Tải bản đầy đủ

Một số giải pháp hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ nhà trẻ 24 36 tháng ở trường mầm non trên địa bàn huyện bình xuyên – tỉnh vĩnh phúc

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

HỒ SƠ XÉT CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

- Tên sáng kiến: Một số giải pháp hình thành kỹ năng tự phục vụ cho
trẻ nhà trẻ 24- 36 tháng ở trường Mầm non trên địa bàn huyện Bình
Xuyên – Tỉnh Vĩnh Phúc.
- Tác giả: Chu Thị Dung
- Đơn vị công tác: Trường Mầm Non Thiện Kế - Huyện Bình Xuyên – Tỉnh
Vĩnh Phúc
- Chức vụ: Giáo Viên.
- Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm.


Thiện Kế, năm 2019

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng sáng kiến huyện Bình Xuyên

a) Tác giả sáng kiến: Chu Thị Dung
- Ngày tháng năm sinh: 22/12/1985

Nam, nữ: Nữ.

- Đơn vị công tác: Trường Mầm Non Thiện Kế.
- Chức danh: Giáo Viên
- Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm mầm non.
- Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến : Không.
b) Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Chu Thị Dung.
c) Tên sáng kiến; lĩnh vực áp dụng; mô tả bản chất của sáng kiến; các
thông tin cần được bảo mật (nếu có):
- Tên sáng kiến: Một số giải pháp hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ
nhà trẻ 24- 36 tháng ở trường Mầm non trên địa bàn huyện Bình Xuyên – Tỉnh
Vĩnh Phúc.
- Lĩnh vực áp dụng:


Áp dụng ở các trường Mầm Non trên toàn huyện Bình Xuyên trong lĩnh vực
giáo dục kỹ năng ở các trường Mầm Non.
- Mô tả sáng kiến:
+ Về nội dung của sáng kiến:
Sáng kiến đưa ra các giải pháp để giúp trẻ hình thành kỹ năng tự phục vụ
bản thân, đồng thời tạo ra môi trường giáo dục giúp trẻ hình thành những thói quen
tốt trong sinh hoạt thường ngày, trong giao tiếp và ứng xử của trẻ đối với bản thân
và những người xung quanh. Bản thân giáo viên và đồng nghiệp có thêm kinh
nghiệm trong việc tổ chức các hoạt động cho trẻ trải nghiệm cuộc sống, biết cách
xây dựng môi trường cho trẻ hoạt động. kỹ năng tổ chức các hoạt động chăm sóc
giáo dục trẻ
Một số giải pháp hình thành kỹ năng tự phục vụ cho trẻ nhà trẻ 24 – 36
tháng tuổi trên địa bàn Tỉnh Vĩnh Phúc.
Giải pháp 1: Tìm hiểu về thực trạng
Để nắm bắt được khả năng tự phục vụ của trẻ tới đâu thì ngay từ đầu năm
học tôi đã khảo sát khả năng tự phục vụ của tất cả các trẻ trong lớp và khảo sát đều
kiện cơ sở vật chất để đưa ra giải pháp giúp trẻ hình thành những kỹ năng tự phục
vụ cho phù hợp cụ thể như sau:
* Về học sinh.
ST
T

1

2

Nội dung

Số
lượng
học
sinh

Kết quả khảo sát
Đạt

- Thói quen vệ sinh (Nói với
người lớn khi có nhu cầu ăn,
ngủ, vệ sinh…. Đi vệ sinh
đúng nơi qui định )

15

- Thói quen trong ăn uống
(Tự xúc cơm ăn, tự lấy nước
uống..)

Tỉ lệ

Tỉ lệ

%

Chưa
đạt

5

33

10

67

15

6

40

9

60

%

3

- Tự cất đồ dùng cá nhân (Cất
ba lô, cất dép..)

15

5

33

10

76

4

- Tự cởi, tháo dép..

15

3

20

12

80

5

- Lấy ghế, bê ghế ngồi vào
bàn và cất ghế đúng nơi quy
định.

15

7

47

8

53

* Về cơ sở vật chất
- Có tương đối đủ đồ dùng cho cô và trẻ hoạt động.

