Tải bản đầy đủ

Đưa phim truyền hình và phim tư liệu vào trong các tiết dạy môn ngữ văn 9 nhằm làm tăng hứng thú học tập cho học sinh

UBND HUYỆN KRÔNG ANA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Tên đề tài
ĐƯA PHIM TRUYỀN HÌNH VÀ PHIM TƯ LIỆU VÀO TRONG CÁC
TIẾT DẠY MÔN NGỮ VĂN NHẰM LÀM TĂNG HỨNG THÚ
HỌC TẬP CHO HỌC SINH

Lĩnh vực: Ngữ văn
Họ và tên tác giả: Trần Thị Lệ
Đơn vị: Trường THCS Lương Thế Vinh

Krông Ana, tháng 4 năm 2019

1


MỤC LỤC
Trang
PHẦN I: MỞ ĐẦU..........................................................................................1
1. Đặt vấn đề.....................................................................................................1

2. Mục đích nghiên cứu...................................................................................1
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.................................................................2
I. Cơ sở lí luận của vấn đề...............................................................................2
II. Thực trạng của vấn đề................................................................................3
III. Các giải pháp tiến hành để giải quyết vấn đề.........................................4
1. Mục tiêu của giải pháp................................................................................4
2. Nội dung và cách thức thực hiện................................................................4
IV.Tính mới của giải pháp..............................................................................12
V. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm........................................................12
PHẦN III: KẾT LUẬN..................................................................................13
I. Kết luận........................................................................................................13
II. Kiến nghị....................................................................................................13
TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................15

2


PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề
Người xưa vẫn thường nói: “Biết mà học không bằng thích mà học, thích
mà học không bằng say mà học”. Yếu tố cảm xúc, say mê chính là động lực lớn
thúc đẩy, nuôi dưỡng sự cố gắng, nỗ lực học tập không ngừng của mỗi chúng
ta. Thế nhưng hiện nay, đa phần các em học sinh không mấy hứng thú với môn
Ngữ Văn. Hầu như các em và kể cả phụ huynh học sinh thường quan tâm tới
các môn Tự nhiên. Họ cho rằng: thời kì Khoa học hiện đại phát triển thì xã hội
cần những người tài giỏi về các môn Toán, Lí, Hóa, Ngoại ngữ, Tin học, còn
riêng môn Văn mấy ai để ý tới.
Văn vốn lãng mạn, giàu tính tưởng tượng, không khô khan, nhưng vì cho
rằng thiếu “năng khiếu” nên hầu hết các em thấy chán nản, không đam mê học.
Dần rồi thành thói quen, học cho có, học một cách đối phó, miễn cưỡng.
Xuất phát từ những thực tại còn tồn đọng và kinh nghiệm giảng dạy thực
tiễn của bản thân, với mong muốn, trong từng bài dạy, trong từng giờ học văn,
học sinh luôn hứng thú, chủ động, yêu thích môn học. Từ đó góp phần nâng cao
hiệu quả dạy học nên tôi chọn đề tài: “Đưa phim truyền hình và phim tư liệu
vào trong các tiết dạy môn Ngữ văn 9 nhằm làm tăng hứng thú học tập cho
học sinh” trong công tác giảng dạy của mình.
II. Mục đích nghiên cứu
Từ thực tế giảng dạy bộ môn Ngữ văn lớp 9 tôi nhận thấy muốn giờ dạy
đạt hiệu quả cao, giáo viên phải khơi dậy được hứng thú học tập của học sinh.
Từ đó mới phát huy được tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh. Thực
tế cũng đã chứng minh rằng, khi giáo viên khơi gợi được hứng thú học tập thì
hiệu quả được nâng cao, học sinh tích cực chủ động trong học tập. Trong phạm
vi của Sáng Kiến Kinh Nghiệm, tôi xin đề cập đến phương pháp: “Đưa phim
truyền hình và phim tư liệu vào trong các tiết dạy môn Ngữ văn 9 nhằm
làm tăng hứng thú học tập cho học sinh” với mục đích thực hiện mục tiêu
đổi mới phương pháp dạy và học, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin
trong giảng dạy. Đồng thời phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động sáng
tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học. Bồi dưỡng cho
các em phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh
khi học Văn.
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lí luận của vấn đề
Ông cha ta vẫn thường nói “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”. Từ sự
quan sát chứng kiến thực tế, con người ta sẽ học hỏi, biết thêm được nhiều điều
mới lạ, bổ ích. Có dịp “khơi những nguồn chưa ai khơi” và biết những điều
nhiều người chưa biết. Từ việc tiếp xúc thực tế, học sinh sẽ có ấn tượng sâu sắc
3


