Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu cắt dịch kính bơm dầu silicone nội nhãn điều trị chấn thương nhãn cầu nặng

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chấn thương nhãn cầu là một cấp cứu thường gặp trong nhãn khoa và
là nguyên nhân gây mù đứng thứ 3 ở Việt Nam sau đục thể thủy tinh và
glôcôm [1]. Tổn thương mắt do chấn thương thường rất phức tạp, đòi hỏi một
thái độ xử trí đúng đắn và kịp thời mới có thể hạn chế được phần nào những
hậu quả nặng nề do chấn thương gây ra. Những chấn thương nhãn cầu nặng,
đặc biệt là chấn thương hở thường liên quan đến bán phần sau gây ra những
tổn thương nghiêm trọng về giải phẫu và chức năng thị giác, thậm chí phải bỏ
mắt mặc dù đã được can thiệp phẫu thuật [2].
Cùng với sự phát triển kỹ thuật cắt dịch kính hiện đại, sự cải tiến các
dụng cụ vi phẫu cho phép thực hiện một loạt các thao tác trong buồng dịch
kính đã điều trị hiệu quả rất nhiều bệnh lý dịch kính - võng mạc khác nhau.
Sự ra đời dầu silicone ấn độn nội nhãn từ năm 1985 như một giải pháp hữu
hiệu trong điều trị bong võng mạc phức tạp. Bên cạnh đó là những hiểu biết
mới về mô bệnh học, thời điểm và cách xử trí chấn thương mắt trong suốt 30
năm qua đã đưa đến cơ hội điều trị cho những bệnh nhân chấn thương nhãn
cầu nặng, ít nhất là giữ lại mắt hoặc một phần thị lực bằng phương pháp cắt
dịch kính sớm bơm dầu silicone nội nhãn [3].

Mặc dù nhiều phẫu thuật viên đều đồng thuận về hầu hết các chỉ định
cắt dịch kính trong điều trị chấn thương nhãn cầu hở nhưng thời điểm can
thiệp vẫn còn nhiều tranh cãi. Phần lớn các tác giả đều chỉ định cắt dịch kính
ngay lập tức trong điều trị viêm mủ nội nhãn sau chấn thương và có dị vật nội
nhãn, trong khi thời điểm phẫu thuật cho các chỉ định khác là chưa rõ ràng.
Kuhn F. (2004) và những tác giả ủng hộ cắt dịch kính sớm (trong vòng 100
giờ) dựa trên những nghiên cứu mô bệnh học đã chứng minh rằng: các


2

nguyên bào sợi phát triển ở khu vực có xuất huyết dịch kính ngay trong vòng
một vài giờ sau chấn thương [4]. Do đó về mặt lý thuyết, lấy bỏ những mô
này sẽ phá vỡ được vòng xoắn bệnh lý hình thành tăng sinh dịch kính - võng
mạc là nguyên nhân hàng đầu gây thất bại sau phẫu thuật cắt dịch kính. Trong
khi đó, những tác giả ủng hộ cắt dịch kính thời điểm 4 - 14 ngày sau chấn
thương nhãn cầu hở cho rằng: việc phẫu thuật ngay sau chấn thương gặp khó
khăn do mạch máu cương tụ, dịch kính sau còn dính chặt, phẫu thuật trì hoãn
nhằm đợi sự hóa lỏng của dịch kính và máu tự tiêu một phần. Mansour A. và
cộng sự (2009) lại đưa ra quan điểm là không nên trì hoãn phẫu thuật để chờ
thời gian tiêu máu vì chờ đợi có thể gây ra những tổn thương tăng sinh dịch
kính - võng mạc nặng không hồi phục [5].
Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về cắt dịch kính điều trị bệnh lý
bán phần sau do chấn thương [6], [7], [8]. Tuy nhiên chấn thương nhãn cầu
nặng rất đa dạng và phức tạp nên việc điều trị luôn là một thách thức đối với
các nhà nhãn khoa. Để góp phần vào điều trị và tìm hiểu một số yếu tố ảnh
hưởng đến kết quả phẫu thuật, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu cắt
dịch kính bơm dầu silicone nội nhãn điều trị chấn thương nhãn cầu nặng”
với hai mục tiêu:
1

Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt dịch kính bơm dầu silicone nội nhãn

2

điều trị chấn thương nhãn cầu nặng.
Phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả của phẫu thuật.


3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN

1.1. Một số cấu trúc giải phẫu nhãn cầu liên quan tới phẫu thuật cắt
dịch kính
Hiểu biết về khoảng cách giữa các cấu trúc giải phẫu khác nhau liên quan
đến vùng rìa là rất cần thiết cho phần lớn các thao tác trong kỹ thuật cắt dịch kính.
1.1.1. Thể thuỷ tinh
Thể thuỷ tinh là một thấu kính hai mặt lồi nằm ở hậu phòng, có công
suất cầu trung bình khoảng 20 D ở người trưởng thành. Trong quá trình cắt dịch
kính, nắm rõ đường kính của thể thuỷ tinh rất quan trọng. Đường kính xích đạo
của thể thuỷ tinh là 6,5 mm ở trẻ sơ sinh và 9-10 mm ở người lớn, trong khi
đường kính trước sau là 3 mm ở trẻ khi sinh, tăng theo tuổi cho đến khi trưởng
thành là khoảng 6 mm ở người già. Cần phải tránh vị trí thể thuỷ tinh từ khi chọc
đường vào củng mạc cho đến khi kết thúc trong phẫu thuật cắt dịch kính vì khả
năng dẫn đến đục một phần hoặc toàn bộ thể thuỷ tinh.
1.1.2. Các cơ vận nhãn
Khoảng cách giữa vùng rìa và giới hạn trước của bốn cơ trực tăng lên
theo thứ tự như sau: trực trong (5,5 mm) → trực dưới (6.5 mm) → trực ngoài
(6.9 mm) → trực trên (7.7 mm). Vòng xoắn Tilaux là khái niệm đưa ra để chỉ
một vòng tưởng tượng đi qua các giới hạn trước của 4 cơ trực và vòng này
cũng đánh dấu vị trí của ora serrata so với vùng rìa giác mạc [9].


