Tải bản đầy đủ

NGHIÊN cứu đặc điểm HÌNH ẢNH và GIÁ TRỊ của CỘNG HƯỞNG từ TRONG CHẨN đoán một số u não hố SAU ở TRẺ EM

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
U não là một trong các khối u đặc hay gặp nhất ở trẻ em đứng hàng thứ
hai trong các khối u ác tính ở trẻ em sau bạch cầu cấp. U não trẻ em thường
xuất hiện ở vùng hố sau nhất là sau 4 tuổi và chiếm khoảng 45% đến 60% các
trường hợp u não [1]. Ngày nay đã có nhiều tiến bộ trong việc chẩn đoán và
điều trị nhưng u não vẫn là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các bệnh
lý ung thư ở trẻ em [2], [3].
Cộng hưởng từ là kỹ thuật được lựa chọn trong chẩn đoán hình ảnh các u
não ở trẻ em do đây là phương pháp không sử dụng tia X trong khi đối tượng
nhi khoa nhạy cảm với tia xạ hơn so với người lớn. Trừ các trường hợp cấp
cứu, kỹ thuật cộng hưởng từ được lựa chọn đầu tiên đánh giá bệnh lý thần
kinh. Ngoài ra cộng hưởng từ còn giúp phát hiện di căn theo dịch não tuỷ, một
yếu tố quan trọng trong đánh giá giai đoạn và tiên lượng bệnh cũng như lập kế
hoạch điều trị phù hợp [4], [5], .
CHT thường quy có thể định hướnghướng được bản chất u não hố sau
trong trường hợp u có hình ảnh điển hình. Tuy nhiên trên thực tế có một số
trường hợp u không điển hình, việc tiếp cận chẩn đoán gặp khó khăn và các
kỹ thuật CHT đặc biệt như kỹ thuật khuyếch tán, kỹ thuật phổ hoặc tưới máu
có thể giúp định hướng chẩn đoán tốt hơn [6].

Thái độ điều trị đối với mỗi loại u về cơ bản là khác nhau cũng như tiến
triển và tiên lượng. Chẩn đoán xác định bản chất mô bệnh học cuối cùng vẫn
phải dựa trên xét nghiệm GPB sau mổ hoặc sinh thiết u, tuy nhiên để có thái
độ sử trí phù hợp trong giai đoạn đầu việc dự báo bản chất mô bệnh học của u
bằng cộng hưởng từ vẫn có vai trò rất quan trọng. Trước tiên, CĐHA giúp
phân biệt các tổn thương u với các tổn thương không phải u như áp xe,
viêm…mà có thể có cùng biểu hiện lâm sàng nhưng cách điều trị khác hẳn
1


2

nhau. Ngoài ra việc biết trước loại mô bệnh học và độ ác của khối u giúp bác
sỹ ngoài khoa thần kinh lập kế hoạch, lựa chọn vị trí để sinh thiết ở phần có
đặc điểm ác tính nhất của khối u. Hơn nữa trong trường hợp u lành tính, việc
can thiệp phẫu thuật ở một số vị trí sẽ không cần thiết phải lấy hết u một cách
triệt để nhằm ưu tiên bảo tồn tối đa chức năng thần kinh của trẻ sau này.
Trong một số trường hợp khối u không có chỉ định phẫu thuật hoặc đôi khi
không sinh thiết do vị trí đặc thù như ở dây thần kinh thị giác, thân não thì
việc chẩn đoán và điều trị hoàn toàn dựa trên định hướng của CĐHA [7].
Tại Việt nam đã có một số đề tài nghiên cứu về u não hố sau, nhưng các
nghiên cứu này tập trung từng khối u riêng lẻ mà chưa có đề tài nào nghiên
cứu chung về các u não hố sau ở trẻ em trên hình ảnh cộng hưởng từ. Vì vậy
chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm mục tiêu.
1- Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ một số u não vùng hố
sau ở trẻ em.
2- Đánh giá giá trị của cộng hưởng từ trong chẩn đoán một số u não
vùng hố sau ở trẻ em.

2


3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Phân loại u não
Năm 1979, Tổ chức y tế thế giới (WHO) thống nhất bảng phân loại u
não lần I [8].
Năm 1993, WHO phát hành phiên bản II có sửa đổi bảng phân loại năm
1979 dựa trên phân loại của Kleihues và cộng sự trong đó có bổ xung các tiến
bộ về phương pháp nhuộm hoá mô miễn dịch [8].
Năm 2000, WHO phát hành phiên bản III do các tác giả Kleihues và
Cavenee biên tập trong đó có bổ xung các tiến bộ về gene trong ung thư [8].
Năm 2007, WHO phát hành phiên bản IV với một số sửa đổi bổ sung
trong đó có thêm một số loại u mới và bảng phân loại này đang được áp dụng
cho đến nay (Phụ lục 1) [8].
Phân loại u não theo vị trí: Các khối u khác nhau có thể nằm ở các vị trí
khác nhau trong nhu mô não và điều này rất quan trọng vì nó có liên quan đến
chẩn đoán và tiên lượng bệnh [2].
Các u trên lều (nằm phía trên của lều tiểu não): Các u thuỳ não: u thùy
trán, u thùy đỉnh, u thùy thái dương hoặc thùy chẩm. Các khối u vùng trung
tâm (u nhân xám trung ương, u não thất bên, u thể trai, u hố yên, u não thất
III, u tuyến tùng).
Các u dưới lều (u hố sau): Bán cầu tiểu não (khu vực phụ trách phối hợp
động tác và thăng bằng), thân não (kiểm soát các chức năng sống quan trọng
như huyết áp, nhịp thở, nhịp tim), thuỳ nhộng, góc cầu tiểu não và trong não
thất IV [2] .
3