Ghi
chú


- Nhà trường trang bị khá đầy đủ đồ dùng như: giá dép, tủ đồ dùng cá nhân
cho trẻ, tủ đựng cốc, cốc inoc, thùng có vòi cho trẻ rửa tay dưới vòi nước chảy, giá
dép vvv…
- Có ti vi đầu đĩa , nhà trường có bộ máy chiếu, máy tính.
- Có nhà vệ sinh riêng cho trẻ.
Giải pháp 2: Xây dựng kế hoạch hình thành kỹ năng cho trẻ phù hợp
với độ tuổi theo từng tháng.
Xây dựng kế hoạch ngay từ đầu năm học là kim chỉ nam cho sự phấn đấu để
đạt được mục tiêu và nhiệm vụ năm học vì nó gắn liền giữa khoa hoạc với thực
tiễn.
Căn cứ vào nhiệm vụ năm học phòng giáo dục và kế hoạch của nhà trường,
căn cứ vào kết quả đạt được và những mặt tồn tại trong quá trình chăm sóc, giáo
dục trẻ, căn cứ vào tình hình thực tế trẻ ở lớp về nhận thức của trẻ, về kỹ năng của
từng trẻ và điều kiện cơ sở vật chất của lớp mình phụ trách, từ đó xây dựng kế
hoạch rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ của lớp sao cho phù hợp với sự phát triển của
trẻ.
Tháng 9+ tháng 10: Do trẻ mới đi học nên tôi đã lựa chọn những kỹ năng
đơn giản, dễ thực hiện và cũng là nhu cầu tất yếu của trẻ để đưa vào hình thành và
rèn luyện tạo cho trẻ thành thói quen dần dần trở thành kỹ năng, để trẻ tự phục vụ
không cần sự giúp đỡ của người lớn như là kỹ năng đi vệ sinh đúng nơi quy định,
cách đi dép, cởi dép, cất lên giá, bê ghế ngồi vào bàn, cách cầm thìa .... Đồng thời
khi đưa ra các nội dung thì cũng có biện pháp để dạy trẻ thực hiện các nội dung đó
cho phù hợp với kỹ năng của từng trẻ.
Ví dụ: Kỹ năng tập ngồi bô khi có nhu cầu:
Thường xuyên hỏi trẻ về nhu cầu vệ sinh hoặc cứ 2 tiếng lại cho trẻ đi vệ
sinh 1 lần cũng như khi cho trẻ đi cô vừa làm vừa nói cho trẻ cách tụt quần, cách
ngồi bô sao cho không bị ngã, đứng lên sao cho không bị đổ bô…. Hướng dẫn tận
tình,cởi mở ….
Ví dụ: Kỹ năng tập cầm thìa xúc ăn.
- Việc tập cho trẻ tự xúc ăn là rất cần thiết bởi đa số trẻ ở gia đình đều được
ông bà bố mẹ bón cho trẻ nên trẻ chưa có kĩ năng tự xúc ăn. Cô cần bao quát tìm
hiểu từng trẻ và có biện pháp riêng. Với những trẻ chưa biết xúc ăn, cô hướng dẫn
trẻ cách cầm thìa và tập cho trẻ tự xúc ăn. Cách cầm bát, thìa khi xúc ăn để cơm
không rơi vãi, xúc thìa vơi, gọn miếng.
Sang tháng 11 + tháng 12: Do trẻ đã quen với môi trường ở trường mầm non
trẻ bắt đầu hòa đồng với các bạn với cô giáo, trẻ đã tích cực hơn với các hoạt động
ở trường nên kỹ năng tôi đưa vào kế hoạch là kỹ năng: Tự cất, lấy ba lô; kỹ năng
cất và lấy đồ dùng đúng nơi quy định, rèn trẻ biết tự lấy cốc uống nước; tự lấy, cất
gối khi đi ngủ …
Ví dụ: Rèn trẻ biết tự cất ba lô vào ngăn tủ của mình.
Cho trẻ nhận biết ba lô và ký hiệu ngăn tủ của mình yêu cầu trẻ cất ba lô vào
đúng ngăn tủ của mình và đóng cánh tủ lại…


Tháng 1 + tháng 2: Dạy trẻ biết cách cầm thìa xúc hạt; Rèn kĩ năng cởi, mặc
quần áo, đi tất, đi giày; Tiếp tục rèn kĩ năng tự xúc ăn cho trẻ.
Tháng 3 + tháng 4+ Tháng 5: Lúc này trẻ đã có được 1 số kỹ năng tự phục vụ
những việc đơn giản, để chuẩn bị cho trẻ chuyển sang lớp lớn hơn tôi đưa lựa chọn
các kỹ năng khó hơn để dạy trẻ: Làm quen một số thao tác đơn giản khi lau mặt;
Dạy trẻ biết cách cài khuy áo; Tập nói với người lớn khi có nhu cầu ăn, ngủ, vệ
sinh…
Ví dụ: Làm quen một số thao tác đơn giản khi lau mặt
Việc rèn kĩ năng đòi hỏi phải thường xuyên và liên tục vì vậy cô phải tiếp
tục cho trẻ thực hành kĩ năng bằng cách;Cô lồng ghép vào các giờ học hoặc tổ
chức riêng vào buổi chiều. Cô hỏi trẻ cach làm rồi làm mẫu củng cố và giải thích
cho trẻ cách thực hiện, hướng dẫn từng trẻ khi trẻ chưa biết làm.Cô nhắc trẻ tự lấy
khăn và rửa mặt theo quy trình các bước rửa mặt, kết hợp giáo dục trẻ rửa mặt khi
mặt bẩn, sau khi ăn để mặt sạch sẽ. Nhắc trẻ rửa tay sạch sẽ.
Giải pháp 3: Xây dựng tiết dạy hình thành một số kỹ năng tự phục vụ
cho trẻ.
Kỹ năng tự phục vụ cho trẻ nhà trẻ 24 – 36 tháng là những kỹ năng mới trẻ
chưa được học, với những tiết dạy này tôi thường có kế hoạch tổ chức vào hoạt
động chiều, kỹ năng đã học tôi cho trẻ củng cố qua các hoạt động khác và mọi lúc,
mọi nơi.
Ví dụ: Khi dạy trẻ cách sử dụng thìa:
- Xác định mục đích: Rèn trẻ cách sử dụng thìa từ đó để trẻ được trải nghiệm
trong thực tế mỗi bữa cơm ở nhà trẻ có thói quen tự xúc cơm ăn, đồng thời giúp
cho đôi tay của trẻ khéo léo hơn hoạt bát hơn khi tham gia vào các hoạt động.
- Ổn định gây hứng thú: Cho trẻ hát cùng cô bài hát “Đồ dùng nhà bé”.
+ Hỏi trẻ nhà con có những đồ dùng gì sử dụng khi ăn? (Bát, thìa…)
+ Cô giới thiệu thêm đĩa,đũa.
- Vào bài: Cho 1 trẻ lên thực hành cầm thìa.
- Cho trẻ xem video cảnh gia đình đang ăn cơm, bạn nhỏ đang cầm thìa xúc
cơm ăn. Hỏi trẻ cả nhà đang làm gì? Bạn đang làm gì? Tay cầm thìa các con đâu
giơ lên cho cô xem.
- Cô thực hiện mẫu cách sử dụng thìa
+ Lần 1: Không giải thích.
+ Cô đặt trên bàn 2 cái bát, 1 cái bát to, 1 cái bát nhỏ, hoặc 2 bát bằng nhau
trong 2 cái bát có 1cái bát có 2 thìa và hạt bằng len …
+ Lần 2: Cô giải thích cách sử dụng: Cô cầm thìa bằng tay phải, luồn 4 ngón
tay ở dưới cán thìa, ngón cái giữ ở trên cán thìa, xúc hạt từ bát nhỏ sang bát to, cứ
như vậy cô xúc hết số hạt trong bát nhỏ sang bát to và ngược lại.
- Cho trẻ cầm thìa xúc trên không. Nhắc nhở trẻ cầm thìa bằng tay phải, cầm
1/3 cán thìa.