4

Hình 1.1. Hình xoắn ốc của Tillaux đánh dấu vị trí của ora serrata so với
vùng rìa giác mạc [9]
1.1.3. Thể mi
Thể mi dài 6 - 7 mm và được tạo thành từ hai bộ phận giải phẫu và
chức năng khác nhau: pars plicata và pars plana. Pars plicata dài khoảng 2,5
mm từ vị trí dính vào cựa củng mạc, là cấu trúc có nhiều mạch máu và được
hình thành bởi khoảng 70 nếp gấp hướng tâm hoặc tua thể mi, với chức năng
chế tiết thuỷ dịch và là cấu trúc dính vào dây Zinn của thể thuỷ tinh. Pars
Plana kéo dài khoảng 3 - 4 mm từ pars plicata tới ora serrata. Vùng này có sắc
tố, trơn nhẵn, không có mạch máu và là vùng lý tưởng để tiếp cận phẫu thuật
ở khoảng 3 - 4 mm từ vùng rìa giác mạc.
Ở trẻ em, vị trí chọc củng mạc cần phải được điều chỉnh bởi vì các kích
cỡ khác nhau của thể mi trong quá trình phát triển nhãn cầu. Một số nghiên cứu
về hình thái học đã chỉ ra rằng thể mi phát triển từ khi sinh đến khi 18 tuổi. Dựa
trên những phát hiện này, các tác giả khác nhau đề nghị khoảng cách từ vùng rìa
đến vị trí chọc củng mạc khi cắt dịch kính được mô tả như sau:
Bảng 1.1. Khoảng cách từ vùng rìa đến vị trí chọc củng mạc theo tuổi [9]
Độ tuổi
1-6 tháng
6-12 tháng
1-2 tuổi
2-6 tuổi
6-18 tuổi

Khoảng cách từ vùng rìa
1,5 mm
2 mm
2,3 mm
3 mm
3,5 mm


5

1.1.4. Mạch máu
Trong một số thao tác phẫu thuật, các mạch máu nuôi các cơ vận nhãn
cần được lưu ý. Các nhánh nuôi cơ của động mạch mắt cung cấp hầu hết cho
các cơ vận nhãn vì chúng tạo ra động mạch mi ngắn.
Trong mỗi cơ có 1-3 động mạch mi ngắn. Trên đường đi, các động mạch
này phân nhánh vào thượng củng mạc và cấp máu cho toàn bộ bán phần trước.
Các động tác phẫu tích hoặc thay đổi cấu trúc giải phẫu của các cơ vận nhãn có
thể làm tổn hại đến động mạch cung cấp máu bán phần trước và gây thiếu máu.
Hệ thống tĩnh mạch chạy song song với mạng động mạch và có bốn
tĩnh mạch xoắn nằm phía sau xích đạo (khoảng 14-18 mm từ vùng rìa).
Những tĩnh mạch này thường được quan sát thấy gần ở phía mũi so với phía
thái dương của cơ trực dưới và trực trên.

Hình 1.2: Vị trí thể mi liên quan đến vùng rìa giác củng mạc [9]


6

Hình 1.3: Liên quan giữa vị trí chọc củng mạc với thể thuỷ tinh
và ora serrata (vùng miệng thắt) [9]
1.2. Chấn thương nhãn cầu nặng
1.2.1. Phân loại chấn thương
Chấn thương mắt là một cấp cứu hay gặp trong nhãn khoa. Năm 1996
Kuhn và cộng sự đã đưa ra hệ thống danh pháp quốc tế toàn diện nhằm tiêu
chuẩn hóa các thuật ngữ trong chấn thương mắt (BEETS) [10]. Trong đó chấn
thương mắt gồm có chấn thương nhãn cầu kín và chấn thương nhãn cầu hở.


7

Chấn thương

Chấn thương kín

CT đụng dập

Chấn thương hở

Rách lớp

Vết thương xuyên

Vết thương xuyên

Vết thương xuyên thấu

Vỡ nhãn cầu

Dị vật nội nhãn

Hình 1.4: Phân loại chấn thương nhãn cầu [10].
Chấn thương nhãn cầu hở là chấn thương làm rách toàn bộ chiều
dày của thành nhãn cầu. Theo BETT, chấn thương nhãn cầu hở được chia
làm 3 vùng:
- Vùng I: Vết thương chỉ ở giác mạc.
- Vùng II: Vết thương từ rìa giác mạc đến củng mạc cách rìa 5 mm.
- Vùng III: Vết thương từ củng mạc cách rìa 5 mm đến hậu cực.


8

Hình 1.5: Vùng xác định vị trí vết thương [11]
Chấn thương nhãn cầu hở bao gồm những loại tổn thương sau đây:
- Vết thương xuyên nhãn cầu là vết thương toàn bộ chiều dày của nhãn
cầu, thường gây ra bởi các vật sắc nhọn
- Vết thương xuyên thấu là vết thương xuyên nhãn cầu bao gồm cả
“đường vào” và “đường ra”.
- Vết thương xuyên nhãn cầu có dị vật nội nhãn là vết thương xuyên
kèm theo một hoặc nhiều dị vật trong nội nhãn.
- Vỡ nhãn cầu là chấn thương làm vỡ toàn bộ chiều dày của nhãn cầu,
thường được gây ra bởi các tác nhân vật tù. Vỡ nhãn cầu thường xảy ra ở
vùng rìa hoặc chân cơ trực [12].
1.2.2. Quan niệm về chấn thương nhãn cầu nặng
Chấn thương nhãn cầu là tình trạng tổn thương mắt có thể ở nhiều mức
độ khác nhau do đó việc phân loại thế nào là chấn thương nhãn cầu nặng rất
quan trọng để có thái độ xử trí phù hợp và kịp thời.
- Dựa theo tính chất phá hủy nhãn cầu
Chấn thương nhãn cầu nặng là những chấn thương ảnh hưởng nghiêm
trọng, mang tính chất phá hủy đến các cấu trúc giải phẫu mắt biểu hiện qua:
+ Mất liên tục trên diện rộng của thành nhãn cầu: vết thương nhãn cầu
dài > 5 mm, vết thương xuyên thấu, vỡ nhãn cầu.