hơn, rõ nét hơn và chắc chắn là nhớ lâu hơn nếu chỉ nghe bằng tai. Bởi vậy mà
phương pháp “trực quan” - “mắt nhìn” mà trong giáo dục có vai trò vô cùng
quan trọng.
Đối với môn Ngữ văn, trực quan không chỉ dừng ở mức để nhận biết sự
vật, sự việc mà trực quan còn có giá trị khơi dòng cảm xúc, gợi hứng thú, tích
cực học tập, từ những rung động chân thành, người học sẽ có tâm thế học tốt
hơn, hiệu quả hơn.
Như Hoài Thanh đã từng khẳng định văn chương là hình dung của sự
sống, xuất phát từ trong cuộc sống. Chính vì thế, người giáo viên dạy Văn phải
biết tái hiện bức tranh hiện thực cuộc sống ấy trước mắt học sinh, biến những
bài học khô khan trở thành những giờ giải trí, giúp các em khám phá được bao
điều kì thú của cuộc sống con người. Thế nhưng, làm thế nào để các em cảm
nhận hết được cái hay, cái đẹp của văn chương, có hứng thú và đam mê học văn
hơn? Đó không chỉ là câu hỏi làm nhức nhối biết bao thế hệ nhà giáo mà đó
còn là trách nhiệm chung của toàn xã hội, của tất cả những người làm công tác
giáo dục và đặc biệt là của chính bản thân người giáo viên giảng dạy bộ môn
này.
Là giáo viên dạy văn có lẽ chúng ta đều công nhận rằng cái khó nhất mà
cũng quan trọng nhất trong dạy học văn chính là khơi gợi những cảm xúc,
những rung động trong tâm hồn người học sinh. Từ đó hình thành sợi dây tình
cảm gắn kết người học với bộ môn. Để làm được điều này, đòi hỏi người giáo
viên vận dụng nhiều phương pháp, biện pháp như hỏi - đáp, thuyết trình, và đặc
biệt là trực quan.
II. Thực trạng của vấn đề:
1. Thuận lợi
- Được sự quan tâm của Sở, Phòng giáo dục và Ban giám hiệu nên hàng
năm các giáo viên đều được bồi dưỡng thường xuyên về vấn đề thay sách và
đổi mới phương pháp dạy học.
- Bên cạnh đó tôi còn được sự giúp đỡ nhiệt tình và trao đổi những kinh
nghiệm quý báu từ các đồng nghiệp trong tổ chuyên môn, cụm tổ bộ môn cũng
như các đồng nghiệp cùng bộ môn trong huyện nhà.
- Bản thân tôi cũng có nhiều cố gắng học hỏi, tìm tòi những phương pháp
giảng dạy phù hợp nhằm nâng cao chất lượng bộ môn và đặc biệt là giúp các
em ham thích môn học này.
- Phần lớn các em đều là học sinh chăm ngoan của những năm học trước.
Vì thế, hầu hết các em đã ý thức được Ngữ văn là môn học quan trọng. Các em
luôn cố gắng phấn đấu để đạt được kết quả tốt, không bị khống chế trong xếp
loại học lực. Các giờ học đã có sự nhiệt tình, năng nổ nên việc xây dựng bài
học theo hướng kích thích nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo cho
học sinh đạt được hiệu quả cao.
4


