạt chuyên môn ít nhất 1 lần/ tháng để học hỏi, nâng cao tay nghề. Mỗi một
giáo viên đều có ý thức tự học, tự rèn để tích lũy kiến thức, đổi mới giảng dạy. Các vướng
mắc trong giảng dạy, chủ nhiệm đều được nhà trường, chuyên môn giải quyết kịp thời,
nhanh chóng. Nhà trường, giáo viên phát huy tốt tinh thần phục vụ nhân dân, lắng nghe ý
kiến từ đồng nghiệp, phụ huynh, học sinh để làm tốt nhiệm vụ. Giáo viên trong trường
luôn giúp đỡ, đoàn kết với nhau. Đa số học sinh trường Tiểu học Tây Phong nói chung và
phân hiệu buôn Cuê nói riêng ngoan, chăm chỉ học tập. Công tác duy trì sĩ số HSDTTS

5


các năm đạt 98% trở lên, chất lượng giáo dục đạt 95- 98%. Tỉ lệ HSDTTS đi học chuyên
cần đạt 98% - 100%.
Thứ hai về khó khăn, những năm qua nhà trường đã không ngừng đổi mới công tác
quản lí và giảng dạy nhưng tỉ lệ học sinh bỏ học, nghỉ học vẫn diễn ra. Tuy tỉ lệ khoảng 12% nhưng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giáo dục. Đối tượng bỏ học, nghỉ học hầu hết
là HSDTTS ở điểm trường buôn Cuê. Do gia đình các em sống xa phân hiệu, có những hộ
ở xa trường khoảng 3 đến 4km, khó khăn cho việc đi lại. Các em chủ yếu đi bộ đến
trường nên sáng đi học, chiều nghỉ là chuyện có thể xảy ra. Một số con đường trong buôn,
rẫy là đường đất, mùa mưa bất lợi cho việc đi lại. Ngoài ra, kinh tế gia đình học sinh còn
gặp nhiều khó khăn, nương rẫy ít sống chủ yếu làm thuê, làm mướn. Vì vậy mà học sinh
có thể nghỉ học cả tháng, cả tuần theo cha mẹ đi làm thuê ở xa. Một số học sinh lớn tuổi
bỏ học theo anh chị đi làm công nhân ở Sài Gòn. Số ít thì ở nhà chăn bò, trông em hay
chơi game. Nhìn chung, bố mẹ của các em chưa thật sự quan tâm đến việc học của con.
Họ đang nặng về lo cơm, áo, kinh tế gia đình. Một số học sinh chưa ham học, thích kiếm
tiền, chơi bời.
Qua nhiều năm giảng dạy tại điểm trường buôn Cuê, tôi nhận thấy, học sinh vẫn
phải lo kinh tế gia đình. Tình trạng nghỉ học, bỏ học diễn ra theo mùa vụ. Nhiều học sinh
theo cha mẹ đi làm thuê xa hoặc ở nhà trông em để bố mẹ đi làm. Sau dịp Tết Nguyên
Đán, tình trạng nghỉ học kéo dài của các em diễn ra khắp các khối lớp.
Theo dõi hai năm học gần đây, tôi thấy tỉ lệ học sinh nghỉ học ở khối lớp 4 điểm
trường buôn Cuê như sau:

Tình trạng

Học sinh nghỉ học dài ngày
Học sinh nghỉ học theo buổi

Năm học
2016 - 2017
2017 - 2018

TSHS
20
17

2016 - 2017
2017 - 2018

20
17

Học kì I
TS
%
3
15
2
11,7
3
3

15
17,6

III. Các giải pháp để giải quyết vấn đề
III.1. Giải pháp 1: Tìm hiểu nguyên nhân nghỉ học của học sinh.
6

Học kì 2
TS
%
2
10
1
5,9
2
2

10
11,7


Nghỉ học là một trong những nguyên nhân đẩy lùi chất lượng giáo dục, phát sinh
các tệ nạn xã hội ảnh hưởng rất lớn đến nhân cách, sức khỏe con người. Vậy làm thế nào
để học sinh đi học chuyên cần, không bỏ học lại là vai trò rất lớn của người GVCN.
Trước hết, bản thân tôi tìm hiểu qua GVCN cũ: Trao đổi với GVCN cũ về tình hình
học tập, đặc điểm, tâm lí của học sinh trong năm học qua. Ghi chép các điểm nổi bật của
từng học sinh vào sổ tay. Từ đó, nắm được tính cách, tâm sinh lí của các em. Để có biện
pháp rèn luyện, giáo dục. Tránh làm tổn thương đến học sinh. Chẳng hạn, với những học
sinh cá biệt nên nhẹ nhàng dùng lời khen nhiều trong các tiết học. Với học sinh nhút nhát,
GVCN nên linh động tâm sự, trò chuyện hoặc tham gia chơi các trò chơi cùng các em sau
giờ giải lao.
Tiếp đến, tìm hiểu qua CMHS: Gặp gỡ cha mẹ học sinh để tìm hiểu về thói quen
sinh hoạt, tâm lí ở nhà của các em, đặc biệt là những học sinh hay nghỉ học. Vào từng gia
đình thăm hỏi hoàn cảnh kinh tế, cuộc sống của phụ huynh học sinh. Nắm bắt tình hình
thực tế để có kế hoạch giúp đỡ kịp thời. Với những học sinh quá khó khăn, cần đề xuất về
trường hỗ trợ các vật dụng thiết yếu phục vụ học tập như: sách, vở, cặp, áo quần… xin
hoặc phát động học sinh, giáo viên quyên góp quần áo cũ, sách cũ giúp đỡ học sinh.
Chẳng hạn, năm học 2016 – 2017 kết quả tìm hiểu như sau:
TT
1

Họ và tên
Y Khôi Bdap

Nguyên nhân nghỉ học
Gia đình đông con, kinh tế khó khăn, bố mẹ chủ yếu
làm thuê kiếm sống. Bản thân học sinh sức khỏe
yếu.

2

Y Chon Byă

Gia đình thuộc diện cận nghèo, đông con, thu nhập
thấp. Bố mẹ ít quan tâm đến việc học của con.

3

Y Gin Byă

Quá tuổi, bố mẹ không quan tâm ở với ông bà ngoại.
Kinh tế gia đình khó khăn

Cuối cùng, tìm hiểu qua học sinh trong lớp: Nói chuyện, tâm sự, hỏi han một số
học sinh về các bạn trong lớp. Tình hình học tập trong lớp như thế nào? Có hay phát biểu
ý kiến không ? Có nói chuyện, chọc ghẹo người khác không ?.... Hoặc ở nhà, các bạn
7