- Trẻ thực hiện: Tôi cho trẻ ngồi theo 3 nhóm, mỗi nhóm 5 trẻ và 1 bộ đồ
dùng, giáo viên hướng dẫn lần lượt từng trẻ thực hiện xúc hạt vào bát hạt bằng len,
bằng gỗ, bằng nhựa.
- Nhận xét sau khi trẻ chơi.
Lưu ý: Khi trẻ thực hiện cần liệt kê các bước mà trẻ gặp khó khăn. Phân tích
những khó khăn trẻ gặp phải của từng thao tác và giới thiệu lại các kĩ thuật cần có
để thực hiện đúng thao tác đó. Ví dụ: Xúc đồ từ giữa bát chứ không phải gạt đồ từ
mép bát xuống giữa bát. Cách làm này làm cho việc xúc bằng thìa dễ dàng hơn.
- Chuẩn bị đồ dùng, thiết bị: chọn đồ dùng phù hợp với trẻ. Ví dụ: Chọn thìa
vừa với tay của trẻ, chọn bát có thành trơn và miệng khum vào
+ Ví dụ: Khi dạy trẻ tập đi giầy, cởi giầy, cất lên giá.
Ổn định lớp: Cô tập trung trẻ ngồi bên cô, cô sáng tác một đoạn truyện ngắn
kể về lợi ích của đôi dép. Câu truyện có tên “Giày và dép”: Cô có 2 rối tay và 1 giá
dép tự tạo: Rối giày và dép, và 1 bác giá dép. Câu truyện kể là “trong ngôi nhà lọ
có 2 anh em sống chung với nhau...giày và dép tranh luận với nhau...bác giá dép
nói giầy và dép đều quan trọng như nhau...giày và dép không bao giờ cãi nhau nữa
và luôn là bạn thân thiết của các con”.
- Cho trẻ xem 1 đoạn video cách lấy dép, đi dép, cởi dép, cất dép lên giá.
- Giày và dép là đồ dùng để làm gì? Đi xong các con cất ở đâu?
- Giới thiệu bài dạy: Cách đi giày, cởi giầy và cất lên giá.
- Cô thực hiện mẫu lần 1: không giải thích.
+ Lần 2 cô vừa thực hiện vừa giải thích: chú ý mũi dép để quay ra phía ngoài.
- Cho 1 trẻ lên thực hiện.
- Cho nhóm trẻ lên thực hiện.
- Cả lớp thực hiện mỗi trẻ 1 đôi dép, trẻ đi dép cởi dép và từng nhóm trẻ lên
cất dép.
Kết thúc: Hát minh họa bài hát “Đôi dép xinh” => Giáo dục trẻ.
* Tương tự với các kỹ năng khác giáo viên lựa chọn phương pháp và hình
thức tổ chức khác nhau tạo hứng thú cho trẻ và cho trẻ được trải nghiệm.
- Qua tiết dạy tôi thấy trẻ rất hứng thú và tích cực tham gia hoạt động cùng
cô, cùng bạn trong nhóm lớp và đạt được mục tiêu đề ra.
Giải pháp 4: Tạo môi trường cho trẻ hoạt động.
- Vai trò của giáo viên trong giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ nhà trẻ rất
lớn, đó là tạo ra cho trẻ một không gian đủ rộng, dành cho trẻ một khoảng thời
gian nhất định để giúp trẻ thỏa mãn nhu cầu được làm, khẳng định bản thân.
Vai trò tiếp theo của giáo viên là chuẩn bị đồ dùng, đồ chơi như tủ, giá , kệ,
đồ chơi.... vừa tầm với và khả năng di chuyển của trẻ. Các tủ, giá, kệ cần được đặt
ở một vị trí nhất định tránh làm phân tán sự tập chung chú ý của trẻ, các đồ dùng
trong sinh hoạt cần được bổ sung đủ số lượng cho trẻ trong các hoạt động an toàn