2. Khó khăn
- Với độ tuổi còn nhỏ, các em chưa được tiếp xúc nhiều với thế giới bên
ngoài. Nhiều lĩnh vực, nhiều hiện tượng, sự vật trong tự nhiên, xã hội ...các em
chưa biết đến. Thế nên việc dạy và học văn thuyết minh (đề cập đến các tri thức
ở mọi lĩnh vực đời sống) là một điều tương đối khó.
- Hơn nữa tài liệu minh họa và đồ dùng dạy học phục vụ cho việc giảng
dạy chưa phong phú (chủ yếu chỉ có vài bức tranh ảnh và tài liệu tham khảo)
nên việc chuẩn bị bài đầu tư cho môn học còn gặp nhiều khó khăn.
- Trường tôi đang dạy là một trường ở thị trấn nhưng đa phần học sinh
xuất thân từ nông thôn, di cư từ nhiều vùng đến. Hoàn cảnh gia đình các em
còn nhiều khó khăn. Nhiều em do áp lực gia đình về học hành nên học theo
kiểu đối phó.
- Tâm lí học sinh đa phần là ngại học Văn. Các em cho rằng Văn “dài
dòng”, đã vậy lại không có cảm xúc thật, điểm không được cao như các môn
khác. Mỗi lần soạn bài các em hầu như xem sách tham khảo rồi chép, dẫn đến
cách học thụ động. Cách hiểu và học Văn như thế khiến các em học ngày càng
yếu đi, dẫn đến chán học, ngại học, thấy Văn là “buồn ngủ”.
- Một số gia đình do hoàn cảnh khó khăn, lo làm ăn để trang trải cuộc
sống nên chưa quan tâm đến việc học tập của con em. Một số khác do công
việc bận bịu nên bỏ bê con cái, phó mặc cho nhà trường nên dẫn đến các em lơ
là, chểnh mảng trong học tập, đặc biệt là môn Văn.
* Chất lượng bộ môn Ngữ văn của 3 lớp đang tiến hành khảo nghiệm và
thực hiện giải pháp của năm học 2017-2018:
Lớp


số

Điểm
Giỏi

Tỉ lệ

Điểm
Khá

Tỉ lệ

Điểm
TB

Tỉ lệ

Điểm Tỉ lệ
Yếu

8A1

25

0

0

5

20

15

60

5

20

8A2

25

0

0

6

24

15

60

4

16

8A3

32

8

25

12

37.5

12

37.5

0

0

Từ những thực trạng trên, tôi đã lần lượt áp dụng các giải pháp vào 3 lớp
mà tôi đang trực tiếp giảng dạy (9A1,9A2,9A3) nhằm phát huy được tính tích
cực, chủ động của học sinh đồng thời giúp học sinh tăng hứng thú khi học Văn,
nâng cao chất lượng bộ môn Ngữ văn.
Trước khi tiến hành áp dụng các giải pháp đưa phim tư liệu và phim
truyền hình vào bài giảng, tôi đã tiến hành khảo sát mức độ yêu thích của học
sinh đối với môn Ngữ văn.

5


Tôi đưa ra câu hỏi khảo sát đối với 82 em học sinh: Em có thích học
môn Ngữ văn không? Vì sao?
Sau khi làm bài, kết quả mà giáo viên thu được như sau:
Sĩ số khảo sát là 82 em, trong đó có 15 em trả lời yêu thích chiếm 18.3%,
còn lại 67 em trả lời không thích hoặc không biết chiếm 81,7%. Đa số lí do các
em nêu ra như sau:
- Môn Ngữ văn nhiều chữ quá nên khi học dễ mệt mỏi, buồn ngủ.
- Khi học văn các em ít được xem hình ảnh, tư liệu… nên ít gây được
hứng thú…
III. Các giải pháp tiến hành để giải quyết vấn đề
1. Mục tiêu của giải pháp
Thực hiện đề tài này, tôi mong muốn có thể nâng cao được chất lượng học
tập, thay đổi thói quen học Văn của học sinh. Giúp các em có kĩ năng viết bài
cảm nhận về nhân vật, phân tích tác phẩm, làm bài văn thuyết minh và phát
huy được tính sáng tạo, chủ động trong cách học và khơi gợi niềm đam mê học
Văn, làm Văn cho các em. Đồng thời tôi cũng muốn lồng ghép để giáo dục đạo
đức, kĩ năng sống cho học sinh để các em không chỉ là những học sinh giỏi mà
còn ngoan ngoãn và có đạo đức tốt.
2. Nội dung và cách thức thực hiện
Giải pháp 1. Xây dựng hình tượng người thầy mẫu mực
Trước hết giáo viên phải là tấm gương sáng về đạo đức, lòng yêu nghề,
ham học hỏi và luôn luôn phấn đấu để trau dồi chuyên môn cho học sinh noi
theo. Bản thân tôi vừa là giáo viên dạy Ngữ văn vừa tổ trưởng tổ bộ môn Ngữ
văn nên khi đến trường tôi luôn giữ tác phong chuẩn mực làm gương cho học
sinh.
Khi lên lớp, theo tôi, giáo viên cần có lời nói gọn, rõ ràng, dứt khoát.
Khi nói nhìn thẳng vào học sinh, nói thẳng với các em chứ đừng nói như nói
với chính mình hay nói khơi khơi giữa lớp. Dùng từ, câu dễ hiểu, phù hợp với
trình độ học sinh. Biết lắng nghe học sinh nói. Mỗi khi các em phát biểu ý kiến
hay nói một điều gì, thầy cô dù bận rộn cũng phải lắng nghe các em nói. Có
như vậy khi thầy cô nói các em mới chú ý nghe trở lại.
Giải pháp 2. Cuẩn bị tốt giáo án, bài dạy nhằm tạo niềm tin, tình yêu
của học sinh đối với môn Ngữ văn
- Biện pháp 1. Xác định phương pháp, kĩ thuật dạy học
Đây là một bước vô cùng quan trọng, bởi nó là kim chỉ nam giúp giáo
viên tổ chức tiết dạy hiệu quả hay không. Mỗi một bài dạy, một phân môn có
những phương pháp, kĩ thuật dạy học khác nhau. Vì thế giáo viên cần làm chủ
kiến thức, xác định được phương pháp dạy học phù hợp nhằm phát huy tính