thường làm gì ? Nếu nghỉ học, các bạn sẽ làm gì ? ….Xoay quanh các câu hỏi liên quan
đến đối tượng học sinh hay nghỉ học. Từ đó, GVCN có cách ứng xử khéo léo trong lời
nói, chú ý hơn trong cách tổ chức dạy học.
Bằng cái tâm của nghề giáo, GVCN phải làm hết mình trách nhiệm, dành tình cảm,
sự quan tâm cho các học sinh và cha mẹ học sinh. Dành thời gian của mình tham gia các
ngày lễ, Tết, các công việc quan trọng như cưới, ma chay….diễn ra trong gia đình các em
để nắm rõ các phong tục, các hoạt động tạo niềm vui, động lực cho phụ huynh. Với việc
làm này, phụ huynh, học sinh có thể nhìn nhận được phần nào tầm quan trọng của việc
học, việc kiếm con chữ để cải thiện cuộc sống.
III.2. Giải pháp 2: Đổi mới hình thức và phương pháp dạy học.
Với các hình thức, phương pháp dạy học truyền thống có thể làm học sinh nhàm
chán với việc học. Vì vậy, đổi mới là việc hết sức quan trọng. Đổi mới trên tinh thần vận
dụng linh hoạt, khoa học các thế mạnh của phương pháp cũ. Nhằm thu hút, lôi cuốn học
sinh vào các giờ học. Học sinh hứng thú đến trường, tiếp thu một cách chủ động và khắc
sâu kiến thức.
Giáo viên thành lập các đội, nhóm học theo năng khiếu, đam mê để rèn luyện vào
các tiết luyện buổi chiều. Ví dụ, nhóm Toán gồm những học sinh thích toán, nhóm văn
gồm những học sinh yêu thích môn Tập làm văn, nhóm chữ đẹp gồm những học sinh
thích rèn chữ. Tất cả học sinh trong lớp tự tin với khả năng của mình. Cuối tháng, vào các
giờ tăng cường tiếng Việt và tăng cường Toán, GV tổ chức thi giữa các nhóm. Kết quả
được tất cả học sinh đánh giá, bình chọn. Phần thưởng được trao trước lớp. Ngoài ra, tổ
chức các cuộc thi nhỏ trong lớp như: kể chuyện, đọc sách, rung chuông vàng, giao lưu
tiếng Việt,… Yêu cầu học sinh chuẩn bị nội dung, kiến thức trong sách thi diễn vào một
buổi chiều cuối tuần trong tháng. GV sử dụng máy chiếu, loa, trang phục cho học sinh
thực hiện. Trong các tiết dạy, GV sử dụng trình chiếu các hình ảnh, câu chuyện có tính
giáo dục cao với học sinh. GV hướng dẫn HS trang trí lớp học thân thiện thể hiện nét đẹp
văn hóa của người đồng bào.
Ngoài ra, GV phân nhiệm vụ cho những học sinh có năng khiếu kèm cặp, giúp đỡ
học sinh còn hạn chế. GV thường xuyên tâm sự, nói chuyện với các em về hoàn cảnh gia
8


đình, tình hình học tập để học sinh mạnh dạn trao đổi các vướng mắc. Trong các tiết dạy
thường xuyên sử dụng các trò chơi học tập: đố bạn, tiếp sức…thảo luận nhóm 2, 3, 4 về
các nội dung trong bài.
Chẳng hạn, trong hoạt động 2, tìm hiểu nhà rông bài “Một số dân tộc ở Tây
Nguyên” Địa lí lớp 4 GV trình chiếu các hình ảnh về nhà rông để học sinh hiểu hơn.

Hình ảnh nhà rông ở Tây Nguyên minh họa bài Địa lí 4
Trong tiết tập đọc bài “Cánh diều tuổi thơ”- Tiếng Việt 4, tập 1, hoạt động “tìm
hiểu bài” tổ chức hỏi – đáp trả lời câu hỏi “Tác giả đã chọn những chi tiết nào để tả cánh
diều ?”. Còn câu hỏi “Trò chơi thả diều đem lại cho trẻ em những niềm vui lớn và những
ước mơ đẹp như thế nào ?”, tổ thức thảo luận nhóm đôi. GV tổ chức với hình thức như thế
giúp HS hỗ trợ nhau cùng học tập, HS không cảm thấy mình lẻ loi trong giờ học.
Thay đổi các hình thức, trò chơi thường xuyên trong các tiết học sẽ giúp học sinh
hào hứng hơn.
III.3. Giải pháp 3: Thực hiện tốt công tác phối kết hợp để thu hút học sinh đến
trường.
Phối kết hợp là sự kết hợp khéo léo giữa việc này với việc kia, người này với
người kia nhằm đem lại hiệu quả cao trong công việc. Việc phối kết hợp rất quan trọng
trong công tác tuyền truyền, vận động. Phối hợp đúng cách, đúng đối tượng sẽ đạt kết quả
cao. Để thực hiện tốt công tác phối kết hợp, bản thân tôi đã có sự kết hợp chặt chẽ trong
đơn vị cũng như ngoài đơn vị về công tác vận động học sinh.
9


