Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN

Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN

MỤC LỤC
NỘI DUNG

TRANG

Mục lục

1

A. Mở đầu

2

I. Đặt vấn đề

2

II. Mục đích nghiên cứu


3

B. Giải quyết vấn đề

4

I. Cơ sở lí luận của vấn đề

4

II. Thực trạng vấn đề nghiên cứu.

5

III. Các giải pháp đã tiến hành

9

IV. Tính mới của giải pháp

22

V. Hiệu quả của sáng kiến

23

C. Kết luận, kiến nghị

23

Tài liệu tham khảo

26

Nhận xét của hội đồng chấm sáng kiến cấp trường – cấp huyện

27

Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng

1


Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN

A. MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề
Trong đời sống xã hội, nói đến những lĩnh vực có vai trò quan trọng đối
với sự phát triển của quốc gia, dân tộc thì không thể không kể đến Giáo dục –
Đào tạo. Bởi Giáo dục góp phần nâng cao dân trí, góp phần bảo vệ chế độ chính
trị quốc gia, cung cấp nguồn nhân lực có trình độ góp phần phát triển kinh tế và
đào tạo bồi dưỡng nhân tài, xây dựng đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn,
tay nghề cao. Chính vì những lí do đó mà Giáo dục được xác định là quốc sách
hàng đầu đối với sự phát tiển đất nước.
Trong hệ thống Giáo dục quốc dân, Giáo dục Tiểu học được xác định là
bậc học hết sức quan trọng - bậc học “nền móng” để xây dựng một nền tảng
vững chắc cho sự phát triển về đạo đức, nhân cách, tư duy cũng như kĩ năng của
trẻ. Với mục tiêu: “Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ
sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất,
thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở” (khoản
2 Điều 27 Luật Giáo dục năm 2005), Giáo dục Tiểu học đóng vai trò hết sức
quan trọng trong việc hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp cũng
như những kĩ năng cần thiết cho cuộc sống của trẻ.
Trong chương trình Giáo dục Tiểu học được thống nhất trên toàn quốc thì
Tiếng Việt và Toán là nền tảng cho các môn học khác. Bên cạnh môn Toán giúp
học sinh phát triển các năng lực trí tuệ : phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa,
khái quát hóa, … rèn luyện cho các em tư duy logic, tính cẩn thận, chính xác, kỉ
luật, tính sáng tạo, óc thẩm mĩ thì môn Tiếng Việt cũng không kém phần quan
trọng. Bởi môn Tiếng Việt giúp học sinh hình thành và phát triển tư duy ngôn
ngữ. Thông qua môn Tiếng Việt, học sinh sẽ học được cách giao tiếp, truyền đạt
tư tưởng, cảm xúc của mình một cách chính xác và biểu cảm. Cụ thể, môn Tiếng
Việt ở Tiểu học:
Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe,
nói, đọc, viết) để hoạt động và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa
tuổi.
Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng

2


Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN

Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác của
tư duy.
Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những
hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt
Nam và nước ngoài.
Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong
sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.
Đối với học sinh lớp 5, chương trình các môn học nói chung và môn
Tiếng Việt nói riêng được thực hiện với mục tiêu cao hơn, hoàn thiện hơn. Ở
giai đoạn này, các em được cung cấp những khái niệm cơ bản về một số đơn vị
ngôn ngữ và quy tắc sử dụng Tiếng Việt làm nền móng cho việc phát triển kĩ
năng. Cụ thể: ngoài việc rèn luyện các kĩ năng về nghe, nói, đọc, viết các em
còn được học các bài về kiến thức Tiếng Việt (từ vựng, ngữ pháp, văn bản,
phong cách, …)
Một mạch kiến thức mà bản thân tôi nghĩ rằng không thể không nhắc đến
khi muốn học sinh của mình dùng từ, đặt câu một cách chính xác đó là kiến thức
về Luyện từ và câu. Bởi Luyện từ và câu có nhiệm vụ cung cấp kiến thức sơ
giản về từ và câu, giúp học sinh hoàn thiện kĩ năng sử dụng Tiếng Việt hướng tới
phát triển ngôn ngữ văn hóa và trí tuệ. Một bộ phận kiến thức không thể thiếu
nhằm giúp đạt được mục tiêu Luyện từ và câu đó chính là quan hệ từ. Quan hệ
từ được biết đến như là chất keo dính nối kết các từ ngữ, các câu văn, đoạn văn
lại với nhau một cách chặt chẽ và có ý nghĩa hơn.
Sử dụng tốt các quan hệ từ học sinh sẽ hoàn thiện hơn cho mình kĩ năng
dùng từ đặt câu, giúp các em học tốt hơn ở các môn học khác và làm nền tảng
giao tiếp trong cuộc sống.
Hiểu được tầm quan trọng của môn Tiếng Việt cũng như tầm quan trọng
của quan hệ từ, do đó tôi quyết định chọn đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh
lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ”.
II. Mục đích (mục tiêu) nghiên cứu
Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng

3


Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN

- Giúp học sinh khắc phục một số lỗi thường gặp, hướng tới việc học tốt
và sử dụng thành thạo các quan hệ từ cũng như cặp quan hệ từ.
- Giúp học sinh vận dụng tốt kiến thức về quan hệ từ để dùng từ, đặt câu
chính xác phù hợp với từng tình huống, hoàn cảnh.
- Trang bị cho các em công cụ vững chắc để học tốt các môn học khác,
học tốt ở các cấp học cao hơn và kiến thức cơ bản để bước vào cuộc sống.
- Hình thành ở các em niềm say mê, hứng thú đối với kiến thức Luyện từ
và câu, thói quen học tập tự giác, tích cực.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lí luận của vấn đề
Theo từ điển Tiếng Việt, từ là đơn vị sẵn có trong ngôn ngữ, là đơn vị nhỏ
nhất có cấu tạo ổn định, mang nghĩa hoàn chỉnh. Câu là một đơn vị ngữ pháp
gồm một hay nhiều từ có liên kết ngữ pháp với nhau. Từ đó có thể thấy, từ và
câu là hai yếu tố vô cùng quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ. Việc nắm vững
kiến thức về từ và câu góp phần quyết định việc đạt được mục tiêu trong dạy
kiến thức Luyện từ và câu.
Để dạy tốt mạch kiến thức về quan hệ từ cũng như muốn giúp các em
khắc phục khó khăn trong vấn đề lựa chọn chính xác quan hệ từ cần hiểu rõ các
yếu tố sau:
Quan hệ từ là những từ biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa các từ, các cụm từ,
giữa các bộ phận câu hoặc giữa các vế câu với nhau. Chúng không thể đảm
nhiệm được vai trò thành tố chính lẫn vai trò thành tố phụ trong cụm từ, chúng
cũng không thể đảm nhiệm được chức năng của các thành phần câu. Chúng chỉ
thực hiện được chức năng liên kết các từ, các cụm từ hay các câu với nhau. Vì
thế chúng còn được gọi là các từ nối, kết từ hoặc từ quan hệ.
Cặp quan hệ từ là những quan hệ từ dùng để nối các vế câu trong một câu.
Có bốn loại cặp quan hệ từ thường gặp là:
+ Cặp quan hệ từ biểu thị quan hệ nguyên nhân – kết quả.
+ Cặp quan hệ từ biểu thị quan hệ giả thiết – kết quả, điều kiện – kết quả.
+ Cặp quan hệ từ biểu thị quan hệ tương phản.
Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng

4


Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN

+ Cặp quan hệ từ biểu thị quan hệ tăng tiến.
Trong chương trình lớp 5, quan hệ từ được liên kết chặt chẽ với phần liên
kết câu bằng cách sử dụng từ ngữ nối. Nếu không sử dụng thành thạo quan hệ từ
thì học sinh rất khó để tiếp cận với kiến thức về liên kết câu như đã nêu trên.
Có thể thấy quan hệ từ là yếu tố giữ vai trò rất quan trọng trong chương
trình Tiếng Việt ở Tiểu học, bởi các yếu tố này sẽ hỗ trợ các em trong việc thực
hiện nối các từ, các cụm từ, các vế câu trong một câu hay nối các đoạn văn với
nhau. Qua đó giúp các em học tốt môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác.
Không những vậy, việc học tốt quan hệ từ còn giúp các em biết cách giao tiếp,
cư xử với mọi người trong cuộc sống hằng ngày một cách lịch sự, nhã nhặn hơn.
Chính vì vậy, việc rèn luyện cho học sinh kĩ năng sử dụng thành thạo các
quan hệ từ, cặp quan hệ từ là một nhiệm vụ cần thiết, cấp bách và mang tính lâu
dài.
II. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
Chúng ta không thể đưa ra hướng giải quyết bất cứ một vấn đề nào nếu
như chúng ta không nắm rõ được thực trạng của vấn đề và nguyên nhân dẫn đến
thực trạng đó. Khi chưa áp dụng biện pháp của sáng kiến kinh nghiệm, tôi đã tổ
chức khảo sát chất lượng học sinh lớp 5D sau khi dạy xong kiến thức về quan hệ
từ (giữa học kì II năm học 2016 -2017) nhìn chung kết quả còn rất thấp. Kết quả
khảo sát như sau:
Tổng số học sinh là 24 em
Số lượng
Tỉ lệ
Tổng số bài hoàn thành tốt
4
16,66%
Tổng số bài hoàn thành
13
54,17%
Tổng số bài chưa hoàn thành
7
29,17%
Với kết quả như vậy, bản thân tôi rất trăn trở, suy nghĩ, tự tìm hiểu những
thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên.
1. Thuận lợi
* Từ mô hình VNEN
Với mô hình VNEN, cấu trúc một bài học được chia thành ba phần: hoạt
động cơ bản (giúp học sinh trải nghiệm, tìm tòi, khám phá, phát hiện kiến thức
mới thông qua các hoạt động), hoạt động thực hành (giúp học sinh áp dụng kiến
Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng

5


Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN

thức đã học rèn luyện kĩ năng) và hoạt động ứng dụng (giúp học sinh vận dụng
kiến thức đã học vào thực tế cùng với sự giúp đỡ của cha mẹ và người lớn).
Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy việc áp dụng mô hình VNEN
đem lại một số thuận lợi nhất định trong việc giúp học sinh rèn kĩ năng sử dụng
quan hệ từ, như sau:
- Mỗi bài học trong sách hướng dẫn học Tiếng Việt đều có phần mục tiêu
rõ ràng để học sinh xác định được mình nắm được bao nhiêu phần kiến thức; có
kênh hình, kênh chữ rõ ràng. Mỗi hoạt động đều có logo để học sinh tự giác biết
mình phải làm gì.
- Học tập theo mô hình VNEN, học sinh phát huy được tính tự học, tự
giác, tự quản, sáng tạo, sự tự tin và hứng thú trong học tập.
- Với phương pháp dạy học mới này các em phát triển được kĩ năng hợp
tác, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tự đánh giá lẫn nhau trong giờ học.
* Từ Nhà trường
- Được sự quan tâm của chính quyền địa phương, được sự giúp đỡ của
lãnh đạo nhà trường lớp học đầy đủ đồ dùng dạy học, phòng học khang trang
rộng rãi, số lượng học sinh trên mỗi lớp đảm bảo phù hợp với điều kiện dạy mô
hình mới.
- Nhà trường thường xuyên tổ chức chuyên đề, tập huấn rút kinh nghiệm
theo mô hình mới.
* Từ giáo viên
- Giáo viên giảng dạy một cách nhiệt tình, tận tâm, luôn cố gắng tìm tòi,
sáng tạo những phương pháp giảng dạy sao cho học sinh có thể tiếp thu bài một
cách hiệu quả nhất.
- Luôn học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp.
* Từ phụ huynh học sinh
- Đa số phụ huynh đều quan tâm đến việc học của con em mình, luôn
động viên, nhắc nhở con em trong việc học.
- Thường xuyên trao đổi với giáo viên về các vấn đề liên quan đến việc
học cũng tâm lí của học sinh.
Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng

6


Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN

- Tạo điều kiện cho giáo viên hiểu học sinh hơn và đồng thời tạo ra mối
liên hệ giữa phụ huynh với giáo viên và Nhà trường.
2. Khó khăn
* Từ mô hình VNEN
- Mô hình VNEN đòi hỏi học sinh phải có khả năng giao tiếp tốt, tuy
nhiên học sinh của chúng tôi là học sinh nông thôn, các em ít có cơ hội tiếp xúc
bên ngoài nên kĩ năng giao tiếp của các em còn hạn chế.
- Mô hình này đòi hỏi các em phải tự tìm tòi, khám phá kiến thức nhưng
khả năng phân tích của các em còn hạn chế nên một số em có dấu hiệu “theo
không kịp” dẫn đến chán nản hoặc lười làm việc.
* Từ giáo viên
- Giáo viên tiếp xúc với chương trình VNEN lớp 5 chưa nhiều nên còn
gặp nhiều khó khăn, bỡ ngỡ trong quá trình giảng dạy.
- Giáo viên còn thiếu kinh nghiệm trong dạy học mô hình mới.
* Từ học sinh
- Ở lứa tuổi này, tâm lí của học sinh vẫn còn ham chơi, ít tập trung nên
khó khăn trong việc học thuộc các quan hệ từ và vận dụng một cách linh hoạt
các quan hệ từ vào những trường hợp cụ thể. Đôi khi các em học thuộc nhưng
lại rất mau quên.
- Việc học ngồi theo nhóm cả buổi học tạo điều kiện cho một bộ phận học
sinh nói chuyện riêng.
- Làm việc dưới sự điều khiển của nhóm trưởng khiến một số em ỷ lại vào
nhóm trưởng không tập trung học.
* Từ phụ huynh
- Một số phụ huynh có hoàn cảnh gia đình khó khăn, phải đi làm ăn xa
nên ít có thời gian quan tâm đến việc học của con em dẫn đến tình trạng giao
hẳn việc học của con mình cho giáo viên.
- Sự tiếp cận của phụ huynh đối với mô hình mới còn nhiều hạn chế nên
việc giúp đỡ con em khi ở nhà còn gặp khó khăn.
3. Nguyên nhân
Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng

7


Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN

Qua quá trình tìm hiểu cũng như trong thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy
việc học sinh gặp khó khăn trong việc sử dụng quan hệ từ là do những nguyên
nhân sau:
* Nguyên nhân khách quan
- Trong chương trình Tiểu học thì đến lớp 5 học sinh mới được làm quen
với quan hệ từ . Phân phối chương trình cho phần này rất ít mà yêu cầu học sinh
nắm được nhiều quan hệ từ và cặp quan hệ từ cũng như sử dụng chúng một cách
linh hoạt thì tương đối khó khăn đối với các em.
- Học sinh Tiểu học thì có đặc điểm nhanh nhớ nhưng cũng rất mau quên.
Các bài tập được phân bố không tập trung, xen lẫn nhiều nội dung trong một tiết
học dễ khiến học sinh nhầm lẫn nội dung này với nội dung kia.
- Một số học sinh có khả năng tiếp thu chưa tốt lại rơi những gia đình có
hoàn cảnh khó khăn, phụ huynh ít có thời gian quan tâm đến việc học của con
nên giao hết việc học của con cho giáo viên.
- Trong thực tế giảng dạy cho thấy tình trạng học sinh tiếp thu kiến thức
còn thụ động, ít chịu khó suy nghĩ, tìm tòi cách học để nhớ lâu kiến thức.
- Học sinh chưa thuộc kỹ các quan hệ từ.
- Học sinh chưa thành thạo khi xác định mối quan hệ mà mỗi quan hệ từ
biểu thị.
- Học sinh nhầm lẫn mối quan hệ giữa quan hệ từ này với quan hệ từ
khác.
* Nguyên nhân chủ quan
- Một số học sinh có khả năng tiếp thu chậm, kĩ năng phân tích chưa tốt
nên không theo kịp các bạn dẫn đến chán và lười học.
- Tư duy của lứa tuổi Tiểu học chịu ảnh hưởng nhiều bởi trực quan sinh
động nhưng yếu tố quan hệ từ đòi hỏi các em phải nắm được thuộc tính bên
trong nó dẫn đến các em hay nhầm lẫn khi sử dụng.
- Khả năng tập trung ghi nhớ của học sinh chưa vững nên dễ nhớ nhưng
rất nhanh quên.

Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng

8


Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN

Với những thuận lợi và khó khăn nêu trên, bản thân tôi nhận thấy việc
giúp học sinh học thuộc các quan hệ từ và sử dụng chúng một cách linh hoạt,
phù hợp với hoàn cảnh nhất định là vô cùng quan trọng. Qua thời gian tìm tòi,
học hỏi và đúc rút kinh nghiệm, tôi đã tìm được một số giải pháp giúp giải quyết
vấn đề nêu trên.
III. Các giải pháp đã tiến hành
Qua nghiên cứu, tìm hiểu về nội dung chương trình Tiếng Việt lớp 5 cùng
với những khó khăn mà học sinh mắc phải. Qua kết quả khảo sát đầu năm cũng
như tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến việc học sinh sử dụng sai quan hệ từ và xác
định sai mối quan hệ mà quan hệ từ đó biểu thị, tôi đưa ra một số giải pháp
nhằm giải quyết khó khăn, giúp học sinh lớp 5 hạn chế việc nhầm lẫn trong xác
định quan hệ từ như sau:
- Giải pháp 1: Giúp học sinh rèn kĩ năng sử dụng quan hệ từ.
- Giải pháp 2: Giúp học sinh học tốt quan hệ từ thông qua trò chơi
1. Giải pháp 1: Giúp học sinh rèn kĩ năng sử dụng quan hệ từ.
2.1 Hình thành khái niệm quan hệ từ
Muốn học sinh sử dụng quan hệ từ đúng thì việc giúp các em nắm chắc
khái niệm “quan hệ từ” là nhiệm vụ vô cùng quan trọng.
Để thực hiện nhiệm vụ trên, khi hình thành kiến thức cho học sinh về
quan hệ từ ở hoạt động 2 bài 11C: Môi trường quanh ta, tôi cho học sinh phân
tích thật kĩ và cho biết từ in đậm dùng để làm gì trong các ví dụ sau:
Ví dụ:
Rừng say ngay và ấm nóng.
Ma Văn Kháng
Tiếng hót dìu dặt của Họa Mi giục các loài chim dạo lên những khúc
nhạc tưng bừng, ca ngợi núi sông đang đổi mới.
Võ Quảng
Hoa mai trổ từng chùm thưa thớt, không đơm đặc như hoa đào. Nhưng
cành mai uyển chuyển hơn cành đào.
Theo Mùa xuân và phong tục Việt Nam
Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng

9


Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN

Bước 1: Tôi giao việc cho tất cả các cá nhân đọc, phân tích ví dụ và tìm
câu trả lời.
Bước 2: Cá nhân trao đổi với bạn bên cạnh về câu trả lời của mình.
Bước 3: Nhóm trưởng tổ chức cho các bạn thống nhất ý kiến trong nhóm
rồi báo cáo với giáo viên.
Bước 4: Giáo viên tổ chức cho học sinh chia sẻ câu trả lời của mình trước
lớp: Các từ in đậm dùng để nối các từ ngữ và biểu thị quan hệ giữa các từ ngữ
được nối.
Tôi yêu cầu học sinh thảo luận và cho biết các từ in đậm đó dùng để nối
các từ ngữ nào với nhau?
Sau khi thảo luận, tôi cho học sinh chia sẻ câu trả lời và chốt lại câu trả lời
đúng:
Từ và nối từ say ngay với từ ấm nóng
Từ của nối từ tiếng hót với từ Họa Mi
Từ như nối từ hoa mai với hoa đào
Từ nhưng: trường hợp này khác những trường hợp trước, tôi giúp học
sinh phân tích: từ nhưng đứng ở đầu một câu nên nó không nối các từ ngữ với
nhau mà nó nối nội dung của hai câu văn với nhau.
Từ những ví dụ trên, học sinh dễ dàng rút ra được khái niệm về quan hệ
từ.
2.2 Một số lỗi học sinh thường mắc phải
Muốn giải quyết được một vấn đề nào đó thì bắt buộc chúng ta phải tìm
hiểu được vấn đề phát sinh từ đâu, như vậy chúng ta mới có hướng giải quyết
đúng đắn và hiệu quả. Đối với vấn đề học sinh học tập chưa tốt phần quan hệ từ,
căn cứ vào các bài làm của học sinh, tôi thống kê được những lỗi thông thường
mà học sinh mắc phải như sau:
Thứ nhất: Lỗi dùng sai quan hệ từ hoặc cặp quan hệ từ.
Thứ hai: Lỗi dùng quan hệ từ không thích hợp về nghĩa.
Thứ ba: Lỗi dùng thừa quan hệ từ.
Thứ tư: Lỗi dùng thiếu quan hệ từ.
Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng

10


Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN

Thứ năm: Lỗi dùng sai quan hệ từ trong viết văn.
2.3 Cách khắc phục lỗi khi sử dụng quan hệ từ
a) Lỗi dùng sai quan hệ từ hoặc cặp quan hệ từ.

Hình 1 & 2: Bài làm của học sinh - mắc lỗi sử dụng sai quan hệ từ, cặp quan
hệ từ

Từ những ví dụ trên ta có thể thấy nguyên nhân dẫn đến học sinh làm bài
sai là vì chưa thuộc quan hệ từ.
Học sinh muốn làm đúng các bài tập về quan hệ từ thì trước hết các em
cần phải thuộc tên các quan hệ từ và các cặp quan hệ từ.
Vì vậy, để giúp học sinh ghi nhớ các quan hệ từ một cách bền vững tôi
dành thời gian cho các cá nhân học thuộc tại lớp, đọc cho bạn bên cạnh nghe, thi
đọc thuộc trong nhóm, tổ chức cho các nhóm thi đọc thuộc các quan hệ từ và
nêu tên các mối quan hệ mà chúng biểu thị. Ngoài ra, tôi còn yêu cầu các em

Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng

11


Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN

kiểm tra bài nhau vào đầu giờ mỗi buổi học. Đây cũng là một biện pháp giúp
học sinh rèn luyện thêm trí nhớ của mình.
Đối với những học sinh khó khăn trong học tập, khả năng ghi nhớ chậm,
tôi áp dụng cách cho các em lập bảng các quan hệ từ vào những tờ giấy bìa cứng
sau đó kẹp vào bìa cuốn vở Tiếng Việt, khi nào quên có thể lấy ra xem. Trong
trường hợp các em thay vở thì chỉ cần lấy tờ giấy đó kẹp sang vở mới tránh mất
công phải viết lại nhiều lần.
Với cách làm như trên, tôi nhận thấy học sinh đã có thể ghi nhớ tên của
các quan hệ từ và cặp quan hệ từ một cách bền vững.
b) Lỗi dùng quan hệ từ không thích hợp về nghĩa

Hình 3: Bài làm của học sinh - mắc lỗi dùng quan hệ từ không thích hợp về nghĩa

Ví dụ trên cho ta thấy học sinh dùng đúng quan hệ từ nhưng lại chọn vế
câu chưa phù hợp với quan hệ từ. Nguyên nhân là vì các em chưa chú ý đến
nghĩa của câu văn và chưa nắm rõ mối quan hệ mà mỗi quan hệ từ biểu thị.
Với ví dụ trên ta có thể thấy việc học sinh hiểu được mối quan hệ mà mỗi
quan hệ từ biểu thị và sử dụng chúng vào đúng trường hợp, đúng ngữ cảnh cũng
không kém phần quan trọng. Do đó, tôi dẫn dắt học sinh tìm hiểu mối quan hệ
mà một số quan hệ từ thường gặp như sau:
Trước khi kết thúc hoạt động cơ bản của bài 20C tiết 1 hướng dẫn học
Tiếng Việt 5: Hoạt động tập thể. Học sinh đọc xong phần ghi nhớ về các quan hệ
Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng

12


Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN

từ và cặp quan hệ từ dùng để nối các vế câu trong câu ghép. Tôi giúp học sinh
diễn giải về nghĩa của một số từ ngữ hay một số mối quan hệ mà quan hệ từ đó
biểu thị để khi nối các vế trong câu ghép học sinh biết các phân tích và sử dụng
quan hệ từ chính xác hơn. Chẳng hạn:
Quan hệ từ “của” dùng để nối các từ ngữ chỉ đặc điểm, tính chất, hoạt
động, … của bản thân sự vật đó hay nói cách khác quan hệ từ “của” dùng để
biểu thị quan hệ “sở hữu”.
Quan hệ từ “nhưng” dùng để biểu thị quan hệ “tương phản” nghĩa là hai
sự vật, hiện tượng … có tính chất trái ngược, đối chọi nhau rõ rệt.
Quan hệ từ “rồi” dùng để nối các từ ngữ chỉ đặc điểm, tính chất, hoạt
động, … theo một trình tự “trước – sau”.
Đối với các cặp quan hệ từ, sách hướng dẫn học Tiếng Việt đã cung cấp
cho các em một số cặp quan hệ từ và mối quan hệ mà chúng biểu thị. Tuy nhiên
để giúp học sinh sử dụng thành thạo và làm tốt một số bài tập chẳng hạn : Chọn
quan hệ từ thích hợp điền vào chỗ chấm – dạng bài tập này rất hay dùng trong
nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ.
Đối với dạng bài tập này, học sinh phải phân tích được nội dung, ý nghĩa
của các vế câu thì mới có thể lựa chọn được quan hệ từ thích hợp. Do đó, tôi
hướng dẫn đồng thời cung cấp cho học sinh một số khái niệm như sau:
Cặp quan hệ từ : Vì … nên … ; Do … nên … ; Nhờ … mà … ( biểu thị
quan hệ nguyên nhân – kết quả)
+ Nguyên nhân là nhân tố tạo ra kết quả hoặc làm phát sinh sự việc đang
nói đến.
+ Kết quả là cái do một hay nhiều hiện tượng khác gọi là nguyên nhân
gây ra, tạo ra trong quan hệ với các hiện tượng ấy.
Cặp quan hệ từ : Nếu… thì … ; Hễ … thì … ( biểu thị quan hệ giả thiết –
kết quả, điều kiện – kết quả)
+ Giả thiết: điều coi như là có thật, nêu ra để phân tích, suy luận.
+ Điều kiện là cái cần phải có để cho một cái khác có thể có hoặc có thể
xảy ra.
Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng

13


Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN

+ Kết quả là cái do một hay nhiều hiện tượng khác gọi là nguyên nhân
gây ra, tạo ra trong quan hệ với các hiện tượng ấy.
Cặp quan hệ từ: Tuy… nhưng … ; Mặc dù … nhưng … ( biểu thị quan hệ
tương phản).
+ Tương phản là hai sự vật, sự việc, hiện tượng, … có tính chất trái ngược
nhau, đối chọi nhau rõ rệt.
Cặp quan hệ từ: Không những… mà còn … ; Không chỉ … mà còn …
( biểu thị quan hệ tăng tiến)
+ Tăng tiến nghĩa là tiến hơn, vượt hơn so với trước một cách rõ rệt.
Với những khái niệm này, tôi cũng yêu cầu học sinh học thuộc và cũng
lưu trữ vào sổ tay tài liệu của mình như đã làm ở mục a phần 2.3a.
Ngoài ra, tôi giúp học sinh phân tích mẫu một số ví dụ:
Tôi cho học sinh làm phiếu bài tập bổ sung:
PHIẾU BÀI TẬP
Tìm và nêu tác dụng của quan hệ từ trong các câu sau bằng cách thực
hiện các yêu cầu bên dưới:
- Hoa hồng lung linh và rực rỡ.
- Bạn Lan học giỏi và hát hay.
- Trần Quốc Khái là người truyền cho dân ta nghề thêu và nghề làm lọng.
Yêu cầu 1: Quan hệ từ trong các câu trên là quan hệ từ ….
Yêu cầu 2: Gạch chân dưới những từ ngữ được nối với nhau bởi quan hệ
từ vừa tìm được.
Yêu cầu 3: Chọn từ trong ngặc đơn điền vào chỗ chấm:
Yêu cầu 4: Các từ ngữ vừa gạch chân chỉ đặc điểm, tính chất, hoạt động
của ( cùng một sự vật, nhân vật; hai hay nhiều sự vật, nhân vật)
………………………
Các nhóm thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Cá nhân đọc, phân tích ví dụ và tìm câu trả lời.
Bước 2: Cá nhân trao đổi với bạn bên cạnh về câu trả lời của mình.

Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng

14


Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN

Bước 3: Nhóm trưởng tổ chức cho các bạn thống nhất ý kiến trong nhóm
rồi báo cáo với giáo viên.
Bước 4: Giáo viên tổ chức cho học sinh chia sẻ câu trả lời của mình trước
lớp.
Sau khi học sinh chia sẻ nội dung câu hỏi, chốt lại ý kiến đúng, tôi giúp
học sinh đi đến kết luận về tác dụng của quan hệ từ và bằng cách đặt câu hỏi:
Qua các ví dụ trên, em nào có thể cho biết quan hệ từ “và” có tác dụng gì?
Học sinh trả lời: quan hệ từ “và” dùng để nối các từ ngữ chỉ đặc điểm,
tính chất, hoạt động … của cùng một sự vật.
Giáo viên bổ sung thêm cho học sinh: mối quan hệ mà từ “và” biểu thị
được gọi là quan hệ “liên hợp”.
Với cách làm như vậy, học sinh sẽ biết cách phân tích, lựa chọn quan hệ
từ, cặp quan hệ từ phù hợp với nghĩa của câu. Đồng thời giúp học sinh sử dụng
từ ngữ đúng hơn trong những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau.
c) Lỗi dùng thừa quan hệ từ.
Ví dụ: Khi thực hiện hoạt động 3 trang 18 của bài 11C: Môi trường quanh ta
Đề bài yêu cầu: Đặt câu với mỗi quan hệ từ: và, nhưng, của. Có học sinh
đặt câu như sau:

Hình 4: Bài làm của học sinh - mắc lỗi dùng thừa quan hệ từ

Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng

15


Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN

Với việc đặt câu như vậy, tôi gọi học sinh khác nhận xét. Kết quả chỉ được
một vài em phát hiện ra lỗi của bạn là dùng “thừa quan hệ từ”. Điều đó chứng tỏ
việc sử dụng thừa quan hệ từ còn khá phổ biến trong học sinh.
Để khắc phục lỗi vừa nêu, tôi hướng dẫn học sinh như sau:
Bước 1: Tôi cho hai câu văn sau:
+ Bạn Mai, bạn Lan và bạn Hồng đều là những học sinh giỏi.
+ Bạn Mai và bạn Lan và bạn Hồng đều là những học sinh giỏi.
Bước 2: Tôi yêu cầu học sinh nhận xét: Trong hai câu văn trên, cách sử
dụng từ ngữ có gì khác nhau?