9

+ Đảo lộn các thành phần nội nhãn, gây chảy máu, mất tổ chức, kẹt tổ
chức nội nhãn tại vết thương như xuất huyết dày đặc trong nội nhãn (tiền phòng,
dịch kính, hắc võng mạc), sa lệch thể thủy tinh vào buồng dịch kính, rách/bong
võng mạc, kẹt mống mắt, thể mi, dịch kính, hắc võng mạc tại mép rách [13].
- Dựa vào nguy cơ biến chứng
Những chấn thương nhãn cầu nặng có thể gây những biến chứng nặng
nề ngay sau chấn thương, trong lúc phẫu thuật hay biến chứng muộn ở thời
điểm theo dõi lâu dài. Những biến chứng này nặng nề do có thể gây đau nhức,
mất chức năng, teo nhãn cầu thậm chí bỏ mắt mặc dù đã được phẫu thuật
cũng như điều trị nội khoa tích cực. Những biến chứng hay gặp như sẹo giác
mạc, loạn dưỡng giác mạc, tăng nhãn áp dai dẳng, xuất huyết dịch kính dày
đặc, bong/rách võng mạc, tăng sinh dịch kính võng mạc, gây bong võng mạc
co kéo, xơ hóa thể mi, viêm màng bồ đào, nhãn viêm đồng cảm…[14]
- Dựa theo tiên lượng thị lực
Thang điểm OTS (Ocular Trauma Score)
A Thị lực trước phẫu thuật

Điểm số
Sáng tối (-)

60

ST (+), BBT

70

1/200 – 19/200

80

20/200 – 20/50

90

≥ 20/40

100

B Vỡ nhãn cầu

-23

C Viêm mủ nội nhãn

-17

D Vết thương xuyên thấu

-14

E Bong võng mạc

-11

F

-10

Tổn hại phản xạ đồng tử hướng tâm (RAPD)

Cộng tổng A+B+C+D+E+F = điểm OTS.
Bệnh nhân không có các tổn thương B, C, D, E, F => điểm tính theo thị lực
trước phẫu thuật


10

Điểm số này càng cao thì tiên lượng thị lực càng tốt. Những yếu tố như:
thị lực trước phẫu thuật thấp, có vỡ nhãn cầu hoặc có vết thương xuyên thấu, có
viêm mủ nội nhãn hay bong võng mạc, có tổn thương phản xạ đồng tử hướng
tâm là những yếu tố tiên lượng xấu. Cũng theo phân loại này, Kuhn (2008) cho
thấy những bệnh nhân có điểm OTS trong nhóm 1 (<45 điểm) và 2 (<65 điểm)
thì tiên lượng thị lực ở thời điểm theo dõi cuối cùng đạt ≥ 20/40 chỉ là 1 % ở
nhóm 1 và 15% ở nhóm 2 trong khi thị lực sáng tối âm tính lần lượt tương ứng là
74% và 27% [12].
- Dựa theo thời gian nằm viện
Một vài tác giả cho rằng thời gian nằm viện cũng là yếu tố đánh giá
chấn thương nặng. Những bệnh nhân chấn thương nhãn cầu nặng thường phải
nằm viện nhiều ngày, phẫu thuật nhiều lần, cũng như điều trị hậu phẫu kéo
dài, gây thiệt hại về kinh tế, tinh thần cho người bệnh [14].
1.2.3. Sinh bệnh học và một số hình thái chấn thương nhãn cầu nặng
1.2.3.1. Cơ chế chấn thương
a) Cơ chế cơ học
Vết thương xuyên nhãn cầu thường do các vật sắc nhọn, vật kim loại
hoặc vật bắn ra với tốc độ cao gây ra sự mất liên tục của thành nhãn cầu ở tất
cả các lớp giải phẫu. Đối với những trường hợp vỡ nhãn cầu do chấn thương
thường với lực tác động đụng dập lớn lên thành nhãn cầu qua hai giai đoạn.
Ở giai đoạn chèn ép trực tiếp có thể dẫn đến nhãn cầu vỡ ở những điểm yếu
như: xích đạo, vùng rìa, những vị trí có vết phẫu thuật cũ. Giai đoạn sóng
phản hồi làm toàn bộ tổ chức nội nhãn bị đẩy ra trước dẫn đến sự xé rách các
mô, tổ chức. Những vật bắn ra với tốc độ cao có thể gây ra tổn thương nhãn
cầu phối hợp giữa hai cơ chế vết thương xuyên và đụng dập nhãn cầu.
b) Cơ chế vận mạch


11

Khi nhãn cầu bị ép, hệ mạch của nhãn cầu bị ép mạnh, các mạch máu
co lại, tuần hoàn võng mạc chậm lại đột ngột gây ra thương tổn tiêu huỷ hoặc
hoại tử tế bào võng mạc, thiếu máu thị thần kinh và các tổ chức nội nhãn. Giai
đoạn sóng phản hồi: các mạch máu dãn ra đột ngột hậu quả là có hiện tượng
tăng tính thấm thành mạch, thoát huyết tương và xuất huyết.
1.2.3.2. Một số hình thái tổn thương dịch kính
a) Xuất huyết dịch kính
Chấn thương mắt là nguyên nhân hàng đầu gây xuất huyết dịch kính một
mắt ở người trẻ dưới 40 tuổi. Khoảng 1/3 số mắt bị chấn thương nhãn cầu nặng
có xuất huyết dịch kính, trong đó vết thương xuyên thấu nhãn cầu đứng hàng
đầu với 56% các trường hợp, tiếp theo lần lượt là vết thương xuyên nhãn cầu có
dị vật nội nhãn (43%), chấn thương vỡ nhãn cầu (41%), chấn thương đụng dập
nhãn cầu (35%) và cuối cùng là vết thương xuyên nhãn cầu (31%) [12].
Bản thân khối dịch kính không có mạch máu. Xuất huyết dịch kính xảy
ra do tổn thương của các tổ chức lân cận như các mạch máu của thể mi, võng
mạc, hắc mạc. Đây là một trong những tổn thương nặng vì máu khó tiêu do
bệnh nhân trẻ có dịch kính đặc. Mặt khác, xuất huyết dịch kính cũng cản trở
khả năng quan sát đáy mắt để phát hiện và điều trị kịp thời các tổn thương dịch
kính - võng mạc phối hợp khác (như các rách võng mạc). Máu xâm nhập vào
buồng dịch kính sẽ khởi động một quá trình bệnh lý phức tạp liên quan đến tiêu
cục huyết làm phá hủy cấu trúc dịch kính gây biến đổi ảnh hưởng trầm trọng
đến chức năng dịch kính - võng mạc và của toàn nhãn cầu.
b) Viêm mủ nội nhãn
Viêm mủ nội nhãn là tình trạng viêm của các khoang nội nhãn thường
do nhiễm trùng. Khi tình trạng viêm ở các cấu trúc nội nhãn lan ra tất cả các
lớp vỏ của nhãn cầu gọi là viêm toàn nhãn. Tác nhân gây bệnh có thể là vi


