Tải bản đầy đủ

Thảo luận chính sách y tế tại Việt Nam

Nhóm 3
Trường Đại học Y tế công cộng
Bộ môn : Chính sách xã hội
Giáo viên hướng dẫn: Vũ Thị Thanh Mai

BÀI THẢO LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH Y TẾ VIỆT NAM
I.

Thành viên nhóm 3
 Nguyễn Thị Linh
 Đặng Thùy Anh
 Đoàn Tú Anh
 Nguyễn Bảo Phúc
 Phùng Thị Trang
 Phạm Thị Thúy Hồng
 Tòng Thanh Thảo
 Trần Minh Thuận

Nội dung thảo luận:

I.

Lý thuyết
1.
2.
3.
4.
5.

Khái niệm chính sách y tế.
Mục tiêu của chính sách y tế và chăm sóc sức khỏe của nhân dân
Thực trạng chính sách y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân hiện nay
Thành tựu và hạn chế của chính sách y tế
Vai trò của Nhà nước trong chăm sóc sức khỏe và bảo vệ sức khỏe nhân
dân

Ví dụ
Chính sách y tế về bảo hiểm y tế cho người nghèo
II.
Lý thuyết
1. Khái niệm chính sách y tế
Chính sách y tế là các định hướng chiến lược chăm sóc sức khỏe từ Trung
ương đến địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của các tầng lớp nhân dân
một cách công bằng, hiệu quả nhất và đảm bảo cho sự phát triển. Chính sách y tế
không chỉ của riêng ngành y tế mà của toàn xã hội, trong đó các cơ sở y tế đóng
1


Nhóm 3
vai trò chủ đạo và thực hiện cung cấp các dịch vụ y tế. Chính sách y tế là một bộ
phận không thể tách rời của các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước.
Ví dụ: Chính sách hỗ trợ người nghèo trong khám chữa bệnh (Quyết định
139 của Thủ tướng Chính phủ) là một định hướng cho nền y tế công bằng hơn,
do Chính phủ ban hành, các bộ ngành (Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Kế hoạch đầu tư
và Bộ LĐTB&XH cùng chính quyền các cấp) phối hợp thực hiện.
2. Mục tiêu của chính sách y tế và chăm sóc sức khỏe của nhân dân
Thứ nhất, công bằng và bình đẳng trong việc tiếp cận và thụ hưởng các
dịch vụ CSSK.
Bình đẳng về cơ hội sức khỏe: Bình đẳng thường được đề cập đến sự
ngang nhau trong cơ hội tiếp cận các nguồn lực ban đầu để các cá nhân có thể
mưu cầu cuộc sống như mong muốn và năng lực của họ. Ba cơ hội nguồn lực cơ
bản cho sự phát triển của các cá nhân là cơ hội học tập, cơ hội sức khỏe và cơ
hội được tiếp cận với các nguồn lực kinh tế. CSYT cần hướng tới việc đảm bảo
mọi người có cơ hội ngang nhau trong việc có được sức khỏe, làm tiền đề cho
học tập và các hoạt động kinh tế
Công bằng trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế. Tính công bằng
được hiểu trên 2 khía cạnh: công bằng ngang và công bằng dọc: Công bằng
ngang là sự đối xử như nhau với những người như nhau còn công bằng dọc là sự
đối xử khác nhau với những người khác nhau nhằm giảm bớt sự khác biệt sẵn có
( Vận, P.V và Cương.V.2004). Với y tế, khi nghiên cứu về tính công bằng, người
ta thường hay xem xét dưới góc độ chia sẻ lợi ích và chi phí giữa các cá nhân.
Để người nghèo được khám chữa bệnh cần thực hiện công bằng dọc trong việc
đóng góp tài chính tức cần có các chính sách hỗ trợ của nhà nước như BHYT
miễn phí hay miễn giảm viện phí trực tiếp
Thứ hai, đảm bảo được hưởng các mức phúc lợi xã hội cơ bản về y tế và
sự hòa nhập cộng đồng
Sức khỏe là giá trị cơ bản của cuộc sống, nó vừa là phương tiện, vừa là
mục tiêu của mọi quá trính phát triển. Đã từ lâu CSSK là một trong số các yếu tố
cấu thành cơ bản của hai chỉ tiêu quan trọng phản ánh sự phát triển của quốc gia:
chỉ số phát triển con người HDI và chỉ số nghèo khổ HPI. Như vậy, chăm sóc y
tế là phúc lợi xã hội cơ bản mà con người cần được hưởng theo chuẩn mực
chung của thế giới. Sự cải thiện hay xói mòn về phúc lợi xã hội dưới góc độ y tế
được thể hiện thông qua các chỉ tiêu cơ bản như tuổi thọ bình quân, suy dinh
dưỡng trẻ em (thể thấp còi, thể nhẹ cân), chết trẻ dưới 5 tuổi, dưới 1 tuổi, tử
vong bà mẹ, mức độ tiêm chủng, tỷ lệ mắc và chết ở một số bệnh cơ bản như sốt
rét, HIV/ADIS, lao,...
2