6


tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình tiếp nhận kiến thức. Để thực
hiện tốt biện pháp này, trước hết, ngay buổi học đầu tiên, tôi dành một phần ba
thời gian tiết học để làm quen với các em. Cho các em thẳng thắn trao đổi về
vai trò và ý nghĩa của việc học Văn. Từ đó định hướng bước đầu cho các em về
cách thức, phương pháp học bộ môn này sao cho hiệu quả. Tôi hướng dẫn cụ
thể cách chuẩn bị bài ở nhà như thế nào cho phù hợp với từng loại bài.
- Biện pháp 2. Chuẩn bị phương tiện dạy học, giáo án tốt trước khi vào
tiết dạy.
Sau khi xác định được mục tiêu, phương pháp, kĩ thuật dạy học, giáo
viên yêu cầu học sinh chuẩn bị tốt các phương tiện dạy học cần thiết. Ví dụ, ở
những tiết dạy cần có phim tư liệu, phim truyền hình thì giáo viên phải chuẩn bị
máy chiếu, máy tính (tivi có kết nối internet), bảng phụ, tranh ảnh…cần thiết;
học sinh chuẩn bị bảng phụ, phiếu học tập… Để tổ chức tốt một tiết học thì
điều không thể thiếu là giáo viên phải soạn kĩ bài trước khi đến lớp. Giáo viên
làm chủ kiến thức, nắm chắc nội dung bài dạy.
Giải pháp 3. Đưa phim truyền hình và phim tư liệu vào trong tiết
dạy
- Biện pháp 1. Lựa chọn phim tư liệu, phim truyền hình cần đưa vào
bài giảng.
Một nhiệm vụ quan trọng để có những tiết dạy sinh động, hấp dẫn là giáo
viên phải lựa chọn phim tư liệu hấp dẫn, phù hợp với nội dung bài dạy. Bởi
khối lượng phim tư liệu, hình ảnh…trên internet là vô cùng lớn, nếu không tìm
hiểu kĩ sẽ khiến cho tiết học nhàm chán hoặc mất thời gian làm ảnh hưởng đến
các hoạt động học khác. Không chỉ yêu cầu học sinh mà giáo viên cũng phải
chuẩn bị tốt bài dạy nếu muốn tiết dạy hiệu quả, học sinh hứng thú với môn
học.
Đối với phần Văn bản: cần đọc kĩ tác phẩm, tìm hiểu thêm thông tin về
đời tư, sự nghiệp sáng tác của tác giả. Từ đó sẽ thấu hiểu được những tư tưởng,
những ý đồ mà tác giả muốn gửi gắm. Tìm hiểu nội dung văn bản để xác định
vị trí cần đưa phim tư liệu hay phim truyền hình để tránh việc lạc đề hay mất
thời gian của tiết học làm loãng kiến thức bài dạy.
Đối với phần Tiếng Việt: cần đọc kĩ và thử phân tích ngữ liệu có trong
sách giáo khoa. Không bắt buộc các em làm đúng mà yêu cầu các em đọc kĩ,
trình bày theo cách hiểu của bản thân. Có thể lấy thêm ngữ liệu ở sách tham
khảo hoặc những bài tập trong các sách khác.
Phần Tập làm văn: ngoài việc đọc hiểu kĩ, phân tích ngữ liệu, các em
cũng cần phải áp dụng lí thuyết vào bài văn cụ thể. Thường xuyên lập dàn bài
và tập viết những đoạn văn ngắn để rèn luyện cách viết. Mỗi tuần sẽ có thêm
bài tập về nhà phần Tập làm văn. Thường là viết những đoạn văn ngắn theo chủ
đề và lập dàn bài cho một đề văn cụ thể (có thể sử dụng bằng sơ đồ tư duy).

