Tải bản đầy đủ

HÌNH ẢNH CHT KHỚP THÁI DƯƠNG hàm (TDH) BÌNH THƯỜNG và BỆNH lý TRONG hội CHỨNG rối LOẠN nội KHỚP TDH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
******

THUYẾT MINH ĐỀ CƯƠNG ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ NĂM 2017 - 2018

Tên đề tài:

HÌNH ẢNH CHT KHỚP THÁI DƯƠNG HÀM (TDH)
BÌNH THƯỜNG VÀ BỆNH LÝ TRONG HỘI CHỨNG
RỐI LOẠN NỘI KHỚP TDH

Cơ quan chủ trì đề tài : BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Chủ nhiệm đề tài

: HOÀNG ĐÌNH ÂU

Thời gian thực hiện

: 12 tháng


HÀ NỘI, 12/2017


Mẫu 1.2 - NCKHCS

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
------------******------------

THUYẾT MINH ĐỀ CƯƠNG ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
1. Tên đề tài:
Hình ảnh CHT khớp thái dương hàm (TDH) bình thường và bệnh lý trong
hội chứng rối loạn nội khớp TDH.
2. Thời gian thực hiện: 12 tháng

3. Cấp quản lý: Cấp cơ sở

Từ tháng: 01…năm 2018
đến tháng 01.. .năm 2019
4. Chủ nhiệm đề tài:
Họ và tên: Hoàng Đình Âu
Học hàm:……………………………. Học vị:

Tiến sỹ

Chuyên môn:…Bác sỹ Chẩn Đoán hình ảnh
Đơn vị/Khoa: Bệnh viện Đại Học Y Hà nội/ Khoa CĐHA
Địa chỉ: số 1 Tôn Thất Tùng, Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại: 0985375589

Email: hoangdinhau@gmail.com

5. Các cán bộ tham gia nghiên cứu:
1. Họ tên: Nguyễn Quang Trung…… Đơn vị: Khoa CĐHA
2. Họ tên: Lê Tuấn Linh.……

Đơn vị: Khoa CĐHA

6. Các sinh viên tham gia nghiên cứu:
Họ tên: Trịnh Văn Duy

Lớp/tổ: Cao học 25 CĐHA

7. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
* Lý do chọn đề tài: Loạn năng thái dương hàm (TDH) –


(Temporomandibular disorders, mã ICD-10: M26.60) là thuật ngữ chung cho
các rối loạn cấu trúc và chức năng trong khớp thái dương hàm hoặc các cơ nhai,
cơ vùng đầu cổ và các thành phần mô kế cận [1]. Các yếu tố sinh học, giải
phẫu, cơ học, hành vi, môi trường hoặc cảm xúc ảnh hưởng đến hệ thống nhai,
góp phần vào sự phát triển của các dấu hiệu, triệu chứng và sự tồn tại của loạn
năng TDH. Do đó, loạn năng TDH có thể được coi là một tổn thương thực thể
đa tác nhân [2]. Đặc trưng chủ yếu là đau, vận động hàm dưới hạn chế và tiếng
kêu khớp, với đau là triệu chứng phổ biến nhất và là lý do thường gặp nhất
khiến bệnh nhân tìm kiếm điều trị [3].
Loạn năng TDH ngày càng trở thành một vấn đề được chú ý ở hầu hết
các quốc gia trên thế giới. Trong hai thập niên trở lại đây, các nghiên cứu cho
thấy loạn năng TDH chiếm tỉ lệ khá cao trong cộng đồng. Tại Mỹ theo nghiên
cứu của Lipton (1993) thì 22% dân số có ít nhất một trong những triệu chứng
loạn năng TDH [4]. Tại Nhật (1996) một báo cáo về dịch tễ của loạn năng TDH là
46% [5]. Ở Việt Nam: nghiên cứu của Hồ Thị Ngọc Linh (2003) trên 1020 công
nhân của Công ty dệt Phong Phú cho thấy: số người có biểu hiện loạn năng TDH
chiếm tỉ lệ rất cao: 60,5% [6]. Nghiên cứu của Phạm Như Hải (2006)trên 544
người dân Hà Nội cho thấy số người có biểu hiện rối loạn từ trung bình tới nặng
chiếm 20,6%, triệu chứng hay gặp là mỏi hàm (11,9%) [7].
Loạn năng TDH là nhóm bệnh lý bao gồm nhiều hội chứng trong đó hay
gặp nhất là hội chứng rối loạn nội khớp (Temporomandibulair joint
derangerment, mã ICD-10: M26.69) [8]. Rối loạn nội khớp TDH là do bất
thường về hình dạng và vị trí của đĩa khớp so với lồi cầu xương hàm dưới ở thì
ngậm miệng và há miệng[9]. Bệnh thường ở gặp ở độ tuổi từ 20 đến 40 tuổi và
phổ biến hơn ở nữ giới so với nam giới [10]. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra
hội chứng rối loạn nội khớp có thể kể đến như những bất thường bẩm sinh của
khớp, những chấn thương vùng hàm mặt, những thói quen xấu như tật nghiến răng,
thói quen ăn uống những đồ ăn rắn, bất thường về khớp cắn hoặc do stress [11].