12

khuẩn, ký sinh trùng, nấm hay virus. Đặc trưng mô bệnh học của viêm mủ nội
nhãn là phản ứng bạch cầu đa nhân trung tính, là đáp ứng viêm với tác nhân gây
bệnh, có thể phá hủy các thành phần dịch kính, võng mạc, hắc mạc. Bệnh nhân
thường mất thị lực hay teo nhãn cầu khi quá trình viêm đã ổn định.
Viêm mủ nội nhãn sau vết thương xuyên nhãn cầu chiếm khoảng 10-30%
tổng số viêm mủ nội nhãn do nhiễm trùng nói chung và chiếm 5 -14,0% các
trường hợp vết thương xuyên nhãn cầu [15], [16], [17], [18]. Nghiên cứu về
viêm mủ nội nhãn nói chung trong 13 năm của Parrish C.M. (1987) cho thấy: tỷ
lệ viêm mủ nội nhãn sau vết thương xuyên nhãn cầu chiếm tỷ lệ 25,0% [19].
Zhang Y. và cộng sự (2001 – 2005) nghiên cứu 4639 trường hợp vết
thương xuyên nhãn cầu thấy có 571/4639 trường hợp viêm mủ nội nhãn
chiếm tỷ lệ 11,9% [18]. Ở Việt Nam, theo Tô Thị Kỳ Anh (1999) tỷ lệ viêm
mủ nội nhãn sau vết thương xuyên nhãn cầu là 10,2% [20]. Năm 2008, Dương
Nam Trà nghiên cứu 458 trường hợp vết thương xuyên nhãn cầu thấy có
40/458 trường hợp bị viêm mủ nội nhãn (8,73%), tác nhân vi khuẩn gram (+)
chiếm phần lớn 65,5% trong đó trực khuẩn Bacillus chiếm 14,28%, vi khuẩn
gram (-) 25,0 %, nấm 2,5% [21].
Cấu trúc buồng dịch kính không có hệ thống mạch máu và bạch huyết,
tuy nhiên khi có sự xâm nhập của tác nhân gây bệnh, một loạt các đáp ứng
xảy ra nhằm chống lại quá trình xâm nhập. Nghiên cứu thực nghiệm gây viêm
nội nhãn của Alfaro D. V. và cộng sự (1996) bằng cách tiêm 20000 Bacillus
Cereus vào trong buồng dịch kính thỏ sau khi gây vết thương xuyên nhãn cầu
[22]. Bạch cầu đa nhân trung tính xuất hiện ở mức độ trung bình trong khoang
dưới võng mạc, trong các mao mạch hắc mạc và buồng dịch kính. Tại thời điểm
24h sau khi tiêm, bong võng mạc xuất hiện ở mức độ trầm trọng kèm theo hoại
tử võng mạc ở mức độ trung bình và nặng. Toàn bộ buồng dịch kính bị thâm
nhiễm bởi các bạch cầu đa nhân trung tính, và một phần bạch cầu đơn nhân. Tại


13

thời điểm 48 h sau tiêm, võng mạc hoại tử hoàn toàn kèm theo áp xe toàn bộ
khối dịch kính [22].
1.2.3.3. Các hình thái bong võng mạc
Bong võng mạc do chấn thương là bong võng mạc ngoại khoa, do vậy chỉ
định phẫu thuật là phương pháp điều trị duy nhất. Bên cạnh đó, chấn thương rất
đa dạng, phức tạp, có thể kèm theo các tình trạng bệnh lý khác như lệch hoặc
đục vỡ thể thủy tinh, xuất huyết dịch kính, dị vật nội nhãn, viêm mủ nội
nhãn… nên việc chẩn đoán xác định rách võng mạc hoặc bong võng mạc
trong các trường hợp có xuất huyết dịch kính dày đặc chủ yếu phụ thuộc vào
siêu âm B. Hơn nữa, đôi khi vết thương xuyên qua giác mạc làm cho khả
năng quan sát đáy mắt trở nên vô cùng khó khăn trong khi phẫu thuật. Phẫu
thuật điều trị bong võng mạc do chấn thương có nhiều hình thái với những
đặc điểm rất đặc thù.
Bong võng mạc sau vết thương xuyên nhãn cầu thường kèm theo hiện
tượng kẹt dịch kính - võng mạc vào mép vết thương, đây là tổn thương
thường gặp nếu xử trí cấp cứu không tốt vết thương xuyên nhãn cầu dẫn đến
tăng sinh dịch kính võng mạc. Quá trình làm sẹo của vết thương lôi kéo các tế
bào xơ (có nguồn gốc từ các mô thượng củng mạc, từ biểu mô sắc tố và hắc
mạc bị chấn thương) phát triển vào phía trong nhãn cầu. Ngay cả khi quá trình
làm sẹo đã tự giới hạn, sẹo hình thành có thể liên quan đến toàn bộ chiều dày
của võng mạc. Sẹo co kéo tỏa ra thành các tia đồng tâm xung quanh vị trí vết
thương võng mạc gây co kéo võng mạc và màng tăng sinh là nguyên nhân của
giảm thị lực trầm trọng. Nếu sẹo tiếp tục phát triển, quá trình TSDKVM điển
hình xuất hiện, co kéo và gây bong võng mạc. Đây là hình thái rất nặng của
bong võng mạc sau chấn thương. Tiên lượng về mặt chức năng của bệnh nhân
sau phẫu thuật cũng thường không tốt.


14

Bong võng mạc do tăng sinh dịch kính-võng mạc với TSDKVM là
nguyên nhân chủ yếu gây bong võng mạc sau vết thương xuyên nhãn cầu.
Khoảng 2-3 tuần sau chấn thương, các dây chằng và các màng tăng sinh xơ
bắt đầu xuất hiện tại vị trí vết thương xuyên củng mạc có kẹt dịch kính và
phát triển dày lên, tỏa ra thành hình nan quạt co kéo võng mạc chu biên ở phía
đối diện hoặc lân cận làm hình thành một đứt chân võng mạc chạy song song
với vùng nền của dịch kính hoặc gây bong võng mạc chu biên tại vị trí tương
ứng [23], [24].
1.2.4. Tăng sinh dịch kính - võng mạc
1.2.4.1. Khái niệm
Tăng sinh dịch kính - võng mạc là quá trình tăng sinh tế bào xơ, tế bào
thần kinh đệm, được đặc trưng bởi sự tăng sinh các lớp màng ở trên, trong và
dưới võng mạc, gây co kéo. Mặc dù cơ chế còn chưa được hiểu biết đầy đủ, tuy
nhiên hiện tượng viêm quá mức đã làm ảnh hưởng đến quá trình liền vết thương
cũng như kéo dài thời gian làm sẹo [25], [26], [27].
1.2.4.2. Phân loại
Tăng sinh dịch kính – võng mạc được phân loại lần đầu năm 1983 bởi
Hội Võng mạc quốc tế. Phân loại này dễ sử dụng và chia tăng sinh dịch kính
võng mạc làm 4 mức độ: A, B, C, D dựa trên sự tăng lên của co kéo từ mức
độ nhẹ đến nặng.
Năm 1989, nhóm nghiên cứu về Silicone giới thiệu phân loại mới có
những đặc điểm sau: vị trí tăng sinh trước hay sau, và loại co kéo. Phân loại
này được cập nhật vào năm 1991 dựa trên chỉnh sửa của nhóm nghiên cứu
Silicone cũng như các tác giả khác. Mỗi một cách phân loại có ưu nhược điểm
riêng, tuy nhiên phân loại năm 1983 vẫn dễ dùng và được sử dụng trên lâm
sàng [28], [29], [30].