1. Phối hợp với Ban giám hiệu nhà trường
Giáo viên tham mưu thành lập Ban vận động học sinh đi học chuyên cần gồm: lãnh
đạo nhà trường, GVCN, tổng phụ trách Đội, bí thư Đoàn, phụ trách phổ cập giáo dục.
Tham mưu hỗ trợ vật chất cho học sinh như: quần áo, sách vở, cặp…Năm học
2017 -2018, nhà trường đã hỗ trợ tiền may quần áo cho học sinh thuộc diện khó khăn
150.000đ/HS. Huy động các cá nhân, tập thể ủng hộ sách cũ, vở… cho HSDTTS mỗi học
sinh 1 bộ sách giáo khoa, 10 quyển vở và 10 cái bút. Ngoài ra, GV còn đề nghị nhà trường
khen thưởng học sinh đi học chuyên cần. Năm học 2017 – 2018, một số học sinh được
khen thưởng về chuyên cần như sau:
TT

Họ và tên

Lớp

1

Y RiAm Byă

4C

2

Y Chon Niê

4C

3

H May Nga Byă

4C

2. Phối kết hợp với Đoàn thanh niên và tổng phụ trách Đội
Tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp để tạo hứng thú giúp học sinh đến trường.
Trong những năm qua, nhân dịp các ngày lễ, Đoàn thanh niên, Đội đã tổ chức các hoạt
động như:
- Trò chơi dân gian: kẹp bóng, cô Tấm nhặt đậu, bao bố, đi xe đạp chậm, cướp cờ,
….nội dung các trò chơi phù hợp với từng khối lớp. Học sinh hào hứng với các trò chơi.

Hình ảnh tổ chức trò chơi dân gian

10


- Thi rung chuông vàng: Giữa các khối lớp. Nhằm cũng cố kiến thức cho HS và tạo
cảm giác thích thú khi đến trường.

Hình ảnh tổ chức thi Rung chuông vàng
- Giao lưu tiếng Việt dành cho HSDTTS: Tổ chức thi viết chữ, kiến thức t iếng Việt,
năng khiếu, hùng biện…Kết quả năm học 2016 – 2017, cấp trường có những học sinh sau đạt
giải.

TT

Họ và tên

Giải

1

H Lĩn Dia Byă

Nhất

2

Bùi Trần Hiểu Lam

Nhì

3

Y Phi Lip Bkrông

Ba

- Tổ chức các trò chơi, đọc sách báo ngoài trời, diễn kịch theo sách vào các tiết
hoạt động tập thể.

Một số hình ảnh thi Diễn kịch theo sách

11


Cùng với Tổng phụ trách đội, tổ chức các phong trào thi đua: Kế hoạch nhỏ, Áo
trắng tặng bạn, Tết sum vầy, Nuôi heo đất…rèn cho học sinh kĩ năng tự giác, biết dành
tình yêu cho các bạn. Kết quả một số phong trào Đội năm 2017 – 2018 của lớp 4C như sau:
TT