Nhóm 3
Sức khỏe còn là phương tiện quan trọng bởi nó ảnh hướng trực tiếp tới
chất lượng cuộc sống của cá nhân và quyết định tới năng suất lao động, khả
năng làm việc và học tập của họ. Như vậy, chăm sóc y tế sẽ đảm bảo cho các cá
nhân được học tập, lao động, được thoát nghèo, đảm bảo sự hòa nhập của học
với cộng đồng, trong đó yếu tố nghèo ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đối với sự hòa
nhập bởi cái nghèo ảnh hưởng trực tiếp tới yếu tố học tập và lao động, tạo ra
vong luẩn quẩn giữa bệnh tật và đói nghèo.
3. Thực trạng chính sách y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân hiện nay
Theo Tổ chức y tế thế giới ( WHO, 2008 ), hệ thống y tế một quốc gia
thường bao gồm 4 mảng cơ bản: tài chính y tế, nhân lực y tế, hệ thống cung cấp
dịch vụ y tế và quản lý trong lĩnh vực y tế. Các chính sách y tế tác động tới kết
quả chăm sóc sức khỏe nhân dân một cách cụ thể ở các mảng hoạt động này như
sau:
- Chính sách phát triển hệ thống cung ứng dịch vụ y tế: Hệ thống cung ứng
dịch vụ của Việt nam được tổ chức theo tuyến từ Trung ương tới thôn bản
với bốn lĩnh vực: khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu, dự phòng
về dân số - kế hoạch hóa gia đình. Hệ thống khám chữa bệnh vầ chăm sóc
sức khỏe ban đầu bao gồm cả khu vực Nhà nước và tư nhân, trong đó khu
vực Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo với hơn 13.500.000 cơ sở với hơn
1.000 bệnh viện, trên 1.000 phòng khám đa khoa và hộ sinh khu vực, hơn
11.500 trạm y tế. Hệ thống này được phân bố khắp trên cả nước từ thành
phố tới miền núi hải đảo, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc
tiếp cận tới các dịch vụ y tế
-

Chính sách nhân lực y tế: Đối với mọi lĩnh vực thì con người luôn đóng
vai trò trung tâm, quyết định sự thành công, sự phát triển của lĩnh vực đó.
Với lĩnh vực y tế thì vai trò của con người còn quan trọng gấp bội phần
khi kết quả điều trị phụ thuộc chủ yếu vào người bác sỹ. Chính vì vậy, các
chính sách liên quan đến đào tạo, phân bổ nguồn nhân lực sẽ ảnh hưởng
rất lớn tới việc đạt mục tiêu công bằng, hiệu quả và phúc lợi xã hội của
ngành y.

Ví dụ: Bệnh viện Trung ương có tới gần 2/3 số bác sỹ có trình độ thạc sỹ/
chuyên khoa trở lên thì ở bệnh viện huyện, con số này chỉ khoảng 1/4. Nếu coi
trình độ của bác sỹ như một thước đo về chất lượng khám chữa bệnh thì người
nghèo ở nông thôn, các vùng hẻo lánh, xa xôi đang phải sử dụng dịch vụ khám
chữa bệnh chất lượng khám chữa bệnh không cao. Hoặc nếu muốn được khám
chữa bệnh ở tuyến trung ương với máy móc, kỹ thuật hiện đại và trình độ tay
3