15

Bảng 1.2. Phân loại tăng sinh dịch kính võng mạc theo phân loại
Hội Võng mạc quốc tế 1983 [28]
Mức độ

Đặc điểm lâm sàng

A

Dịch kính đục và có sắc tố trong buồng dịch kính

B

Nếp gấp trên bề mặt võng mạc, võng mạc cuộn mép,
mạch máu ngoằn nghèo

C

Nếp gấp toàn bộ võng mạc
C1

1 góc phần tư

C2

2 góc phần tư

C3

3 góc phần tư

D

Nếp gấp võng mạc ở toàn bộ 4 góc phần tư
D1

hình phễu mở

D2

hình phễu đóng hẹp

D3

hình phễu đóng không quan sát được gai thị

1.2.4.3. Mô bệnh học và sinh lý bệnh của tăng sinh dịch kính võng mạc
Các yếu tố làm thức đẩy quá trình TSDKVM đã được nghiên cứu như sau:
Theo nghiên cứu của Cardillo và cộng sự (1997) cho thấy các yếu tố dự
đoán nguy cơ TSDKVM sau chấn thương mắt bao gồm: nam, vết thương
xuyên thấu nhãn cầu, thị lực trước phẫu thuật cấp cứu dưới 5/200, chấn thương
liên quan cả phần trước và phần sau nhãn cầu, chấn tương gây thoát dịch kính,
tổn thương bao sau thủy tinh thể, vết thương dài hơn 10mm, bong võng mạc,
viêm kéo dài trong mắt sau chấn thương, xuất huyết hắc mạc.
5 giai đoạn quan trọng để hình thành TSDKVM gồm: phá vỡ hàng rào
máu võng mạc, thay đổi tính chất và di thực tế bào, tăng sinh tế bào, hình
thành màng và sắp xếp lại lưới ngoại bào và co kéo [31].
Tăng sinh tế bào biểu mô sắc tố: Ngay sau chấn thương, đại thực bào sẽ


16

xâm nhập vào buồng dịch kính qua vết thương, chỗ rách võng mạc và giải
phóng yếu tố viêm cytokines kích thích tế bào di thực và tăng sinh mạnh mẽ
tế bào biểu mô sắc tố. Lớp tế bào biểu mô sắc tố là cần thiết cho sự toàn vẹn
của lớp tế bào cảm thụ ánh sáng và hắc võng mạc, đồng thời cũng đóng vai
trò quan trọng trong liền vết thương trong nội nhãn [32]. Các tế bào biểu mô
sắc tố không tăng sinh trong điều kiện thông thường, khi có sự tiếp xúc giữa
lớp tế bào biểu mô sắc tố và cytokine trong dịch kính tạo ra sự chuyển đổi tế
bào biểu mô thành trung mô và có khả năng di thực vào trong buồng dịch kính,
qua đó hình thành một mạng lưới ngoại bào bao gồm collagen, fibronectin,
thrombospondin, và những protein khác. Trong quá trình này, tế bào biểu mô
sắc tố dưới võng mạc có thể sẽ mất sự kết nối với tế bào biểu mô sắc tố ở ngoại
bào và di thực qua vết rách võng mạc vào trong buồng dịch kính [29].
Nhiều dấu hiệu đã được phát hiện để kích hoạt sự di thực và tăng sinh
của tế bào biểu mô sắc tố: mất tiếp xúc của lớp biểu mô sắc tố, xuất hiện "yếu
tố lạ" trong dịch kính, các tín hiệu từ lớp võng mạc cảm thụ và tế bào viêm
[33]. Mặc dù lớp tế bào biểu mô sắc tố thể hiện thụ thể của yếu tố tăng sinh tế
bào gan (HFG), yếu tố tăng trưởng có nguồn gốc tiểu cầu (PDGF), yếu tố hoại
tử u (TNF) và các yếu tố tăng trưởng khác sự tương tác giữa lớp biểu phẫu
thuật sắc tố võng mạc và các tế bào Müller dường như là yếu tố chính hình
thành màng và co kéo [34], [35], [36].
Kiilgaard và cộng sự (2007) dùng 5-bromo-2-deoxyuridin (BrdU) để
phát hiện các tế bào biểu mô sắc tố võng mạc (RPE) đang tăng sinh và thấy
rằng chấn thương cực sau ở mắt lợn gây ra sự gia tăng tế bào biểu mô sắc tố ở
phần trước; nhưng không có trong vùng lân cận của tổn thương. Điều này cho
thấy rằng một quần thể tế bào tiền thân của tế bào biểu mô sắc tố võng mạc
tồn tại trong vùng lân cận của ora serrata. Các tế bào này cũng như các tế bào
Muller có thể cung cấp các tế bào thúc đẩy TSDKVM xuất hiện [37], [38].


17

Tăng sinh nguyên bào sợi. Phần lớn màng TSDKVM được hình thành
bởi nguyên bào sợi. Các mô hình động vật của TSDKVM thường được tạo ra
bằng cách tiêm nguyên bào sợi trực tiếp vào trong buồng dịch kính. Các
nguyên bào sợi trong dịch kính quan sát thấy trong TSDKVM bắt nguồn từ
biến đổi của tế bào biểu mô sắc tố hoặc tế bào Muller trong trường hợp bong
võng mạc nguyên phát và từ nguyên bào sợi nguồn gốc ngoài nhãn cầu trong
trường hợp chấn thương nhãn cầu [39].