Để chẩn đoán hội chứng rối loạn nội khớp TDH ngoài những triệu chứng
lâm sàng thì chẩn đoán hình ảnh là phương pháp cận lâm sàng quan trọng và có
giá trị cao nhất. Có nhiều phương pháp được áp dụng giúp chấn đoán nhưng
cộng hưởng từ (CHT) là phương pháp quan trọng và có giá trị chẩn đoán cao
nhất. Có rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng CHT là phương pháp vượt
trội trong việc đánh giá các bệnh lý liên quan đến đĩa khớp và cộng hưởng từ
được coi là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán hội chứng rối loạn nội khớp thái
dương hàm [12-13]. Ngoài ra cộng hưởng từ còn có thể đánh giá những bất
thường giải phẫu lồi cầu, những thay đổi sớm ở bề mặt khớp và những bất
thường phần mềm xung quanh.
* Mục tiêu nghiên cứu
Ở Việt Nam cho đến trước thời điểm đề tài này được triển khai chưa có
đề tài nào nghiên cứu về hình ảnh giải phẫu bình thường và những bất thường
bên trong của khớp thái dương hàm. Xuất phát từ những điểm đó chúng tôi tiến
hành nghiên cứu “Đặc điểm hình ảnh CHT khớp thái dương hàm bình thường
và trong một số trường hợp có hội chứng rối loạn nội khớp thái dương hàm”
với hai mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm hình ảnh CHT khớp thái dương hàm bình thường.
2. Đặc điểm hình ảnh CHT trong một số trường hợp có hội chứng rối loạn
nội khớp thái dương hàm.
8. Tổng quan
8.1. Khớp thái dương hàm


Hình 1:Giải phẫu khớp thái dương hàm .
8.2Giải phẫu CHT khớp TDH.
8.2.1. Tín hiệu chung của các cấu trúc khớp TDH trên CHT.
- Tổ chức xơ có tín hiệu thấp trên tất cả các chuỗi xung, bao gồm bao
khớp, hệ thống các dây dây chằng. Khi các cấu trúc trên bị tổn thương sẽ tăng
tín hiệu trên chuỗi T2W, có thể giảm trên T1W.
- Sụn đầu xương có tín hiệu trung gian trên ảnh T2W.
- Dịch khớp có tăng tín hiệu mạnh trên ảnh T2W và giảm tín hiệu mạnh
trên ảnh T1W.
- Tổ chức cơ có tín hiệu trung gian, tăng khi có thoái hóa mỡ trên các
chuỗi xung, tăng trên T2W và giảm trên T1W khi có phù nề.
- Vỏ xương giảm tín hiệu mạnh trên tất cả các chuỗi xung do có ít proton
di động. Trong khi tủy xương có tín hiệu tăng trên T1W do có chứa mỡ, nếu là
tủy xương đỏ thì giảm tín hiệu trên T1W.
8.2.2.Sơ lược về giải phẫu hình ảnh CHT khớp TDH và một số thuật ngữ.
- Trên hình ảnh CHT đĩa khớp giảm tín hiệu trên tất cả các chuỗi xung. Ở


mặt phẳng sagittal đĩa khớp có hình thấu kính lõm hai mặt nửa sau dày hơn nửa
trước phần trung tâm nhẵn và mỏng, các phần dày hơn của đĩa khớp ở phía
trước và sau gọi là dải trước và dải sau. Dải sau (tại vị trí tường sau đĩa khớp)
được gắn với hai dây chằng được gọi là lá trên và lá dưới, lá trên có tác dụng
đàn hồi giúp giữ đĩa khớp ở vị trí bình thừơng và hỗ trợ đĩa khớp trong quá
trình di chuyển. Lá dưới chỉ có tác dụng cố định đĩa khớp mà không có tác dụng
đàn hồi. Lá trên và lá dưới tạo nên một vùng giải phẫu gọi là vùng Retrodiskal
hoặc là vùng Bilaminar.