Học sinh trả lời: trong hai câu văn trên, cách sử dụng từ ngữ khác

nhau ở chỗ: một câu dùng một “dấu phẩy” và một từ “và” còn câu kia dùng hai
từ “và”.
Khi đọc lên, ta thấy câu nào hay hơn? Vì sao?


Học sinh trả lời: Khi đọc lên, ta thấy câu thứ nhất hay hơn. Vì ở câu

thứ nhất, lời văn mạch lạc, rõ ràng; câu thứ hai dùng hai từ và làm cho câu văn
lặp từ ngữ dẫn đến không hay.


Giáo viên chốt lại câu trả lời đúng và lưu ý học sinh: Trong một câu

văn, ta không nên dùng hai hoặc nhiều quan hệ từ giống nhau sẽ dẫn đến lỗi lặp
từ ngữ làm cho câu văn không hay.
d) Lỗi dùng thiếu quan hệ từ.
Ví dụ: khi thực hiện hoạt động 2 trang 159 của bài 28A: Ôn tập 1
Đề bài yêu cầu: Tìm ví dụ điền vào bảng tổng kết. Đối với câu ghép dùng
cặp quan hệ từ. Có học sinh đặt câu như sau:
Hoa phượng không những đẹp chúng còn tượng trưng cho lứa tuổi học
trò.

Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng

16


Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN

Hình 5: Bài làm của học sinh - mắc lỗi dùng thiếu quan hệ từ

Với ví dụ này, ta thấy học sinh đã sử dụng thiếu một quan hệ từ để tạo
thành cặp quan hệ từ.
Cách khắc phục:
Bước 1: Tôi cho học sinh đọc lại kĩ yêu cầu của bài tập.


Đề bài yêu cầu viết câu ghép sử dụng cặp quan hệ chứ không phải

một quan hệ từ.
Bước 2: Tôi cho học sinh nhắc lại kiến thức về các cặp quan hệ từ.
….
 Quan hệ từ “không những” đi với quan hệ từ “mà còn”.
Bước 3: Tôi yêu cầu học sinh đọc lại câu văn trên và xác định quan hệ từ
còn thiếu.
Với cách làm này, học sinh sẽ tự phát hiện ra lỗi và sửa lỗi. Từ đó giúp
học sinh rút được kinh nghiệm và ghi nhớ lâu hơn.
e) Lỗi dùng sai quan hệ từ trong viết văn.
Việc sử dụng quan hệ từ không những giúp học sinh làm tốt các bài tập về
luyện từ và câu mà cao hơn chúng còn được học sinh thể hiện trong bài văn của
mình. Khắc phục được lỗi sử dụng quan hệ từ cũng góp phần làm cho cách dùng
từ của học sinh trong viết văn được chính xác, câu văn được rõ ý và logic hơn.
Tuy nhiên, trên thực tế các bài làm văn của học sinh mắc lỗi sử dụng quan hệ từ
tương đối nhiều. Chẳng hạn:
Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng

17


Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN

Hình 6: Bài văn tả cây cối của học sinh - mắc lỗi dùng sai quan hệ từ trong viết văn

Có thể thấy trong ví dụ trên, học sinh mắc lỗi sử dụng quan hệ từ rơi vào
nhiều trường hợp, có thể là lỗi chưa thuộc quan hệ từ, có thể là lỗi dùng quan hệ
từ chưa phù hợp nghĩa của câu, … và một lỗi học sinh thường mắc phải là sử
dụng quan hệ từ để liên kết các đoạn văn với nhau.
Để giúp học sinh khắc phục lỗi sử dụng không đúng quan hệ từ trong liên
kết đoạn văn, tôi thường làm như sau:
Sau mỗi bài viết của học sinh sẽ có một tiết trả bài văn. Tôi sẽ dành thời
gian tiết này đọc các bài văn của học sinh trước lớp và lựa chọn những bài có lỗi
gần giống nhau để phân tích, giúp học sinh nhận ra tồn tại của mình từ đó khắc
phục.
Hoặc trong bài văn của học sinh có những câu sử dụng quan hệ từ chưa
đúng, tôi sử dụng những câu đó làm ví dụ khi dạy bài liên quan đến quan hệ từ
để học sinh phân tích, tìm ra lỗi của mình.
Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng

18


Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN

Có như vậy mới giúp các em nhớ được lâu và không mắc phải lỗi ấy nữa.
2. Giải pháp 2: Giúp học sinh học tốt quan hệ từ thông qua trò chơi
Để học sinh học tốt môn Tiếng Việt trong đó phải kể đến quan hệ từ thì
mỗi người giáo viên không chỉ tổ chức hướng dẫn cho học sinh theo các tài liệu
sẵn có của sách giáo khoa, sách hướng dẫn và thiết kế bài giảng mà còn phải tích
cực tìm hiểu, vận dụng đổi mới phương pháp gây hứng thú học tập, kích thích
các em tìm tòi, sáng tạo.
Vì vậy người giáo viên phải gây được hứng thú học tập cho các em bằng
cách lôi cuốn các em tham gia vào các hoạt động học tập. Trò chơi học tập là
một hoạt động mà các em hứng thú nhất. Các trò chơi có nội dung về từ ngữ lý
thú và bổ ích phù hợp với việc nhận thức của các em. Thông qua các trò chơi
các em sẽ lĩnh hội những kiến thức của ngữ pháp Tiếng Việt một cách dễ dàng,
củng cố, khắc sâu kiến thức một cách vững chắc, tạo cho các em niềm say mê,
hứng thú trong học tập, trong việc làm. Khi chúng ta đưa ra được các trò chơi
học tập một cách thường xuyên, khoa học thì chắc chắn chất lượng dạy học sẽ
ngày một nâng cao.