và thẩm mỹ với màu sắc tươi sáng, trang nhã, sắp xếp gọn gàng ngăn lắp,sạch sẽ
để thu hút trẻ đến với các hoạt động.
- Đối với góc rèn kỹ năng tôi sưu tập bộ ảnh chụp được trang trí trên mảng
tường, bổ sung thêm một số đồ dùng để dạy trẻ như: Bát thìa, hột hạt, thùng đựng
rác bằng hộp nhựa, giá dép nhựa, dép tự tạo, ghế cho trẻ ngồi đúng kích cỡ, giá
dép được bổ sung ký hiệu cho từng trẻ.
- Tạo môi trường có tính giáo dục cho trẻ ở góc xem truyện tranh, góc lễ giáo.
Ví dụ: Sáng tác truyện “Bé nói lời hay, bé làm việc tốt”
Câu chuyện có nội dung giáo dục lễ giáo cho trẻ xem.....Cô đàm thoại với trẻ
về nội dung trong một bức tranh, đặt câu hỏi cho trẻ trả lời: Bạn nhỏ đang khoanh
tay chào ai? Bạn làm được những việc gì? (Bê ghế, cất ghế, cất dép, tự lấy nước
uống....)
Trẻ xem sách, quan sát những hình ảnh trẻ tự nhìn thấy việc làm và hành vi
của bạn nhỏ trong tranh trẻ phân biệt được việc làm tốt để học tập.
Trên giá dép của trẻ tôi đã sưu tập ảnh các đồ vật, con vật gần gũi với trẻ để
gắn trên giá dép làm ký hiệu cho trẻ khi cất, lấy đúng dép của mình.
Tất cả những đồ dùng ở các góc tôi đều sắp xếp gọn gàng ngăn lắp, lau sạch
sẽ. Không những thế tôi còn chú ý vị trí để giá dép, giá úp cốc dễ lấy, dễ cất để trẻ
dễ dàng thực hiện. Lớp có thùng đựng rác để khi thấy rác trẻ biết nhặt bỏ vào
thùng tạo điều kiện cho trẻ có thói quen tốt ngay từ nhỏ cứ như vậy tạo cho trẻ có
kỹ năng trong giai đoạn, lứa tuổi sau.
Giải pháp 5. Rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ở mọi lúc, mọi nơi và các
hoạt động khác với các hình thức khác nhau.
- Đối với trẻ mầm non đặc biệt lứa tuổi từ 24 – 36 tháng trẻ thường hoạt
động theo thói quen bản năng, vì vậy vai trò của người lớn hết sức quan trọng ta
phải theo sát trẻ mọi lúc, mọi nơi trong hoạt động và đưa ra biện pháp giáo dục
tích cực và hiệu quả nhất. Trẻ nhỏ hay nhớ lại hay quên, do đó để hình thành thói
quen tốt về giáo dục kỹ năng tự phục vụ đơn giản cho trẻ, thì giáo viên luôn luôn
cho trẻ trải nghiệm ở các hoạt động và ở mọi lúc mọi nơi, điều chỉnh nhận xét và
uốn nắn kịp thời.
* Hoạt động trò chuyện: Qua thực tế giảng dạy tôi thấy nội dung rèn trẻ
thói quen hành vi đạo đức tốt nhất là trong hoạt động dạy trẻ kể truyện. Thông qua
lời văn hay, tình tiết hấp dẫn mỗi câu truyện đều chứa đựng một nội dung mà hàm
trong đó nhằm để giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ qua đó lồng ghép giáo dục
hành vi đạo đức cho trẻ.
Ví dụ: Câu chuyện “Bé làm được việc gì” Tôi sưu tầm sáng tác kể cho trẻ
nghe: Chuyện kể về gia đình bạn Bi, một hôm mẹ bạn Bi ốm, bạn Bi ở nhà với mẹ,
khi mẹ khát nước nói: Bi lấy cho mẹ xin cốc nước. Bé Bi nhanh nhảu đáp – Dạ và
lấy nước cho mẹ, Bi đưa nước cho mẹ bằng 2 tay và nói. Con mời mẹ uống nước.
Mẹ Bi tươi cười xoa đầu Bi và khen Bi ngoan quá. Sau đó bạn Bi cất cốc vào đúng
nơi qui định.