Hình 2: Hình ảnh tương quan đĩa khớp bình thường trên CHT mặt phẳng
sagittal chuỗi xung PD fatsat thì ngậm miệng[26]
(1: dải trước, 2: vùng trung tâm, 3: dải sau, 4: vùng Bilaminar,
5: cơ chân bướm trong, 6: lồi cầu xương hàm dưới, 7: hố thái dương).
- Xác định chính xác vị trí của đĩa khớp là phần quan trọng nhất trong
việc chẩn đoán hội chứng rối loạn nội khớp TDH. Vị trí bình thường của đĩa
khớp trong thì ngậm miệng là nằm trong hố thái dương với tương quan phía
trước là củ khớp và phía sau là lồi cầu xương hàm dưới. Vị trí của dải sau, chỗ
dày nhất của đĩa khớp là vị trí giao với vùng bilaminar nằm phía trên của lồi
cầu ngang với đường thẳng kẻ vuông góc qua vị trí cao nhất của lồi cầu (đỉnh
lồi cầu, tương ứng vị trí 12h –Hình 3). Theo thống kê vị trí dải sau này có thể
dao động trong khoảng trước sau 10 độ tính bởi góc hợp với đường thẳng ngang
qua điểm cao nhất của lồi cầu trong 95% các trường hợp bình thường – góc đĩa


khớp đỉnh lồi cầu(Hình 3)[27]. Tuy vậy có nhiều sự tranh cãi về tiêu chuẩn này
bởi vì có những nghiên cứu đã chỉ ra rằng theo như tiêu chuẩn trên thì có tới
33% những trường hợp đĩa khớp bị di lệch ra trước ở những tình nguyện viên
không có triệu chứng lâm sàng [28-29]. Do vậy Rammelsberg và cộng sự [30]
đã đề nghị đĩa khớp được coi như là bình thường khi dải sau của nó nằm trong
khoảng 30 độ tính bởi góc hợp với đường ngang qua điểm cao nhất của lồi cầu
xương hàm dưới để phù hợp với lâm sàng áp dụng cho các trường hợp đĩa khớp
di lệch ra trước và sau (Hình 3b).

Hình 3: Minh hoạ giải phẫu vị trí của đĩa khớp
trên mặt phẳng Sagittal [31]
- Trong thì há miệng lồi cầu di chuyển ra trước, quá trình chuyển động
của lồi cầu bao gồm hai động tác đầu tiên là động tác quay xung quanh trục của
xương hàm dứoi tiếp theo là động tác tịnh tiến của xương hàm dứoi ra phía
trước đồng thời với quá trình này đĩa khớp cũng di chuyển tịnh tiến ra trước
cùng với quá trình di chuyển của lồi cầu. Vị trí bình thường của đĩa khớp trong
thì há miệng tối đa là nằm ở vị trí giữa đỉnh cao nhất lồi cầu và củ khớp. Đây
cũng là mốc giải phẫu rất quan trọng trong việc đánh gía sự di lệch của đĩa
khớp và xương hàm dưới.


Hình 4: Hình ảnh tương quan đĩa khớp bình thường trên CHT mặt phẳng
sagittal chuỗi xung PD fatsat thì há miệng[26].
(1: dải trước, 2: vùng trung tâm, 3: dải sau,
4: lồi cầu xương hàm dưới, 5: hố thái dương).
- Trong hội chứng rối loạn nội khớp hay gặp nhất là sự di lệch bất thường
của đĩa khớp trong đó di lệch của đĩa khớp ra trước là bất thường phổ biến nhất.
Trong thì há miệng các trường hợp đĩa khớp di lệch ra trước được chia thành
hai loại nhỏ hơn là di lệch ra trước có hồi phục đĩa khớp về vị trí bình thường
(displacement with reduce) và di lệch ra trước không hồi phục đĩa khớp về vị trí
bình thường. Ở các giai đoạn sớm của loạn năng khớp thường gặp các trường
hợp đĩa khớp di lệch ra trước trong thì ngậm miệng và trong thì há miệng tối đa
đĩa khớp trượt được về vị trí bình thường, quá trình này thông thường tạo ra
tiếng kêu, trên lâm sàng biểu hiện bằng tiếng kêu khớp. Ở các giai đoạn muộn
hơn đĩa khớp không còn trượt được về vị trí bình thường trong thì há miệng dẫn
đến biểu hiện trên lâm sàng ở các giai đoạn này là thường vắng mặt tiếng kêu
khớp [31]. Một biểu hiện lâm sàng khác được gọi là kẹt khớp, trong tình trạng
này thì đĩa khớp bị di lệch hoàn toàn ra phía sau và nằm cố định ở phần sau của
hố hàm dưới [32]. Ngoài ra một số trường hợp đĩa khớp di lệch ra trước trong
quá trình hồi phục về vị trí bình thường ở thì há miệng bị kẹt lại ở vị trí giữa lồi
cầu và củ khớp, tình trạng này gây ra biểu hiện hạn chế sự di chuyển của lồi cầu
kèm với đau loạn năng khớp. Những trường hợp đĩa khớp di lệch ra sau thì rất