7


Từ định hướng ấy, tôi bắt đầu thao tác soạn giảng giáo án điện tử, chuẩn
bị đồ dùng dạy học và chèn các đoạn truyền hình, phim tư liệu vào bài giảng.
Biện pháp 2. Đưa phim truyền hình và phim tư liệu vào bài giảng
Các tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn sau Cách mạng tháng
Tám đã phản ánh sâu sắc đời sống của nhân dân; sự cống hiến quên mình, vượt
qua mọi khó khăn thiếu thốn, hiểm nguy vì quê hương đất nước. Là thế hệ sau,
được sống trong điều kiện vật chất tương đối đầy đủ , một cuộc sống hòa bình
nhiểu em chưa cảm nhận được những năm tháng chiến tranh gian khổ của cha
ông. Bởi thế mà, việc tái hiện lại cuộc chiến đấu gian khổ, ác liệt mà hào hùng
của dân tộc ta là một điều cần thiết để các em hiểu sâu sắc hơn nội dung tư
tưởng mà các tác phẩm văn học mang lại.
Khi dạy văn bản “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến
Duật, văn bản “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê tôi yêu cầu các em
chuẩn bị bài tốt ở nhà để khi lên lớp các em tiếp nhận kiến thức nhanh hơn.
Trước khi đi vào tìm hiểu nội dung văn bản, tôi chiếu một đoạn phim tư liệu về
hình ảnh những chiếc xe không kính, những người lính lái xe, những cô thanh
niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn trong cuộc kháng chiến chống
Mĩ ác liêt. Qua việc cảm nhận bằng ngôn từ, các em học sinh còn được quan sát
từ đó các em dễ hình dung ra sự gian khổ khốc liệt của những năm tháng chiến
tranh. Từ đó sẽ tạo được sự đồng cảm ở các em. Tất cả những điều các em quan
sát và ngẫm nghĩ được sẽ là một kho “tư liệu” quý giá để các em hoàn thành bài
kiểm tra văn bản sau này của mình.

Học sinh xem phim tư liệu về những chiến sĩ lái xe ở Trường Sơn

8


Học sinh xem phim tư liệu về những cô gái Thanh niên xung phong

Sinh ra và lớn lên ở mảnh đất Tây Nguyên, rất nhiểu em chưa từng biết đến Sa
Pa như thế nào. Nếu khi dạy văn bản “Lặng lẽ Sa Pa” giáo viên chỉ đơn thuần
tổ chức các hoạt động dạy học để học sinh tìm hiểu kiến thức thì tiết học rất dễ
nhàm chán, học sinh khó hình dung ra vẻ đẹp của Sa Pa. Vì thế, tôi đã chiếu
một đoạn phim tư liệu về vẻ đẹp của Sa Pa để các em quan sát và cảm nhận.
Tôi tin chắc rằng, sau tiết học, khi hỏi về vẻ đẹp của Sa Pa các em sẽ nhớ lâu
và cảm nhận tốt hơn rất nhiều so với tiết dạy chỉ sử dụng tranh ảnh.
Vậy, một vấn đề đặt ra là đưa đoạn phim tư liệu vào phần nào của tiết
dạy để đảm bảo nội dung và thời lượng hợp lí. Phần này là sự linh động trong
cách tổ chức hoạt động học của giáo viên. Bản thân tôi, tiến hành như sau: Sau
khi cho học sinh tiến học tìm hiểu chung về văn bản, tìm hiểu tình huống
truyện, đến đoạn vẻ đẹp của thiên nhiên SaPa tôi sẽ dành thời lượng một phút
để các em quan sát và cảm nhận qua đoạn phim tư liệu. Sau khi các em quan
sát đoạn phim và đọc văn bản ở phần trước, sẽ dễ dàng cảm nhận được vẻ đẹp
thơ mộng của thiên nhiên SaPa.

9


Học sinh quan sát đoạn phim tư liệu về vẻ đẹp của Sa Pa

Đối với các văn bản nhật dụng, việc đưa phim tư liệu, phim truyền hình
vào tiết dạy là một điều vô cùng cần thiết. Ví dụ, khi dạy văn bản “Phong cách
Hồ Chí Minh” (Lê Anh Trà) tôi đã cho các em xem đoạn phim tư liệu về Bác
khi giới thiệu về vẻ đẹp trong phong cách Hồ Chí Minh.