Qua nội dung câu chuyện tôi cho trẻ nhận xét về hành động của bạn Bi
thông qua đó tôi giáo dục trẻ nói năng biết thưa gửi, nghe lời người khác, đưa cho
người lớn biết đưa bằng 2 tay.
Từ đó rèn trẻ kỹ năng “Tập lấy nước uống” dần dần cho trẻ khéo léo tự lấy
nước uống khi thấy mình khát và biết cất cốc vào tủ đúng quy định.
Ví dụ: Khi dạy trẻ trong giờ học phát triển vận động
Như chúng ta biết, thực tế trẻ biết làm được một số việc tự phục vụ đơn giản
nhưng để rèn trẻ luôn có thói quen thì phải trải qua một quá trình được rèn luyện
trải nghiệm, từ đó trẻ mới hình thành nề nếp thói quen mà người lớn không cần
phải nhắc, thông qua các hoạt động hàng ngày trẻ được trải nghiệm, trẻ có thói
quen nề nếp tốt. Tre biết lấy đồ dùng để tập bài tập phát triển chung trẻ tập xong
biết cất vào rổ. Trẻ biết xếp hàng chờ đến lượt khi chơi tập, vận động đi trong
đường hẹp có mang vật trên tay ở bài vận động này tôi sử dụng đồ dùng tự tạo để
dạy trẻ, hấp dẫn đối với trẻ, trẻ rất thích và hứng thú tập nhưng trẻ vẫn thực hiện
tốt “Kỹ năng chờ đến lượt”.
Ví dụ: Khi tổ chức hoạt động chiều.
Cô kể cho trẻ nghe chuyện “Cháu chào ông ạ”. Tôi dùng tranh truyện để dạy
trẻ. Trẻ nhìn thấy hình ảnh bạn “Gà con”, “Chim bạc má”, “Bạn cóc vàng” khoanh
tay chào ông. Qua hình ảnh đó cô cho trẻ đóng vai thể hiện hành động nhân vật:
Trẻ bắt trước hành động khoanh tay chào ông.
Qua lời kể và hành động khoanh tay chào của trẻ giúp trẻ hình thành thói
quen lễ phép với mọi người và trẻ vận dụng vào thực tế. Đến lớp trẻ biết khoanh
tay chào cô, về nhà biết khoanh tay chào ông, chào bà, dần dần hình thành cho trẻ
thói quen đến lớp trẻ biết khoanh tay chào cô giáo và về nhà biết chào mọi người.
* Trong các giờ đón – Trả trẻ: Đây là thời gian cho giáo viên vừa trao đổi
với phụ huynh vừa quan sát trẻ, uốn nắn cho trẻ có thói quen từ đó giúp phụ huynh
cùng giáo dục cho trẻ thêm ở nhà để rèn trẻ thói quen lấy dép, đi dép, cất dep lên
giá gọn gàng đúng qui định,đúng ký hiệu của mình.
Ví dụ: Giờ đón trẻ: Tôi giáo dục trẻ cất dép đúng nơi quy định rồi vào lớp,
đây cũng là lúc cô uốn nắn các con cách cởi dép, cất dép lên giá theo đúng ký hiệu
của mình, dần dần trẻ nhớ ký hiệu của mình và tự cất đúng chỗ gọn gàng ngay
ngắn. Tôi thường xuyên để ý nhìn thấy cháu Long khi đến lớp hay quên không cất
dép mà đi dép vào trong lớp. Có những lần mẹ cất dép hộ con. Tôi nhẹ nhàng gọi
cháu lại và nói: Long ơi! Cô đố Long các bạn cất dép ở đâu?
Bằng câu hỏi nhẹ nhàng như vậy Long đã nhận ra lỗi và nhanh nhẹn chạy ra
cất dép vào giá sau mới vào lớp, tôi nhắc trẻ khi cất dép quay mũi dép ra phía
ngoài cho đẹp, 2 -3 lần như vậy sẽ tạo cho trẻ được thói quen để dép đúng nơi qui
định. Trên giá dép đều có ký hiệu và tên trẻ để trẻ để đúng ký hiệu của mình và có
tên trẻ để phụ huynh biết ký hiệu của con mình là gì.
Và tôi tiếp tục cho trẻ làm quen với cách tự cất ba lô vào ngăn tủ của mình
rồi vào lớp, qua việc làm trên tôi thấy trẻ khéo léo hơn, tự tin không quấy lũng mẹ
nữa.