4

1.2. Đặc điểm dịch tễ u não hố sau ở trẻ em
U não ở trẻ em chiếm khoảng 15% đến 20% các u não nguyên phát.
Chúng là các khối u đặc thường gặp nhất ở trẻ em và là khối u ác tính thường
gặp đứng hàng thứ hai ở trẻ em sau bạch cầu cấp. Theo y văn, số lượng ca
mới hàng năm khoảng từ 2 đến 5 trường hợp/100000 trẻ [1].
Có mối tương quan giữa vị trí của các khối u và lứa tuổi. Các khối u
vùng trên lều tiểu não hay gặp hơn trong 2 năm đầu sau đẻ, trong khi đó các u
vùng dưới lều tiểu não chiếm ưu thế từ 3 đến 11 tuổi. Từ 11 tuổi trở lên, các u
não vùng trên lều lại có xu hướng gặp nhiều hơn [1], [9].
Có một sự khác biệt nữa giữa đặc điểm u não ở trẻ em và người lớn đó là
ở trẻ em phần lớn là các u nguyên phát và nằm trong trục trong khi đó ở người
lớn các khối u chủ yếu là ngoài trục hoặc u di căn [2], .
Một số loại u hay gặp vùng hố sau ở trẻ em bao gồm: UNBT, UMNT và
USBL. Một số u não hố sau ít gặp ở trẻ em (chiếm khoảng 10% các u não hố
sau) bao gồm u quái dạng vân không điển hình, u nhú đám rối mạch mạc, u
màng não và u nguyên bào mạch….[1].
1.2.1. U sao bào lông (USBL)
Các u sao bào ở tiểu não chiếm tỷ lệ 10-17% các trường hợp u não nói
chung trong đó đại đa số (80%) là các USBL (độ I theo WHO). Khoảng 15%
các u sao bào còn lại thuộc loại lan toả (độ II theo WHO). Các u sao bào bất
thục sản (độ III theo WHO) rất hiếm gặp ở trẻ em mà chủ yếu gặp ở trẻ lớn và
người lớn. Ở vùng hố sau trẻ em, USBL là u hay gặp nhất chiếm tỷ lệ khoảng
30-35%. Khoảng từ 60% đến 80% USBL nằm ở trong bán cầu tiểu não. Không
có sự khác biệt về tỷ lệ nam và nữ. USBL thường gặp nhất ở trẻ từ 5 đến 13 tuổi
[10], [11]. USBL thường xuất hiện đơn độc hoặc có thể phối hợp với NF1, hội
chứng Turcot, hội chứng PHACE(S) và bệnh Olliver . USBL rất hiếm khi có di
căn. Tiên lượng bệnh thường tốt với tỷ lệ sống sau 5 năm là 90% [12].
4


5

1.2.2. U nguyên bào tuỷ (UNBT)
UNBT là u thuộc bào thai ác tính của tiểu não và được xếp độ IV theo
WHO. U hay gặp ở nam với tỷ lệ 65%. UNBT chiếm khoảng 20% các u não
nói chung ở trẻ em, đứng hàng thứ hai sau USBL. Trong số các u vùng dưới
lều ở trẻ em, UNBT chiếm khoảng 43% [10], [13]
Khoảng 70% các UNBT xuất hiện trước 16 tuổi, độ tuổi hay gặp nhất là
quanh 7 tuổi. Tổn thương xuất hiện ở thuỳ nhộng khoảng 75% các trường
hợp. Trẻ càng lớn, UNBT có xu hướng lệch sang bên và thường thuộc dạng
tăng sinh xơ. Khoảng 30% các trường hợp UNBT có di căn tại thời điểm chẩn
đoán. Tỷ lệ sống sau 5 năm là 60-70% [10]
1.2.3. U màng não thất (UMNT)
Là u thần kinh đệm phát triển chậm (xếp độ II theo WHO). U xuất phát
từ các tế bào lót mặt trong các não thất và ống tuỷ. Khoàng 70% UMNT nằm
ở vùng dưới lều vị trí não thất IV và lỗ Luschka. U xuất hiện ở nam nhiều hơn nữ.
UMNT chiếm 9% các u não ở trẻ em nói chung và khoảng 30% các u não ở trẻ
dưới 3 tuổi. UMNT hay gặp đứng hàng thứ ba trong các u não vùng hố sau ở trẻ
em (chiếm khoảng 10%). UMNT có thể xuất hiện ở trẻ em và ở cả người lớn tuy
nhiên khi u xuất hiện ở hố sau thì chủ yếu gặp ở trẻ em [14]
UMNT thể bất thục sản xếp độ III theo WHO hay gặp hơn ở trẻ em đặc
biệt các khối u nằm ở vùng hố sau. Những trường hợp này có tiên lượng xấu
hơn và thường có di căn tại thời điểm chẩn đoán. UMNT ở trẻ em có tiên
lượng xấu hơn ở người lớn do dạng bất thục sản hay gặp hơn. Mặt khác u
vùng hố sau cạnh não thất IV có tiên lượng xấu hơn do có nguy cơ cao di căn
theo dịch não tuỷ [15]. Ngoài ra UMNT có vị trí trên đường giữa có tiên
lượng tốt hơn u nằm lệch sang bên góc cầu tiểu não do nguy cơ xấm lấn các
mạch máu tại vị trí này [16].
5


6

1.2.4. U khác
o U thân não: Chiếm 10% -15% tất cả các u não và 25% các u hố sau ở trẻ em.
Tỷ lệ nam nhiều hơn nữ [17].
o U quái dạng vân không điển hình (Atypical teratoid rhabdoid tumor): Là u
não hiếm gặp và có độ ác tính rất cao, tiên lượng xấu dù được điều trị thích
hợp. Được xếp vào nhóm u bào thai theo phân loại của tổ chức y tế thế giới. U
thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi [17].
o U nguyên bào mạch: rất hiếm gặp ở trẻ em. U chiếm 1%-2,5% các u não. Chỉ
có khoảng 20% các u nguyên bào mạch xuất hiện ở trẻ em. Thường nằm trong
bệnh cảnh của bệnh von Hippel-Lindau [17].
1.3. Đặc điểm lâm sàng u não hố sau ở trẻ em
Hố sau được giới hạn bởi lều tiểu não ở trên và lỗ chẩm ở dưới. Đây là
khoang ít có khả năng giãn nở trong đó có chứa thân não nơi xuất phát của
các đôi dây thần kinh sọ não và bán cầu tiểu não hai bên. Dòng chảy dịch não
tuỷ ở khu vực này qua 2 vị trí chủ yếu là cống Sylvius và não thất IV. Các
biểu hiện lâm sàng của u não hố sau bao gồm các dấu hiệu tăng áp lực nội sọ
hậu quả do u gây bít tắc dòng chảy dịch não tuỷ và các dấu hiệu do u chèn ép
hoặc phá huỷ các cấu trúc thần kinh tại chỗ như các đôi dây thần kinh sọ não,
các sợi trục dài chay qua thân não, đặc biệt là bó tháp và cuối cùng là hai bán
cầu tiểu não. Ở trẻ bú mẹ các đường khớp sọ còn chưa liền, cản trở dòng chảy
dịch não tuỷ và giãn các não thất thường dẫn đến tăng kích thước hộp sọ từ đó
làm giảm áp lực nội sọ và do vậy các triệu chứng của tăng áp lực nội sọ ở trẻ
nhỏ sẽ không rõ rệt như ở trẻ lớn hoặc người lớn [18].
Các dấu hiệu tăng áp lực nội sọ bao gồm:
+ Nếu ở trẻ nhỏ có thể xuất hiện đầu to, bỏ bú, buồn nôn, nôn và mệt mỏi.
6