Nhóm 3
nghề của bác sỹ cao thì họ phải chấp nhận mất khá nhiều thời gian và chi phí
cho sự di chuyển.
- Chính sách tài chính cho y tế: Nền y tế của bất cứ quốc giua nào cũng lệ
thuộc vào vấn đè tài chính. Chính sách tài chính y tế là một trong những
chính sách quan trọng nhất, quyết định đối với công tác bảo vệ, chăm sóc
và nâng cao sức khỏe nhân dân bởi cách thức huy động nguồn lực tài
chính hay cách thức sử dụng các nguồn lực này ảnh hưởng trực tiếp tới
tính công bằng và hiệu quả. Do vậy, để đạt được mục tiêu của ngành, từng
bước hướng tới công bằng, tối đa phúc lợi xã hội người dân và phát triển
hệ thống y tế phải có một chính sách tài chính phù hợp.
4. Thành tựu và hạn chế của chính sách y tế
a. Thành tựu:
Việt Nam có một hệ thống tổ chức y tế hoàn chỉnh. Trong hệ thống này,
mạng lưới y tế phát triển rộng khắp góp phần tích cực vào công tác khám chữa
bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân. Mạng lưới rộng khắp này đã
giúp cho người dân dễ dàng tiếp cận và thực hiện được quyền chăm sóc sức
khỏe, nâng cao phúc lợi xã hội và đảm bảo công bằng.
Chính sách y tế đã góp phần vào việc nâng cao phúc lợi xã hội, tăng
cường khả năng hòa nhập xã hội cho người dân dưới góc độ y tế.
Là một nước có đày đủ các đặc điểm chung của một nước đang phát triển,
tuy nhiên lĩnh vực y tế có trình độ phát triển cao dựa vào các chỉ tiêu chăm sóc
sức khỏe cơ bản.
Nếu so sánh các chỉ số cơ bản về sức khỏe người dân phản ánh mức độ
phát triển của ngành y tế của các quốc gia này với quốc gia khác, đặc biệt các
quốc gia có cùng mức thu nhập thì thấy y tế Việt Nam phát triển hơn nhiều so
với trình độ phát triển y tế.
Công tác khám chữa bệnh được cải thiện: Hệ thống các bệnh viện công
lập được giữ vũng củng cố và phát triển. Các trang thiết bị y tế được trang bị đầy
đủ hơn và từng bước hiện đại hóa, Các bệnh viện Trung ương nâng cao được
chất lượng chuẩn đoán và điều trị, nhiều kỹ thuật mới và phức tạp đã được thực
hiện thành công, trình độ và kỹ thuật y tế Việt Nam đang dần tiến bộ ngang với
các nước trong khu vực, góp phần chữa trị và cứu sống được nhiều bệnh hiểm
nghèo, hạn chế việc người dân phải ra nước ngoài chữa bệnh.
Các chỉ tiêu chăm sóc sức khỏe người dân cả ở nhóm chữa bệnh và phòng
bệnh và có nhiều tiến bộ theo thời gian. Nhiều chỉ tiêu chăm sóc sức khỏe của
4


Nhóm 3
Việt Nam hiện nay được coi là khá ấn tượng khi ngang bằng với các quốc gia có
mức phát triển hơn nhiều.
b. Hạn chế:
Hệ thống y tế rộng khắp nhưng phân bố không đều, các bệnh viện lớn tập
trung ở thành phố lớn khiến người nghèo khó tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức
khỏe kỹ thuật cao.
Mạng lưới y tế phát triển rộng khắp nhưng trang thiết bị y tế, chất lượng
cán bộ y tế còn nhiều hạn chế, đầu tư của ngân sách Nhà nước cho khu vực này
còn khá kiêm tốn trong khi đầu tư của ngân sách Nhà nước lại thường rơi vào
các bệnh viện lớn, nơi mà người giàu dịch vụ hơn là người nghèo.
Y tế dự phòng chua được quan tâm thích đáng, tiềm ẩn nhiều nguy cơ
bùng phát dịch bệnh.
Các chính sách ưu đãi, chăm sóc sức khỏe cho người nghèo, trẻ nhỏ,
người có công... thông qua thẻ bảo hiểm y tế, tuy nhiên mức chi trả của bảo
hiểm y tế cũng rất thấp khiến thẻ bảo hiểm y tế người nghèo phát ra chỉ lấy số
lượng hơn là chất lượng, không giúp họ nhiều trong việc tiếp cận và sử dụng
dịch vụ y tế, bảo vệ họ khỏi các thảm hoa bệnh tật.
5. Vai trò của Nhà nước trong chăm sóc sức khỏe và bảo vệ sức khỏe
nhân dân.
Nhà nước chăm lo bảo vệ và tăng cường sức khoẻ nhân dân; đưa công tác
bảo vệ sức khoẻ nhân dân vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách
Nhà nước; quyết định những chế độ chính sách, biện pháp để bảo vệ và tăng
cường sức khoẻ nhân dân.
Bộ y tế có trách nhiệm quản lý, hoàn thiện, nâng cao chất lượng và phát
triển hệ thống phòng bệnh, chống dịch, khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, lưu
thông thuốc và thiết bị y tế, kiểm tra việc thực hiện các quy định về chuyên môn
nghiệp vụ y, dược.
Hội đồng nhân dân các cấp dành tỷ lệ ngân sách thích đáng cho công tác
bảo vệ sức khoẻ nhân dân ở địa phương; thường xuyên giám sát, kiểm tra việc
tuân theo pháp luật về bảo vệ sức khoẻ nhân dân của Uỷ ban nhân dân cùng cấp,
của các cơ quan, các tổ chức xã hội, cơ sở sản xuất, kinh doanh của Nhà nước,
tập thể, tư nhân và mọi công dân trong địa phương. Uỷ ban nhân dân các cấp có
trách nhiệm thực hiện các biện pháp để bảo đảm vệ sinh ăn, ở, sinh hoạt, vệ sinh
công cộng cho nhân dân trong địa phương; lãnh đạo các cơ quan y tế trực thuộc,
5