* Giờ hoạt động ngoài trời.
Tôi cho trẻ quan sát lá vàng rơi.Tôi nhặt lá và nói con cùng nhặt lá với cô để
cho vào thùng rác nào.Trẻ làm theo tôi và tôi tiếp tục hỏi trẻ khi lá vàng rơi con
nhặt lá để vào đâu? Trẻ trả lời “Con để vào thùng rác ạ”. Bằng hành động như vậy
nhiều lần tạo cho trẻ có thói quen nề nếp, thói quen biết nhặt rác để vào thùng lồng
ghép giáo dục hành vi bảo vệ môi trường.
Tăng cường cho trẻ được hoạt động ở ngoài sân trường cũng góp phần không
nhỏ để hình thành thói quen nề nếp phục vụ cho bản thân một cách tích cực, không
những thế còn tạo cho trẻ được giao lưu với nhau, tiếp xúc với thiên nhiên giúp trẻ
khỏe mạnh vui khi đến trường lớp.
Ví dụ:Trẻ vui chơi hoạt động ngoài trời :
Khi tổ chức tôi thường đan xen các trò chơi dân gian tạo cho trẻ được giao
lưu tiếp xúc gần gũi với nhau, trẻ chơi một cách thoải mái đoàn kết thân nhau hơn,
từ đó trẻ có thái độ hành vi ứng xử tốt với bạn trong lớp.
* Trong giờ hoạt động chiều tôi tiếp tục tổ chức rèn trẻ nề nếp thói quen
rửa mặt rửa tay cho trẻ:
Rèn trẻ có thói quen vệ sinh cá nhân, biết rửa tay, gữi gìn quần áo sạch sẽ.
Trong khi rửa tay, mặt cho trẻ cô trò chuyện giáo dục để trẻ hiểu. Rèn trẻ thói quen
vệ sinh trước khi ăn, khi tay bẩn, sau khi đi vệ sinh. Trẻ được rèn trẻ qua các ngày,
tuần tháng và cuối năm học dần dần trẻ có thói quen nề nếp vệ sinh cá nhân sạch
sẽ và có kỹ năng tự phục vụ một số công việc đơn giản phù hợp với trẻ.rèn trẻ biết
xếp hàng chờ đến lượt, biết tự lau tay sau khi rửa..
Đến giai đoạn cuối độ tuổi nhà trẻ tôi cho trẻ làm quen với các thao tác rửa
tay, qua đó tôi rèn trẻ nề nếp thói quen biết xếp hàng chờ đến lượt và biết cất dép
đúng nơi quy định.
*Chuẩn bị trước giờ ăn:
Vào đầu năm trẻ chưa biết cách bê ghế, chưa có thói quen tự bê ghế vào bàn
ngồi ăn mà thường cô phải lấy hộ trẻ, nhưng qua một thời gian tôi áp dụng vào
thực tế cho trẻ tự bê ghế vào bàn, cứ như vậy hàng ngày trẻ đã có thói quen rất tốt,
qua nhiều lần trẻ có nề nếp tự bê ghế vào bàn ngồi ăn mà giáo viên không cần phải
làm hộ trẻ. Qua việc làm này tôi thấy trẻ rất thích được làm công việc tự phục vụ
cho mình, trẻ tự tin hơn,mạnh dạn, khéo léo hơn trong các hoạt động khác.
Trong giờ ăn cô thường xuyên nhắc nhở trẻ khi ăn không nói chuyện, khi ho
biết dùng tay che miệng, ăn hết xuất, nhai kỹ gọn miệng, biết nhặt cơm rơi vào đĩa,
lau tay bằng khăn ẩm, ăn xong để bát thìa đúng nơi quy định. Biết bê ghế cất đúng
nơi và tập lau miệng, lấy nước uống sau khi ăn.
Cứ như vậy qua các hoạt động tôi uốn nắn giáo dục rèn kỹ năng tự phục vụ
cho và trẻ thói quen hành vi tốt trẻ rất thích và phấn khởi làm một số công việc tự
phục vụ , tạo cho trẻ hình thành phát triển kỹ năng sống trong giai đoạn sau.
Giải pháp 6: Phối kết hợp với phụ huynh trong việc chăm sóc giáo dục
trẻ


Thời gian trẻ đến lớp với cô nhiều xong còn hơn một nửa thời gian trẻ ở nhà
với ông bà cha mẹ. Chính vì vậy việc phối hợp với phụ huynh để rèn một số kỹ
năng tự phục vụ và thói quen hành vi đạo đức cho trẻ là việc làm hết sức quan
trọng vì sự phối hợp giưa gia đình và nhà trường có mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau.
Ngay từ đầu buổi họp phụ huynh đầu năm tôi đã đưa ra yêu cầu chỉ tiêu cần
đạt đối với trẻ nhà trẻ 24-36 tháng cho phụ huynh nắm bắt về cân nặng chiều cao,
những kiến thức cơ bản trẻ đạt được và một số kỹ năng tự phục vụ đối với trẻ 2436 tháng.
Thường xuyên trao đổi với phụ huynh về kết quả học tập thái độ hành vi và
một số kỹ năng tự phục vụ của từng trẻ đến phụ huynh trong các giờ đón trả trẻ.
Với trẻ có biểu hiện tốt về hành vi thói quen như cháu: Bình, Bảo ..để phụ
huynh động viên trẻ phát huy thói quen tốt cho trẻ .
Lớp tôi có cháu Long, Thịnh, Giang.. chưa biết tự cất dép đúng quy định mà
mẹ hay làm hộ con vì vậy vào buổi chiều trả trẻ hoặc giờ đón tôi phối hợp với phụ
huynh uốn nắn trẻ cùng giáo viên giúp trẻ có thói quen kỹ năng tự phục vụ tốt hơn.
Trong lớp tôi xây dựng góc tuyên truyền cập nhật các nội dung giáo dục
hành vi tốt qua hình ảnh nội dung bài thơ, câu chuyện và một số nội dung mời phụ
huynh tham gia chương trình học của trẻ để phụ huynh biết cùng cô giáo dục trẻ
thêm. Mời phụ huynh tham dự các tiết học của trẻ.
+ Về khả năng áp dụng của sáng kiến:
Do sáng kiến kinh nghiệm đã đưa ra được một số giải pháp hình thành kỹ
năng tự phục vụ cho trẻ nhà trẻ phù hợp với tình hình thực tế của lớp, của nhà
trường và của địa phương. Giải quyết được vấn đề tồn tại trong quá trình hình
thành, rèn luyện kỹ năng tự phục vụ cho trẻ. Vì vậy, đã thu hút được trẻ tham gia
vào hoạt động, đáp ứng được yêu cầu của chương trình giáo dục mầm non theo kịp
sự phát triển của xã hội.
- Lợi ích thiết thực:
Trước khi thực hiện đề tài này tôi thấy trẻ khoảng 90 % chưa có kĩ năng tự
phục vụ, các công việc hầu như giáo viên phải giúp trẻ trực tiếp.
Qua việc áp dụng các giải pháp trên vào hoạt động sinh hoạt hàng ngày, tôi
thấy trẻ đã có kĩ năng tự phục vụ đạt trên 80%. Trẻ đã biết tự xúc ăn, ăn gọn gàng,
biết tự rửa tay bằng xà phòng sạch sẽ, biết lấy khăn và rửa mặt khi mặt bẩn, biết tự
lấy cất gối, ngủ đúng giờ, biết cất xếp ghế gọn gàng, đi vệ sinh đúng nơi quy định
theo nhu cầu.
Các hoạt động giáo dục kĩ năng tự phục vụ này cũng có thể dùng cho trẻ lớp
lớn hơn nhằm củng cố và rèn luyện thường xuyên cho trẻ.
Sáng kiến kinh nghiệm có thể áp dụng đại trà trong các cơ sở giáo dục mầm
non nói chung và trong các trường Mầm non trên địa bàn huyện Bình Xuyên, tỉnh
Vĩnh Phúc nói riêng đều rất hiệu quả.