10


Học sinh quan sát đoạn phim về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hay khi dạy văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” ngoài việc
tìm hiểu nội dung trong sách giáo khoa thì việc chiếu những thước phim tư liệu
về tội ác, sự khốc liệt, tàn bạo của chiến tranh và chiến tranh hạt nhân là một
giải pháp giúp học sinh nắm được kiến thức nhanh nhất.

11


Học sinh quan sát đoạn phim nói về sự khốc của chiến tranh

Đối với phần Tiếng Việt:
Tiếng Việt vốn là phân môn có kiến thức mang tính chính xác cao. Tuy
nhiên tôi đã mạnh dạn lồng ghép những đoạn phim truyền hình vào vừa để tạo
hứng thú, rèn luyện kĩ năng quan sát và tư duy đồng thời củng cố về kiến thức.
Hơn nữa, đó lại là những đoạn phim trong các văn bản đã học. Thế nên ngoài
việc bổ trợ kiến thức Tiếng Việt, nó còn giúp các em hiểu sâu hơn về các tác
phẩm đã học, biết kết hợp nhuần nhuyễn kiến thức phân môn, liên môn.
Khi dạy tiết 43: “Nghĩa tường minh và hàm ý”. Với phần tìm hàm ý
trong câu nói của chị Dậu, tôi đã lồng đoạn phim “Chị Dậu 1989” với cảnh chị
Dậu đau đớn thông báo với cái tí là mình sẽ bán con cho nhà cụ Nghị. Yêu cầu
học sinh xem phim xong, cô mới cho các em tìm hàm ý trong những câu đối
thoại của hai nhân vật. Từ cuộc đối thoại, các em vừa hiểu được tình cảnh đáng
thương của gia đình chị Dậu, lại vừa xác định được hàm ý. Không chỉ thế, giáo
viên còn có thể nâng cao kiến thức cho học sinh khi lồng ghép với bài tập 1
trong sách giáo khoa.
Khi dạy bài “Các phương châm hội thoại”, giáo viên có thể tìm những
đoạn phim hài để thấy được việc sử dụng các phương châm hội thoại đa dạng
như thế nào. Từ đó vừa tạo không khí vui vẻ, thoải mái cho tiết học vừa giúp
học sinh nhớ lâu.
Đối với phần Văn bản và Tập làm văn phần văn thuyết minh, tôi tiếp tục
đưa các đoạn phim tư liệu vào bài giảng để tạo hứng thú cho các em học tập.
Khi dạy bài “Sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh”, tôi
đã lòng ghép phim tư liệu “Cây chuối trong đời sống con người Việt Nam” vào
bài giảng để học sinh vừa nghe vừa quan sát về cây chuối. Với khoảng thời
gian 3 phút, học sinh được quan sát hình dáng, đặc điểm, lợi ích từ cây chuối
mang lại cho đời sống con người. Từ phương pháp trực quan sinh động này,
học sinh có thể ghi nhớ kiến thức lâu hơn bởi trước mắt các em là những hình
12


ảnh minh họa cụ thể, rõ ràng, đầy ấn tượng. Bên cạnh những hình ảnh chân
thực ấy, lời bình vô cùng hấp dẫn trong phim còn có tác dụng giúp học sinh có
thêm vốn từ, kiến thức thực tế để sau này viết bài tốt hơn.

Hình ảnh minh họa: Học sinh xem phim tư liệu về lợi ích của cây chuối

Khi dạy bài “Một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh”,
tìm hiểu ngữ liệu về ruồi xanh qua văn bản “Ngọc hoàng sử tội ruồi xanh”, sau
phân tích ngữ liệu, học sinh xác định được các biện pháp nghệ thuật sử dụng
trong văn bản thuyết minh, tìm hiểu về đặc điểm của loài ruồi xanh, giáo viên
lồng ghép cho học sinh xem đoạn phim tư liệu về loài ruồi. Làm như vậy, học
sinh không chỉ nhớ được kiến thức về các biện pháp nghệ thuật mà các em còn
khắc sâu về những đặc tính của loài ruồi xanh.