hiếm chỉ chiếm 0,01-0,001% của tất cả các trường hợp rối loạn nội khớp [33].
Ngoài ra, tuy ít gặp đĩa khớp còn có thể di lệch sang hai bên ra ngoài hoặc vào
trong, các trường hợp này được đánh giá tốt nhất trên mặt phẳng coronal.
9. Tình hình nghiên cứu về CHT khớp TDH
9.1.

Tình hình nghiên cứu trên thế giới
- Năm 1986 Richard W.katzberg và cộng sự lần đầu tiên nghiên cứu hình

ảnh bình thường và bất thường về CHT khớp TDH[34].
- Năm 2003 J.W.Park và cộng sự đã nghiên cứu về tính chính xác giữa các
tiêu chuẩn chẩn đoán trên lâm sàng và hình ảnh CHT trong hội chứng rối loạn
nội khớp TDH trên 100 bệnh nhân với 200 khớp đã cho thấy CHT rất hữu ích
trong việc phát hiện rối loạn nội khớp đặc biệt ở những bệnh nhân có các triệu
chứng lâm sàng không đặc hiệu [35].
- Năm 2011 A Kannan và cộng sự đã so sánh giữa chẩn đoán lâm sàng và
chẩn đoán trên CHT trong hội chứng rối loạn nôi khớp TDH trên 15 bệnh nhân
cho thấy 90% chẩn đoán giữa lâm sàng và CHT là giống nhau và chỉ có 10% là
khác biệt [36].
9.2.

Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam.
- Cho đến thời điểm hiện tại chưa có nghiên cứu nào trong nước về CHT

khớp TDH.
10. Nội dung nghiên cứu
10.1. Đối tượng nghiên cứu
- Bao gồm hai nhóm đối tượng:
+ Nhóm 1: Các tình nguyện viên không có bất kì các triệu chứng lâm
sàng nào của các bệnh lý liên quan đến khớp thái dương hàm.
+ Nhóm 2: Các bệnh nhân được khám, chẩn đoán lâm sàng hội chứng rối
loạn nội khớp thái dương hàm tại khoa răng hàm mặt BV ĐHY HN.
10.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn.


-Nhóm 1: Các tình nguyện viên không có bất kì triệu chứng lâm sàng nào liên
quan đến các bệnh lý về khớp thái dương hàm.
- Nhóm 2: Các bệnh nhân được chẩn đoán lâm sàng hội chứng rối loạn nội
khớp TDH bởi các bác sỹ chuyên khoa răng hàm mặt BV ĐHY HN.
- Đồng ý tham gia nghiên cứu.

10.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ.
Các đối tượng không thuộc trong tiêu chuẩn lựa chọn.
Các trường hợp chụp không đúng protocol chuẩn.
Bệnh nhân có các chống chỉ định chụp CHT: Bệnh nhân có máy tạo nhịp, có
dụng cụ kim loại vùng hàm mặt, hội chứng sợ nhốt kín, không nằm ngửa
được…
10.2. Phương pháp nghiên cứu.
10.2.1.Thiết kế nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu quan sát, mô tả cắt ngang.
10.2.2.Phương tiện nghiên cứu.
- Máy cộng hưởng từ 1.5 Tesla (GE Signal HDxt hoặc Siemens Essenza
Timdot).
10.2.3.Thời gian nghiên cứu.
- Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01/2018 đến tháng 01/2019.
10.2.4.Địa điểm nghiên cứu.
- Khoa chẩn đoán hình ảnh bệnh viện ĐH Y Hà Nội.
10.2.5.Cỡ mẫu và chọn mẫu.
- Mẫu thuận tiện: nghiên cứu được thực hiện trên tất cả những tình nguyện
viên và bệnh nhân đáp ứng đủ tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ.
- Dự kiến cỡ mẫu khoảng 35 tình nguyện viên khỏe mạnh và 30 bệnh nhân
Bảng 1: Biến số và chỉ số.