Các hình thức tổ chức rèn luyện kĩ năng tự phục vụ này rất phù hợp để các
cơ sở giáo dục mầm non và các cô giáo mầm non tham khảo, giúp trẻ của lớp, của
trường mình có các kĩ năng cơ bản và phát triển tốt nhất. Tuy nhiên, do thời gian
nghiên cứu có hạn, trẻ còn nhỏ nên tôi chưa thiết kế được nhiều các hoạt động và
các hoạt động còn ở mức đơn giản, rất mong các bạn đồng nghiệp tham khảo và
cho ý kiến đóng góp để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
giải pháp trong đơn theo ý kiến của tác giả với các nội dung sau:
+ So sánh lợi ích kinh tế, xã hội thu được khi áp dụng sáng kiến.
Một là: Kết quả trên học sinh
Do sáng kiến kinh nghiệm đã đưa ra được một số giải pháp hình thành kỹ
năng tự phục vụ cho trẻ nhà trẻ phù hợp với tình hình thực tế của lớp, của nhà
trường và của địa phương. Giải quyết được vấn đề tồn tại trong quá trình hình
thành, rèn luyện kỹ năng tự phục vụ cho trẻ. Vì vậy, đã thu hút được trẻ tham gia
vào hoạt động, đáp ứng được yêu cầu của chương trình giáo dục mầm non theo kịp
sự phát triển của xã hội.
Trước khi thực hiện đề tài này tôi thấy trẻ khoảng 90 % chưa có kĩ năng tự
phục vụ, các công việc hầu như giáo viên phải giúp trẻ trực tiếp.
Qua một năm cho trẻ rèn luyện kỹ năng tự phục vụ theo giải pháp trên tôi
nhận thấy trẻ trở nên thông minh nhanh nhẹn rõ rệt, cháu tích cực và chủ động
trong mọi hoạt động tìm tòi và khám phá thế giới xung quanh, có nề nếp thói quen
hành vi đạo đức tốt, có kỹ năng tự phục vụ đơn giản phù hợp theo độ tuổi đạt được
mục tiêu đề ra.
Bên cạnh đó ngôn ngữ trẻ trở nên mạch lạc hơn, trẻ mạnh dạn và tự tin hơn
trong giao tiếp rất nhiều, thói quen lao động tự phục vụ ở trẻ tốt hơn. Không những
thế ở trẻ còn hình thành những phẩm chất tốt như khả năng phối hợp hoạt động tốt
với các bạn, khả năng tự kiềm chế, nhường nhịn bạn, biết chơi cùng bạn và giúp
đỡ bạn. Đó là niềm vui không chỉ dành cho các bậc cha mẹ mà còn là niền vui lớn
của cô giáo mầm non, của những người làm công tác giáo dục.
*So sánh một số kết quả trước và sau khi áp dụng:
TT Nội dung khảo
sát
1

- Thói quen vệ
sinh (Nói với
người lớn khi có
nhu cầu ăn, ngủ,
vệ sinh…. Đi vệ
sinh đúng nơi qui
định )

Trước khi áp dụng

Sau khi áp dụng

So sánh

SL

Đạt

%



%

Đạt

%



%

Tăng

Giảm

15

5

33

10

67

14

93

1

7

60

0


2

3

- Thói quen trong
ăn uống (Tự xúc
cơm ăn, tự lấy
nước uống..)

15

6

40

9

60

13

87

2

13

47

0

- Tự cất đồ dùng
cá nhân (Cất ba
lô, cất dép..)

15

5

33

10

76

14

93

1

7

60

0

15

3

20

12

80

13

87

1

13

67

0

15

7

47

8

53

15

100

0

0

53

0

4

- Tự cởi, tháo
dép..

5

- Lấy ghế, bê ghế
ngồi vào bàn và
cất ghế đúng nơi
quy định.