Học sinh xem phim tư liệu về loài ruồi xanh

Khi dạy văn học địa phương, tôi đã đưa những đoạn phim tư liệu vào bài
giảng một cách phù hợp để học sinh có thể quan sát và dễ hình dung hơn. Ví dụ

13


khi dạy bài “Vườn quốc gia Yok Đôn”, khi tôi hỏi “các em đã được đến thăm
vườn Quốc gia Yok Đôn chưa?”, thì hầu như các em đều trả lời là chưa. Vậy thì
việc sử dụng những đoạn phim tư liệu trên mạng Internet để giới thiệu về địa
điểm này là một giải pháp hay. Bởi nó giúp cho các em “du lịch bằng mắt” để
tìm hiểu những đặc trưng, giá trị của vườn Quốc gia Yok Đôn đối với đời sống
của con người Đăk Lăk nói riêng và nước Việt Nam nói chung.

Học sinh quan sát đoạn phim tư liệu về vườn quốc gia Yok Đôn trước khi tìm hiểu nội dung
bài học

IV. Tính mới của giải pháp
Đây là phương pháp mang tính giáo dục cao. Được hình thành từ việc
tiếp thu kiến thức đã học qua việc quan sát, tìm hiểu và khả năng tư duy sáng
tạo một cách khoa học, để áp dụng vào thực tiễn bằng những tình huống cụ thể.
Từ đó giúp học sinh có kiến thức, kĩ năng viết bài cảm nhận và làm bài văn
thuyết minh tốt hơn, đồng thời giúp các em có thêm tinh thần tự giác học tập,
tích cực, chăm phát biểu, làm bài hơn và đặc biệt yêu thích môn Ngữ văn hơn.
Điều này thấy rõ trong bài kiểm tra cuối học kì. Tỉ lệ bộ môn tăng lên rõ rệt so
với các lớp khác.
V. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Sau khi áp dụng những phương pháp trên, đa số giờ học Văn của lớp tôi
dạy học sinh đều hứng thú, hăng hái phát biểu xây dựng bài, làm bài tốt, đầy đủ
ý. Từ đó mà kết quả học tập của học sinh lớp 9 qua các năm học 2017-2018;
2018-2019 đã có sự chuyển biến rõ rệt. Riêng lớp 9ª1,9ª2,9ª3 của năm học
2018-2019 đã có những chuyển biến ró nét về chất lượng bộ môn so với năm
trước.

14


Kết quả trung bình môn cả năm của các lớp tôi đã dạy và áp dụng giải
pháp:
Năm học 2017-2018. Khi áp dụng giải pháp chưa triệt để
Lớp


số

Điểm
Giỏi

Tỉ lệ

Điểm
Khá

Tỉ lệ

Điểm
TB

Tỉ lệ

Điểm Tỉ lệ
yếu

9A4

32

2

6.25

10

31.25

17

53.13

3

9.4

9A5

35

4

11.4

15

42.9

15

42.9

1

2.9

Năm học 2018-2019. Khi áp dụng giảo pháp triệt để, linh hoạt
Lớp


số

Điểm
Giỏi

Tỉ lệ

Điểm
Khá

Tỉ lệ

Điểm
TB

Tỉ lệ

Điểm Tỉ lệ
Yếu

9A1

25

4

16

10

40

9

36

2

8

9A2

25

3

12

10

40

11

44

1

4

9A3

32

10

31.6

16

50

6

18.8

0

0

Khảo sát tỉ lệ yêu thích bộ môn Ngữ văn của 3 lớp tôi trực tiếp giảng
dạy. Trong tổng số 82 em thì có 70 (85,4%) em trả lời là yêu thích môn Ngữ
văn, rất thích học, thích lắng nghe cô giảng bài. Các em đều nói, khi học được
xem phim tư liệu, phim truyền hình, tranh ảnh phong phú kết hợp với lời giảng,
bình của cô nên tiết học sinh động, các em không còn có trạng thái buồn ngủ
hay cảm thấy mệt mỏi khi đến tiết học nữa. Tỉ lệ yêu thích môn Ngữ văn tăng
lên từ 18.3% lên 85.4%. Đó là một con số đáng mừng cho thấy giải pháp tôi áp
dụng là hiệu quả.
Từ tổng hợp kết quả trên cho thấy, học sinh đã có những chuyển biến
tích cực trong việc học môn Ngữ văn. Vì vậy, có thể nói: một trong những
nguyên nhân để tạo ra kết quả đáng mừng đó chính là việc giáo viên đã đưa
phim truyền hình và phim tư liệu vào bài giảng, hướng dẫn, kích thích cũng
như khơi gợi tiềm năng học Văn và làm Văn trong các em.
PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
I. Kết luận
Có thể nói, cốt lõi của việc tạo hứng thú, tạo tâm thế hưng phấn, tích cực
cho học sinh trong học tập bộ môn nói chung và môn Ngữ văn nói riêng là đổi
mới phương pháp dạy học, dạy học theo hướng lấy hoạt động học tập của học
sinh làm trung tâm, học trò là người chủ động khám phá, lĩnh hội kiến thức,
người thầy đóng vai trò là người tổ chức, chỉ đạo. Vì vậy, việc nghiên cứu tìm
những hướng tiếp cận bài học linh hoạt, khoa học, hợp lí nhằm tạo hứng thú
học tập của học sinh trong dạy học Ngữ văn là rất cần thiết. Qua trải nghiệm
15