Nhóm 3
chỉ đạo sự phối hợp giữa các ngành, các tổ chức xã hội trong địa phương để thực
hiện những quy định của pháp luật về bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
III. Ví dụ về BHYT cho người nghèo
1. Hoạch định chính sách BHYT cho người nghèo
a . Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, sự phát triển của nền kinh tế thị trường, định
hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo ra diện mạo mới cho đất nước. Tuy nhiên bên
cạnh những kết quả đạt được còn nảy sinh nhiều bất cập : sự phân hóa giàu
nghèo ngày càng rõ rệt, tình trạng bất bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe và
hưởng thụ dịch vụ y tế của người nghèo so với người giàu diễn ra phổ biến. Vì
vậy để phát triển nguồn nhân lực một cách toàn diện, đảm bảo sự phát triển bền
vững Việt Nam cần phải có chính sách BHYT thiết thực với người nghèo. Đây
thực sự trở thành nhiệm vụ trọng tâm của các cấp, các ngành, nhằm đảm bảo
công bằng xã hội, tạo bước ngoặt trong tiến trình thực hiện BHYT toàn dân.
b. Mục tiêu
Cùng với quá trình hoàn thiện chính sách BHYT, hằng năm, ngân sách
nhà nước đã chi hàng chục tỷ đồng để mua BHYT cho người nghèo, hỗ trợ
người cận nghèo tham gia BHYT. Qua đó, ngày càng có nhiều người nghèo
được tham gia, thụ hưởng quyền lợi BHYT. Việc được tham gia BHYT không
chỉ giúp người nghèo, cận nghèo tiếp cận thuận lợi hơn với các dịch vụ y tế ngay
từ cơ sở, được bảo đảm sức khỏe tốt hơn, mà còn giúp họ vượt qua được những
khó khăn về tài chính khi không may gặp phải rủi ro về sức khỏe, nhất là khi
mắc phải những bệnh nặng, phải điều trị dài ngày… Từ thực tế đó, WHO và WB
đều cho rằng, một trong những giải pháp quan trọng mà các quốc gia cần thực
hiện, đó là BHYT toàn dân, bởi đây chính là giải pháp cho phép mọi người, nhất
là người nghèo được tiếp cận thuận lợi nhất với các dịch vụ y tế thiết yếu bất cứ
khi nào và ở bất cứ đâu khi có nhu cầu mà không gặp phải những khó khăn về
tài chính. Theo các tổ chức quốc tế, nếu nghiêm túc quan tâm việc bảo đảm sức
khỏe của người dân cũng như đẩy lùi nghèo đói, các quốc gia cần quan tâm việc
thực hiện BHYT toàn dân, mà trước hết là bảo đảm chính sách BHYT cho
những nhóm đối tượng yếu thế, trong đó có người nghèo.
c. Quy trình
Quy trình mới về việc cấp thẻ BHYT cho người nghèo được thực hiện ở
các cấp phường – xã, thị trấn, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận huyện và Bảo hiểm xã hội quận - huyện.
Đối tượng tham gia BHYT (người tham gia hoặc thân nhân người tham
gia) sẽ thực hiện việc nộp hồ sơ cho các cơ quan nêu trên.
6