Hình 1.6. Sơ đồ bong võng mạc co kéo sau vết thương xuyên nhãn cầu.
Xuất huyết dịch kính: Nghiên cứu sâu hơn nhằm đánh giá khả năng gây
TSDKVM độc lập của từng yếu tố cho thấy xuất huyết dịch kính là yếu tố
nguy cơ hàng đầu, tiếp theo là hiện tượng viêm dai dẳng trong mắt. Đánh giá
mối liên quan giữa các loại hình chấn thương và TSDKVM, nghiên cứu cũng


18

cho thấy TSDKVM xuất hiện sớm nhất trên các mắt bị vết thương xuyên thấu
nhãn cầu với thời gian trung bình là 1,3 tháng (dao động từ 0,5 - 3 tháng), tiếp
theo là chấn thương vỡ nhãn cầu (2,1 tháng), vết thương xuyên nhãn cầu có dị
vật nội nhãn (3,1 tháng) và muộn hơn đáng kể ở các mắt bị chấn thương đụng
dập nhãn cầu nhãn cầu với thời gian trung bình lên tới 5,7 tháng (dao động từ
2,5-10 tháng) [40], [41].
Một dạng đặc biệt của vết thương xuyên nhãn cầu là vết thương xuyên
nhãn cầu có kèm dị vật nội nhãn. Mặc dù có sự phát triển mạnh mẽ của trang
thiết bị cũng như phẫu thuật dịch kính - võng mạc, vết thương xuyên nhãn cầu
có kèm dị vật nội nhãn vẫn là một trong những nguyên nhân chính gây mất thị
lực sau vết thương xuyên nhãn cầu. Trong một nghiên cứu gần đây của Jonas
và cộng sự (2000) nhằm đánh giá mối liên quan giữa dị vật nội nhãn và
TSDKVM sau chấn thương đã chỉ ra các yếu tố có nguy cơ có khả năng làm
tăng sự xuất hiện TSDKVM. Các yếu tố này bao gồm: kích thước của dị vật,
thị lực trước phẫu thuật, sự xuất hiện của tổn thương võng mạc và tổn thương
thủy tinh thể phối hợp [42].
1.3. Điều trị chấn thương nhãn cầu nặng
1.3.1. Nguyên tắc điều trị
Nguyên tắc
- Phục hồi cấu trúc giải phẫu.
- Phục hồi chức năng thị giác.
- Phòng ngừa và điều trị các biến chứng.
Điều trị nội khoa
- Tiêm thuốc phòng uốn ván (SAT).
- Kháng sinh đề phòng nhiễm trùng: tại chỗ hoặc toàn thân. Khi nghi
ngờ viêm mủ nội nhãn cần tiêm kháng sinh nội nhãn Cefazidim (Fortum)
2,25mg/0,1ml và Vancomyxin 1mg/0,1ml.


19

- Chống viêm (Steroid, nonsteroid), chống dính (Atropin 0,5% - 1% 4%), tiêu máu, giảm đau, an thần, nâng cao thể trạng.
Khâu phục hồi vết thương
- Mục đích: đóng kín vết thương, phục hồi lại cấu trúc nhãn cầu.
- Thời điểm: phẫu thuật cấp cứu càng sớm càng tốt để hạn chế phòi các
tổ chức nội nhãn, hạn chế nhiễm trùng
- Phương pháp:
+ Khâu phục hồi vết thương giác mạc bằng chỉ Propylen 10/0, củng
mạc bằng chỉ Nylon 9/0 hoặc Vicryl 7/0 sau khi làm sạch vết thương, lấy các
dị vật, xuất tiết tại mép rách. Đẩy các thành phần mống mắt, thể mi, dịch
kính, hắc võng mạc kẹt vào nội nhãn theo giải phẫu. Hạn chế tối đa việc cắt
bỏ mô nội nhãn.
+ Cố gắng bảo tồn nhãn cầu, ngày nay rất hãn hữu các trường hợp mắt bị
chấn thương phải bỏ nhãn cầu ngay thì đầu. Chỉ bỏ nhãn cầu thì đầu sau khi
thăm dò thấy vết thương không thể khâu được, mắt đã mất chức năng ST (-) (ví
dụ: rách ra cực sau sâu, vết thương rách nát, mủn, nhãn cầu xẹp, mắt mềm).
1.3.2. Phẫu thuật cắt dịch kính điều trị chấn thương nhãn cầu nặng
1.3.2.1. Mục đích
- Làm trong môi trường quang học, loaị bỏ yếu tố gây viêm (chất thể
thuỷ tinh đục, máu, dị vật), giảm biến chứng viêm màng bồ đào tăng nhãn áp,
loạn dưỡng giác mạc.
- Loại bỏ dịch kính như một khung đỡ (scatfold) gây tăng sinh xơ từ vị
trí vết thương dẫn đến co kéo trong dịch kính và võng mạc. Phát hiện và điều
trị các tổn thương của võng mạc.
- Lấy dị vật nội nhãn, lấy bệnh phẩm làm xét nghiệm.
1.3.2.2. Chỉ định cắt dịch kính.
- Vết thương rách giác mạc (Vùng I) kèm theo:
+ Xuất huyết dịch kính dày đặc.


20

+ Nghi ngờ có tổn thương bán phần sau.
- Vết thương rách củng mạc (Vùng II, III) kèm theo:
+ Kẹt dịch kính tại mép vết thương và xuất huyết dịch kính mức độ
vừa => nặng.
+ Kẹt dịch kính tại mép vết thương và có chất nhân trong buồng dịch
kính.
+ Kẹt võng mạc tại mép vết thương.
- Vỡ nhãn cầu.
- Dị vật nội nhãn.
- Bong võng mạc, tăng sinh dịch kính - võng mạc, lỗ hoàng điểm chấn
thương, viêm mủ nội nhãn, tổn thương bán phần sau khác cần phẫu thuật.
Thời điểm phẫu thuật tùy thuộc vào từng loại tổn thương. Đối với dị vật
nội nhãn, viêm mủ nội nhãn cần can thiệp sớm [3], [43], [44]
1.3.2.3. Kỹ thuật cắt dịch kính - bơm dầu silicone
Sau khi cắt dịch kính qua pars plana, trao đổi khí - dịch và laser các vết
rách võng mạc thì tiến hành bơm dầu silicone nội nhãn. Loại dầu thông
thường hoặc dầu nặng được sử dụng bơm vào nội nhãn phụ thuộc vào vị trí
tổn thương, khả năng tuân thủ tư thế sau bơm dầu. Chẳng hạn như những
bệnh nhân có tổn thương võng mạc ở phía dưới, bệnh nhân già yếu không thể
tuân thủ tư thế nằm sấp thì có thể dùng dầu nặng Densiron 68 [45].
Kỹ thuật tháo dầu phụ thuộc vào loại dầu được bơm, với dầu silicone
thông thường thì có thể tháo bằng trao đổi dịch - dầu. Đường kim hút dầu
gần vị trí đường vào ở pars plana hoặc qua giác mạc (nếu đã lấy thể thủy
tinh), dùng kim silicone đầu tù sát võng mạc trong trường hợp trao đổi dịch
- dầu để tháo dầu nặng.
Ngày nay với hệ thống cắt dịch kính hiện đại có thể bơm và tháo dầu
bằng máy qua adapter, kích thước đường vào đa dạng 20G, 23G thậm chí