7

+ Nếu ở trẻ lớn biểu hiện co giật và các dấu hiệu thần kinh khu trú. Nói
chung các triệu chứng lâm sàng tương tự ở người lớn.
Các dấu hiệu thần kinh khu trú bao gồm:
+ Hội chứng tiểu não: Rối loạn thăng bằng, Rối loạn phối hợp động tác,
ngoài ra có thể thấy rung giật nhãn cầu, múa vờn. Các tổn thương nằm trên
đường giữa thường có đặc điểm lâm sàng bao gồm hội chứng tiểu não cổ điển
và nếu ở thuỳ nhộng thì thiên về rối loạn tư thế, tổn thương các dây thần kinh
sọ cả hai bên, tăng áp lực nội sọ sớm.
+ Tổn thương góc cầu tiểu não có thể gây tổn thương dây VIII ngoại biên,
liệt một bên dây thần kinh số V, VII và VIII hoặc hội chứng tiểu não 1 bên.
Trên thực tế việc chẩn đoán định khu thường rất khó khăn và điều quan
trọng là hướng đến chẩn đoán khối u vùng hố sau và từ đó nhanh chóng tiến
hành các thăm khám chẩn đoán hình ảnh thần kinh . Khám đáy mắt để tìm
dấu hiệu phù gai thị cần thực hiện hệ thống. Tuy nhiên không có phù gai thị ở
trẻ em cũng không loại trừ có tăng áp lực nội sọ. Ngoài ra ở trẻ em, trẻ u não
có thể có tình trạng suy kiệt và mất nước trong trường hợp trẻ nôn nhiều và
kéo dài [18].
1.4. Đặc điểm giải phẫu bệnh một số u não hố sau ở trẻ em.
1.4.1. U sao bào lông (USBL)
USBL dạng cổ điển có đặc điểm mô bệnh học dạng hai pha trong đó
những vùng dày đặc các tế bào hình sao có dạng dẹt giống sợi lông xen lẫn
những vùng thưa tế bào. Các ổ vi hoại tử nằm rải rác ở vùng thưa tế bào. Các
sợi Rosenthan và các thể hạt ưa a xít là hình ảnh đặc trưng, khi xuất hiện trên
vi trường là các yếu tố giúp hướng tới chẩn đoán USBL [19]

7


8

Hình 1.1. Hình ảnh vi thể USBL, nhuộm HE

(A) cấu trúc mô học dạng 2 pha, (B) Sợi Rosenthan
(Nguồn: Pediatric Neuropathology [19]).
Nhuộm hóa mô miễn dịch cho kết quả dương tính với dấu ấn GFAP và
S100, âm tính với Neurofilament. Chỉ số tăng sinh Ki67/Mib-1 thấp [19]
1.4.2. U nguyên bào tuỷ (UNBT)
Gồm nhiều tế bào nhỏ khá đồng dạng. Có thể thấy nhân bờ không đều và
hiện tượng phân bào. Hiện tượng biệt hoá nguyên bào thần kinh (hình ảnh hoa
hồng Homer- Wright). Có thể thấy biệt hoá tế bào thần kinh trưởng thành như
hạch thần kinh hoặc các tế bào dạng hạch nhưng cần phân biệt với các tế bào
thần kinh nằm xen kẽ [19].
Có 4 thể giải phẫu bệnh của UNBT bao gồm: thể cổ điển (chiếm khoảng
80%), thể tăng sinh xơ (chiếm 18% các trường hợp), thể tăng sinh nốt và thể
tế bào lớn (bất thục sản) [19].
Các khối u có mức độ biệt hoá khác nhau (tế bào neuron, tế bào thần
kinh đệm, cơ vân, hoặc các tế bào sản xuất ra melanin). Nhuộm hoá mô miễn
dịch dương tính với Synaptophysin, Chromogranin, Neurofilement và NeuN
đồng thời âm tính với GFAP (GFAP thường dương tính với tế bào sao) và
EMA (kháng nguyên màng não tuỷ). Một số UNBT dương tính với p53 có tỷ
8


9

lệ tế bào bất thục sản cao và có tiên lượng xấu hơn. MIB-1 thường ở mức cao
từ 30 đến 80% [19].

Hình 1.2. Hình ảnh vi thể UNBT, nhuộm HE

(Nguồn: Pediatric Neuropathology [19]).
1.4.3. U màng não thất (UMNT)
UMNT là những khối u xuất phát từ các tế bào biệt hoá màng não thất.
Phần lớn (khoảng 70%) UMNT nằm ở vùng hố sau [20].
Các tế bào u có nhân nhạt màu hình tròn hay bầu dục, chất nhiễm sắc
mảnh. Thường gặp các tế bào xếp hình giả hoa hồng quanh mạch Các tế bào
xếp theo kiểu hoa hồng thật hoặc các cấu trúc dạng ống có giá trị chẩn đoán
đặc hiệu nhưng ít khi gặp. Ít khi gặp hình ảnh phân bào. Các biến đổi dạng
thoái hoá hay gặp bao gồm thoái hoá nhày, hiện tượng hyalin hoá mạch máu,
xuất huyết và can xi hoá [20].
Nhuộm hoá mô miễn dịch dương tính với các dấu ấn EMA, S100, GFAP
và vimentin [19].
UMNT được chia làm bốn loại theo đặc điểm GPB: U dưới màng não
thất (xếp độ I theo WHO), thể nhú nhày (xếp độ I theo WHO), thể cổ điển
(xếp độ II theo WHO) và thể bất thục sản (xếp độ III theo WHO) [19].

9


10

Hình 1.3. Hình ảnh vi thể UMNT, nhuộm HE.