Nhóm 3
Đối với việc cấp lại thẻ BHYT do thay đổi mã quyền lợi khám chữa bệnh,
thay đổi nơi khám chữa bệnh ban đầu, thay đổi thông tin trên thẻ, đổi thời điểm
hưởng đủ 5 năm liên tục, cấp thẻ cho kỳ trước do thiếu thông tin, cơ quan cấp là
Bảo hiểm xã hội quận - huyện.
Đối với việc cắt giảm thẻ BHYT, cơ quan thực hiện là UBND phường xã, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận - huyện và Bảo hiểm Xã hội
quận-huyện.
d. Phương án
Theo quy định của Luật BHYT sửa đổi, hộ nghèo được ngân sách Nhà
nước hỗ trợ 100% kinh phí mua thẻ BHYT, hộ cận nghèo được hỗ trợ 70% kinh
phí. Tại Vĩnh Phúc, với đối tượng cận nghèo, ngoài mức hỗ trợ 70% kinh phí
mua thẻ BHYT theo luật định, năm 2012, HĐND tỉnh ban hành nghị quyết về
việc hỗ trợ thêm kinh phí mua thẻ BHYT cho người thuộc hộ cận nghèo. Theo
đó, người dân thuộc hộ cận nghèo được hỗ trợ thêm 30% kinh phí từ nguồn
ngân sách tỉnh để nâng mức hỗ trợ lên 100% kinh phí mua thẻ BHYT. Điều này
có nghĩa, người dân thuộc hộ cận nghèo trên địa bàn tỉnh cũng được cấp miễn
phí thẻ BHYT. Đây là nghị quyết có ý nghĩa quan trọng, giúp người cận nghèo
tăng cường khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế có chất lượng, giảm bớt nguy
cơ rơi vào tình trạng nghèo, góp phần bảo đảm sự công bằng và hiệu quả trong
chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.
Cùng với quy định về việc nâng mức hỗ trợ mua thẻ BHYT cho người
nghèo và cận nghèo, Luật BHYT sửa đổi cũng nâng mức hưởng BHYT đối với
người nghèo, người thuộc diện bảo trợ xã hội từ 95% lên 100%; người thuộc hộ
cận nghèo từ 80% lên 95%.
e. Thông qua và quyết định
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ 25/12/2001, theo đề nghị của Bộ trưởng
Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Chính phủ ban hành nghị định số 63/2005/
NĐ-CP ngày 16/5/2005 ban hành điều lệ BHYT. Trong đó có BHYT dành cho
người nghèo.
2. Tổ chức thực hiện chính sách BHYT cho người nghèo
2.1 Chuẩn bị triển khai chính sách
a. Xác định bộ máy tổ chức thực hiện chính sách
Các cơ quan tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm y tế cho người nghèo
gồm các cơ quan Nhà nước như: Bộ Y tế, Bộ Tài chính, các bộ ngành liên quan
và UBND các cấp phối hợp cùng thực hiện chính sách
7