Biến số.

Loại biến.

Công cụ - phương
pháp thu thập.

1 Các biến số chung.

Tuổi

Định lượng

Giới

Nhị phân

Phiếu thông tin LS –
hỏi bệnh
Phiếu thông tin LS –
hỏi bệnh

2 Các biến số về hình ảnh CHT.

Hình dạng đĩa khớp bình thường.
Nhị phân
Bất thường hình dạng đĩa khớp.
Nhị phân
Chiều dài trung bình đĩa khớp.
Định lượng
Bề dày trung bình vùng trung tâm
Định lượng
đĩa khớp.
Bề dày trung bình dải trước.
Định lượng
Bề dày trung bình dải sau.
Định lượng
Góc đĩa khớp –đỉnh lồi cầu.
Định lượng
Vùng trung tâm đĩa khớp nằm trên
nhị phân
đỉnh lồi cầu.
Vùng trung tâm đĩa khớp nằm ngoài
nhị phân
đỉnh lồi cầu.
Đĩa khớp ở vị trí bình thường (Thì
nhị phân
ngậm miệng)
Bất thường về vị trí đĩa khớp (Thì
nhị phân
ngậm miệng)
Bất thường về sự di chuyển của đĩa

Hình ảnh CHT
Hình ảnh CHT
Hình ảnh CHT

khớp dạng di lệch có hồi phục (thì

Nhị Phân

Hình ảnh CHT

khớp dạng di lệch không hồi phục

Nhị phân

Hình ảnh CHT

(thì há miệng)
Lồi cầu hình dạng bình thường
Bất thường hình dạng lồi cầu
Các tổn thương khác (Dịch ổ khớp…)

Nhị phân
Nhị phân
Danh mục

Hình ảnh CHT
Hình ảnh CHT
Hình ảnh CHT

Hình ảnh CHT
Hình ảnh CHT
Hình ảnh CHT
Hình ảnh CHT
Hình ảnh CHT
Hình ảnh CHT
Hình ảnh CHT
Hình ảnh CHT

há miệng)
Bất thường về sự di chuyển của đĩa


10.3. Quy trình nghiên cứu.
10.3.1.

Quy trình chụp CHT khớp thái dương hàm.

- Bệnh nhân nằm ngửa đầu cố định, sử dụng các coil bề mặt ở hai bên
vùng khớp thái dương hàm.
- Tiến hành chụp định vị sau đó chụp các chuỗi xung T2W mặt phẳng
axial. T1W, PD Fatsat mặt phẳng sagittal thì ngậm miệng tối đa, PD Fatsat mặt
phẳng coronal thì ngậm miệng tối đa, PD Fatsat mặt phẳng sagittal thì há miệng
tối đa với độ dày lát cắt 3mm, FOV (Field of view) 100x100mm.
10.3.2.

Các bước đọc kết quả CHT.

- Đánh giá hình dạng và tín hiệu của đĩa khớp.
- Đo đạc các chỉ số về độ dày vùng trung tâm và ngoại vi đĩa khớp, đo
góc đĩa khớp lồi cầu.
- Xác định vị trí của đĩa khớp trong thì ngậm miệng: bình thường, trượt ra
trước, ra sau, vàotrong hay ra ngoài.
- Đánh giá sự hồi phục vị trí của đĩa khớp ở thì há miệng.
- Đánh giá sự chuyển động của lồi cầu.
- Đánh giá dịch trong ổ khớp.
- Đánh giá những bất thường về bề mặt lồi cầu, những biến dạng sớm ở
lồi cầu cũng như các cấu trúc xung quanh.
10.4. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu.
10.4.1.

Phương pháp thu thập số liệu.

10.4.2.

Phương pháp xử lý số liệu.