thực tế, tôi nhận thấy rằng nâng cao chất lượng bộ môn, tạo hứng thú học tập ở
các em ta cần phải biết chọn điểm xuất phát thích hợp với đặc điểm riêng của
từng trường, từng lớp, từng đối tượng học sinh,…Muốn có được kết quả tốt
trong giáo dục cần có các phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng và kết
hợp tốt các phương tiện dạy học. Bên cạnh đó, cần không ngừng nâng cao bồi
dưỡng chuyên môn, áp dụng các phương pháp dạy học mới để kết quả học có
chất lượng hơn. Và đặc biệt cần phải kích thích được khả năng sáng tạo, tư duy,
niềm đam mê học Văn từ chính học sinh.
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “Đưa phim truyền hình và phim tư liệu
vào trong các tiết dạy môn Ngữ văn 9 nhằm làm tăng hứng thú học tập cho
học sinh” mang một ý nghĩa rất quan trọng và là một việc làm hết sức cần
thiết. Bởi lẽ, qua quá trình quan sát, học tập và rèn luyện này học sinh sẽ có
thêm nhiều kiến thức hữu ích giúp các em dễ dàng tiếp cận và trình bày cảm
nhận của mình trước một tác phẩm, một nhân vật văn học hơn. Hơn nữa,
việc quan sát, tìm hiểu những Danh lam thắng cảnh, làng nghề nổi tiếng…sẽ
giúp các em làm tốt dạng văn thuyết minh và bồi đắp thêm tình yêu đối với
quê hương đất nước và yêu thích môn Văn hơn. Cũng từ đó mà kết quả học
tập cùng nhận thức của các em được nâng cao rõ rệt. Các em biết quý trọng,
yêu thương, biết nhận thức cái đúng, sai, biết tự hoàn thiện mình. Các em sẽ
tích cực hơn trong việc tham gia các hoạt động học tập, rèn luyện, kể cả các
hoạt động mang ý nghĩa cộng đồng.
Trong quá trình áp dụng đề tài này vào trong thực tiễn giảng dạy, tôi thấy
kết quả có chuyển biến, chất lượng bộ môn được nâng lên. Số học sinh mà tôi
dạy ngày càng yêu thích học môn Ngữ văn hơn. Các em chủ động sáng tạo
trong giờ học, mạnh dạn phát biểu ý kiến xây dựng bài học. Và đặc biệt học
sinh làm tốt dạng viết đoạn văn cảm nhận về nhân vật và dạng văn thuyết minh.
Điều này được thể hiện cụ thể qua các kì thi học kì.
II. Kiến nghị
Sau khi nghiên cứu đề tài này, tôi thấy kết quả đạt được rất khả quan, vì
vậy tôi rất mong muốn phương pháp mà tôi đưa ra có thể được áp dụng trong
việc dạy học để nâng cao chất lượng học tập của học sinh. Tôi cũng rất mong
nhận được sự góp ý quý báu của Ban giám hiệu, Tổ chuyên môn cùng các đồng
nghiệp để cho đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Buôn Trấp, ngày 25 tháng 4 năm 2019
Người viết sáng kiến

Trần Thị Lệ

16


NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………

17


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 9, tập một – NXB Giáo Dục
2. Sách giáo khoa Ngữ văn 9, tập hai – NXB Giáo Dục
3. Sách giáo viên Ngữ văn 9, tập một và hai - NXB Giáo Dục
4. Tài liệu tập huấn giáo viên của Bộ giáo dục và đào tạo về đổi mới phương
pháp dạy học (Tài liệu lưu hành nội bộ)
5. Bộ giáo dục và đào tạo – Dự án phát triển Giáo dục THCS II Một số chuyên
đề bồi dưỡng Cán bộ quản lí và giáo viên THCS. (Tài liệu lưu hành nội bộ)
6. Tham khảo tài liệu trên google.vn

18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×