(Nguồn: Pediatric Neuropathology[19] )
1.5. Các phương pháp chẩn đoán u não hố sau
1.5.1. XQ thường quy
Thường được chỉ định khi khám xét một trẻ có triệu chứng đầu to bất
thường hoặc bất cân xứng. Trên phim chụp có thể thấy dấu hiệu giãn khớp sọ,
dấu ấn ngón tay, vôi hoá của khối u hoặc tổn thương xương nhưng các dấu
hiệu này thường không đặc hiệu [21].
1.5.2. Siêu âm
Chỉ thực hiện được ở trẻ nhũ nhi khi thóp còn chưa đóng kín. Qua siêu
âm có thể thấy giãn các não thất ở tầng trên lều tiểu não. Tuy nhiên việc quan
sát khu vực hố sau còn rất khó khăn và chỉ thấy các dấu hiệu gián tiếp như
não thất IV bị đè đẩy [21]
Siêu âm có thể được sử dụng để chẩn đoán bước đầu các khối u não ở trẻ
sơ sinh. Ngoài ra, siêu âm trong mổ có thể giúp phẫu thuật viên thực hiện cắt
tối đa các khối u não mà ít gây biến chứng nhất [22]
1.5.3. Chụp mạch
Năm 1927 Egas Moniz là người đầu tiên chụp cản quang động mạch
cảnh. Năm 1951 Racher đã tiến hành chụp mạch não bằng phương pháp
10


11

Seldinger (Chụp gián tiếp qua catheter luồn từ động mạch đùi chụp cả hai hệ
thống động mạch cảnh và động mạch đốt sống). Kỹ thuật này đã được áp
dụng vào Việt Nam năm 1961, đây là phương pháp tốt nhất để chẩn đoán u
não khi chưa có chụp CLVT. Hiện nay kỹ thuật này có thể đươc áp dụng trong
chẩn đoán các khối u giàu mạch và chẩn đoán phân biệt với bệnh lý mạch máu
khác. Theo các tài liệu của WHO, phương pháp này có độ nhạy khoảng 60% và
độ đặc hiệu 30% đối với các u nội sọ. Tuy nhiên vẫn còn có nhiều hạn chế trong
một số trường hợp như u não thất, u nhỏ không làm dịch chuyển đường giữa thì
phương pháp này không xác định được. Hơn nữa đây là một phương pháp xâm
nhập, có thể gây tai biến nguy hiểm như chảy máu, nhiễm trùng, đòi hỏi phương
tiện kỹ thuật và người làm phải có có trình độ tốt [22]

Hình 1.4. Tăng sinh mạch máu trong u

(Nguồn: Paediatric intra-axial posterior fossa tumours: pictorial review ).
1.5.4. Cắt lớp vi tính (CLVT)
Là một trong các kỹ thuật CĐHA được chỉ định khi có nghi ngờ u não.
Cần được chụp ở thì trước tiêm và thì sau tiêm thuốc cản quang đường tĩnh
mạch [23].
CLVT có thể thực hiện các lát cắt ngang qua đại não và hố sau qua đó
thường dễ dàng đem lại chẩn đoán một khối u não dưới dạng một khối choán
chỗ, từ đó tiếp tục đánh giá kích thước và vị trí của u, mức độ phù não quanh
u và mức độ giãn não thất [24], [25].
11


12

Hình 1.5. Hình ảnh UNBT trên chụp CLVT

(A) Trước tiêm; (B) Sau khi tiêm thuốc cản quang
(Nguồn: MRI of pediatric posterior fossa tumors [15]).
CLVT có khả năng phát hiện các tổn thương can xi hoá, các ổ xuất huyết
và bất thường ở xương liên quan đến khối u. Các bệnh nhân mang máy tạo
nhịp hoặc các dụng cụ cấy ghép bằng kim loại không thể chụp CHT buộc phải
sử dụng kỹ thuật chụp CLVT. Độ nhạy và độ đặc hiệu của chụp CLVT trong
chẩn đoán u não hố sau ở trẻ em là 65-100% và 72-100% [26]. Các u hố sau
độ ác thấp thường giảm tỷ trọng tương đối đồng nhất trên CLVT. U thường
có giới hạn tương đối rõ, khoảng 20% có ngấm vôi. Các u độ ác thấp
thường không ngấm thuốc cản quang. Một vài u ngấm thuốc đặc biệt. Ví dụ
u sao bào lông thường ngấm thuốc dạng nốt bám thành nang. Các u độ ác
cao thường không đồng nhất, có ngấm thuốc cản quang và phù nề quanh u,
ít có vôi hoá trong u. U độ IV thường hoại tử, chảy máu, phù quanh u nhiều
và lan toả [27].

12


13

1.5.5. Cộng hưởng từ (CHT)
Cộng hưởng từ (CHT) là kỹ thuật được lựa chọn đầu tiên đối với u não
hố sau ở trẻ em. Độ nhạy và độ đặc hiệu của CHT trong chẩn đoán u hố sau
trẻ em là 82-100% và 81-100%. Các kỹ thuật CHT sử dụng trong khảo sát là
CHT thường quy, CHT khuyếch tán, tưới máu, phổ và chức năng [28], [29]
1.5.5.1. CHT thường quy
CHT có nhiều ưu điểm hơn so với kỹ thuật chụp CLVT trong đánh giá
khối u não. Thứ nhất, CHT cho phép tạo ra các lát cắt trên 3 bình diện là
ngang, đứng ngang và đứng dọc. Ngoài ra, CHT còn cho hình ảnh với độ
phân giải cao hơn đặc biệt là độ phân giải tổ chức của khối u. Tuy nhiên CHT
cũng có một số hạn chế đó là: Thời gian chụp lâu, trẻ phải nằm bất động kéo
dài nên thường phải tiến hành gây mê toàn thân trước khi chụp [4], [30]
CHT có thể đem lại các thông tin như sau: Vị trí cũng như kích thước
khối u được đo theo 3 hướng trong không gian, mức độ lan tràn đặc biệt lan
vào thân não, tính chất đồng nhất hay không đồng nhất và phù quanh u [21].
Phần lớn các khối u giảm tín hiệu so với chất xám bình thường trên ảnh
T1W và tăng tín hiệu trên ảnh T2W. Tín hiệu tăng trên ảnh T2W phản ánh mật
độ tế bào thấp và tỉ lệ nhân trong bào tương thấp. Tuy nhiên một số khối u
đồng hoặc giảm tín hiệu trên ảnh T2W chứng tỏ mật độ tế bào cao và tỉ lệ
nhân trong bào tương cao. Do mật độ tế bào và tỉ lệ nhân trong bào tương
thay đổi theo độ ác tính cuả khối u, một khối u có tín hiệu T2W đồng hoặc
giảm có thể tương ứng với u có độ ác cao, mặc dù đặc điểm hình ảnh chung
giống với u lành tính.
Phù não có thể xuất hiện với mức độ khác nhau nhưng thường không
tương ứng với mức độ ác tính của khối u.
U não có thể ngấm thuốc đối quang do hàng rào máu não bị tổn thương.
Ở người lớn, mức độ ngấm thuốc có thể tương ứng với độ ác của khối u não.
13