- Số liệu được thu thập và xử lý trên phần mềm SPSS (V 16.0).
- Các chỉ số thống kê:
+ Các biến số về đặc điểm chung tính theo tỉ lệ phần trăm (%)
+ Các biến số về độ dày đĩa khớp, góc đĩa khớp lồi cầu.
+ Các biến số về vị trí đĩa khớp trong thì ngậm và há miệng.
10.5. Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu.
Nghiên cứu được triển khai sau khi thông qua Hội Đồng khoa học của trường


Đại học Y Hà Nội.
Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viên Đại học Y Hà Nội có sự đồng ý của
lãnh đạo viện.
Giải thích rõ cho đối tượng về mục đích của nghiên cứu, trách nhiệm của
người nghiên cứu, trách nhiệm và quyền lợi của người tham gia nghiên cứu.
Nghiên cứu chỉ tiến hành trên những đối tượng hoàn toàn tự nguyện, không ép
buộc và trên tinh thần hợp tác.
Toàn bộ thông tin thu thập chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu mà không
phục vụ cho bất kỳ mục đích nào khác.
Thông tin hồ sơ bệnh án, tình trạng bệnh lý của người bệnh được giữ bí mật, chỉ
cung cấp cho người bệnh để theo dõi quá trình điều trị, không cung cấp cho các
cá nhân, tổ chức khác.
Trong khi khám nếu phát hiện các tình trạng bệnh lý về răng miệng, người bệnh
được tư vấn điều trị hoặc tiến hành các biện pháp thăm khám khác để chẩn đoán
chính xác.
Kết quả nghiên cứu sẽ được phản hồi lại cho bệnh viện.


11. Dạng kết quả dự kiến của đề tài
11.1. Dự kiến kết quả nghiên cứu
11.1.1.

Đặc điểm chung của nhóm đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ 1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới.

11.1.2. Đặc điểm hình ảnh trên CHT ở nhóm tình nguyện viên không có triệu
chứng lâm sàng.
Bảng 2: Kích thước đĩa khớp trên mặt phẳng đứng dọc.
Giá trị
Kết quả
P
Chiều dài trung bình đĩa khớp.
Bềdày trung bình dải trước đĩa khớp.
Bề dày trung bình vùng trung tâm đĩa khớp.
Bề dày trung bình dải sau đĩa khớp.
Tổng
P: Độ lệch chuẩn.
Bảng 3: Vị trí đĩa khớp trong thì ngậm miệng tối đa.
Hình ảnh

%

N

Góc đĩa khớp - đỉnh lồi cầu nhỏ hơn 10 độ.
Góc đĩa khớp - đỉnh lồi cầu từ 10 độ đến 30 độ.
Góc đĩa khớp – đỉnh lồi cầu lớn hơn 30 độ.
Tổng.
Bảng 4: Vị trí đĩa khớp trong thì há miệng tối đa.
Hình ảnh
Vùng trung tâm đĩa khớp nằm trên đỉnh lồi cầu
Vùng trung tâm đĩa khớp nằm ngoài đỉnh lồi cầu
Tổng.
Bảng 5: Hình dạng lồi cầu

N

%


Hình ảnh

%

N

Hình dạng lồi cầu bình thường.
Bất thường hình dạng lồi cầu (bẩm sinh)
Các bất thường khác (dịch ổ khớp...)
Tổng.
11.1.3.

Đặc điểm hình ảnh trên CHT ở nhóm bệnh nhân với chẩn đoán

hội chứng rối loạn nội khớp.
Bảng 6: Hình dạng đĩa khớp.
Hình ảnh

%

N

Hình dạng đĩa khớp bình thường.
Bất thường hình dạng đĩa khớp (hình
dẹt, hình tròn, hình nhàu ...).
Tổng.
Bảng 7: Vị trí đĩa khớp trong thì ngậm miệng tối đa.
Hình ảnh

%

N

Đĩa khớp ở vị trí giải phẫu bình thường.
Bất thường vị trí đĩa khớp (di lệch ra
trước, ra sau, sang hai bên)
Tổng.

Bảng 8: Vị trí đĩa khớp trong thì há miệng tối đa.
Hình ảnh

N

%

Dạng di lệch có hồi phục (Displacement with
reduce).
Dạng di lệch không hồi phục (Displacement
without reduce).
Tổng.
Bảng 9: Hình dạng lồi cầu
Hình ảnh

N

%


Hình dạng lồi cầu bình thường.
Bất thường hình dạng lồi cầu (hình dẹt,
khuyết xương, gai xương...)
Các bất thường khác(dịch ổ khớp ...)
Tổng.
11.2. Khả năng ứng dụng
Tính thực tiễn rất cao, giúp ích nhiều cho các bác sỹ chuyên khoa RHM chẩn
đoán bệnh loạn chức năng khớp TDH
11. 3. Các sản phẩm của đề tài: tham gia báo cáo khoa học, hướng dẫn sinh
viên tham gia báo cáo tại Hội nghị khoa học, các bài báo, đào tạo (sinh viên,
học viên sau đại học),
01 báo cáo Hội nghị Điện quang và Y học HN toàn quốc (lần thứ 19). 01 đề tài
caohọc, 01 bài báo tạp chí chuyên ngành (trong hoặc ngoài nước).