Nhóm 3
b. Xây dựng chương trình hành động
Chính sách bảo hiểm y tế người nghèo được triển khai áp dụng như sau:
- Năm 1999: thực hiện phương thức thực thanh, thực chi chính sách được
đưa vào áp dụng tại 2 tỉnh thành là Hà Nội và Bắc Ninh
- Năm 2000: có thêm 2 tỉnh, thành phố là Hà Tây cũ và Thái Nguyên
- Năm 2005: số tỉnh thực hiện phương thức thực thanh, thực chi lên đến 29
tỉnh, thành phố.
Cho đến nay, hầu hết các tỉnh, thành phố đã thực hiện phương thức thực
thanh, thực chi BHYT cho người nghèo.
c. Các văn bản hướng dẫn
Để thực hiện chính sách BHYT cho người nghèo, Nhà nước đã đưa ra một
số văn bản sau để thực hiện chính sách:
- Ngày 15/10/2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định
139/2002/QĐ-TTg về việc khám, chữa bệnh cho người nghèo.
- Ngày 01/03/2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định
14/2012/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung Quyết định 139 về việc mở rộng đối
tượng hưởng chế độ khám, chữa bệnh; nguồn quỹ tài chính khám, chữa
bệnh cho người nghèo.
- Ngày 26/6/2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 797/QĐTTg về việc nâng mức hỗ trợ BHYT cho người thuộc hộ gia định cận
nghèo từ 50% lên 70%. Đồng thời Nhà nước hỗ trợ 100% phí mua thẻ
BHYT đối với các hộ cận nghèo thuộc các đối tượng sau: hộ cận nghèo
mới thoát nghèo, hộ cận nghèo sống ở những khu vực có điều kiện kinh tế
khó khăn thuộc Quyết định 30A của Thủ tướng Chính phủ.
- Việc ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến việc thực hiện BHYT
cho người nghèo đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước đối
với nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội, tạo điều kiện cho họ tiếp cận và
hưởng thụ các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe.
d. Tổ chức tập huấn về các nội dung tổ chức thực hiện chính sách
BHYT cho người nghèo
Các bộ ngành liên quan đã phối hợp với nhau để tổ chức những buổi tập
huấn, tuyên truyền thông tin về chính sách BHYT cho người nghèo đến với các
cán bộ ở các tỉnh, thành triển khai chính sách.
Ví dụ: Ngày 20/5, Ban quản lý Dự án hỗ trợ Y tế các tỉnh Đông bắc bộ và
Đồng bằng Sông Hồng phối hợp với Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe
ở nhiều tỉnh, thành phố tổ chức tập huấn truyền thông về BHYT cho cán bộ làm
công tác truyền thông thuộc các đơn vị Y tế tuyến tỉnh, mở ra 34 lớp tập huấn
8


Nhóm 3
nâng cao truyền thông về BHYT về: các kĩ năng cơ bản trong truyền thông trực
tiếp, cách sử dụng tài liệu và hình thức truyền thông tại cộng đồng cho người
nghèo và cán bộ Y tế tại cơ sở khám, chữa bệnh.
2.2 Chỉ đạo tổ chức thực hiện chính sách BHYT cho người nghèo.
a. Phổ biến chính sách.
Việc phổ biến chính sách BHYT cho người nghèo được tuyên truyền bằng
nhiều hình thức khác nhau như: đài báo, truyền hình, mạng internet,… để giúp
mọi người biết về nội dung, nghĩa vụ và lợi ích của mình trong việc thực hiện
chính sách BHYT cho người nghèo.
b. Xây dựng, thẩm định, phê duyệt và quản lý các dự án của chính sách
BHYT cho người nghèo.
Bộ Y tế, Bộ Tài chính và các bộ ngành liên quan khác xây dựng, thẩm
định giám sát tổ chức thực hiện các khâu, các nội dung triển khai chính sách
BHYT cho người nghèo.
c. Xây dựng cơ chế quản lý, sử dụng các quỹ.
Bộ Tài chính, Bộ Lao động TB&XH, Bộ Y tế và các bộ ngành liên quan
xây dựng các quy định, cơ chế chi tiêu, quản lý tài chính cho thực hiện chính
sách BHYT cho người nghèo.
d. Tổ chức phối hợp hoạt động của các cơ quan tổ chức để thực thi chính
sách BHYT cho người nghèo.
Việc phối hợp, quản lý giữa các cơ quan tổ chức theo chiều dọc và chiều
ngang thông qua hệ thống thông tin, các cuộc trao đổi, hội thảo để tìm ra các mặt
được, mặt tồn tại của chính sách BHYT cho người nghèo rồi tìm ra phương
hướng, biện pháp điều chỉnh, hoàn thiện cách phối hợp của các cơ quan.
e. Chỉ đạo thực hiện chính sách BHYT cho người nghèo.
Bộ Y tế ra quyết định chỉ đạo các bệnh viện tuyến tỉnh, trung tâm Y tế,
trạm Y tế xã, phường để các cơ quan thực thi chính sách trong khuôn khổ, thẩm
quyền của minh.
Ví dụ: Bộ Y tế ra chỉ thị cho trạm Y tế thực hiện quy trình khám, chữa
bệnh theo chính sách BHYT cho người nghèo.
3. Đánh giá thực hiện chính sách BHYT cho người nghèo.
a. Thành tựu
Đảng, Nhà nước ngày càng có nhiều chủ trương, chính sách thiết thực
chăm lo đến sức khỏe người nghèo. Ví dụ: 15/10/2002 Thủ tướng chính phủ ban
hành Quyết định 139/2002.QĐ-TTg về khám chữa bệnh cho người nghèo.
9