14

Tuy nhiên ở trẻ em có sự khác biệt. Một số u lành tính như USBL có thể
ngấm thuốc mạnh và đôi khi ngấm không đồng nhất [22], [31]
Chuỗi xung Spin Echo: ảnh thu được bao gồm ảnh T1W, ảnh T2W, ảnh
mật độ proton, ảnh T1W sau khi tiêm thuốc đối quang từ. Phần lớn các khối u
não đề có thời gian T1 và T2 dài nên tương đối giảm tín hiệu so với nhu mô
não trên các ảnh T1W và tăng tín hiệu trên ảnh T2W. Trên ảnh mật độ proton,
các khối u có tín hiệu trung gian. Tín hiệu không đồng nhất trong khối u có
thể là do các thành phần mỡ, xuất huyết, hoại tử và can xi hoá bên trong khối
u. Sử dụng thuốc đối quang từ tiêm tĩnh mạch giúp phân biệt khối u với nhu
mô lành xung quanh dễ dàng hơn [6].
Chuỗi xung Fast spin echo: Có thể thay thế chuỗi xung Spin echo do thời
gian chụp nhanh hơn nhưng mỡ vẫn sáng trên ảnh T2W.
Chuỗi xung inversion recovery (IR): tuỳ vào thời gian T1 mà ta có 2
loại xung:
Short inversion recovery (STIR): dùng để xoá mỡ
Fluid attenuated inversion recovery (FLAIR): xoá được tín hiệu của dịch
não tuỷ.
Chuỗi xung Gradient echo (GE): Thời gian chụp rất ngắn, thu được ảnh
T1W, T2*W và mật độ proton. Tuy nhiên tín hiệu yếu hơn chuỗi xung Spin
echo [6].
1.5.5.2. CHT khuyếch tán
Hình ảnh CHT khuếch tán là một trong các kỹ thuật mới của CHT, hiện
đang được sử dụng phổ biến đối với các bệnh lý sọ não. Tương phản hình ảnh
ở CHT khuyếch tán chủ yếu do sự dịch chuyển các phân tử nước, được khảo
sát nhờ các chuỗi xung nhanh. Kỹ thuật được áp dụng lâm sàng vào khoảng
thập niên 1990, chủ yếu khảo sát bệnh lý thần kinh sọ não. CHT khuyếch tán
rất có giá trị trong chẩn đoán nhồi máu cấp tính, phân biệt nhồi máu và các
14


15

quá trình bệnh lý khác. Ngoài ra CHT khuyếch tán còn cung cấp nhiều thông
tin trong bệnh lý u, chấn thương, nhiễm trùng, bệnh lý myelin [7], [32].
CHT khuyếch tán sử dụng chuỗi xung T2SE kết hợp hai xung GRE cùng
độ lớn nhưng ngược hướng. Điều này cho phép đo được chuyển động phân tử
nước theo hướng nào đó trong khoảng thời gian nhất định. Các phân tử nước
di chuyển giữa hai vị trí khảo sát sẽ khác nhau về cường độ do đó không bị
triệt tiêu. Các phân tử nước không di chuyển sẽ bị mất tín hiệu do triệt tiêu lẫn
nhau. Các phân tử nước di chuyển càng nhanh, các proton càng mất pha
nhanh. Sự mất pha do di chuyển liên quan với tốc độ khuếch tán của proton.
Do đó, cường độ tín hiệu của khối thể tích mô chứa các proton di chuyển
bằng cường độ tín hiệu trên T2W đã bị suy giảm do tốc độ khuếch tán. Cường
độ tín hiệu của mô có chứa proton di chuyển được tính theo công thức:
SI=SIo X e-(bxD). Trong đó, SIo là cường độ tín hiệu trên T2W, b là thừa số
về độ nhạy khuếch tán, D là hệ số khuếch tán. Theo định luật Fick, sự khuếch
tán của các phân tử là do độ chênh nồng độ. Tuy nhiên trên cộng hưởng từ,
không thể phân biệt giữa các chuyển động phân tử do độ chênh nồng độ hay độ
chênh áp lực, nhiệt và tương tác giữa các i-on. Cộng hưởng từ cũng khó hiệu
chỉnh khác biệt các phần thể tích cũng như chuyển động ngoằn ngoèo của các
proton. Do đó, trên CHT khuyếch tán thật sự chỉ có hệ số khuếch tán biểu kiến
(ADC) là được tính toán. Cường độ tín hiệu của CHT khuyếch tán được thể hiện
bằng phương trình sau: SI = SIo X e-(bxADC). Các chuỗi xung khảo sát CHT
khuyếch tán là echo planar SET2W, single shot GRE-SE, single shot fast GRESE. Các chuỗi xung này giảm thời gian khảo sát CHT khuyếch tán rất nhiều,
giúp CHT khuyếch tán thực hiện dễ dàng hơn [33].
Sự khuếch tán của các phân tử nước ở não là hiện tượng không đồng
hướng, nghĩa là có sự khác nhau giữa các hướng. Sự không đồng hướng này
do nhiều nguyên nhân như cấu trúc não, sự myelin hóa, hướng và dòng chảy
15