Phong trào

Học kì I

Học kì II

1

Nuôi heo đất

70.000đ

100.000đ

2

Kế hoạch nhỏ

17kg giấy vụn

150 vỏ lon bia

Số tiền quyên góp được GV đề xuất GV Tổng phụ trách trích một phần tặng quà
cho HS khó khăn vào cuối năm học.
3. Phối hợp với Ban đại diện cha mẹ học sinh
Ban đại diện cha mẹ học sinh là những người được tất cả phụ huynh bầu chọn có
uy tín, trách nhiệm cao. Họ đại diện cho tất cả phụ huynh trong lớp truyền tải các ý kiến
hay làm những việc liên quan đến lớp học. Với những học sinh nghỉ học, có dấu hiệu bỏ
học, ban đại diện sẽ đến gặp gia đình học sinh hỏi rõ tình hình, nguyên nhân. Từ đó, cùng
với GVCN có kế hoạch vận động. Ngoài ra, tuyên truyền trong cuộc họp CMHS về vai
trò của việc học cũng như sự ảnh hưởng sức khoẻ từ lao động sớm, hướng dẫn cách quản
lí con. Các cuộc họp phụ huynh với tinh thần là gặp gỡ, trao đổi, không nhắc nhở các vấn
đề yếu kém hoặc việc đóng góp cá khoản trước phụ huynh. GV phải tạo được cảm giác
vui vẻ, thân thiện trong các cuộc họp. Năm học 2017 - 2018, ban đại diện đã đến nhà vận
động học sinh Y Chiêu Ê ban, Y Yô Nai Byă, H Nhi Ênuôl nghỉ học dài ngày đi học lại.
4. Phối hợp với giáo viên bộ môn
Phối hợp với GV bộ môn để theo dõi, đôn đốc HS đi học chuyên cần. Nếu HS
vắng thì GV bộ môn cần liên hệ ngay với GVCN để kịp thời tìm hiểu nguyên nhân. Mặt
khác, GVCN phối hợp với GV bộ môn hỗ trợ HS trong quá trình tiếp thu kiến thức. GV
bộ môn tăng cường các trò chơi dạy học chú trọng rèn kĩ năng đọc, viết cho học sinh. Họ
có thể giảm thời gian dạy các môn của mình 10 -15 phút để phụ đạo học sinh khó khăn
biết đọc, làm toán cơ bản; tổ chức thi hát, vẽ tranh, kể chuyện về các chủ đề theo đội,
nhóm trong lớp học. Với môn Mĩ thuật, tổ chức cho học sinh trang trí lớp học, góc học
của nhóm theo ý tưởng.
12


5. Phối hợp với trưởng buôn
Trưởng buôn là người đứng đầu trong một buôn. Họ là người có uy tín nhất buôn,
được mọi người trong buôn ủy thác các trách nhiệm quan trọng. Chính vì thế mà để giúp
học sinh trong buôn đi học chuyên cần, GVCN cần đến nhà gặp trưởng buôn trao đổi tình
hình học sinh trong lớp; thông báo cho trưởng buôn những học sinh hay nghỉ học, có dấu
hiệu bỏ học; nhờ trưởng buôn, tuyên truyền đến phụ huynh vai trò của việc học, trách
nhiệm của cha mẹ trong các buổi họp buôn. Với những học sinh nghỉ học dài ngày, có dấu
hiệu bỏ học, trưởng buôn đến từng nhà học sinh tìm hiểu lí do, ý kiến của cha mẹ; trao
đổi, động viên học sinh đi học lại. GV tham mưu với trưởng buôn tạo điều kiện giúp đỡ
những HS có hoàn cảnh khó khăn. Năm học 2017 – 2018, đã vận động được Y Thuôk
Byă, Y Chiêu Êban hay nghỉ học, có chiều hướng bỏ học đi học lại.
Bằng những việc làm trên, bản thân tôi đã giúp học sinh có ý thức hơn trong việc
học. Học sinh tự giác đi học lại, bố mẹ quan tâm nhiều hơn đến việc học của con. Chất
lượng học tập của các em được nâng cao hơn. Các em biết đọc 100%, làm tốt các phép
tính đơn giản; biết yêu thương bạn bè, quý trọng thầy cô.
IV. Tính mới của giải pháp:
Trước đây, làm chủ nhiệm tại phân hiệu buôn Cuê bản thân tôi luôn tự mình đến
nhà học sinh để vận động; tự mình kèm cặp học sinh trong lớp, trang trí lớp học theo kiểu
mình thích; luôn lo lắng chất lượng của các em nhưng chỉ chú trọng vào dạy kiến thức
trong sách giáo khoa; chưa dám thực hiện việc dạy kĩ năng, kiến thức bên ngoài. Giờ đây,
bản thân tôi đã mạnh dạn thực hiện các hoạt động dạy học ngay tại lớp; biết phối hợp với
nhà trường, các tổ chức trong việc vận động học sinh; tự tin đổi mới các hình thức và
phương pháp dạy học. Với các việc làm trên, tôi thấy học sinh vui khi đi học, mong muốn
được đi học nhiều hơn ở nhà. Hiện nay, trường tôi tổ chức dạy học 9 buổi/tuần các em ít
bỏ buổi hơn, không có trường hợp nghỉ học dài ngày ở nhà vào dịp mùa.
V. Hiệu quả của sáng kiến
Các giải pháp bản thân tôi đưa ra ở trên đã đem lại kết quả mong đợi. Không chỉ,
giảm thời gian cho giáo viên phải đến nhà học sinh như trước đây mà giáo viên yên tâm
giảng dạy, học sinh yêu thích tới trường, cha mẹ quan tâm con cái. Không có học sinh bỏ
13