12. Tài liệu tham khảo
1. J. P. Okeson (1996). The American Academy of Orofacial Pain: Orofacial
Pain Guidelines for assessment, diagnosis, and management. Quintessence
Publishing Co. Inc., Chicago, 113-184.
2.

R. De Leeuw, G. Klasser (2008). American Academy of Orofacial Pain:
Guilines for Assessment, Diagnosis, and Management, fourth edition.
Chicago: Quintessence, 131-141.

3.

S. F. Dworkin, K. H. Huggins, L. LeResche et al (1990). Epidemiology of
signs and symptoms in temporomandibular disorders: clinical signs in
cases and controls. The Journal of the American Dental Association,
120(3), 273-281.

4.

J. Lipton, J. Ship, D. Larach-Robinson (1993). Estimated prevalence and


distribution of reported orofacial pain in the United States. The Journal of
the American Dental Association, 124(10), 115-121.
5.

M. Kamisaka, H. Yatani, T. Kuboki et al (2000). Four-year longitudinal course
of TMD symptoms in an adult population and the estimation of risk factors in
relation to symptoms. Journal of orofacial pain, 14(3), 224-232.

6.

H. T. D. Thảo và H. T. Hùng (2003). Rối loạn thái dương hàm. Tạp chí Y
học Hồ Chín Minh, tập 8(số 4), 23-30.

7.

P. N. Hải (2006). Nghiên cứu dịch tễ học loạn năng bộ máy nhai và đề
xuất giải pháp can thiệp. Luận án Tiến sỹ Y học.Trường Đại Học Y Hà
Nội, 34-40.

8.

A. Rudisch, K. Innerhofer, S. Bertram et al (2001). Magnetic resonance
imaging findings of internal derangement and effusion in patients with
unilateral temporomandibular joint pain. Oral Surgery, Oral Medicine,
Oral Pathology, Oral Radiology, and Endodontology, 92(5), 566-571.

9.

W. Farrar, W. McCarty (1979). Inferior joint space arthrography and
characteristics of condylar paths in internal derangements of the TMJ. The
Journal of prosthetic dentistry, 41(5), 548-555.

10. R. R. Edwab (2003). Essential dental handbook: clinical and practice
management advice from the experts, PennWell Books,
11. C. G. Adame, F. Monje, M. Muñoz et al (1998). Effusion in magnetic
resonance imaging of the temporomandibular joint: a study of 123 joints.
Journal of oral and maxillofacial surgery, 56(3), 314-318.
12. S. L. Brooks, J. W. Brand, S. J. Gibbs et al (1997). Imaging of the
temporomandibular joint: a position paper of the American Academy of
Oral and Maxillofacial Radiology. Oral Surgery, Oral Medicine, Oral
Pathology, Oral Radiology, and Endodontology, 83(5), 609-618.
13. S. Rawlani, S. Rawlanl, M. Molwani et al (2010). Imaging modality for


temporomandibular joint disorder—a review. J Datta Meghe Inst Med Sci
University, 5(2), 126-133.
14. H. T. Hùng (2005). Khớp Cắn Học. NXB Y Học, tr. 30-76.
15. A. Aiken, G. Bouloux, P. Hudgins (2012). MR imaging of the
temporomandibular joint. Magnetic resonance imaging clinics of North
America, 20(3), 397-412.
16. M. M. Ash, & Ramfjord, S. P. (1995). Disorders of occlusion and
dysfunctions of the masticatory system: Occlusion. W.B. Saunders
Company, 111-194.
17. T. K. Vinh (2014). Đặc điểm lâm sàng và tình trạng chạm khớp ở bệnh
nhân rối loạn chức năng khớp thái dương hàm. Luân văn bảo vệ thạc sỹ y
học,Viện đào tạo răng hàm mặt, Trường đại học Y Hà Nội, tr. 23-29.
18. S. Nelson (2012). Wheeler’s Dental Anatomy, Physiology, and Occlusion.
Ninth Edition, 345-354.
19. D. J. DeNucci, R. A. Dionne, R. Dubner (1996). Identifying a
neurobiologic basis for drug therapy in TMDs. The Journal of the
American Dental Association, 127(5), 581-593.
20. S. J. Scrivani, D. A. Keith, L. B. Kaban (2008). Temporomandibular
disorders. New England Journal of Medicine, 359(25), 2693-2705.
21. R. D. Aldridge, M. Fenlon (2004). Prevalence of temporomandibular
dysfunction in a group of scuba divers. British journal of sports medicine,
38(1), 69-73.
22. C. McNeill (1993). Temporomandibular disorders: guidelines for
classification, assessment, and management, Quintessence Pub Co,
23. A. Bumann, U. Lotzmann, J. Mah (2002). TMJ disorders and orofacial
pain: the role of dentistry in a multidisciplinary diagnostic approach,
Thieme Medical Publishers,
24. L. T. Weele, J. Dibbets (1987). Helkimo's index: a scale or just a set of
symptoms? Journal of oral rehabilitation, 14(3), 229-237.