16

theo sợi trục, dòng chảy nội hoặc ngoại bào, dòng chảy mao mạch…Tính chất
khuếch tán không đẳng hướng của proton ở não có thể đánh giá được bằng
cách so sánh các hình ảnh khuếch tán ở ba hướng vuông góc nhau. Các thành
phần ở ba hướng vuông góc nhau này cho thông tin về độ lớn của hệ số
khuếch tán. Các thành phần không nằm trên các hướng vuông góc cho các
thông tin về tương tác giữa các hướng. Để tạo hình ảnh chỉ biểu hiện ADC
cần kết hợp ít nhất ba hình ảnh. Cách đơn giản là kết hợp ba hình ở các hướng
vuông góc nhau để tạo hình khuếch tán. Hình khuếch tán này bao gồm tính
chất hình T2W và khác biệt do ADC. Loại trừ tính chất T2W trên hình khuếch
tán bằng cách tách hình với b=0 s/mm 2, để có hình trung gian, hình này dùng
tạo ra bản đồ ADC. Các hình T2W, khuếch tán, ADC đều dùng để phân tích
hình ảnh trong CHT khuyếch tán [34].
Đã có nhiều tác giả nghiên cứu giá trị ADC chẩn đoán phân biệt các u
não vùng hố sau ở trẻ em. Có tác giả phân biệt chi tiết từng loại u (UNBT,
USBL hay UMNT…), có tác giả phân biệt u độ ác thấp (độ I và II theo WHO)
và độ ác cao (độ III và độ IV theo WHO). Các nghiên cứu đều cho thấy sự
khác biệt giá trị ADC giữa các nhóm u: giá trị ADC của UNBT(độ IV theo
WHO) rất thấp, của UMNT (độ II và III theo WHO) ở mức độ trung bình và
của USBL (độ I theo WHO) rất cao. Tuy nhiên phần lớn các nghiên cứu cũng
cho thấy có sự chồng lấn giá trị ADC giữa các loại u vùng hố sau. Giải thích
sự chồng lấn các giá trị ADC này, các tác giả cho rằng có thể do việc đo đạc
giá trị ADC đôi khi gặp sai lệch do kích thước u quá nhỏ, u không đồng nhất,
xuất hiện các ổ can xi hoá hoặc xuất huyết trong u…nhưng cũng có thể do đặc
điểm đa dạng trong cấu trúc vi thể của cùng một loại u. Jaremko và cộng sự
mô tả một số trường hợp USBL có phần tổ chức đặc ở thành nang có giá trị
ADC rất thấp (< 0,8 x 10 -3 mm2/s) giống các u độ ác cao. Các tác giả Ji và
Kan đã mô tả các tổn thương có độ ác cao hạn chế khuyếch tán thể hiện ở
16


17

hình tăng tín hiệu trên ảnh khuyếch tán và giá trị ADC thấp. Các tác giả này
cũng đề xuất giá trị ngưỡng ADC phân biệt các u độ ác cao với u độ ác thấp ở
vùng hố sau là 0,9 x 10-3 mm2/s [35], [36].
Rumboldt và cộng sự nghiên cứu hồi cứu 32 trường hợp u hố sau ở trẻ
em tìm ra giá trị ngưỡng ADC >1,4 x 10-3 mm2/s giúp phân biệt USBL và giá
trị ngưỡng ADC < 0,9x 10-3 mm2/s giúp phân biệt UNBT [37]
Giá trị ADC của UNBT thấp hơn các loại u khác vùng hố sau ở trẻ em
một cách có ý nghĩa thống kê cũng đã được khẳng định bới các tác giả như
Schneider, Gauvain và Yamashita. Trái lại, giá trị ADC của USBL cao hơn so
với các u khác vùng hố sau [38], [39]
Pierce và cộng sự (2014) kết luận rằng, nếu chỉ sử dụng giá trị ADC với
giá trị ngưỡng là 0,66x 10-3 mm2/s cho phép phân biệt UNBT với các u khác
vùng hố sau với độ nhạy 87,7% [40]
Kết quả nghiên cứu của Yamasaki và cộng sự cho thấy giá trị ADC của
UNBT thấp hơn của UMNT một cách có ý nghĩa thống kê. Giá trị ADC của
UMNT nằm giữa gía trị ADC của USBL và UNBT. Ngoài ra, có vẻ như giá trị
ADC của UMNT thể bất thục sản thấp hơn thể cổ điển tuy nhiên chưa đủ ý
nghĩa thống kê để tạo thành tiêu chuẩn chẩn đoán [41], [42]
Cũng nên nhớ rằng giá trị ADC của mô não lành cũng thay đổi theo sự
trưởng thành của não. Não của bào thai và của trẻ sơ sinh có hàm lượng nước
rất cao (90% ở bào thai, 77% ở trẻ 2 tuổi) dẫn tới giá trị ADC tăng cao hơn.
Quá trình myelin hoá nhu mô não cũng làm cho giá trị ADC giảm dần. Để
triệt tiêu sự thay đổi có tính chất sinh lý này, một số tác giả đã sử dụng tỷ lệ
giữa giá trị ADC của vùng u và giá trị ADC của vùng mô não lành để phân
biệt các loại u. Tuy nhiên cả hai loại giá trị này (giá trị ADC tuyệt đối và giá

17


18

trị tỷ lệ ADC) trong các nghiên cứu trên y văn đều không có sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê [43]
1.5.5.3. CHT phổ
Là phương pháp cho phép đánh giá nồng độ các chất chuyển hoá trong
mô u một cách không xâm nhập [44]. Trong nhiều quá trình bệnh lý, sự thay
đổi về mặt hoá học xảy ra trước khi có sự thay đổi về hình thái, do đó cộng
hưởng từ phổ giúp chẩn đoán bệnh sớm hơn cộng hưởng từ thường quy [45].
Nói chung các u thần kinh đệm thường tăng Cho và giảm NAA so với nhu mô
não bình thường. Tỷ lệ Cho/Cre và Cho/NAA có mối tương quan dương tính
với độ ác của các khối u não. Các khối u não thường biến đổi phổ như tăng
Cho, giảm NAA và Cr do tăng chu chuyển tế bào dẫn tới tăng cường tiêu thụ
năng lượng và tăng sinh màng tế bào u. NAA sụt giảm là do các tế bào não
bình thường bị phá hủy và thay thế bởi các tế bào u. Theo một số nghiên cứu
tỷ lệ Cho/NAA>1,5 hoặc tỷ lệ Cho/Cr>1,5 gợi ý đến tổn thương dạng u [45].
Trong u não thường thấy đỉnh Lac tăng do chuyển hóa u vượt quá khả năng
cung cấp oxy trong máu dẫn đến chuyển hóa Glucose theo con đường hiếm
khí. Tại vùng hoại tử của tổ chức u, Lipid có đỉnh tăng cao hơn nhiều so với
các thành phần khác của u hay so với tổ chức nhu mô não bình thường. Nồng
độ Cho là chỉ điểm tốt đối với hoạt tính tăng sinh của u. Đối với u nguyên bào
đệm đa hình, Cho giảm có thể do hoại tử trong u. Cho liên quan với mật độ tế
bào: Cho cao thường gặp ở các u ác tính. Tỷ lệ Cho/Cr khá liên quan mức độ
ác tính của u. Tỷ lệ Cho/Cr bằng hoặc lớn hơn 1,78 có giá trị phân biệt u sao
bào độ ác mô học thấp và u sao bào độ ác cao cũng như u di căn, với độ nhạy
80% và độ đặc hiệu 76% [46], [47], [48]
Có sự liên quan trực tiếp giữa mức Lactate và độ ác của u. Lactate cao
gặp ở các u độ ác cao Lipid điển hình cặp ở các u có độ ác cao kèm hoại tử.
Tuy nhiên, lipid có thể gặp ở các u có độ ác thấp. NAA và Cr giảm nhiều ở
18