học đi Sài Gòn làm thuê, HS nghỉ học ở nhà vào ngày mùa ít hơn so với các năm trước.
Sau hai năm áp dụng các giải pháp tôi nhận lại được kết quả như sau:

Tình trạng

Năm học

Học sinh nghỉ học dài ngày

Học sinh nghỉ học theo buổi

TSHS

Học kì I

Học kì 2

TS

TS

%

%

2016 - 2017

20

2

10

1

5

2017 - 2018

17

1

5,9

0

0

2016 - 2017

20

2

10

1

5

2017 - 2018

17

2

11,7

0

0

Phần thứ ba: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
I. Kết luận
Đề tài đưa ra nhằm mục đích đẩy lùi tình trạng học sinh nghỉ học, bỏ học vào
dịpTết, mùa cà, tiêu, điều; hạn chế tối đa thời gian vận động cho giáo viên, học sinh và
phụ huynh chủ động trong việc học. Phụ huynh quan tâm, hiểu rõ hơn tầm quan trọng của
nghề giáo. Bên cạnh đó, đề tài còn đem lại tình cảm, sự gắn kết tinh thần giữa nhà trường,
giáo viên đến với phụ huynh, học sinh trong buôn.
Việc áp dụng các giải pháp được ra trong đề tài sẽ là nguồn động lực rất lớn cho
phụ huynh, học sinh ở buôn; xóa đi những rào cản về ngôn ngữ, phong tục….giữa người
Kinh với người Ê – đê, tạo sự thân thiện, hòa hợp trong đời sống và giáo dục.
II. Kiến nghị
1. Giáo viên chủ nhiệm
- Phải là những người có tinh thần thiện nguyện cao, có khả năng tham gia các
phong trào tình nguyện.
- Tình yêu trẻ, yêu nghề mãnh liệt.
2. Nhà trường

14


Khuyến khích hơn nữa các phong trào dành cho HSDTTS.
Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân trong công tác vận động học sinh dân
tộc thiểu số lớp 4 đi học chuyên cần tại phân hiệu Buôn Cuê, trường Tiểu học Tây Phong.
Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của đồng nghiệp để những kinh nghiệm trên
được đầy đủ và hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!

Băng Adrênh, ngày 20 tháng 3 năm 2019
Người viết:

Nguyễn Thị Thanh Mến

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

STT

Cụm từ

Viết tắt
15


1

Giáo viên chủ nhiệm

GVCN

2

Hoạt động tập thể

HĐTT

3

Học sinh dân tộc thiểu số

HSDTTS

4

Dân tộc thiểu số

DTTS

5

Miền núi

MN

6

CMHS

Cha mẹ học sinh

7

GV

Giáo viên

8

HS

Học sinh

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN

16


17


UBND HUYỆN KRÔNG ANA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài:

MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG VIỆC
VẬN ĐỘNG HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ LỚP 4
ĐI HỌC CHUYÊN CẦN

Lĩnh vực: Chủ nhiệm
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Thanh Mến
Đơn vị: Trường Tiểu học Tây Phong

Băng Adrênh, tháng 3 năm 2019
18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×