Hình 7: Trò chơi học tập

Trên thực tế, phần lớn học sinh không ham thích khi học kiến thức Luyện
từ và câu trong môn Tiếng Việt bởi các em cho rằng môn học này có nhiều quy
tắc rườm rà, khó nhớ và dễ nhầm lẫn. Để giúp học sinh không nảy sinh cảm giác
Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng

19


Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN

không hứng thú khi học các kiến thức liên quan đến quan hệ từ, tôi thường tổ
chức cho học sinh chơi các trò chơi học tập sau các tiết học có nội dung về quan
hệ từ, nhằm giúp các em vừa củng cố vừa khắc sâu kiến thức hơn để các em nhớ
được lâu hơn.
*Ví dụ: Trò chơi Đi chợ : Trước khi kết thúc Bài 11C tiết 1 hướng dẫn học
Tiếng Việt 5: Môi trường quanh ta.
+ Đối tượng: Học sinh lớp 5
+ Mục tiêu
- Ôn luyện cho học sinh cách xác định quan hệ từ - cặp quan hệ từ và mối
quan hệ mà cặp quan hệ từ đó biểu thị.
- Rèn tính nhanh nhẹn, suy nghĩ độc lập, tinh thần đồng đội và tạo hứng thú
học tập.
+ Chuẩn bị
Giáo viên chuẩn bị một số phiếu mua hàng :
Ví dụ:
- Sự sống cứ tiếp tục trong âm thầm, hoa thảo quả nảy dưới gốc cây kín đáo
và lặng lẽ.
- Bạn Trang không những học giỏi mà còn rất hiếu thảo với ba mẹ.
- Tuy trời mưa rất to nhưng các bạn vẫn đến lớp đúng giờ.
- …..
+ Thời gian : khoảng 5 phút đến 7 phút.
+ Luật chơi :
CTHĐTQ (Chủ tịch hội đồng tự quản) nêu cách chơi, luật chơi (phần này
giáo viên chuẩn bị trước cho học sinh). Sau đó bốc phiếu, đọc nội dung phiếu
mua hàng, học sinh nào có kết quả nhanh và chính xác thì thưởng một bông hoa
điểm tốt đồng thời được quyền bốc thăm câu hỏi.
Sau khi trò chơi kết thúc, giáo viên tổng kết tuyên dương những học sinh có
thành tích xuất sắc.

Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng

20


Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN

Hình 8: Trò chơi học tập
*Ví dụ: Trò chơi Ai nhanh ai đúng (thực hiện vào phần khởi động Bài 13C
tiết 1 hướng dẫn học Tiếng Việt 5: Cải tạo môi trường.
Tổ chức tương tự theo quy trình cho các em tham gia. Nội dung thi đố
nhau giữa các nhóm để kiểm tra và củng cố lại kiến thức đã học. Chẳng hạn: để
giành quyền đố trước các nhóm trưởng sẽ bốc thăm, sáu nhóm tương ứng với 6
cái thăm trong đó chỉ có một thăm đánh dấu x còn 5 thăm trống. Nhóm nào bốc
được thăm có dấu x sẽ đố trước. Ví dụ:
- Mời bạn Huy đặt một câu có sử dụng cặp quan hệ từ biểu thị quan hệ
nguyên nhân – kết quả.
Em Huy thực hiện xong yêu cầu, cả lớp sẽ nhận xét. Trả lời xong, nếu
đúng nhóm em Huy sẽ đưa ra câu hỏi cho các nhóm khác.
Cho câu văn: “Nếu không chăm chỉ học tập thì thành tích cuối năm của
bạn sẽ không cao.” Mời nhóm bạn Trường xác định cặp quan hệ từ trong câu
trên và cho biết chúng biểu thị mối quan hệ gì?
………
Trò chơi này giúp học sinh nắm vững kiến thức mới đưa ra được câu hỏi
chính xác đồng thời tạo ra sự nhanh nhẹn cho các nhóm trả lời.
Cứ như vậy sẽ tạo được không khí vui vẻ trong giờ học, các em sẽ thích
thú hơn khi học quan hệ từ, không còn cảm thấy khô khan và nhàm chán nữa.
Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng

21


Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN

Việc học sinh thích thú khi học quan hệ từ sẽ giúp các em tiếp thu kiến
thức ở những bài sau một cách nhẹ nhàng hơn và cũng góp phần làm giảm tình
trạng lười học ở một số em.
IV. Tính mới của giải pháp
Trong dạy học, việc giúp học sinh nắm vững kiến thức góp phần đạt được
mục tiêu giáo dục là nhiệm vụ hết sức quan trọng. Do đó, trong quá trình dạy
học nói chung và khi dạy phần kiến thức về quan hệ từ nói riêng, tôi đều tìm tòi,
nghiên cứu để đưa các giải pháp nhằm giúp các em lĩnh hội kiến thức một cách
chủ động, sáng tạo. Cụ thể:
Khi thực hiện đề tài này, trước tiên tôi áp dụng giải pháp “giúp học sinh
rèn kĩ năng sử dụng quan hệ từ”.
Với giải pháp này, tôi hướng dẫn thật kĩ để học sinh hình thành khái niệm
“quan hệ từ” và ghi nhớ một cách bền vững. Tiếp theo, tôi hệ thống một số lỗi
sai thường gặp của học sinh về kiến thức quan hệ từ. Với mỗi dạng lỗi của học
sinh, tôi phân tích nguyên nhân dẫn đến việc học sinh làm sai, phân tích ví dụ và
đưa ra cách khắc phục. Cách làm này giúp các em có thể nhìn thấy lỗi sai của
mình, biết được nguyên nhân vì sao mình sai và nắm được cách khắc phục. Từ
đó, học sinh sẽ nắm kiến thức vững hơn.
Ngoài ra, tôi áp dụng một số trò chơi về quan hệ từ trong dạy học. Đây là
một biện pháp mang tính hỗ trợ. Tuy nhiên, nó cũng góp phần đáng kể giúp đạt
được mục tiêu tiết học; nó tạo tâm lí thoải mái, hứng thú học tập cho học sinh.
Với việc đưa ra hai giải pháp trên, tôi đã áp dụng chúng vào thực tiễn
giảng dạy của bản thân. Điều tôi nhận thấy sau khi áp dụng các giải pháp trên là
học sinh lớp tôi giảng dạy đã hứng thú hơn khi học Tiếng Việt đặc biệt là các
hoạt động thuộc kiến thức Luyện từ và câu. Các em đã khắc sâu và nắm chắc
khái niệm quan hệ từ cũng như hiểu được mối quan hệ mà mỗi quan hệ từ, cặp
quan hệ từ biểu thị. Từ việc nắm chắc kiến thức, các em vận dụng vào thực hành
tốt, sử dụng thành thạo và linh hoạt các quan hệ từ, cặp quan hệ từ đối với từng
bài tập cũng như trong những hoàn cảnh giao tiếp nhất định. Điều đó giúp các
em tự tin hơn trong việc dùng từ, đặt câu, trong giao tiếp, và đặc biệt cung cấp
Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng

22


Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN

cho các em công cụ để các em học tốt ở các môn học khác. Đó là một mục đích
mà không một giáo viên nào trong chúng ta không muốn tiến đến.
V. Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm
Sau thời gian tìm hiểu vấn đề và đưa ra được các giải pháp nêu trên, tôi đã
áp dụng sáng kiến này vào trong thực tế giảng dạy tại lớp 5D trường Tiểu học
Nguyễn Văn Trỗi (năm học 2017 – 2018). Vào giữa học kì II năm học 2017 –
2018, sau khi cơ bản học sinh đã học xong phần quan hệ từ, cặp quan hệ từ cũng
như sử dụng quan hệ từ để nối các vế câu trong câu ghép, tôi đã ra một bài tập
tổng hợp tất cả các dạng bài tập có liên quan đến quan hệ từ để khảo sát chất
lượng học sinh qua quá trình rèn luyện. Kết quả thu được như sau:
Tổng số học sinh là 24 em

Số lượng

Tổng số bài hoàn thành tốt
9
Tổng số bài hoàn thành
15
Tổng số bài chưa hoàn thành
0
Với việc thực hiện các biện pháp

Tỉ lệ

Tỉ lệ so với năm học

2016 - 2017
37,5%
Tăng 20,84%
62,5%
Tăng 8,3%
0%
Giảm 29,17%
nêu trên, tôi nhận thấy tỉ lệ học sinh sử

dụng thành thạo quan hệ từ tăng lên rõ rệt. Cụ thể số học sinh đạt hoàn thành tốt
tăng 5 em tỉ lệ 20,84% , số học sinh đạt hoàn thành tăng 2 em tỉ lệ 8,3%, và đặc
biệt là số học sinh chưa hoàn thành giảm 7 em tỉ lệ 29,17%. Bên cạnh đó, hứng
thú và niềm say mê đối với môn Tiếng Việt trong các em cũng được bộc lộ rõ
rệt. Cụ thể, các em rất mong chờ đến giờ học Tiếng Việt, học tập một cách tự
giác, tích cực, thoải mái và vui vẻ hơn.
C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Thông qua quá trình thực hiện các biện pháp trên, tôi nhận thấy các kĩ
năng sử dụng Tiếng Việt của học sinh được phát triển góp phần làm cho việc sử
dụng các quan hệ từ trở nên linh hoạt và thành thạo hơn. Các em nắm vững hơn
kiến thức về quan hệ từ và mối quan hệ mà mỗi quan hệ từ biểu thị, vận dụng
kiến thức để thực hiện các dạng bài tập cũng vững vàng hơn.

Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng

23


Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN

Hơn nữa, tôi còn nhận thấy được ở học sinh sự cẩn thận, hình thành thói
quen tìm hiểu và suy nghĩ kĩ càng trước khi làm bài; niềm say mê, hứng thú đối
với môn Tiếng Việt cũng tăng lên trong các em.
Việc áp dụng các biện pháp trên đã mang lại thành công trong việc dạy –
học quan hệ từ ở lớp 5D trường TH Nguyễn Văn Trỗi. Thiết nghĩ, với những
cách làm trên cũng có thể mang lại thành công nếu được áp dụng ở những lớp 5
còn lại tại trường TH Nguyễn Văn Trỗi bởi chúng phù hợp với tâm lí lứa tuổi
của học sinh Tiểu học.
Là một môn học mang tính chất bắt buộc trong chương trình Tiểu học,
Tiếng Việt ngoài những nhiệm vụ hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng
sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết); rèn luyện các thao tác của tư duy; cung
cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ
giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và
nước ngoài, … còn là hành trang để các em bước vào tương lai thì việc đổi mới
phương pháp dạy học, áp dụng mô hình mới mang lại những hiệu quả thiết thực.
Để đạt được hiệu quả trong quá trình nghiên cứu nhằm giúp học sinh sử
dụng thành thạo quan hệ từ, giáo viên cần nghiên cứu kĩ chương trình, nội dung
bài dạy, chuẩn kiến thức kĩ năng; nắm được trình độ và phân loại đối tượng học
sinh chính xác; Ngoài ra giáo viên cần tìm tòi, sáng tạo và vận dụng một cách
linh hoạt những phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh.
2. Kiến nghị
Xuất phát từ thực tế giảng dạy cùng với mong muốn nâng cao hiệu quả
dạy học môn Tiếng Việt cũng như hiệu quả giáo dục, tôi xin đưa ra một số kiến
nghị sau:
* Về phía các cấp lãnh đạo
- Quan tâm nhiều hơn, tạo điều kiện tốt nhất để bổ sung cơ sở vật chất và
đồ dùng dạy học.
- Tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn, chuyên đề để giáo viên các
trường có cơ hội giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau.
* Về phía Nhà trường
Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng

24


Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi sử dụng quan hệ từ theo mô hình VNEN

- Trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, đồ dùng trực quan phục vụ cho việc
giảng dạy.
- Tổ chức các cuộc thi giao lưu, tìm kiếm tài năng Tiếng Việt giữa các lớp
để tạo cho học sinh có được động lực phấn đấu, học tập tốt hơn nữa.
- Tổ chức các buổi chuyên đề về thực hành dạy Luyện từ và câu để giáo
viên có thể học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau.
* Về phía giáo viên
- Không ngừng học hỏi, nghiên cứu, tìm tòi để nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ.
- Vận dụng những phương pháp dạy học cho phù hợp với đối tượng học
sinh của mình.
- Luôn tạo được tâm lí thoải mái, tránh gây căng thẳng, áp lực cho học
sinh trong giờ học.
Trên đây là một số kinh nghiệm dạy học giúp học sinh lớp 5 khắc phục lỗi
sử dụng quan hệ từ. Với khả năng, trình độ lí luận còn hạn chế, trong quá trình
thực hiện không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý từ bạn
đồng nghiệp, từ Hội đồng chấm sáng kiến ở các cấp để bản thân được hoàn
chỉnh hơn trong công tác dạy học.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Krông Ana, ngày 14 tháng 3 năm 2019
Người thực hiện

Huỳnh Thị Hằng

Người thực hiện: Huỳnh Thị Hằng

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×