25. G.

Dimitroulis

(2013).

A

new

surgical

classification

for

temporomandibular joint disorders. International journal of oral and
maxillofacial surgery, 42(2), 218-222.
26. J. C. Vilanova, J. Barceló, J. Puig et al (2007). Diagnostic imaging:
magnetic resonance imaging, computed tomography, and ultrasound.
Seminars in Ultrasound, CT and MRI, 28(3), 184-191.
27.

J.

E.

Drace,

D.

R.

Enzmann

(1990).

Defining

the

normal

temporomandibular joint: closed-, partially open-, and open-mouth MR
imaging of asymptomatic subjects. Radiology, 177(1), 67-71.
28. R. Tallents, R. Katzberg, W. Murphy et al (1996). Magnetic resonance
imaging findings in asymptomatic volunteers and symptomatic patients
with temporomandibular disorders. The Journal of prosthetic dentistry,
75(5), 529-533.
29. G. Boering (1996). Anatomic disorders of the temporomandibular joint
disc in asymptomatic subjects. Journal of oral and maxillofacial surgery,
54(2), 153-155.
30. P. Rammelsberg, P. R. Pospiech, L. Jäger et al (1997). Variability of disk
position in asymptomatic volunteers and patients with internal
derangements of the TMJ. Oral Surgery, Oral Medicine, Oral Pathology,
Oral Radiology, and Endodontology, 83(3), 393-399.
31. X. Tomas, J. Pomes, J. Berenguer et al (2006). MR imaging of
temporomandibular joint dysfunction: a pictorial review. Radiographics,
26(3), 765-781.
32. V. M. Rao, M. D. Liem, A. Farole et al (1993). Elusive" stuck" disk in the
temporomandibular joint: diagnosis with MR imaging. Radiology, 189(3),
823-827.
33. C. Chossegros, F. Cheynet, L. Guyot et al (2001). Posterior disk
displacement of the TMJ: MRI evidence in two cases. CRANIO®, 19(4),


289-293.
34. R. W. Katzberg, R. W. Bessette, R. H. Tallents et al (1986). Normal and
abnormal temporomandibular joint: MR imaging with surface coil.
Radiology, 158(1), 183-189.
35. J. Park, H. Song, H. Roh et al (2012). Correlation between clinical
diagnosis based on RDC/TMD and MRI findings of TMJ internal
derangement. International journal of oral and maxillofacial surgery,
41(1), 103-108.
36. A. Kannan, S. Sathasivasubramanian (2011). Comparative Study of
Clinical and Magnetic Resonance Imaging Diagnosis in Patients with
Internal Derangement of the Temporomandibular Joint. Journal of Indian
Academy of Oral Medicine and Radiology, 23(4), 569-575
13. Phụ lục (nếu có)
14. Tiến độ thực hiện đề tài: 12 tháng
14. Kinh phí thực hiện đề tài (kèm theo dự toán kinh phí chi tiết): 10 (triệu
đồng)
Trong đó: + kinh phí Bệnh viện hỗ trợ: 10 (triệu đồng)
+ kinh phí từ nguồn khác: ……………(triệu
đồng)
- Kinh phí xây dựng đề cương, hoàn thiện công cụ nghiên cứu và quy trình
nghiên cứu: ………………………………….(triệu đồng)
- Kinh phí mua nguyên vật liệu vật tư hoá chất:…….…….(triệu đồng)
- Các chi khác:
Hà nội, ngày 16 tháng 01 năm 2018


Duyệt củaTrưởngKhoa/ Phòng

Chủ nhiệm đề tài

(Ký và ghi rõ họ tên)

(Ký và ghi rõ họ tên)

Duyệt của Ban giám đốc

Phụ trách NCKH



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×