19

các u độ ác cao. Thông tin từ mI hữu ích về độ ác của u, có thể dùng chuỗi
xung với TE ngắn để đánh giá mI. Với các u độ ác thấp, tỉ lệ mI/Cr điển hình
cao hơn các u có độ ác cao [47], [49]
1.5.5.4. CHT tưới máu
Kỹ thuật CHT tưới máu cung cấp thông tin về tình trạng tưới máu của hệ
thống vi tuần hoàn. Một trong các đặc điểm của u độ ác cao là có tăng sinh
mạch tân tạo. Các mạch máu tân tạo và các mạch máu tồn tại trước đó trong
nhu mô não bị tác động bởi khối u dẫn tới bị phá huỷ hàng rào máu não gây
thoát thuốc cản quang qua thành mạch vào khoảng gian bào biểu hiện bởi
hình ảnh ngấm thuốc. Các nghiên cứu về CHT tưới máu trên y văn ở người
lớn cho thấy rCBV tương quan có ý nghĩa với tăng sinh nội mô, hoạt động
phân bào và độ ác của khối u. Tuy nhiên ở trẻ em, giá trị rCBV cao không có
giá trị phân biệt độ ác của khối u não [50]
Phân biệt u não độ ác thấp với u độ ác cao: bản đồ tưới máu não tương
đối rCBV có độ nhạy rất cao trong đánh giá tình trạng vi tưới máu của khối u
và do đó đánh giá được mức độ ác tính và tăng sinh của khối u. Các khối u
bậc thấp có giá trị rCBV thấp trong khi các u độ ác cao có giá trị rCBV cao
.Nghiên cứu của Ho và cộng sự cho thất giá trị rCBV <1,38 cho phép loại trừ
tổn thương u có độ ác cao với độ nhày 92%, độ đặc hiệu 40% [51].
Phân biệt u tái phát với tổn thương hoại tử do điều trị tia xạ: việc phân
biệt hai tổn thương đều ngấm thuốc này rất quan trọng trong lập kế hoạch
phẫu thuật và chọn vị trí để sinh thiết cũng như vị trí để điều trị tia xạ. Tổn
thương ngấm thuốc có giá trị rCBV trên 2,6 có thể gợi ý u tái phát, nếu rCBV
thấp hơn 0,6 gợi ý không phải tổn thương u. Ngoài ra CHT tưới máu còn giúp
đánh giá tác dụng của hoá chất đối với tổn thương u não trong quá trình điều
trị [21], [52].
19


20

1.5.6. Y học hạt nhân
U hố sau độ ác thấp thường không hấp thụ các chất chuyển hoá FDG
trong chụp cắt lớp phát xạ positron. Ngược lại các u hố sau có độ ác cao
thường hấp thụ mạnh và không đồng nhất. Tuy nhiên phương pháp không
đánh giá được hình ảnh giải phẫu cũng như các thành phần trong khối u [53].
1.6. Hình ảnh CHT một số u não hố sau ở trẻ em
1.6.1. U sao bào lông
Bệnh thường xuất hiện đơn độc hoặc có thể phối hợp với NF1, hội chứng
Turcot, hội chứng PHACE(S) và bệnh Olliver [12]
Vị trí: USBL thường nằm ở trong bán cầu tiểu não (chiếm khoảng 60%
các trường hợp). Một số trường hợp u nằm ở thuỳ nhộng .
USBL vùng hố sau có 3 dạng chính: Dạng nang có nốt đặc ở thành nang
ngấm thuốc mạnh (chiếm khoảng 50%), dạng đặc (chiếm 10%) và dạng nang
đơn thuần (chiếm khoảng 40-50%). Các u ở vị trí lệch đường giữa trong bán
cầu tiểu não thường có dạng nang trong khi các u ở vị trí thuỳ nhộng thường
có dạng đặc [12], [54]
Ảnh T1W: Nốt đặc ở thành nang giảm hoặc đồng tín hiệu so với mô não
xám. Dịch trong nang đồng hoặc tăng nhẹ tín hiệu so với dịch não tuỷ. Sau
khi tiêm thuốc đối quang từ, phần nốt đặc của u ngấm thuốc mạnh và đồng
nhất (46%). Thành nang thường không ngấm thuốc. Khi thành nang ngấm
thuốc có thể đã có xâm lấn của tế bào u [11]
Ảnh T2W: Nốt đặc của u đồng hoặc tăng tín hiệu so với nhu mô vỏ não,
phản ảnh mật độ tế bào thấp của khối u. Dịch trong nang đồng hoặc tăng nhẹ
tín hiệu so với dịch não tuỷ [55], [56]
Can xi hoá trong u khá ít gặp, chỉ chiếm khoảng 11-21% . Phù quanh u
chiếm khoảng 5-37% các trường hợp [12]
20


21

Hình 1.6. Hình ảnh CHT điển hình USBL
(A) Ảnh T1W; (B) Ảnh T2W

(Nguồn:Manifestations of pilocytic astrocytoma: a pictorial review [12]).
Trên ảnh khuyếch tán: Phần đặc của khối u có thể có hoặc không hạn chế
khuyếch tán [57]
Chẩn đoán phân biệt: Chẩn đoán phân biệt USBL với các u khác vùng
hố sau được đặt ra khi u có dạng đặc và nằm ở vị trí thuỳ nhộng. USBL có thể
giống với u nguyên bào mạch do cùng có dạng nang với nốt tổ chức đặc ở
thành nang. Tuy nhiên u nguyên bào mạch thường gặp ở lứa tuổi lớn hơn.
Chẩn đoán phân biệt với khối u vùng hố sau ở trẻ em hay gặp nhất bao gồm
UNBT và UMNT [58]. Tổn thương di căn hiếm gặp ở trẻ em [59]. UNBT
điển hình có hình ảnh đồng hay tăng tỷ trọng trên phim chụp CLVT trước
tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch. Trên ảnh chụp CHT với chuỗi xung T2W,
UNBT thường đồng tỷ trọng với mô não xám. UMNT có xu hướng lan sang
hai bên và xuống phía dưới qua các khe Luschka và Magendie. Qua đó, u
có thể lan vào góc cầu tiểu não hoặc bể lớn. Trên ảnh chụp CLVT trước
tiêm, khối có thể đồng hay tăng tín hiệu với mô não lành lân cận. Khoảng