Từ những kết quả nêu trên cho thấy rằng tỷ lệ trẻ có thói quen vệ sinh,thói
quen trong ăn uống, thói quen trong việc tự phục vụ tăng lên đáng kể. Như vậy,
Giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho trẻ ở trường Mầm Non là việc làm hết sức quan
trọng vì nó sẽ giúp cho trẻ hình thành nhân cách, phẩm chất đạo đức và tính tự lập
sau này đồng thời hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách con người mới
xã hội chủ nghĩa.
Hai là: Về giáo viên.
- Bản thân tôi ngày càng hoàn thiện hơn về kỹ năng tổ chức các hoạt động
chăm sóc giáo dục trẻ.Tiết kiệm được thời gian, thay đổi được lề lối làm việc,
mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo trong giảng dạy.
- Nắm chắc nội dung, phương pháp rèn kĩ năng tự phục vụ cho trẻ.
- Có nhiều kinh nghiệm trong việc tổ chức hoạt động và truyền tải thông tin
tới trẻ.
- Có ý thức trách nhiệm trong công việc.
- Giáo viên học hỏi được một số biện pháp hình thành và rèn luyện kỹ năng
tự phục vụ cho trẻ.
Ba là: Về phụ huynh học sinh.
- Phụ huynh yên tâm gửi con ở trường mà không cần phải mất thêm chi phí
để cho trẻ tham gia các lớp học kỹ năng sống ở các trung tâm thiếu nhi…
+ Lợi ích kinh tế:
Sau khi áp dụng các giải pháp trên đã thu được một số lợi ích kinh tế như:
- Giảm được số tiền mua vật liệu làm đồ dùng đồ chơi.
- Giảm được thời gian cô phải trực tiếp giảng dạy mà qua các cách tổ chức
trên thì trẻ được tự mình khám phá tìm hiểu ghi nhớ.
- Giảm áp lực qua việc học cho trẻ bởi trẻ học theo cách “học mà chơi, chơi
bằng học”
+ Số tiền làm lợi:


- Giảm được số tiền đi học thêm, giảm được số tiền phải đi lại do chi phí
cho xăng xe…. bởi:
Qua việc áp dụng giải pháp trên thì trẻ đã hình thành được kỹ năng tự phục
vụ ngay ở trên lớp và được phụ huynh phối hợp rèn luyện thêm ở nhà.
VD: Chi phí cho 1 lớp học kỹ năng sống là 100.000đ/ trẻ/tháng, mà lớp tôi
có 15 học sinh . Vây 15 học sinh x 100.000đ = 1.500.000đ/tháng.
+ Mang lại hiệu quả kinh tế:
Sáng kiến kinh nghiệm đã giảm chi phí về đầu tư cơ sở vật chất – trang thiết
bị đồng thời vẫn nâng cao hiệu quả chăm sóc giáo dục trẻ, làm cho tre dần dần
hình thành được những thói quen, kỹ năng tự phục vụ bản thân.
+ Mang lại lợi ích xã hội:
Giúp cho trẻ hình thành nhân cách, phẩm chất đạo đức và tính tự lập sau
này. Lao động tự phục vụ bản thân là một trong những kỹ năng quan trọng thúc
đẩy trẻ hoàn thiện mình một cách tốt nhất. Đây là cơ hội giúp trẻ thông minh và
trưởng thành hơn trong cuộc sống.
- Các thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không
d) Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến;
- Về cơ sở vật chất - trang thiết bị: Có đủ cơ sở vật chất - trang thiết bị - Đồ
dùng đồ chơi phục vụ cho trẻ hoạt động.
- Có kế hoạch thực hiện phù hợp với độ tuổi, phù hợp theo chủ đề.
- Tìm tòi đồ dùng, đồ chơi đẹp, hấp dẫn tạo sự thu hút đối với trẻ.
- Nội dung hoạt động phù hợp với chủ đề, cụ thể, rõ ràng.
- Biết kích thích động cơ bên trong của trẻ, gây hứng thú cho trẻ, khen chê
đúng mức, động viên khích lệ kịp thời.
- Về giáo viên: Có kiến thức về giáo dục Mầm non, biết giải quyết hợp lý các
tình huống sư phạm, có trình độ chuyên môn, yêu nghề, mến trẻ.
- Học sinh: Học sinh có sức khỏe tốt, đi học chuyên cần.
- Phụ huynh học sinh: Luôn giữ mối quan hệ chặt chẽ với phụ huynh, nhờ phụ
huynh hỗ trợ đồ dùng, đồ chơi để hoạt động của cô và trẻ ngày càng hấp dẫn,
phong phú hơn.
đ) Về khả năng áp dụng của sáng kiến cho những đối tượng, cơ quan, tổ
chức nào hoặc những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu
có);
Đề tài giáo dục kỹ năng sống và đặc biệt là lĩnh vực rèn luyện kỹ năng tự
phục vụ cho trẻ luôn luôn đồng hành với mọi hoạt động sống của con người, của
trẻ nên sáng kiến có thể áp dụng trong tất cả các lĩnh vực giáo dục và trong một số
lĩnh vực khác cũng rất hiệu quả.
Sáng kiến kinh nghiệm có thể áp dụng tại các trường, lớp mầm non trên địa
bàn huyện Bình xuyên và tỉnh Vĩnh Phúc.


Tôi làm đơn nay trân trọng đề nghị Hội đồng sáng kiến xem xét và công nhận
sáng kiến. Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự
thật, không xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người khác và hoàn toàn chịu trách
nhiệm về thông tin đã nêu trong đơn.
Thiện Kế, ngày 28 tháng 01 năm 2019
NGƯỜI VIẾT ĐƠN
(Ký và ghi rõ họ tên)

Chu Thị Dung



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×