21

25G. Tuy nhiên do dầu silicone 5000 cs có độ quánh cao thường khó bơm vào
và tháo ra hơn, mất nhiều thời gian nên nhiều phẫu thuật viên dịch kính võng mạc ưa thích loại dầu Silicone độ quánh 1000 cs.
1.3.2.4. Vai trò của dầu silicone trong điều trị chấn thương nhãn cầu nặng
Dầu silicone bắt đầu được Cục Quản lý dược phẩm và thực phẩm Hoa
Kỳ (FDA) chấp thuận cho sử dụng nội nhãn từ năm 1996, kể từ đó dầu
silicone được sử dụng rộng rãi trong phẫu thuật dịch kính - võng mạc.
Mục đích dầu silicone nội nhãn
- Ấn độn nội nhãn: giữ cho nhãn cầu ổn định, võng mạc áp trở lại tạo
điều kiện cho các vết rách võng mạc có thời gian hàn gắn (sẹo hóa).
- Hạn chế chảy máu, giảm thiểu nguy cơ xuất huyết sau phẫu thuật.
- Tạo môi trường trong suốt, dễ quan sát các tổn thương để xử trí kịp thời.
- Chống nhiễm trùng, chống viêm.
- Giảm nguy cơ phát triển tăng sinh dịch kính - võng mạc.
Có rất nhiều loại dầu silicone khác nhau bởi các đặc điểm sau:
(1) Trọng lượng riêng (SG). Dầu Silicone thông thường có SG = 0.97 (nhẹ hơn
nước) nên sẽ nổi trong buồng dịch kính. (2) Sức nổi. Khi dầu Silicone trong
buồng dịch kính, sức nổi tạo một lực ép lên trên bề mặt võng mạc, tuy nhiên
không phải tại một điểm mà là toàn bộ bề mặt võng mạc, lực này nhỏ hơn so
với khí vì dầu có trọng lượng riêng gần với 1, trong khi của khí SG =
0,001[46]. (3) Sức căng bề mặt. Chất lỏng perfluorocarbon (PFCLs) và các
loại dầu silicone có một sức căng bề mặt là 40-45mN/m và 35 mN/m, trong
khi đó Gas hoặc không khí có sức căng bề cao nhất (khoảng 80 mN/m [46],
[47]. (4) Độ quánh là tính chất vật lý của một chất lỏng đại diện cho lực chống
lại sự biến dạng từ từ bởi lực kéo giãn (tính bằng đơn vị cs). Sự nhuyễn hóa


22

theo thời gian (tạo thành các bóng nhỏ hơn) phụ thuộc vào độ quánh, dầu
silicone có độ quánh càng cao thì thời gian nhuyễn hóa càng lâu hơn.
Dầu nhuyễn hóa là hiện tượng hình thành nên các giọt dầu nhỏ ở giữa
bóng dầu chính và các dịch nội nhãn. Sự nhuyễn hoá này thường xuất hiện
vào tháng thứ 6, nghiên cứu của Federman và Schubert (1988) trên 150 mắt
thấy rằng tỷ lệ dầu nhuyễn hóa sau 1 tháng là 1%, 3 tháng là 11%, 6 tháng là
85% và sau 1 năm là 100% các trường hợp [48].

Hình 1.7. Nhuyễn hóa dầu trên chụp cắt lớp võng mạc (OCT) [49]
Tính tương hợp sinh học của dầu silicone cũng được nghiên cứu rất kỹ.
Các nghiên cứu trên thực nghiệm động vật cho thấy rằng trong vòng 3 – 4
tháng người ta không thấy các tác động độc của dầu lên võng mạc cũng như
giác mạc và vùng bè. Tuy nhiên từ tháng thứ 4, báo cáo cho thấy có hiện
tượng lớp rối ngoài của võng mạc mỏng dần cho nên chỉ định tháo dầu nên
vào tháng thứ 3 sau phẫu thuật [50].
1.3.3. Một số kết quả nghiên cứu về cắt dịch kính trong điều trị chấn
thương nhãn cầu nặng


23

Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam có rất nhiều tác giả nghiên
cứu về cắt dịch kính trong điều trị chấn thương nhãn cầu nặng và đã đưa ra
nhiều kết quả và những khuyến cáo khác nhau [4], [5], [7].
Những nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm, có đối chứng khi
so sánh độn nội nhãn bằng dầu silicone và khí nở trong xử trí những mắt có
tăng sinh dịch kính võng mạc thì thấy rằng dầu silicone mang lại kết quả cao
hơn khí SF6 và tương đương với C3F8. Tuy nhiên, khi so sánh ở mức dưới
nhóm, cụ thể trong trường hợp có cắt võng mạc, tăng sinh dịch kính trước,
khó khăn trong việc thực hiện tư thế sau phẫu thuật, hay những bệnh nhân đi
máy bay thì dầu silicone nội nhãn rõ ràng mang lại kết quả cao hơn [51], [52].
Năm 1978, Rayan S. và cộng sự đã phẫu thuật cắt dịch kính qua pars
plana ở bệnh nhân chấn thương xuyên thì thấy rằng thành công về mặt thị lực
chỉ là 50,0 % [53].
Coleman D.J. (1982) và cộng sự nghiên cứu cắt dịch kính ở bệnh nhân
chấn thương nhãn cầu nặng, tác giả chia làm 4 nhóm. Nhóm 1 cắt dịch kính
trong vòng 72 giờ, nhóm 2 cắt dịch kính trong khoảng từ 3 - 10 ngày, nhóm 3
cắt dịch kính trong khoảng từ 10 - 14 ngày, nhóm 4 cắt dịch kính muộn sau 14
ngày. Kết quả cho thấy nhóm cắt dịch kính sớm trong vòng 72 giờ có 15/23
(65,0 %) đạt thị lực tốt từ 20/40 trở lên, cao hơn các nhóm khác lần lượt là
50,0 %; 36,0 % và 35,0 % [54].
Năm 1989, Christian Skorpik công bố nghiên cứu về cắt dịch kính bơm
dầu silicone ở bệnh nhân chấn thương mắt có tăng sinh dịch kính võng mạc
trên 34 mắt bong võng mạc phức tạp do vết thương xuyên nhãn cầu kèm theo
tăng sinh dịch kính võng mạc giai đoạn C3 tới D3 Có 62,0 % bệnh nhân sau
phẫu thuật bơm dầu võng mạc áp hoàn toàn, 9,0 % bệnh nhân võng mạc áp
một phần. Thị lực từ 1/60 đến 20/20 ở 68,0 % số bệnh nhân. Tác giả cho rằng
cắt dịch kính bơm dầu trong chấn thương nhãn cầu nặng cho phép quan sát