Nhóm 3
Chính phủ kí quyết định 797/QĐ-TTg về nâng cao mức hỗ trợ đóng BHYT cho
người thuộc hộ gia đình cận nghèo từ 50%-70%.
Số tỉnh, thành phố hoàn thành thủ tục cấp thẻ BHYT cho người nghèo; số
người nghèo tham gia bảo hiểm y tế; số thẻ BHYT cấp cho người nghèo càng
tăng. Năm 2000 tăng 129.4% so với năm 1999.

 Bảng cho biết số người tham gia BHYTBB và BHYT người nghèo 2009
tăng 119.2% so với 2008. Năm 2010 người tham gia BHYTBB và BHYT
tăng 135.4% so với 2009. Năm 2014 người tham gia BHYT tăng là 5.35%
so với 2013. Tổng số đối tượng tham gia BHXH là 11.647.784 người tăng
590.356 người. Thẻ BHYT cấp cho người nghèo tăng lên. Nhiều tỉnh,
thành phố mở rộng diện người nghèo được cấp BHYT: HNội, HCMinh,
ĐNẵng,…
Công tác khám chữa bệnh được mở rộng về tuyến cơ sở, số trạm y tế xã,
phường tăng. Ví dụ: 100% các huyện cả nước có trung tâm y tế. Phát triển mạng
lưới y tế xã, phường đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe người dân ở vùng
nông thôn, vùng sâu, vùng xa đặc biệt là người nghèo, khắc phục được tình
trạng quá tải ở viện tuyến trung ương.
b. Hạn chế:

10


Nhóm 3
Kiểm tra, rà soát lập danh sách hộ nghèo ở địa phương mang tính chủ
quan, chiếu lệ, chưa đi sâu vào hoàn cảnh thực tế của người dân dẫn đến việc
cấp thẻ BHYT cho người nghèo mang tính tiêu cực, cấp phát không đúng người,
tình trạng này diễn ra rộng gây thất thoát tài sản của nhà nước và quyền lợi của
người dân.
Sở Lao động Thương binh và Xã hội cấp giấy xong là hết trách nhiệm,
gánh nặng tài chính chuyển sang cơ quan khám chữa bệnh.
Quỹ BHYT bị mất cân đối nghiêm trọng dẫn đến tình trạng “bao cấp
ngược – người nghèo trả BHYT cho người giàu”.
Tồn tại tình trạng đối tượng cận nghèo thờ ơ, quay lưng lại với BHYT.
Đội ngũ cán bộ y tế thiếu về số lượng, yếu kém về trình độ chuyên môn.
Ví dụ: có 10.926 trạm y tế, 47.092 giường bệnh lại chỉ có 2/3 tổng trạm
y tế có bác sĩ.
4. Điều chỉnh chính sách
Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, các cấp liên nghành
trong việc thực hiện BHYT cho người nghèo.
Nâng cao năng lực hành động của tuyến y tế xã, phường. Nâng cấp cơ sở
y tế bị xuống cấp, bổ sung cán bộ.
Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền ở tất cả các cấp bằng mọi hình
thức ( đài phát thanh, tạp chí, tiếp xúc,…)để nâng cao ý thức người dân .
Xây dựng quy trình chuẩn, công khai, minh bạch trong việc xác định hộ
nghèo, cận nghèo để làm cơ sở cấp BHYT.
Tranh thủ mọi nguồn lực phát triển quỹ BHYT, phân phối lại nguồn quỹ
BHYT đảm bảo công bằng xã hội, củng cố lòng tin người dân.
5. Tổng kết thực hiện chính sách
BHYT cho người nghèo là 1 vấn đề quan trọng trong tiến trình thực hiện
BHYT toàn dân, đảm bảo sự phát triển bền vững, nhanh quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
Kết quả của thực hiện chính sách BHYT cho người nghèo khẳng định sự
quan tâm của Đảng, Nhà nước, toàn dân đến người nghèo.
BHYT cho người nghèo là vũ khí hữu hiệu để tấn công vào đói nghèo, thể
hiện truyền thống nhân văn, nhân ái “ lá lành đùm lá rách” , xây dựng xã hội
bình đẳng, bác ái.
11


Nhóm 3

12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×