21


22

50% các u màng não thất có các chấm vôi hoá dễ dàng phát hiện trên phim
chụp CLVT [22]

Hình 1.7. Hình ảnh CHT khuyếch tán USBL.
(A) Ảnh khuyếch tán: U đồng tín hiệu; (B) Ảnh bản đồ ADC: U tăng tín hiệu

(Nguồn:Manifestations of pilocytic astrocytoma: a pictorial review [12]).
1.6.2. U màng não thất
Vị trí: UMNT ở trẻ em thường nằm ở trên đường giữa vùng hố sau.
Trường hợp điển hình, u thường xuất phát từ sàn não thất IV nhưng cũng có
thể ở trần não thất IV. Một số trường hợp u có thể xuất phát từ góc cầu tiểu
não [60], [61], [62].
Kích thước trung bình khối u là 4,9cm dao động từ 3 đến 7cm [63]
Ảnh T1W: giảm tín hiệu là chủ yếu. Sau khi tiêm thuốc đối quang từ, u
ngấm thuốc mức độ khác nhau
Ảnh T2W: tăng tín hiệu chiếm 89% [64]
UMNT thường có cấu trúc không đồng nhất do bên trong có các ổ xuất
huyết (32%), hoại tử hay vôi hoá nhỏ [61]. Thường có viền phù não quanh u,
phần lớn đều có mức độ vừa phải . Khi u lớn thường đè đẩy tiểu não, đè đẩy
thân não và đè ép não thất IV. Khối u choán chỗ trong não thất IV gây giãn
22


23

não thất III và não thất bên hai bên gặp trên 90% các trường hợp. Sau khi tiêm
thuốc đối quang từ, u ngấm thuốc không đồng nhất, có những vùng ngấm
thuốc mạnh xen kẽ những vùng không ngấm thuốc. Hiếm khi có phù não
quanh u [16], [64].
Khối u thường phát triển lan vào góc cầu tiểu não hoặc bể lớn qua lỗ
Luschka (15% các trường hợp) và Margendie (60% các trường hợp) U có thể lan
ra phía trước thân não ôm lấy các mạch máu cũng như các dây thần kinh sọ có thể
gây ra các triệu chứng do chèn ép. Hiện tượng di căn theo dịch não tuỷ chiếm
khoảng 10-20% các trường hợp UMNT khi được chẩn đoán [65] , [60]

Hình 1.8. Các dạng hình ảnh CHT của UMNT.
(A),(B),(C): Ảnh T2W

(Imaging of ependymomas: MRI and CT [64]).
UMNT có cường độ tín hiệu trên ảnh CHT khuyếch tán ở mức trung
gian so với u nguyên bào tuỷ và USBL. Tín hiệu trên ảnh khuyếch tán thay
đổi từ tăng nhẹ tín hiệu so với chất trắng tiểu não ở những vùng mật độ tế bào
cao hơn đến đồng tín hiệu với chất xám tiểu não. Tín hiệu trên ảnh bản đồ
ADC có thể giống với UNBT [57] , [66].

23


24

Hình 1.9. Hình ảnh CHT khuyếch tán UMNT.
(A): Ảnh khuyếch tán; (B): Ảnh bản đồ ADC

( Imaging of ependymomas: MRI and CT [64] ).
1.6.3. U nguyên bào tuỷ
UNBT ở trẻ em thường nằm trên đường giữa vị trí của thuỳ nhộng và
phát triển vào trong não thất IV. UNBT thường nằm ở ½ dưới của thuỳ nhộng,
hiếm khi nằm ở ½ trên của thuỳ nhộng. Ngoài ra UNBT cũng có thể nằm lệch
đường giữa bên trong bán cầu tiểu não. Những trường hợp nằm ở bán cầu tiểu
não thường là UNBT thể tăng sinh xơ [67].
Mặc dù hiếm gặp hơn nhưng UNBT cũng có thể gặp ở người lớn (độ
tuổi hay gặp là 30-40 tuổi) và thường nằm ở trong bán cầu tiểu não [68].
Trên ảnh CHT, UNBT được chia làm hai thể điển hình và không điển hình:
Thể điển hình: u cấu trúc đồng nhất, nằm ở vị trí thuỳ nhộng gây choán chỗ
não thất IV. Khối có bờ rõ và thường có viền phù não xung quanh u. Trên ảnh
T1W khối giảm tín hiệu so với mô não xám và trên ảnh T2W phần lớn UNBT
đồng hoặc giảm tín hiệu với mô não xám. Sau khi tiêm thuốc đối quang từ, khối
ngấm thuốc ở mức độ khác nhau từ không ngấm tới ngấm thuốc mạnh. U
thường đè ép não thất IV gây giãn não thất III và não thất bên hai bên [69].
24


25

Thể không điển hình chiếm khoảng gần 50% các trường hợp: khối có
xuất huyết hoặc hoại tử rộng bên trong hoặc đôi khi có dạng nang đơn thuần
với kích thước lớn. Vị trí khối u không nằm trên đường giữa mà lệch sang bán
cầu tiểu não [70], [71], [72].
Các UNBT thể tăng sinh xơ hay có xu hướng nằm lệch đường giữa trong
bán cầu tiểu não [73]. UNBT cũng có thể phát triển lan vào góc cầu tiểu
não hoặc chui vào bể lớn qua các lỗ Luschka và Magendie nhưng hiếm gặp
hơn so với UMNT. Trái lại UNBT có xu hướng di căn theo màng não tuỷ.
Theo các tác giả, tỷ lệ UNBT di căn màng não tuỷ tại thời điểm chẩn đoán
là từ 20-30% [74] , [75].

Hình 1.10. Hình ảnh CHT điển hình UNBT

(A) Ảnh T1W; (B) Ảnh T2W; (C) Ảnh T1+Gd
(Nguồn:Paediatric intraaxial posterior fossa tumour [22]).
Trên ảnh CHT khuyếch tán, UNBT có đặc điểm hạn chế khuyếch tán do
mật độ tế bào u cao biểu hiện tăng tín hiệu trên ảnh trọng khuyếch tán, giảm
tín hiệu trên ảnh bản đồ ADC [76], [77]
Các dấu hiệu đặc trưng cuả các khối u ngoại bì thần kinh nguyên phát
nhưng không có tính đặc hiệu bao gồm: tăng Choline, giảm NAA và giảm
creatine. Đôi khi thấy tăng lactate và lipid [78]
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×