24

được võng mạc ngay sau phẫu thuật và có hiệu quả tương đương hoặc tốt hơn
so với bơm khí nở [55].
Năm 1999, Spiegel D. và cộng sự tại đại học Regensburg đã đánh giá
kết quả điều trị cắt dịch kính bơm dầu silicone trên 13 mắt chấn thương nhãn
cầu nặng ngay thì đầu sau chấn thương cùng với khâu bảo tổn nhãn cầu trong
vòng 24 giờ. Sau thời gian theo dõi trung bình là 28,7 tháng có 11 mắt đạt thị lực
từ 20/200 đến 20/25. Dầu silicone được tháo trong 11/13 mắt sau 5,8 +/- 4,6
tháng. Tăng sinh dịch kính võng mạc tái phát trong 2/13 mắt [56].
Kuhn F. và cộng sự (2004) trong một nghiên cứu phân tích mô tả, đa
trung tâm sau khi phân tích 21 trường hợp cắt dịch kính sớm (trong vòng 100
giờ) do chấn thương nhãn cầu nặng thấy rằng: sau 6 tháng theo dõi 19/21
trường hợp võng mạc áp hoàn toàn, 9/21 trường hợp đạt thị lực 20/50 hoặc tốt
hơn, 10 mắt đạt các mức thị lực từ 20/200 đến 20/60 và 2 mắt thị lực dưới
20/200 [11].
Wolfgang F. (2009) đã tiến hành một nghiên cứu hồi cứu trên 71 bệnh
nhân chấn thương xuyên thấu đưa ra kết quả như sau: 75,0% mắt giữ được thị
lực ở các mức độ, trong đó 25,0 % có thị lực từ 20/200 trở lên, 25,0 % mù lòa
(sáng tối âm tính, teo nhãn cầu hoặc bỏ mắt) [57]. Trong khi đó, cắt dịch kính
cấp cứu hay phẫu thuật cắt dịch kính 1 thì (phối hợp khâu bảo tồn nhãn cầu và
phẫu thuật cắt dịch kính, bơm dầu silicone nội nhãn trong cùng 1 thì phẫu
thuật) đã được tác giả Wolfgang (2009) thực hiện trên 27 bệnh nhân thì
thấy rằng: mặc dù thời gian phẫu thuật kéo dài từ 2,5 - 3 giờ nhưng tỷ lệ
thành công cao 33,0 % thị lực > 20/200, tỷ lệ tăng sinh dịch kính võng mạc
giảm còn 10,0 % so với 60,0 % các nghiên cứu trước đây [57].
Gần đây Mansour A. và cộng sự (2009) đã nghiên cứu phẫu thuật thể
thủy tinh, phối hợp cắt dịch kính bơm dầu silicone ngay thì đầu, cùng lúc với


25

phẫu thuật khâu vết thương giác, củng mạc trên 8 bệnh nhân. Kết quả ở thời
điểm theo dõi cuối cùng 21 tháng có 7/8 trường hợp thành công về mặt giải
phẫu, 3 bệnh nhân có tăng sinh dịch kính võng mạc, thị lực sau phẫu thuật dao
động từ bóng bàn tay đến 20/400 [5], [58].
Heidari E. và cộng sự (2010) nghiên cứu cắt dịch kính trên 18 mắt sau
chấn thương có thị lực sáng tối âm tính [52]. Tất cả các mắt được phẫu thuật
trong khoảng 3 - 14 ngày sau chấn thương và thấy rằng: ngoại trừ 1 trường
hợp teo nhãn cầu, các mắt còn lại có kết quả giải phẫu và chức năng đạt mức
có thể chấp nhận được. Thị lực sau phẫu thuật: sáng tối âm tính có 2 mắt
(11,1%), sáng tối dương tính 3 mắt (16,7%), bóng bàn tay 4 mắt (22,2%), đếm
ngón tay 3 mắt (16,7%), và 20/200 hoặc tốt hơn trong 6 mắt (33,4%). Tác giả
đưa ra khuyến cáo: không nên múc bỏ nhãn cầu ngay ở những bệnh nhân có
thị lực sáng tối âm tính sau chấn thương. Phẫu thuật sớm ở thời điểm 3 - 14
ngày có thể bảo tồn được nhãn cầu và một phần thị lực cho bệnh nhân cũng
như có tác động tích cực về mặt tâm lý cho bệnh nhân và người nhà người
bệnh.
Ở Việt Nam, kỹ thuật cắt dịch kính được triển khai từ năm 1991 và đã
có nhiều công trình nghiên cứu về cắt dịch kính điều trị các bệnh bán phần
sau nhãn cầu. Nghiên cứu cắt dịch kính điều trị bong võng mạc sau chấn
thương do Đỗ Như Hơn và Thẩm Trương Khánh Vân (2004) cho thấy bệnh đa
phần xảy ra ở nam giới trẻ (82,5 % là nam với tuổi trung bình là 30). Bong
võng mạc do chấn thương đụng dập nhãn cầu là 54,6 % và do vết thương
xuyên 45,4 %. Tại cuối thời điểm theo dõi, không có bệnh nhân nào ở nhóm
bong võng mạc do vết thương xuyên nhãn cầu đạt thị lực trên đếm ngón tay 3
m trong khi đó có tới 82,3 % số bệnh nhân có thể đếm ngón tay ở các mức độ
thấp hơn khác nhau [59].


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×